Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:05:20 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 3  (Đọc 93386 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #30 vào lúc: 12 Tháng Ba, 2009, 10:07:19 pm »

I. TỔ CHỨC BIÊN CHẾ CÁC THỨ QUÂN TỪ THẾ KỶ ĐẾN ĐẦU THẾ KỶ XIII

1. Các tổ chức quân sự thời Ngô, Đinh và Tiền Lê (thế kỷ X)

Sau chiến thắng Bạch Đằng, Ngô Quyền quyết định bỏ chức Tiết độ sứ của phong kiến phương Bắc, tự xưng vương, thiết lập nhà nước độc lập tự chủ. Ngô Quyền đã kiên quyết cắt đứt mọi quan hệ lệ thuộc đối với nước ngoài, xây dựng một quốc gia độc lập. Bộ máy chính quyền triều Ngô xây dựng theo thể chế của một nhà nước quân chủ độc lập, mang tính tập quyền, bao gồm các quan văn và võ, trong đó phần nhiều là các võ quan tướng lĩnh đã từng sát cánh với Ngô Quyền dẹp loạn và đánh giặc ngoại xâm.

Trong cơ cấu chính quyền đó đã xuất hiện một tổ chức quân sự riêng đó là tổ chức quân đội đầu tiên của quốc gia độc lập tự chủ sau “trận chung kết” cuối cùng toàn thắng trong cuộc đọ sức kéo dài hơn một ngàn năm giữa dân tộc ta với thế lực xâm lược phương Bắc. Do tư liệu lịch sử hạn chế, chúng ta chưa biết được tổ chức của quân đội triều Ngô ra sao. Nhưng qua cuộc hành quân từ châu Ấi ra Bắc tiêu diệt nội loạn Kiều Công Tiễn và đặc biệt là qua trận chiến Bạch Đằng (938) chúng ta biết được rằng, Ngô quyền trước khi thành lập vương triều đã có một lực lượng quân sự khá mạnh.

Hành động phản trắc của Kiều Công Tiễn diễn ra đúng vào lúc ở phía Bắc cha cón Lưu Cung đang gấp rút điều động binh thuyền, chuẩn bị lực lượng để tiến hành cuộc tiến công xâm lược nước ta lần thứ hai. Điều đó đã gây nên sự căm phẫn cực độ trong các hào trưởng và đông đảo dân chúng.  Nhân dân khắp nơi dưới sự lãnh đạo của các hào trưởng và tướng lĩnh cũ của Dương Đình Nghệ đã nổi dậy chống lại Kiều Công Tiễn, sẵn sàng tham gia đánh giặc Nam Hán. 

Lực lượng quân sự từ nhiều vùng đã dần dần quy tụ dưới ngọn cờ của Ngô Quyền. Như vậy, ngoài lực lượng binh sĩ mà Ngô Quyền đã kế thừa từ số quân của Dương Đình Nghệ, nhiều tổ chức quân sự khác của các hào trưởng ở trong nước đã đến với Ngô Quyền. như quân của Liễu Chữ (ở Thuận Thành. (Bắc Ninh) của Phạm Hổ ở Ngọc Dương (Kim Thi, Hưng Yên), Đỗ Cảnh Thạc (Quốc Oai, Hà Tây), Phạm Chiêm ở Nam Sách (Hải Dương), Đinh Công Trứ ở Hoa Lơ (Ninh Bình). Dương Tam Kha con Dương Đình Nghệ và kể cả số quân của Kiều Công Hãn là cháu của Kiều Công Tiễn cũng đến tụ hội.

Lực lượng quân sự nói trên dưới sự lãnh đạo của Ngô Quyền được nhân dân các làng xã giúp sức đã làm nên chiến thắng Bạch Đằng, đánh tan đạo thuỷ quân xâm lược của thái từ Nam Hán Hoẵng Tháo. Sau chiến thắng đó, cùng với việc xây dựng chính quyền mới, Ngô Quyền đã tổ chức lại lực lượng quân sự trên cơ sở những dạo quân đã có công đóng góp vào sự nghiệp đánh giặc giữ nước.

Quân đội triều Ngô tuy tổ chức còn đơn sơ, biên chế chưa được phân định rõ rệt chủ yếu là từ những đạo quân riêng lẻ của các hào trưởng hợp thành, nhưng qua chiến trận Bạch Đằng chúng ta biết rằng, Ngô Quyền đã có một lực lượng quân sự đông đảo, trong đó có cả quân bộ và quân thuỷ, đặc biệt họ rất giỏi thuỷ chiến.

Sử cũ không cho biết tổ chức biên chế cụ thể các đơn vị quân đội thời này như thế nào. Do điều kiện địa hình nhiều sông nước và sự hạn chế của giao thông đường bộ thời bấy giờ, nên tuy quân đội có cả quân bộ và quân thuỷ, nhưng rất có thể phương thức hành quân chủ yếu là theo đường thuỷ và vì thế, lực lượng quân đội đánh thuỷ cũng là chủ đạo. Cuộc chiến chống Nam Hán các năm 930 - 931 và 938 phần lớn do quân thuỷ đảm nhiệm.

Có thể biên chế của quân thuỷ lúc đó được tính bằng “thuyền”. Sử cũ của ta cho biết mỗi “thuyền” có 25 chiến thủ và 23 tay chèo. Phả tích của đền Vương (tức đền Kê Lạc) ở xã Dị Chế (Tiên Lữ, Hưng Yên) nói rằng thuỷ quân của Ngô Quyền chia theo các đội và thuyền đội lớn năm thuyền gồm 100 quân (nhất bách nhân cư ngũ thuyền), thuyền chiến nhỏ có 12 quân (thập nhị nhất thuyền). Lực lượng thuỷ quân tuy không đông nhưng là nòng cốt - trụ cột của quân đội triều.

Do những hạn chế lịch sử, tính chất tập quyền của nhà nước tự chủ triều Ngô chưa thật mạnh mẽ, chưa có khả năng liên kết một cánh chặt chẽ các lực lượng địa phương trong mọi hoàn cảnh. Vì vậy, năm 944, khi Ngô Quyền qua đời, Dương Tam Kha - em vợ Ngô Quyền đã đoạt ngay quyền bính, tự xưng là Bình Vương. Từ đó, nội bộ vương triều lục đục mâu thuẫn giữa các phe phái diễn ra và dẫn đến tình trạng cát cứ của 12 thủ lĩnh mà sử đã gọi là “ 12 sứ quân”. 
« Sửa lần cuối: 13 Tháng Ba, 2009, 05:38:37 pm gửi bởi UyenNhi05 » Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #31 vào lúc: 12 Tháng Ba, 2009, 10:08:25 pm »

Như thế, quân đội mới họp của vương triều Ngô đã giành được thắng lợi vang dội trong cuộc kháng chiến giữ nước năm 938, trở thành quân đội đầu tiên của quốc gia độc lập, nhưng lại không đủ sức mạnh để bảo vệ bộ máy nhà nước quân chủ của mình. Quân đội đó còn bị phân tán bởi sự chi phối, khống chế của các tướng vốn là các thủ lĩnh địa phương, như Ngô Xương Xí, Đỗ Cảnh Thạc, Nguyễn Siêu, Kiều Công Hãn, Ngô Nhật Khánh, v.v.. Xu hướng phân tán địa phương vẫn đang tồn tại và đã dẫn tới sự tan rã quân đội quốc gia.

Quân đội vương triều Ngô tồn tại được 26 năm (939 - 965) đã tan vỡ, trở thành nhiều tổ chức lực lượng vũ trang riêng lẻ dưới quyền diều khiển của các hào kiệt, các sứ quân đóng trên từng địa bàn riêng biệt. Từ đó, các sứ quân kiểm soát những vùng lãnh thổ chịu ảnh hưởng và tiếp tục tuyển chọn các đinh tráng địa phương bổ sung vào đội quân của mình.

Lực lượng quân sự của vương triều trước đây đã bị sẻ chia trở thành nòng cốt của các lực lượng vũ trang riêng đó và là công cụ để các sứ quân tranh quyền lãnh đạo đất nước.  Lấy ví dụ như Nguyễn Siêu vốn là một tướng được Ngô Quyền tin dùng, giao chỉ huy một đạo quân lớn. Khi Ngô Quyền mất, Nguyễn Siêu tập hợp lực lượng chiếm giữ vùng Đông Phù Liệt (Thanh Trì, Hà Nội) chống lại Dương Tam Kha. Có tài liệu chép, Nguyễn Siêu nuôi dưỡng môn đệ khoảng tám ngàn người, binh mã có trên 10 vạn (?), lập đồn phủ khắp nơi. Đỗ Cảnh Thạc là một võ quan triều Ngô, đã chiếm vùng Quốc Oai (Hà Tây xây dựng thành Đỗ Động (thành Quèn) nuôi dạy quân sĩ đông đến hàng vạn. 

Như vậy, quân đội quốc gia của vương triều Ngô đã chấm dứt vai trò lịch sử sau 26 năm tồn tại dưới chính thể quân chủ nửa đầu thế kỷ thứ X. Dẫu đó chỉ là “một đội quân mới họp của đất Việt” như lời sử thần Lê Văn Hưu nhận xét, còn sơ khai, mang nhiều hạn chế, nhưng phương thức tổ chức quân sự do Ngô quyền thiết lập là cơ sở đầu tiên để sau này Đinh Bộ Lĩnh và Lê Hoàn có kinh nghiệm kiện toàn về mặt tổ chức, xây dựng thành quân đội chính quy của quốc gia Đại Cồ Việt.

Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh một người chỉ huy quân sự giỏi, có tài năng, lại được các tướng Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Lê Hoàn và nhân dân cả nước ủng hộ, đã lần lượt đánh bại 12 sứ quân lập lại sự thống nhất đất nước, lên ngôi hoàng đế, đặt tên nước là Đại Cồ Việt.

Dẹp xong loạn các sứ quân, Đình Bộ Lĩnh bát tay xây dựng nhà nước thống nhất và có dụng tâm tổ chức một quân đội mạnh. Sử chép: vua Đinh Tiên Hoàng xuất thân từ mục đồng cờ lau mở nước, lớn lên lại thu phục được anh hùng cả nước. Sau khi thay Trần Lãm (Trần Minh Công) làm sứ quân ở Bố Hải Khẩu (Thái Bình), vua đã đánh tan các thế lực Ngô Thiên Sách vương, Nam Tần vương, Nguyễn Thủ Tiệp và các sứ quân khác, xưng là Vạn Thắng vương để lập lại chính thống của nước.

Sau việc đánh dẹp, nhà vua đóng đô ở Hoa Lư, xây cung điện, định chế triều nghi, giao thiệp với nhà Tống, đặt hình pháp và không quên một việc trọng đại là chỉnh đốn lại quân ngũ.  Như thế có nghĩa là quân đội của triều Đinh khi thành lập đã có cơ sở từ trước. Đầu tiên, đó là đội quân do ông tổ chức từ những trai tráng đã từng “cờ lau tập trận” ở quê nhà; tiếp đến là sự liên kết lực lượng giữa Đinh Bộ Lĩnh với sứ quân Trần Lãm ở Bố Hải Khẩu và sau cùng là thu phục binh sĩ của các thế lực khác.

Lực lượng quân sự của Đinh Bộ Lĩnh từng bước trưởng thành cùng với quá trình mở rộng địa bàn hoạt động, trong đó có cả hơn 3.000 trai tráng do Đinh Liễn tuyển từ châu Ái. Nhiều hào kiệt, tướng lĩnh nổi tiếng như Lê Hoàn, Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Trịnh Tú, Phạm Cự Lạng, Phạm Hạp, v.v. cũng đã đưa quân của mình đến tập hợp dưới ngọn cờ của ông. Trong quá trình đánh dẹp 12 sứ quân, lực lượng quân sự của Đinh Tiên Hoàng ngày càng lớn mạnh, gồm đủ các loại quân như: bộ binh, thuỷ binh, tượng binh và kỵ binh.

Sau khi dẹp xong loạn 12 sứ quân, thống nhất giang sơn, đội quân của Đinh Bộ Lĩnh đã trở thành quân đội quốc gia Đại Cồ việt dưới quyền thống lĩnh của Thập đạo tướng quân Lê Hoàn.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #32 vào lúc: 12 Tháng Ba, 2009, 10:12:58 pm »

Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép: Mùa Quân tháng Hai năm Giáp Tuất (974), vua Đinh chia quân đội trong nước thành 10 đạo. Mỗi đạo 10 quân, mỗi quân 10 lữ, mỗi lữ 10 tốt mỗi tốt 10 ngũ, mỗi ngũ 10 người. Học giả Phan Huy Chú, trong Lịch triều hiên chương toại chí cũng ghi:“Đinh Tiên Hoàng, năm Thái Bình thứ 5 (974), định ngạch quân 10 đạo. một đạo 10 quân, một quân 10 lữ, một lữ 10 tốt, một tốt 10 ngũ, một ngũ 10 người” 1.

Như vậy, tổ chức quân sự thời Đinh là tổ chức “thập đạo quân”. Đó là hệ thống biên chế, tổ chức quân sự có quy củ đầu tiên của quốc gia dân tộc Việt trong kỷ nguyên độc lập tự chủ. Theo hệ thống này, chúng ta thấy rõ lực lượng quân đội Đại Cồ Việt ở thế kỷ X được chia ra làm năm cấp: "đạo”, “quân”, “lữ”, “tốt” và “ngũ”. Biên chế, tổ chức quân sự theo cách đó, thì “ngũ” là đơn vị cơ sở nhỏ nhất gồm 10 người, một "tốt” có 100 người, một “lữ” có 1.000 người, một “quân” có 10.000 người và “đạo” là đơn vị quân sự lớn nhất gồm 10 vạn người.

Xưa nay, đã có nhiều người nghi ngờ về tổ chức quân sự này. Lẽ nào từ thời Đinh, nước ta đã có một đạo quân đông đến một triệu người? Sau một thời kỳ dài bị phong kiến Trung Hoa đô hộ, dưới sự thống trị hà khắc của kẻ xâm lược, dân ta bị bóc lột, bắt bớ và tàn sát vô cùng dã man. Do đó, dân số nước ta thời kỳ mới bướt vào kỷ nguyên độc lập tự chủ, có đông lắm củng chưa thể đạt đến con số ba triệu 2. Vậy một ngạch binh bao gồm một triệu người thì hẳn rằng diều đó không hợp lý. Nếu một triệu quân mà đưa dùng cả thì dết nước sẽ gặp bao khó khăn. Một nước nhỏ còn nghèo như nước ta thời đó làm gì cung ứng cho đủ? 

Phải chăng đó chỉ là “ngạch quân biên sổ”, đặt sẵn về mặt tổ chức: có thể như sử gia Phan Huy Chú giải thích: “Bấy giờ binh và nông chưa chia. có việc gọi ra, xong việc lại trở về làm ruộng” 3. Chúng ta nên hiểu rằng, thập đạo quân chính là hình thức tổ chức quân sự gắn liền giữa quân đội với dân binh, giữa hành chính và quân sự. Quân ở đây chủ yếu là “quân biên sổ”, khi có việc mới gọi ra, lúc bình thường thì trở về thôn xã cày ruộng: theo hình thức “động vi binh, tĩnh vi dân”.
 
Chế độ ngạch binh này chính là cơ sở của quốc sách “Ngụ binh ư nông” thời Lý - Trần sau đó. Về hình thức quân số tuy dông nhưng thực tế số quân thường trực tại ngũ ít, chủ yếu là dân, nhà nước đỡ phần tổn phí nuôi dưỡng.  Tổ chức hành chính gắn liền với tổ chức quân sự theo chế độ “thập đạo quân” nói trên là một biểu hiện cụ thể của’chính sách quốc phòng và binh chế nước Đại Cồ Việt hồi thế kỷ thử X.

Thời Đinh và thời Tiền Lê nước ta chia thành 10 đạo Mỗi đạo hành chính là một đạo quân sự. Chính ở cấp “đạo” này đã thực hiện sự thống nhất giữa nông và binh. Chỉ huy đạo là chỉ huy toàn bộ binh đội và tất cả dân binh của các thôn xã trong dạo đó. Các “quân” trong đạo tuỳ thuộc vào nhu cầu phân bố trong các phủ, châu của đạo. Như thế, trong một phủ hoặc một châu. có thể biên chế thành một hoặc hai “quân”, tuỳ thuộc vào quy mô hay vị trí quan trọng của các khu vực địa phương đó.

Tuy quân lính chủ yếu ở các đạo, ở nông thôn song tại trung ương (triều đình) luôn luôn giữ một số lượng quân đội nhất định. Đó là quân thường trực tại ngũ có nhiệm vụ canh phòng bảo vệ kinh đô hoặc lưu dộng chiến đấu trong các vùng khác. Khi cần các đơn vị này lược điều di dẹp loạn hay phòng giữ ở những dịa bàn trọng yếu.

Các đơn vị lưu động này, số lượng có hạn, nhưng tinh nhuệ. Đây là nòng cốt của lực lượng quân sự quốc gia, đượm trang bị tốt nhất, được huấn luyện kỹ càng và tất nhiên đây là lực lượng chính dể bảo vệ nhà nước trung ương tập quyền Đại Cồ Việt.

Vua Đinh qua dời để lại cho dời sau một di sản quý báu, nhờ đó Lê Hoàn lên kế tiếp đà mang quân thập đạo đánh tan đạo quân xâm lược Tống (981). Vốn là Thập dạo tướng quân dưới triều vua Đinh, nên khi lên ngôi, nhà vua (Lê Đại Hành 980 - 1005) đã thừa hưởng hầu như trọn vẹn chính sách quân sự - quốc phòng và binh chế thời Đinh. Triều Tiền Lê duy trì và thực hiện chế độ quân đội thập đạo.


_______________________
1. Toàn thư, Sđd, t.1, tr.207; Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, t.III, Binh chế chí, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1992, tr.7.
2. Về dân số thời Đinh, sử cũ không ghi chép. Ý kiến của các nhà nghiên cứu chưa thống nhất. Chàng hạn, theo Văn Tạo thì Nước Đại Cồ Việt. . . với vài bốn triệu dân” (Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 2, 1981, tr.4).
3. Phan Huy Chú: Lịch triều hiên chương loại chí. Sđd, t.1II Tr.7.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #33 vào lúc: 12 Tháng Ba, 2009, 10:15:51 pm »

Đó là một tổ chức quân sự, một binh chế dựa trên nền tảng nhân dân, dựa trên nền kinh tế nông nghiệp. Quân đội nhu yếu là ở “ngạch biên sổ” “lúc thường là dân, có động là binh”.  Tổ chức lực lượng quân sự bằng cách kết hợp chú trọng hai mặt binh và nông là một đặc điểm nổi bật của binh chế quốc gia Đại Cồ Việt.

Như vậy, lực lượng quân sự của dân tộc ta thế kỷ X bao gồm lực lượng dân binh rộng rãi ở các làng xã và các đơn vị quân thường trực của nhà nước. Lực lượng quân sự đó nằm trong hệ thống biên chế, tổ chức tương đối thống nhất từ trung ương đến các địa phương. Quân đội thời bấy giờ thực chất là quân đội dân tộc - nhân dân, hay nói theo cách hiện đại đó như là một đội quân “nhân dân” mang tính dân tộc.  Quân thập đạo chủ yếu bao gồm những người nông dân công xã làm nghĩa vụ binh dịch theo quy định của nhà nước phong kiến tập quyền.

Trong biên chế của các binh đội “thập đạo quân” thời đó, có cả quân bộ và quân thuỷ. Nhà nước Đại Cồ Việt chú ý cả về mặt tổ chức xây dựng, cũng như đã biết cách sử dụng kết hợp hai loại quân này. Tuy bộ binh có số lượng nhiều, song thời Đinh - Lê, ở nước ta đã tổ chức được những đội binh thuyền khá lớn, gồm hàng trăm chiến và quân thuỷ trở thành lực lượng chiến đấu có hiệu quả nhất. Trong cuộc chiến tranh vệ quốc năm 938 và năm 981, quân thuỷ của ta đã thể hiện được truyền thống đánh giặc và tính ưu việt của mình.

Chiến đấu hiệp đồng giữa quân thuỷ và quân bộ là một đặc điểm quan trọng trong quá trình tổ chức và chỉ huy của quân đội Đại Cồ Việt. Bấy giờ ở nước ta, do những nét đặc thù của mình, kỵ binh không được chú ý phát triển, nó chỉ là từng bộ phận nhỏ trong biên chế của quân bộ mà thôi. Điều này hoàn toàn khác với tổ chức quân sự của nhiều nước trên thế giới đương thời. Ở các nước phương Bắc, kỵ binh được phát triển mạnh, đặc biệt thời bấy giờ ở phương Tây, nhiều quốc gia đang trong xu thế hiệp sĩ hoá, ky sĩ hoá quân đội. Các lãnh chúa phong kiến châu Âu đua nhau lập các đội quân kỵ sĩ.

Và nhất là như Ăng ghen viết: “đến cuối thế kỷ X, kỵ binh đã trở thành một binh chủng duy nhất thực sự tham gia giải quyết các trận đánh khắp nơi ở châu âu. Còn về bộ binh thì mặc dù ở các quân đội quân số của nó còn đông hơn kỵ binh nhiều, nhưng nó không phải là cái gì khác ngoài đám quần chúng trang bị kém và hầu như không ai còn có ý đồ tổ chức nó nữa” 1.

Thập đạo quân là mô hình tổ chức quân đội thời Đinh - Lê.  Khi lên ngôi vua Lê Hoàn vẫn nắm thập đạo quân tiếp tục chăm lo xây dựng quân đội. Tuỳ theo nhiệm vụ, quân đội triều Tiền Lê tổ chức thành những đơn vị khác nhau. Binh tuỳ long là binh theo vua, thân vệ là vệ binh của nhà vua; tả hữu Kim Ngô là quan coi giữ quân cấm vệ; cấm vệ là quân bảo vệ cung cấm nhà vua; tả hữu vệ là quân hộ tống khi vua ra ngoài. Tất cả số quân đó đều là quân thường trực của triều đình nhà Tiền Lê, gọi chung là thân quân. Sử chép: “Năm Thiên Phúc thứ bảy (986) Lê Hoàn điểm dân đinh làm lính, lấy người khoẻ mạnh sung vào quân túc vệ gọi là thân quân; tất cả đều thích lên trán ba chữ “Thiên tử quânt” 2.

Thân quân là quân của vua của triều đình nhà Tiền Lê, là lính chuyên nghiệp, một loại “gia binh của hoàng đế” mang tính chất “thân binh” như kiểu “lính trong nhà” (con nuôi) của Dương Đình Nghệ ngày trước. Số đó cũng được gọi là quân điện tiền, gồm khoảng từ ba đến năm ngàn người.  Năm 990, sứ giả nhà Tống tên là Tống Cảo từ Hoa Lư về thuật lại với vua Tống rằng: “Trong thành không có dân, chỉ có mấy trăm khu nhà làm trại lính. . . Số binh sĩ độ ba nghìn người, đều thính ba chữ “Thiên tử quân” ở trán...”. 

Dẫu chỉ là sự mô tả phiến diện của một sứ thần phương Bắc, nhưng qua đó có thể biết được phần nào tình hình quân lính bảo vệ kinh thành nhà Tiền Lê. Quân đó chia thành tả hữu vệ dưới sự điều hành của một viên tướng tin cẩn gọi là điện tiền chỉ huy sứ hoặc thân vệ điện tiền chỉ huy sứ: phía trong cung cấm có khoảng 1.000 quân tuỳ long túc xa chuyên việc hầu hạ, bảo vệ nhà vua.


_____________________
1. Ph. Ăngghen: tuyển tập luận văn quân sự t.II, Nxb. Quân đội nhân dân? Hà Nội. 1998. t.2, tr.III.
2. Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, Sđd, t.III,
« Sửa lần cuối: 12 Tháng Ba, 2009, 10:18:52 pm gửi bởi UyenNhi05 » Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #34 vào lúc: 13 Tháng Ba, 2009, 05:12:55 pm »

Như vậy, “thân quân”,”quân điện tiền” hay “thiên tử quân” chính là bộ phận tổ chức quân đội quan trọng nhất của quốc gia Đại Cồ Việt có nhiệm vụ bảo vệ vua và triều đình. đồng thời đó cũng là chủ lực quân trong cuộc kháng chiến chống Tống do Lê Hoàn lãnh đạo (981). Như vậy, lực lượng quân sự - quân đội thời Tiền Lê ngoài chức năng bảo vệ cung cấm, bảo vệ nhà vua ở kinh thành và dẹp loạn, còn có chức năng chiến đấu giừ nước khi có giặc ngoại xâm. 

Tóm lại, từ thời Đinh và Tiền Lê (thế kỷ X), quốc gia Đại Cồ Việt đã xây dựng được một hệ thống tổ chức quân sù tương đối hoàn chỉnh với các ngạch bậc khác nhau, mở đầu lịch sử xây dựng một quân đội chính quy của dân tộc.  Nhà nước đã nhiều lần cải cách tổ chức quân đội. bước đầu quy định thống nhất về khung biên chế quân ngũ. Các bậc tiền bối từ Ngô Quyền, Đinh Bộ Lĩnh đến Lê Hoàn đều rất chú trọng việc dụng võ và nhờ đó mà nước ta thời bấy giờ đã có đủ sức mạnh quân sự, lập nên những võ công hiển hách trong sự nghiệp dẹp trừ nội loạn và đánh giặc ngoại xâm.

2. Tổ chức các thứ quân thời Lý (thế kỷ XI - XIII)

Nhà Lý kế thừa thành quả dựng nước và giừ nước thời Đinh – Lê, trong đó có cả thành quả trên lĩnh vực quân sự.  Trước khi lên ngôi lập vương triều mới, Lý Công Uẩn đã từng là một võ quan có thế lực nhất của triều đình Tiền Lê, giữ chức diện tiền chỉ huy sứ, quản quân tả thân vệ. Vì thế.  Lý Thái Tổ dã kế thừa gần như toàn bộ bộ máy tổ chức quân sự cuối thời Tiền Lê.

Quân thường trực do triều đình trực tiếp quản lý

Đồng thời với việc chuyển kinh đô từ Hoa Lư ra Thăng Long. Lý Thái Tổ cho kiện toàn bộ máy chính quyền. trong đó có cả hệ thống tổ chức quân sự. Lực lượng “thân quân”, “thiên tử quân” thời Tiền Lê, từ năm 1009 đã đổi thành cấm quân thời Lý: đảm đương chức năng bảo vệ kinh đô mới.  Theo sách Đại Việt sử ký toàn thư, năm 1028. Lý Thái Tông “đặt 10 vệ điện tiền cấm quân: 1. Quảng Thánh, 2. Quảng Vũ. 3. Ngự Long, 4. Bổng Nhật, 5 Trừng Hải. Mỗi vệ đều chia làm tả và hữu trực, đi quanh để bảo vệ bên trong cấm thành” 1.

Năm 1054, Lý Thánh Tông đổi tên các đô quân Khuông Thánh của thần vệ thành Củng Thánh, Quảng Đức thành Trung Vũ, Quảng Vũ thành Chiêu Vũ; đồng thời đặt thêm tả và hữu Long Dực đô, mỗi đô 100 người (?). Đến năm 1059, nhà vua lại chia quân làm tám hiệu: Ngự Long, Vũ Thăng, Long Dực, Thần Điện, Bổng Thánh, Bảo Thắng, Hùng Lược và Vạn Tiệp, mỗi hiệu quân đều chia ra bốn bộ tả hữu, tiền và hậu: hợp thành 100 đội, trong đó có cả lính kỵ mã, lính cung nỏ và lính bắn đá, mỗi người đều thích lên trán ba chữ “Thiên tử quân”.

Đời Lý Nhân Tông, năm 1104, duyệt binh Hưng Nam. Vũ Tiệp tả và hữu đổi làm đô Ngọc Giai. binh Ngự Long đổi là đô Hưng Thánh và Quảng Vũ; những người thuộc họ lớn trong dân cho làm binh Vũ Thắng; đồng thời đổi Điền nhi làm binh Thiết Lâm 2.   

Giáo sư Hoàng Xuân Hãn viết rằng: “sau khi dẹp dược các loạn Lý Giác ở Diễn Châu và quân Chiêm Thành ở châu Bố Chính, ông (tức Lý Thường Kiệt) liền tổ chức lại quân đội. Tháng ba năm Giáp Thân (1104). duyệt lại các đơn vị từ cấm quân đến dân quân. Đổi hai đội Hưng Nam, Dũng Tiệp tả và hữu làm đô Ngọc Giai. Đô Ngọc Giai là đô hầu bên “thềm ngọc”, tức là gần bên ngai vua. Đội binh Ngự Long được đổi ra đô Hưng Thánh và Quảng Vũ. Đó là cấm quân. Quân eủa nhà vua đổi thành lính Vũ Thắng. Điền nhi đổi ra binh Thiết Lâm” 3. 

Năm 1118, vua Lý Nhân Tông cho tuyển 350 đại hoàng nam khoẻ mạnh để sung làm lính các đô Ngọc Giai, Hưng Thánh, Vũ Đô và Ngự Long. Năm sau, vua sai duyệt lại sáu binh Vũ Tiệp, Vũ Lâm v.v., hạng khỏe giỏi cho làm hoả đầu (đội trưởng) ở các quân Ngọc Giai, Hưng Thánh, Bổng Nhật, Quảng Thánh, Vũ Đô..., hạng dưới cho làm lính.


________________________
1. Toàn thư, Sđd, t.1, tr.257.
2. Theo Việt sử lược, Điền nhi là quan nô cày ruộng quốc khố.
3. Hoàng Xuân Hãn: Lý Thường Kiệt, Ban tu thư Viện đại học Vạn Hạnh ấn hành, Sài Gòn. 1966, tr.371. 
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #35 vào lúc: 13 Tháng Ba, 2009, 05:16:04 pm »

Sách Lĩnh ngoại đại đáp của Trung Quốc thời Tống chép về cấm quân nhà Lý như sau: “Triều Lý có tám quân như: Ngự Long quân, Vũ Thắng quân, v.v., đều chia là tả và hữu; mỗi quân có 200 người, đều thích ở ngang trán ba chữ “Thiên tử quân” 1.

Đại việt sử ký toàn thư cho biết: Buổi đầu đời Lý, cấm vệ có 10 quân, mỗi quân 200 người. Dưới đời Lý Thánh Tông (1054 - 1072) số cấm quân có 3.200 người. Sử thần Ngô Thì Sỹ có nhận xét: “Binh chế buổi đầu đời Lý... lấy thân quân làm trọng, cũng gọi là cấm quân. Cấm vệ có 10 quân, mỗi quân có 200 người, đều có tả và hữu; phải túc trực thường xuyên” 2.

Như thế, thời Lý có khoảng vài chục đô quân và vệ quân, mỗi vệ quân khoảng 200 người, đóng trong cấm thành để bảo vệ cung vua. Cấm quân được ưu đãi được cấp lương và cấp bổng, được xăm mình và thích chừ “Thiên tử quân” ở trán. Bấy giờ, nhà nước có lệnh cấm những nô bộc tư gia không được xăm vào ngực, vào chân làm mạo theo hình dạng của cấm quân.

Trong thành phần cấm quân nói trên có một bộ phận gọi là quân túc vệ. tức quân hầu cận, những binh lính bảo vệ và phục dịch nhà vua. Số quân này gọi là tuỳ long quân nội ngoại hay tả hữu túc xa. Vừa lên ngôi Lý Thái Tổ đã đem quân tuỳ long vào làm lính túc vệ bên mình. Việt sử lược chép, Lý Thái Tổ đem 500 quân tuỳ long vào làm quân túc vệ. Năm 1011, vua đặt, quân tả hữu túc xa, mỗi bên 500 người. Lý Thái Tông đổi quân ấy thành tuỳ long quân nội ngoại.

Năm 1051, vua Thái Tông chế xe Thái Bình, một toại “xe ngự” dùng voi kéo được sơn son dát vàng lộng lẫy. Nhà vua còn đặt tuỳ long quân theo hầu xe và cử tướng phiêu kỵ Trần Nẫm cai quản quân ấy. Đến năm 1054, Lý Thánh Tông đặt thêm tả, hữu Long Dực đô, mỗi đô 100 người. Đó là số quân hầu hạ bên xe báu hoặc túc trực bên vua. Mỗi lần xe loan ra hoặc vào, lính Long Dực xếp hàng hai bên, nghi vệ được bày đặt long trọng để chào đón thiên tử. Hoặc gặp ngày triều hội, quân cấm vệ trang phục và đội mũ chỉnh tề đứng trước sân điện, quần thần văn võ đứng chầu hai bên. Khi nhì vua đến, viên chủ sự xướng: “Thánh cung vạn phúc”, quân sĩ đồng thanh hô theo, làm tăng thế uy nghi của buổi lễ.

Năm 1150, đời Lý Thần Tông (1128 - 1138), sau vụ nổi dậy của cấm quân, quan Thái uý Đỗ Anh Vũ đã tổ chức thêm đội quân phụng quốc vệ đô trên 100 người và ra lệnh giữ gìn cẩn mật cung cấm. không cho hoạn quan được vào không cho tụ tập bàn bạc trong cung. Quân cấm vệ được tổ chức chặt chẽ hơn.

Như vậy, trên cơ sở kế thừa tổ chức quân đội thời Tiền Lê, nhà Lý dã phát triển và chính quy hoá quân đội của mình bằng cách mở rộng và đổi tên các quân hiệu: tăng cường quân số và đặt thêm các quân hiệu mới. Tuy vẫn mang danh hiệu là “Thiên tử quân”, nhưng cấm quân thời kỳ này phát triển hoàn chỉnh hơn trên các lĩnh vực.

Về mặt biên chế, cấm quân thời Lý đã chia thành các tướng hiệu, quân hiệu: các vệ quân, đô quân, các đội, ngũ hoặc giáp để thay nhau phụng trực và tuần tra canh gác.  Chẳng hạn, Lý Thái Tổ có 10 quân cấm vệ, ngoài ra còn có chín quân khác để sai khiến. Năm 1025, vua định binh làm giáp, mỗi giáp 15 người dùng một người giỏi; khoẻ làm quản giáp.

Lý Thái Tông đặt 10 vệ Điện tiền cấm quân gọi là “thập vệ”. Tổ chức chính quyền trung tướng cũng như kinh đô Đại Việt thời Lý được xây dựng, mở rộng và hoàn thiện kéo theo sự hoàn chỉnh của cấm quân. Cấm quân thời đó cũng làm trọn chức năng, nhiệm vụ của mình trong việc bảo vệ kinh đô mới, trong đó có cả triều đình hoàng đế và hoàng tộc.


______________________
1. Chu Khứ Phi: Lĩnh ngoại đại đáp bản dịch, tư liệu Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, tr.20.
2. Theo Phan Huy Chú: Lịch triều hiên chương loại chí, Sđd, t III tr.7. 
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #36 vào lúc: 13 Tháng Ba, 2009, 05:20:22 pm »

Cấm quân vẫn theo nguyên tắc thân quân, tức đội quân của vua. Vua với tư cách là một cá nhân đại diện cho cả bộ máy nhà nước, vua cũng đồng nghĩa với nước - trung với vua cũng tức là trung với nước. Vì vậy. cấm quân thời Lý cũng như các triều đại sau. mang ý nghĩa “thân quân”, được tuyển chọn cẩn thận và thực hiện quyền lực của hoàng đế, bảo vệ hoàng đế và triều đình phong kiến.

Cấm quân là lực lượng chủ yếu để dẹp trừ bạo loạn. đặc biệt là các biến cố ở cung đình. Ví dụ: năm 1028, dưới sự chỉ huy của Vũ vệ tướng quân Lê Phụng Hiểu, cấm quân đã dẹp được “loạn ba vương”, bảo vệ ngôi vua Lý Thái Tông; hoặc năm 1150. quan Điện tiền đô chỉ huy sứ Vũ Đái cùng với Tả hưng thánh hoả đầu Nguyễn Đương, hoả đầu đô Quảng Vũ là Lương Thượng Cá, hoả đầu đô Ngọc Giai là Đồng Lợi đã đem cấm quân xông vào cung đình bắt giam tên loạn thần Đỗ Anh Vũ.

Ngoài nhiệm vụ hộ giá, bảo vệ vua và bao vệ triều đình, cấm quân còn tham gia các hoạt động quân sự khác, như thực hiện các cuộc chinh phạt do vua “tự làm tướng” để dẹp các vụ chống dối địa phương. như ở châu Định Nguyên và châu Tự Nguyên năm 1033.

Vai trò nòng cốt của cấm quân nhà Lý biểu hiện rõ nét nhất trong cuộc kháng chiến chống Tống, khi Lý Thường Kiệt chỉ huy cấm quân kết hợp với quân các châu, lộ “tiên phát chế nhân” (1075) và đánh thắng giặc Tống ở sông Như Nguyệt (1077). 

Về mặt tổ chức, biên chế và chức năng nhiệm vụ, cấm quân nhà Lý và cấm quân nhà Tống (Trung Quốc) có nhiều điểm giống nhau. Cấm quân là quân chủ lực của quân đội, dược tuyển chọn kỹ hơn, chủ yếu đóng ở trong kinh, bảo vệ triều dình. Chỗ khác nhau là cấm quân thời Bắc Tống cứ 50 người lập thành một “đội”, hai đội lập thành một “đô”, năm đô là một “doanh”, năm doanh một “quân”, 10 quân là một “tướng”.

Ngoài nhiệm vụ bảo vệ kinh dô, các đơn vị cấm quân nhà Tống cứ một, hai năm thay nhau đồn trú một lần ở vùng biên, vừa để rèn luyện quân sĩ, vừa để hạn chế bớt binh quyền của các tướng, làm cho “lính không quen tướng, tướng không nắm dược quân” 1. Khi đồn trú, họ thường mang theo cả vợ con, nên cuộc sống khổ cực, lại hay bị bọn quan lại sỉ nhục, do vậy, dưới thời Tống thường xảy ra những vụ binh biến của cấm quân.

Còn cấm quân nhà Lý được coi trọng, là lính hạng nhất, đóng ở kinh đô, có đội ngũ đông, nghiêm, được ưu đãi và trở thành nòng cốt của binh lực cả nước.  Trong cơ cấu tổ chức quân thường trực của quốc gia Đại Việt có một bộ phận gọi là sương quân hay tứ sương quân.  Các sử sách xưa của ta như Việt sử lược, Đại Việt sử ký toàn thư, Việt sử tiêu án, Việt sử thông giám cương mục,v.v. đều có nói đến sương quân, nhưng sự ghi chép đó quá ít và sơ lược. Tuy vậy, ta cũng có thể hình dung được một đôi nét về loại quân này.

Theo sự phản ánh của sử liệu thì cái tên sương quân có từ đời Tiền Lê. Đại Việt sử ký toàn thư có chép: “Vua (tức Lê Long Việt - TG) lên ngôi được ba ngày thì bị Long Đĩnh (tức Lê Ngọa Triều) giết, bầy tôi đều chạy trốn, duy chỉ có Điện tiền quân Lý Công Uẩn ôm xác mà khóc. Long Đĩnh lên ngôi, truy đặt thuỵ cho vua là Trung Tông hoàng đế, cho Công Uẩn làm tứ sương quân phó chỉ huy sứ” 2. Bản thân Lý Công Uẩn lúc đó chỉ huy quân điện tiền (thân quân), do hành động nói trên, ông được vua Long Đĩnh khen là người trung, cho làm phó chỉ huy sứ quân tứ sương.

Có thể thời bấy giờ chỉ huy quân tứ sương cũng do quan chỉ huy thân quân (tức cấm quân) đảm nhiệm, vì kinh thành Hoa Lư không lớn lắm và nhiệm vụ bảo vệ vòng ngoài của sương quân cũng gần như bảo vệ cả thành Hoa Lư. Chức vụ mà nhà vua ban cho Công Uẩn vì lòng trung thành, khẳng định đó là một trọng chức của thân quân. Cũng từ chức vụ này mà Lý Công Uẩn được thăng lên làm Tả thân vệ Điện tiền chỉ huy sứ, một chức võ quan tối cao và quan trọng nhất của ngạch cấm quân.


_______________________
1. Theo Trung Quốc đại bách khoa toàn thư quân sự, Nxb. Khoa học quân sự Trung Quốc, Bắc Kinh, 1986, tr.450. 
2. Toàn thư, Sđd, t .1 , tr. 231.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #37 vào lúc: 13 Tháng Ba, 2009, 05:23:22 pm »

Đến thời Lý, sương quân mở rộng và độc lập tương đối với  cấm quân. Ngô Thì Sỹ viết: “tinh chế buổi đầu thời Lý... lấy thân quân làm trọng, cũng gọi là cấm quân. Cấm vệ có 10 quân, mỗi quân có 200 người, đều có tả và hữu, phải túc trực thường xuyên. Lại có chín quân, như sương quân để sai khiến mọi việc, mỗi tháng đến phiên một lần, gọi là đến canh, hết canh lại cho về cày cấy hoặc làm công nghệ, tự cấp chứ không được cấp lương. Khi có chiến tranh thì gọi ra cho lệ thuộc vào các tướng. Nếu quân này không đủ thì chiếu sổ gọi dân ra tòng ngũ, xong việc lại cho về làm ruộng” 1.

Chu Khứ Phi, viên quan nhà Tống ở Quảng Đông - Quảng Tây có mô tả về quân đội nhà Lý như sau: “Nhà Lý có tám quân, mỗi quân có 200 người, thích ngang trên trán ba chứ “Thiên tử quân”. Ngoài ra còn có chín quân khác như Hùng Lược, Dũng Kiện... để sai khiến. Binh cứ hàng tháng thay đổi một lần, lúc nhàn hạ thì cấy trồng để tự túc” 2. Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép : “Nhà Lý có sáu quân thay nhau về làm ruộng theo đúng chế độ xưa”3.

Binh chế triều Lý quy định chỉ có cấm quân phải thường xuyên túc trực tại ngũ bảo vệ kinh thành, bảo vệ triều đình và được cấp lương, còn các quân khác như sương quân và quân các lộ (ngoại binh) đều phải thực hiện “ngụ binh ư nông”, chia thành nhiều phiên thay nhau ở lại canh phòng và luyện tập hay về nhà cày cấy, hoặc làm công nghệ, tự túc lương ăn.  “Chín quân” hay “sáu quân” nói trên rất có thể là sương quân, một loại quân cơ động của nhà Lý. Lúc thường họ làm nhiệm vụ canh gác và chịu tạp dịch như xây dựng, vận tải, cắt cỏ hay canh gác vòng ngoài kinh thành; khi có chiến tranh họ được điều động đánh giặc. Nếu theo biên chế mỗi quân có 200 người thì riêng số lượng sương quân lúc đó ở các cửa thành đã có 1.800 người.

Trong tổ chức quân thường trực thời Lý có hai bộ phận: quân bộ (bộ binh) và quân thuỷ thuỷ quân).

Bộ binh chiếm đa số, lực lượng voi chiến (tượng binh) và linh kỵ mã (kỵ binh) là những bộ phận phối thuộc trong các đơn vị bộ binh.  Trong cuộc chiến tranh chống Tống (1077), thế trận của Lý Thường Kiệt có chinh diện rộng- có chiều sâu lớn; quân chủ lực tham gia trên mười vạn, được bố trí chặn địch cả trên hai hướng đường bộ và đường thuỷ. Trên hướng bộ, đại quân do Lý Thường Kiệt trực tiếp chỉ huy đóng dọc theo chiến tuyến Như Nguyệt - Thiên Đức (Tiên Du) và Thăng Long. Phía trước có phò mã Thân Cảnh Phúc ở Động Giáp, khống chế hai ải hiểm là Quyết Lý và Giáp Khẩu; phía bắc sát dọc biên giới có các tưởng chỉ huy quân địa phương và thổ binh như Lưu Kỷ, Lư Báo. Hoàng Lục Phẫn, Nùng Tồn Phúc, v.v..

Lực lượng thuỷ quân của nhà Lý không đông nhưng tinh nhuệ.  Vua Tống nói quân Giao Chỉ “gan và liều chết”; tướng Tống là Tô Tử Nguyên công nhận: “Người Giao Chỉ giỏi thuỷ chiến”. Theo sách Việt kiệu thư, người Tống có truyền tụng rằng, Giao Chỉ giỏi thuỷ chiến, họ lặn xuống nước đội thuyền địch để lật úp. Đỗ Mục nói. họ có người đi ngầm dưới đáy biển 50 dặm mà không thở, thuyền đi biển thường bị họ lặn dưới nước đục thủng. Tôn Thăng trong sách Đàm phố cũng ca ngợi đạo thuỷ quân của Thái tử Hoằng Chân là hiệu lệnh nghiêm và chiến đấu rất giỏi.

Thuỷ quân nhà Lý năm 1075 dã tham gia trận tập kích chiến lược vào cảng Liêm Châu và Khâm Châu. Đạo thuỷ quân do Hoằng Chân chỉ huy tham gia trận Như Nguyệt (1077) có tới hai vạn với 400 thuyền chiến; đạo thuỷ quân do Lý Kế Nguyên chỉ huy đánh trận Đông Kênh có khoảng một vạn và trên 100 thuyền chiến.  Riêng trong trận Đông Kênh (năm l077), thuỷ quân nhà Lý do Lý Kế Nguyên chỉ huy đã giành thắng lợi vang đội, đánh tan đạo thuỷ quân nhà Tống do Dương Tùng Tiên chỉ huy, làm tiêu tan ý đồ của quân Tống định phối hợp thuỷ, bộ cùng tiến công phá thế trận phòng ngự ở Như Nguyệt của Lý Thường Kiệt.

Trên thực tế, đạo thuỷ quân của Lý Kế Nguyên tuy không đông nhưng được tuyển chọn và huấn luyện cẩn thận, kỷ luật nghiêm, chiến đấu dũng cảm. Sử nhà Tống có dẫn lời của Dương Tùng Tiên như sau: “Vừa rồi tôi đã gặp quân liên lạc mang lệnh của viên hành quân chiêu thảo sứ giặc là Lý Kế Nguyên. Sau đó nhiều lần tôi đánh chúng, nhưng chúng không có ý khuất phục. Vậy xin nghiêm sai dự bị ở biên giới để chế ngự sự bất ngờ”. 


____________________
1. Theo Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, Sđd, t 3, tr.7.
2. Chu Khứ Phi: Lĩnh ngoại đại đáp, Sđd, tr. 16. 
3. Toàn thư, Sđd, t.l, tr.260. 
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #38 vào lúc: 13 Tháng Ba, 2009, 05:27:18 pm »

Như vậy, quân thường trực do triều đình nhà Lý trực tiếp quản lý có cấm quân, túc vệ quân và sương quân trong đó gồm cả quân bộ và quân thuỷ. Số quân đó đều đóng ở trong thành hoặc quanh thành; chức năng chủ yếu là bảo vệ kinh thành Thăng Long, trong đó có vua, triều đình và hoàng tộc; ngoài ra còn thực thi các nhiệm vụ khác theo chức trách riêng của từng loại quân, từng đơn vị. 

Quân địa phương (quân các lộ và phủ binh). 

Sau khi nên ngôi, Lý Công Uẩn chia nước chính 24 lộ, hai trại; dưới các lộ có các châu, huyện. Trong các lộ, châu của Đại Việt thời Lý đều có tổ chức quân sự do quan lại địa phương hoặc các vương tôn trong phủ đệ quản lý, chỉ huy. 

Năm 1207, Lý Cao Tông xuống chiếu tuyển đinh nam, lấy những người khoẻ mạnh sung quân, đặt dưới quyền cai quản của các lộ để dẹp giặc. Sử xưa chép một cách sơ sài, rải rác các hoạt động của quân địa phương thời Lý.

Có thể hiểu vai trò quan trọng của tổ chức này qua một số sử liệu. Đó là sự kiện tháng 8- 1132, khi Chiêm Thành và Chân Lạp vào cướp phá ở Nghệ An, vua Lý Thần Tông sai Thái uý Dương Anh Nhĩ đem quân ở phủ Thanh Hoá và châu Nghệ An đánh giặc; năm 1151, vua Lý Thần Tông xuống chiếu cho thống chế Lý Mông đem 5.000 quân Thanh Hoá và Nghệ An đưa Ung Minh Ta Diệp về nước Chiêm Thành làm vua; hoặc năm 1207, Lý Cao Tông ra lệnh tuyển nhân đinh khoẻ mạnh sung vào quân đội đặt dưới quyền cai quản của quan các lộ để dẹp loạn... 1.
 
Sự xuất hiện dông đảo quân các châu, lộ vùng phía bắc và đông bắc đất nước trong cuộc kháng chiến chống Tống (1075 - 1077) chứng tỏ phần nào quy mô tổ chức và vai trò của họ trong cuộc chiến tranh giữ nước. Trong lần “tiên phát chế nhân” (1075), Lý Thường Kiệt đã huy động một số lượng lớn quân ở các châu, lộ phía bắc do các thủ lĩnh địa phương chỉ huy như Tông Đản, Thân Cảnh Phúc, Hoàng Kim Mãn, Lưu Kỷ, Vi Thủ An...

Số quân của các “động chủ” này được sử dụng đảm nhận nhiệm vụ của một trong hai cánh quân cùng tiến đánh các mục tiêu quân sự của quân Tống ở Ung Khâm Liêm; họ đã phá huỷ, san bằng các kho trại giặc ở sát dọc biên giới và hợp sức cùng cánh chính binh do Lý Thường Kiệt trực tiếp chỉ huy vây đánh thành Ung Châu...

Năm 1076 - 1077, quân của các thủ lĩnh nói trên lại một lần nữa tham gia chiến đấu chống Tống ở ngay biên giới, chặn đánh và hạn chế bước tiến quân của giặc. Bấy giờ theo Tống sử, tướng Lưu Kỷ có 8.000 quân đóng ở Quảng Nguyên. Dưới quyền thống lĩnh của Lưu Kỷ còn có nhiều tướng kiệt kiệt như Nùng Trí Cao, các con Nùng Tồn Phúc, Hoàng Lục Phẫn... Thân Cảnh Phúc lúc đó đóng ở động Giáp, khống chế hai cửa ải Quyết Lý và Giáp Khẩu; Hoàng Kim Mãn giữ Môn Châu; Vi Thủ An giữ châu Tô Mậu từ Tư Lăng đến Lạng Châu.

Sử nhà Tống cũng cho biết, khi Quách Quỳ tiến đến huyện Quan Lang thì gặp ngay quân Thân Cảnh Phúc đem voi chặn đường, quân Tống không thể tiến được, Quỳ bèn sai quân thủ tiễn dùng nỏ bắn vào voi, lấy mã tấu chém vào vòi voi, voi sợ quay lại 1.

Sách Quế hải chí của Trung Quốc chép: “tiên tri phủ Quan Lang là phò mã (Thân Cảnh Phúc - TG) bị thua, bèn trốn vào trong bụi cỏ. Thấy quân Tống lẻ loi thì giết chết hoặc bắt về. . . Người ta cho đó là một vị thần” 2.   

Những sự kiện nói trên không chỉ chứng minh sự đóng góp to lớn của quân các lộ trong kháng chiến mà còn cho ta biết một thực tế là lúc đó ở các châu, các lộ đều có lực lượng vũ trang của mình, ở miền núi do các thủ lĩnh và quan lại địa phương (như phò mã Thân Cảnh Phúc) thống lĩnh. 

Triều đình nhà Lý với chính sách “nhu viễn” của mình, bằng nhiều hình thức liên kết với các thủ lĩnh vùng biên như sách lược ky mi (ràng buộc lỏng lẻo) hoặc gả công chúa cho họ với mục đích liên kết và sử dụng lực lượng quân sự này vào công cuộc bảo vệ các vùng biên giới.


______________________
1. Cương mục, Sđd, t.1, tr.430.
1,2. Theo Hoàng Xuân Hãn: Lý Thường Kiệt, Sđd, tr.195-196.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #39 vào lúc: 13 Tháng Ba, 2009, 05:30:10 pm »

Tư liệu lịch sử cũng cho biết rằng, hoàng tử Hoảng tức Lý Nhật Quang, con thứ tám của vua Lý Thái Tổ đã được Lý Thái Tông cử vào trấn trị ở châu Nghệ An. Trong thời kỳ làm tri châu ở vùng đất phương nam này, Lý Nhật Quang đã có công lớn trong việc bảo vệ và ổn định biên giới giáp với Chiêm Thành. Ông đã xây dựng lực lượng quân sự của mình, triển khai quân trấn giừ ở những cửa ải quan trọng và đã tham gia đánh giặc mỗi lần vua Lý Thái Tông đưa quân hỏi tội quân Chiêm Thành quấy phá biên giới. 

Đội ngũ quý tộc nhà Lý mà nòng cốt là bộ phận quý tộc tôn thất, trong đó có các hoàng tử, thân vương được phong chức tước cao và được nhà vua giao cho nhiều trọng trách như phong chức đại nguyên soái cầm quân đánh giặc, lưu giữ ở kinh sư bảo vệ kinh thành, cho quyền trấn trị và thu thuế ở các địa phương, v.v. .

Vua Lý đã từng đưa con cháu của mình đi trấn trị ở một số châu, lộ để bảo đảm sự trung thành về chính trị của địa phương đối với triều đình.Trong một khuôn khổ nhất định, ở những vùng trấn trị đó, các vương tử, quý tộc có quyền tổ chức một bộ phận lực lượng quân sự của mình. Các vương (con vua Lý) đều có lực lượng “phủ binh” riêng gọi là “quân vương phủ”.

Điều này có thể nhận biết qua sự biến cung đình năm 1028. Lúc đó vua Lý Thái Tổ vừa mất, Thái tử Phật Mã (tức Lý Thánh Tông) chưa kịp lên ngôi thì ba vương là: Đông Chinh vương, Dực Thánh vương và Vũ Đức vương đã đem “phủ binh” của mình vào phục sẵn trong cấm thành để giết Thái tử, tranh ngôi báu. Đông Chinh vương phục binh ở trong Long Thành, Dực Thánh vương và Vũ Đức vương phục ở ngoài cửa Quảng Phúc đợi Thái tử đến để đánh úp. Nhưng việc không thành vì Lê Phụng Hiểu và Lý Nhân Nghĩa đã chỉ huy quân cấm vệ đánh tan.

Bấy giờ, Khai Quốc vương trấn trị ở phủ Trường Yên (Ninh Bình) cũng có một đội quân riêng và tỏ ý không chịu mệnh Thái tử, nhân vụ “ba vương” cũng định đem phủ binh làm phản. Vì thế, sau khi lên ngôi, Lý Thái Tông phải thân cầm quân đến Trường Yên vừa dùng áp lực vừa dùng ân đức để chiêu dụ Khai Quốc vương. 

Trong cuộc kháng chiến chống Tống năm 1077 có đội quân của hai hoàng tử Hoằng Chân và Chiêu Văn tham gia đánh trận Khao Túc trên sông Phú Lương (sông Cầu). Khi đó, Hoằng Chân chỉ huy một đạo thuỷ quân mà lực lượng nòng cốt là 500 quân “nuôi riêng” của ông. Loại quân này được tổ chức, huấn luyện và trang bị theo phương thức riêng của chủ tướng. Khi có chiến tranh. nhà nước có thể huy động để huấn luyện và chiến đấu dưới sự chỉ huy thống nhất.

Tôn Thăng, một người Tống, có viết trong sách Đàm phố rằng:“Hoằng Chân có nuôi riêng 500 quân đặc biệt, cấm mọi điều thị dục, dạy cho trận pháp. Đội quân ấy rất giỏi. Hiệu lệnh rất nghiêm. Người nào cũng cầm một cái kim bài để làm hiệu riêng” 1.

Như vậy, “quân vương phủ” thời Lý thực chất cũng như một loại “thân binh”, về hình thức có điểm giống như quân của nhà vua; điểm khác nhau ở chỗ, vua là đại diện cho quốc gia, quân của vua là quân của triều đình, của nhà nước đóng ở kinh đô; còn quân của các vương là quân riêng của cá nhân, có nhiệm vụ bảo vệ phủ đệ và vùng trấn trị của họ.

Như vậy, dưới thời Lý, ở các địa phương, các lộ, phủ, châu đều có lực lượng quân sự riêng. Đó là quân do các quan lại địa phương tổ chức, chỉ huy; có thể đó là các vương tôn, quý tộc vốn là quan lại do triều đình cử xuống; cũng có thể là đó là quân của các thủ lĩnh, các tù trưởng, tộc trưởng miền núi . . . 

Triều Lý cho phép họ tuyển đinh tráng trong địa phương và cai quản binh trong lộ, trong phủ đệ của mình; nhưng họ phải chịu  sự chỉ huy chung của trung ương và có thể được huy động khi có chiến sự. Số quân các lộ không giống nhau nhiều ít tuỳ lộ hoặc châu lớn - bé, hoặc tuỳ nhu cầu phòng giữ trong địa hạt. 

Đây cũng là lực lượng vũ trang canh phòng, tác chiến chủ yếu trên địa phương; nhưng khi có chiến tranh lớn thì quân các lộ, châu hoặc của các vương tôn đều phải chịu sự điều động và chỉ huy của triều đình.


____________________
1. Hoàng Xuân Hãn: Lý Thường Kiệt, Sđd, tr.209.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM