UyenNhi05
Cựu chiến binh

Bài viết: 2589
Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.
|
 |
« Trả lời #40 vào lúc: 14 Tháng Ba, 2009, 05:00:11 pm » |
|
Trong lực lượng quân thường trực của nhà nước Đại Việt thời Lý thì “ngoại binh”, gồm cả sương quân và quân các lộ đều được chia phiên, thay nhau túc trực hay trở về sản xuất tự túc theo quốc sách “ngụ binh ư nông”. Theo sử gia Phan Huy Chú: “Thời Lý, trong thành có quân túc vệ đội ngũ đông nghiêm quân ở ngoài thì vẫn theo ý đời xưa, lúc vô sự thì làm ruộng, khi có động thì chiếu sổ gọi ra hết. Cho nên, binh vẫn đủ mà không phải chi phí nhiều, càng thêm hăng hái chống giặc” 1.
Ngoài các lực lượng quân sự nói trên, trong các triều đại Đinh, Tiền Lê và Lý, ở khắp các địa phương, làng bản trong cả nước đều có lực lượng dân binh, thổ binh. Ở nước ta từ rất sớm đã có truyền thống dân binh tham gia đánh giặc cùng vời quân đội. Có thể họ là lực lượng bảo vệ quê hương làng xã, động bản và đánh giặc tại chỗ khi quân thù đến; có thể họ được huy động lệ thuộc vào các đội quân địa phương và quân triều đình cùng chiến đấu giữ nước.
Dưới triều Lý, cùng với chính sách cố kết dân tộc, nhà nước rất chú trọng phát triển lực lượng quân sự địa phương trong đó có dân binh hay thổ binh, nhất là ở các vùng lãnh thổ nơi biên giới phía bắc và đông bắc. Vì thế, cuối năm 1075 đầu năm 1076, trong đạo quân tiến sang đất Tống thực hiện cuộn tập kích chiến lược “tiên phát chế nhân” phá tan các căn cứ xuất phát xâm lược của giặc có đông đảo thổ binh nằm trong các đạo quân do thủ lĩnh địa phương các dân tộc miền núi chỉ huy.
Đến cuối năm 1076 đầu năm 1077, dân binh, thổ binh vùng tử bắc sông Như Nguyệt đến biên giới lại một lần nửa có mặt trong các đội quân chống xâm lăng. thực hành đánh chặn, tập kích, phục kích, tiêu hao địch, tạo điều kiện thuận lợi cho quân chủ lực nhà Lý thực hiện thành công phòng ngự và phản công tiêu diệt quân Tống.
Sử Trung Quốc Tục tư trị thông giám trường biên cho biết: “Dân Man họp nhau chống lại ở bắc Quảng Nguyên có Hoàng Lục Phẫn cùng cu dân chống cự, không cho (người Tống) tiến vào động mình. Cánh quân do Yên Đạt chỉ huy cũng bị Lưu Kỷ chống lại rất hăng. Yên Đạt sai đốt phá các động để đề phòng người ở đó tập kích” 2.
Lực lượng dân binh, thổ binh vừa là nguồn đinh tráng bổ sung cho quân ngũ, vừa là lực lượng đông đảo tham gia cuộc chiến đấu chống xâm lược Tống. Trong một tờ trình của quan địa phương gửi vua Tống có nói: “Dân Man kéo hết cả nhà theo”, “cả nước Giáo Chỉ, nhà có sáu người thì năm người tòng quân, còn một không đi được phải ở lại”; điều đó phần nào chứng tỏ sự tham gia đông đảo của dân binh trong cuộc kháng chiến chống Tống.
Như vậy, căn cứ vào các sự kiện lịch sử trực tiếp phản ánh các hoạt động quân sự vào cuối thời Ngô, Đinh, Tiền Lê và thời Lý, kể cả trong công cuộc dẹp loạn và hai lần chống quân Tống xâm lược, chúng ta có thể hình dung trong lịch sử quân sự dân tộc giai đoạn từ thế kỷ X đến thế kỷ XIII đã xuất hiện hình thức tổ chức lực lượng vũ trang với sự kết hợp của nhiều loại quân và binh, đó là :
1. Quân triều đình, tức quân thường trực của trung ương, với nhiều tên gọi khác nhau như thiên tử quân, thân quân, điện tiền quân hay cấm quân (thời Lý); ngoài ra còn có sương quân (hay tứ sương quân).
2- Quân lính ở các địa phương, tức quân các đạo, quân các lộ phủ, châu và quân vương phủ do các thân vương tổ chức quản lý.
3- Hương binh, dân binh vùng đồng bằng hay thổ binh miền núi, nằm trong các làng xã, động bản; thời bình họ là dân phòng, là tuần đinh, khi có biến họ là lực lượng đánh giặc tại chỗ hoặc tham gia chiến đấu cùng với các đơn vị quân địa phương.
Ba loại quân - binh nói trên cùng tồn tại song song trong xã hội nước ta các thế kỷ X - XIII. Khi có giặc ngoại xâm họ tham gia chiến đấu dưới sự chỉ huy thống nhất của triều đình trung ương.
__________________________ 2 Theo Hoàng Xuân Hân: Lý Thường Kiệt, Sđd, tr. 269, 166. 1. Phan Huy Chú: Lịch triều hiên chương loại chí, Sđd, tr.5
|
|
|
|
|
Logged
|
"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
|
|
|
UyenNhi05
Cựu chiến binh

Bài viết: 2589
Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.
|
 |
« Trả lời #41 vào lúc: 14 Tháng Ba, 2009, 05:01:16 pm » |
|
II. CHẾ ĐỘ TUYỂN MỘ, NUÔI DƯỠNG VÀ TRANG BỊ
1. Tuyển quân.
Tuyển quân xưa còn gọi là phép kén chọn binh lính của nhà nước, bao gồm cả vấn đề quản lý nhân đinh và các quy chế tuyển đinh tráng sung vào quân ngũ được vận dụng trong mỗi thời kỳ. Hai vấn đề dân tịch và quân tịch luôn luôn gắn liền.
Từ thế kỷ thứ X, thời Đinh - Lê có thập đạo quân, bắt đầu chế độ binh dịch đối với tất cả các đinh tráng, vì thế vấn đề quản lý hộ tịch để “điểm dân làm lính” đã được đặt ra. Trên danh nghĩa thập đạo quân gồm một trăm vạn người, nhưng thực chất đó là “ngạch binh biên sổ, binh gắn liền với nông.
Sử chép, năm Thiên Phúc thứ 7 (986) và thứ 9 (988), vua ra lệnh chọn dân làm binh, lấy những người khoẻ mạnh sung vào quân túc vệ. Tháng 3-1002, vua định luật lệnh tuyển chọn quân lính. Thời bấy giờ, thân quân túc vệ quân điện tiền quân hay thiên tử quân đều là cấm binh, loại quân thường xuyên túc trực, canh gác bảo vệ nhà vua và kinh đô Hoa LƯ. Còn quân thập đạo nói chung đều thực hiện chế độ thay phiên canh gác hoặc khi có việc thì gọi ra, khi xong việc lại giải tán về với đồng ruộng và gia đình.
Sang thời Lý (thế kỷ XI), vấn đề quản lý đinh tráng đã trở thành điển chế của nhà nước. Công việc binh chính, tài chính được chính quyền chú ý; trong đó, biện pháp đầu tiên là Lập hộ tịch và kiểm kê nhân đinh trong nước. Đây là cơ sở để nhà nước tuyển quân.
Thể thức được tiến hành như sau: hàng năm, đầu mùa xuân, các xã quan lập sổ hộ xã mình, kê khai nhân đinh, xếp theo thứ hạng: tôn thất (họ vua), quan văn võ, quan theo hầu, quân nhân, tăng đạo, hoàng nam (những người khoẻ mạnh), người già yếu, tàn tật, lưu tán...
Đinh nam từ 18 đến 20 tuổi được ghi vào sổ bìa vàng, gọi là hoàng nam, từ 20 đến 60 tuổi gọi là đại nam. Đến đời Lý Anh Tông (1138 - 1175) có quy định khác: từ 16 tuổi trở xuống là hoàng nam, từ 17 đến 19 tuổi là đại hoàng nam. Tất cả các hoàng nam và đại hoàng nam đều được ghi tên trong cuốn sổ bìa vàng. Đây là nguồn binh của nhà nước.
Thông qua các tổ chức hương xã, triều Lý quản chặt số đinh tráng trong toàn quốc. Nhà nước nghiêm cấm việc ẩn lậu hoặc trốn tránh ghi tên trong sổ. Năm 1010, vua Lý Thái Tổ có chiếu lệnh cho những kẻ trốn tránh. phiêu tán phải trở về quê cũ, mục đích là để giữ yên trật tự xã hội, mặt khác để có điều kiện quản lý tốt nhân khẩu, tạo thuận tiện cho việc tuyển lính, thu thuế và bắt sai dịch.
Đặc biệt chính quyền nghiêm cấm việc ẩn giấu và mua bán các hoàng nam và đại hoàng nam. Nhà nước hạn chế các quý tộc thuê mướn, mua bán hoàng nam làm gia nô. Có thời kỳ chỉ cho phép ba người (các quan chủ đô) nuôi chung một gia nô. Ai muốn nuôi tư nô chỉ được nuôi kẻ chưa đến tuổi hoàng nam (tức dưới 18 tuổi).
Chính quyền nghiêm trị những kẻ cố tình làm trái lệnh trên. Năm 1043, Lý Thái Tông hạ lệnh: các quan chức cứ ba người phải bảo đảm lẫn nhau, ai chứa giấu đại nam làm gia nô cho người khác nếu đã bán rồi thì đánh 100 trượng và thích 20 chữ vào mặt, chưa bán nhưng đã cho đến ở và làm việc cũng đánh như thế và thích 10 chữ; người nào đã biết chuyện nhưng vẫn mua thì bị xử thấp hơn một bậc so với kẻ bán.
Quy định trên chứng tỏ thời Lý rất chú trọng quản lý nhân đinh, đặc biệt là quản số hoàng nam rất chặt chẽ. Có như vậy, việc tuyển chọn hoặc điều động, gọi dân đinh ra làm lính mới không sai sót, công bằng và tiện lợi. Trên cơ sở đó, nhà nước tiến hành tuyển dân làm lính theo chế độ: binh dịch là nghĩa vụ đối với tất cả các đinh tráng đến độ tuổi trưởng thành; dưới triều Lý, đối tượng đó là các hoàng nam hoặc đại hoàng nam.
Theo chế độ nói trên, hàng năm vào dịp mùa xuân, triều đình có lệnh cho các lộ, phủ tuyển quân. Số lượng tuyển và điều động đinh tráng vào lính tuỳ theo yêu cầu. Tư liệu lịch sử phản ánh không chi tiết các đợt tuyển quân đó. Nhưng qua sự ghi chép tản mạn, chúng ta có thể biết được một số nội dung và phương thức thực hiện của chế độ này.
|
|
|
|
|
Logged
|
"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
|
|
|
UyenNhi05
Cựu chiến binh

Bài viết: 2589
Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.
|
 |
« Trả lời #42 vào lúc: 14 Tháng Ba, 2009, 05:03:16 pm » |
|
Chẳng hạn, mùa xuân năm Chiêu Thắng thứ 8 (1083), vua Lý Nhân Tông đích thân duyệt các hoàng nam, định làm ba bậc, từ đó tuyển những hoàng nam khoẻ mạnh làm lính. Năm 1118. triều đình tuyển 350 đại hoàng nam sung làm quân các vệ Ngọc Giai, Hưng Thánh, Vũ Đô và Ngự Long.
Trong đợt tuyển cấm quân đầu năm 1146, vua Lý Anh Tông lệnh cho các quan, các quản giáp và chủ đô chỉ được chọn nhân đinh ở hộ đông người, không được tuyển con các nhà cô độc (nhà chỉ có một con trai). Năm 1160, nhà vua giao cho Tô Hiến Thành và Phí Công Tín phụ trách tuyển dân đinh chọn những người khoẻ sung vào quân ngũ.
Năm 1179, vua Lý Cao Tông xuống chiếu tuyển đinh nam, chọn những tráng đinh cho làm lính. Vào cuối triều Lý, các thế lực chống đối ngày một đông, triều đình luôn luôn bận rộn việc đánh dẹp. Lý Cao Tông, năm 1207, đã xuống chiếu chọn các hoàng nam khoẻ mạnh sung quân, cho phép tăng quân số địa phương và ra lệnh cho quan các lộ cai quản quân đó để “dẹp loạn”.
Như vậy, vào những năm hoà bình, triều đình nhà Lý vẫn chú ý tuyển đinh tráng vào quân, lấy người trẻ khoẻ thay thế số binh lỉnh già yếu, bổ sung thêm số thiếu hụt. Số lượng tuỳ theo từng thời kỳ, theo yêu cầu canh phòng và luyện tập. Số đinh tráng còn lại được ghi tên trong sổ bìa vàng, còn gọi là sổ quân, lúc cần chiếu sổ gọi ra tòng quân. Đó là lệ thường hằng năm của nhà nước Đại Việt thời Lý.
Học giả Phan Huy Chú có nhận xét: “Đại ước người trúng tuyển thì sung vào quân ngũ, người hạng kém thì biên vào sổ, có việc mới gọi ra, niên hạn mau chóng có lẽ không nhất định”. Sử sách không cho biết mỗi năm nhà Lý tuyển được bao nhiêu quân và tổng số quân thường trực trong các đời vua bao nhiêu. Nhưng qua biên chế, thời Lý có vài chục đô quân hay vệ quân; mỗi đô có 100 người, mỗi vệ có 200 người. Ngoài số cấm quân còn có sương quân và quân các lộ phủ.
Tổng số quân thường trực thời Lý ở trung ương và ở các địa phương ước chừng khoảng từ 5 đến 7 vạn vào lúc hoà bình, thời chiến nhà nước có thể huy động được một lực lượng lớn hơn nhiều, như trong giai đoạn kháng chiến chống Tống lần thứ hai (1075-1077), triều Lý có trên 10 vạn quân chủ lực tinh nhuệ.
Tuy nhiên, số lượng quân thường trực 5-7 vạn nói trên không phải thường xuyên tại ngũ. Trong số đó, chỉ có cấm quân là lính chuyên nghiệp, được hưởng lương và phải túc trực bảo vệ kinh đô, sử sách còn gọi là quân trong kinh thay nội binh); còn ngoại binh (sương quân và quân các lộ) thì được luân phiên thay nhau tại ngũ canh gác và luyện tập hoặc trở về sản xuất tự túc lương ăn.
Ngô Thì Sỹ cho biết:“Chế độ binh lính nhà Lý. . . mỗi tháng lên cơ ngũ một lần, gọi là đi canh, hết hạn lại cho về quê làm ruộng, quan không phải cấp lương” 1. Đó là chính sách đối với phần lớn số binh lính được tuyển mộ và trưng dụng dưới triều Lý. 2. Trang phục và nuôi dưỡng
Sử sách xưa nói rất tản mạn về cách ăn mặc của các võ quan, còn trang phục của binh lính thì rất khó tra cứu, tìm hiểu.
Nước ta nhỏ, sống chủ yếu bằng nghề nông; thủ công nghiệp tuy phát triển sớm nhưng chưa thể cung ứng đầy đủ mọi nhu cầu về vải mặc và phương tiện cho cả quân đội; vả lại ở một số triều đại, nhất là thời kỳ đầu xây dựng nền độc lập tự chủ sau hơn một ngàn năm bị phong kiến phương Bắc đô hộ, tổ chức quân đội quốc gia mới là bước sơ khai, chưa thật sự chính quy như những triều đại sau, do đó binh và nông vẫn gắn chặt với nhau, cả cái ăn và cái mặc của quân sĩ chủ yếu còn phải tự túc, kinh phí của nhà nước còn hạn hẹp, chỉ đủ cung cấp cho đội ngũ võ quan và số thân quân hoặc cấm quân - những người lính chuyên nghiệp phải thường xuyên túc trực bảo vệ kinh thành.
Các sách Việt sử lược, Đại Việt sử ký toàn thư, Lịch triều hiến chương loại chí, Vân đài loại ngữ, Việt sử thông giám cương mục... có phản ánh một phần cách ăn mặc của võ quan, tướng lĩnh và binh sĩ trong thời kỳ này. Sử chép, năm 975, Đinh Tiên Hoàng quy định áo mũ cho các quan văn võ; quân thập đạo đều đội mũ “tứ phương bình định”, mũ làm bằng da, phía trên bằng, bốn góc vuông khâu giáp nhau, trên hẹp dưới rộng.
_____________________ 1. Ngô Thì Sỹ: Việt sử tiêu án, Sđd, tr.127.
|
|
|
|
|
Logged
|
"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
|
|
|
UyenNhi05
Cựu chiến binh

Bài viết: 2589
Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.
|
 |
« Trả lời #43 vào lúc: 14 Tháng Ba, 2009, 05:06:39 pm » |
|
Đến thời Tiền Lê, năm 1002, Lê Hoàn trang bị mũ “đầu mâu’ cho quân đội. Sách Đại Việt sử ký toàn thu cho biết, vào mùa đông năm 1055, vua Lý Thánh Tông thương kẻ tù tội, ra lệnh phát “chăn chiếu cho tù nhân”.
Như vậy, chắc cấm quân thời ấy cũng được cấp phát chăn chiếu. Bức vẽ các chiến binh trên đồ gốm thời Lý - Trần cho biết họ đều chít khăn, đóng khố, cởi trần. Vua Lý cho phép cấm quân thích chữ ở trán, vẽ hình ở bụng và vế đùi, có thể vào mùa hè binh sĩ đóng khố cởi trần luyện tập mới khoe được các hình vẽ ấy.
Thời Lý, các quan văn võ từ lục phẩm được mặc áo gấm, từ thất phẩm trở xuống mặc áo the. Điều này cũng phù hợp với lệnh của vua Lý Thái Tông phát gấm vóc trong kho để may lễ phục cho vua quan. Năm 1044, các võ quan lập công trong cuộc chiến với Chiêm Thành được nhà vua ban thưởng, từ lục phẩm trở lên cho áo bào gấm, từ thất phẩm trở xuống ban áo là. Quân sĩ thời đó chủ yếu mặc áo vải thô nhuộm bằng củ nâu và lá cây.
Lê quý Đôn viết rằng:“Nước Nam ta lấy lá chàm nhuộm vải và lấy củ nâu nhựa giã nhỏ, nhuộm, lấy chày đập, rồi phơi khô để may áo. gọi là thanh cát y; có ba thứ: sắc màu lửa sáng, sắc màu sáng nhạt và sắc màu hoa quì. Bất cứ quân, dân, sang hèn đều mặc thế. Chỉ có khác là ở kiểu cách, dài ngắn mà thôi” 1.
Năm 1182, vua Lý ra lệnh cấm nhân dân không được mặc áo sắc vàng vì màu vàng chỉ dành riêng cho vua. Từ đời Lý Thánh Tông, các quan văn, võ đều dùng loại “mũ phốc đầu làm triều phục. Năm 1164, vua Tống (Trung Quốc) thấy sứ giả nhà Lý “ôn hoà, văn phong áo mũ chửng chạc, đàng hoàng, rất lấy làm ưng ý” 2. Điều đó chứng tỏ, trang phục của các quan văn, võ thời Lý đã hoàn chỉnh, đẹp mắt. Việc nuôi binh, dưỡng binh tuỳ thuộc vào chế độ tổ chức quân đội từng triều đại. Tuy có phần khác nhau nhưng nhìn chung vấn đề nuôi dưỡng trong quân đội đều được các triều đại quan tâm, vì họ đều hiểu rằng “thực túc binh cường”, “túc thực túc binh”, “có thực mới vực được đạo”. Tuy nhiên, các sử gia thời xưa đã không chú ý ghi chép về vấn đề này, nên việc khảo cứu gặp rất nhiều khó khăn.
Sử cũ hoàn toàn không cho biết chế độ nuôi quân dưới các thời Ngô, Đinh và Tiền Lê. Sử gia Ngô Thì Sỹ nhận xét về chế độ quân thập đạo thời Đinh - Lê như sau: “Xét quy chế - quân lữ này, từ một ngũ 10 người, đến một đạo 10 quân, thành số mỗi quân 10.000. Tổng số 10 đạo là 100 vạn người. Số cơm áo 100 vạn người ấy tất phải phiền đến mấy ức vạn người cung cấp, thì dân lực trong nước lấy gì mà cung cho đủ được? Có lẽ bấy giờ binh và nông chưa chia, còn là khi có việc thì gọi ra, khi xong việc lại giải tán về đồng ruộng, hoặc giả như cách kén binh ở tứ trấn ngày nay (thời cuối Lê - TG), chỉ có ngạch biên sổ mà thôi” 3. Có thể công nhận đó là một nhận xét hợp lý. Như trên đã nói, tổ chức quân đội ở nước ta thế kỷ X chưa thật hoàn thiện, cho nên việc ăn và mặc chủ yếu lo cho số thân quân, còn phần lớn làm lính theo nghĩa vụ chủ yếu là tự túc lương ăn; quân lính ở các đạo phần lớn là quân biên sổ, tức là chỉ có biên chế theo sổ sách, khi cần theo sổ mà huy động.
Tuy nhiên, khi có chiến sự, việc binh lương một phần do nhà nước cung ứng, một phần do nhân dân các địa phương đóng góp. Theo truyền thuyết dân gian hoặc thông qua các lễ hội ở một số địa phương chúng ta thấy dân làng thường tế lễ bằng các thứ bánh dày, lương khô (bánh khảo) và hoa quả, tượng trưng cho những thứ lương thực cung cấp cho quân đội thời Ngô Quyền và Lê Hoàn đánh giặc.
Bước sang thế kỷ XI, vương triều Lý bắt đầu thực hiện “ngụ binh ư nông” (gửi binh ở nông), coi đó là một quốc sách xây dựng lực lượng quân sự nằm trong nhân dân, gắn liền với sản xuất. Vấn đề nuôi dưỡng quân đội thời này có ảnh hưởng rất lớn bởi chính sách ngụ binh ơ nông. Thời Lý, cấm quân là lực lượng thường trực, thường xuyên phải túc trực tại ngũ để canh phòng và luyện tập.
____________________ 1. Lê quý Đôn: Toàn tập Vân đài loại ngữ, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1978, tr.155. 2. Cương mục, Sđd, t.1V, tr. 45. 3. Theo Phan Huy Chú: Lịch triều hiên chương loại chí, t.1II, Binh chế chí, Sđd, tr.7.
|
|
|
|
|
Logged
|
"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
|
|
|
UyenNhi05
Cựu chiến binh

Bài viết: 2589
Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.
|
 |
« Trả lời #44 vào lúc: 14 Tháng Ba, 2009, 05:12:23 pm » |
|
Loại quân này được nhà nước cung cấp, nuôi dưỡng theo chế độ của từng giai đoạn. Họ được phát quân trang và cấp lương bằng tiền, bằng thóc, gạo và kèm theo một số thực phẩm khác. Còn các quân khác, mà cụ thể đó là sương quân và quân các lộ (ngoại binh) đều thực hiện phép “chia phiên” theo chính sách ngụ binh ư nông.
Các đơn vị được chia thành nhiều phiên; thay đổi nhau theo định kỳ, một phiên túc trực tại ngũ, luyện tập, canh gác hay phục dịch, các phiên khác trở về gia đình tham gia sản xuất, tự túc lương ăn. Sách Việt sử tiêu án cho biết: “Chế độ binh lính nhà Lý... mỗi tháng lên cơ ngũ một lần, gọi là đi canh, hết canh lại về làm ruộng, quân không phải cấp lương” 1.
Sách Đại Việt sử ký toàn thư viết năm 1128, vua Lý Thần Tông “cho sáu quân thay phiên nhau về làm ruộng, theo chế độ xưa” 2. Binh chế chí, sách Lịch triều hiên chương loại chí chép: “Đời Lý, cấm quân mỗi năm được cấp 10 bó lúa. Mồng 7 tháng Giêng, khai hạ, cấp cho mỗi người ba tiền và vải một tấm. Ngày Nguyên Đán, trong lễ đại triều hội, ban ăn có các thứ bánh tày, cá, mắm và cơm gạo nếp cái trồng trọt để tự cấp” 3..
Bấy giờ lương bổng đều cấp bằng gạo tẻ, tức là gạo chiêm. Còn ngoại binh thì không có lương, cứ luân phiên đến canh, hết phiên canh cho về cày cấy. Theo sách Lĩnh ngoại đại đáp thì, “Binh sĩ (triều Lý) cứ một tháng một lần đổi. Hàng năm, ngày 7 tháng Giêng, mỗi người được chi tiền 300, trừu, lụa, vải đều một tấm. Hàng tháng được cấp 10 bó lúa” 4. Phan Huy Chú dẫn lời Ngô Thì Sỹ nói rằng: “Binh chế buổi đầu nhà Lý, đại lược bắt chước phép Phủ vệ của nhà Đường và phép cấm sương nhà của Tống, lấy thân quân làm trọng, cũng gọi là cấm quân. Cấm vệ có 10 quân, mỗi quân 200 người, đều có tả hữu, phải túc trực thường xuyên. Lại có chín quân như sương quân, để sai khiến làm mọi việc, mỗi tháng đến phiên một lần, gọi là dện canh, hết canh lại cho về nhà cày cấy hoặc làm công nghệ tự cấp lấy chứ không được cấp lương. Khi có chiến tranh thì gọi ra cho lệ thuộc vào các tướng. Nếu số quân này không đủ thì chiếu sổ gọi dân ra tòng ngũ’ xong việc lại cho về làm ruộng. Đó là đúng với ý nghĩa ngụ binh ơ nông” 5 .
Căn cứ vào các sử liệu trên, có thể biết, trong quân đội thời Lý chỉ có quân cấm vệ (cấm quân) là quân thường xuyên túc trực, được cấp lương ăn. Các loại quân khác( từ quân tứ sương canh giữ các cửa thành đến quân các lộ đều được vận dụng phép chia phiên theo chính sách ngụ binh ư nông. Cách chia phiên cụ thể ra sao không rõ, chỉ biết rằng quân lính được cắt canh từng phiên, mỗi tháng một lần thay phiên.
Tức là sương quân và quân các lộ được chia thành nhiều bộ phận, tháng này phiên thứ nhất lên cơ ngũ canh phòng, luyện tập hay làm tạp dịch, còn các phiên khác về nhà sản xuất tự túc. Các phiên cứ thế thay nhau, chu kỳ mau chóng tuỳ theo số phiên. Nhờ chế độ đó, mà quân lính được về sản xuất, gần gũi vợ con, gia đình và vườn ruộng.
Quân thường trực thời đó tuy đông nhưng số tại ngũ thì hạn chế, đỡ kinh phí nuôi quân cho nhà nước đương thời. Số cơm gạo, tiền và vải cấp phát cho quân thường trúc đều do dân đóng góp, chủ yếu từ tô thuế hay được huy động khi nhà nước cần.
Năm l092, vua Lý Nhân Tông định lệ thu thuế, mỗi mẫu ba thăng lúa để cấp cho quân đội. Vương triều Lý chia nước thành các châu lộ. Mỗi lộ đều được triều đình cắt cử quan lại về trấn trị để quản lý, thu thuế. Các vương tôn, hoàng tử cũng được giao cai quản, chỉ huy quân đội và thu thuế từng vùng.
________________________ 1. Ngô Thì Sỹ: Việt sử tiêu án. Sđd, tr.127. 2. Toàn thư, Sđd, t.l, tr.314. 3. Phan Huy Chú: Lịch triều hiên chương loại chí, Sđd, t.III, tr . 314 4.Chu Khứ Phi: Lĩnh ngoại đại đáp, tr.18. 5. Theo Phan Huy Chú: Lịch triều hiên chương loạt chí. Sđd, t. ITI, tr. 7,8.
|
|
|
|
|
Logged
|
"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
|
|
|
UyenNhi05
Cựu chiến binh

Bài viết: 2589
Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.
|
 |
« Trả lời #45 vào lúc: 14 Tháng Ba, 2009, 05:14:05 pm » |
|
Nhà nước tổ chức các kho chứa lương thực. Để dự trữ, cung cấp cho các cuộc hành quân và luyện tập, ngoài việc quân lính phải gói cơm, muối đi cùng, các địa phương còn được lệnh chứa sẵn ở kho lương thực hoặc các loại thức ăn được chế biến trước như bỏng khô, chè lam, các loại bánh hay gạo nấu chín. Quân đi đến đâu thì quan tri châu ở đó có nhiệm vụ cung cấp đầy đủ lương thực và thực phẩm.
Hoàng tử thứ tám của vua Lý Thái Tổ được cử làm tri châu ở Nghệ An. Nhờ vận dụng những chính sách khuyến nông hợp lý nên châu Nghệ An ổn định và phát triển, đời sống nhân dân no đủ và thóc gạo dự trữ có phần dư thừa. Nhờ đó mà Lý Nhật Quang xây dựng được nhiều kho thóc dự trữ cho quân đội.
Sử chép rằng, năm 1037, vua Lý Thái Tông xuống chiếu cho xây dựng các kho Tư Thành, Lợi Nhân, Vĩnh Phong, v.v. , để làm nơi cất giữ các loại tô thuế. Thời kỳ làm tri châu ở Nghệ An, Lý Nhật Quang đã sắp đặt hành doanh ở trại Bà Hoà, trong trại đất rộng có thể chứa được ba, bốn vạn quân; kho tàng, tiền lương đủ dùng trong ba năm. ông cho xây dựng 50 sở để làm kho tích trữ lương thực và tuỳ từng địa bàn quan trọng mà lập các đồn bằng đất chứa thóc tô thuế, rồi đặt binh lính canh giữ để sẵn sàng cung ứng binh lương khi cần thiết.
Năm 1044, trước khi xuất quân chinh phạt Chiêm Thành, vua Lý Thái Tông giao cho Lý Nhật Quang vận tải lương thực. Nhật Quang đã lập sẵn các đồn đất chứa lương. Khi quân đi qua, việc tiếp tế binh lương đều được chu tất, nhà vua khen lắm. Sau thắng trận trở về, vua an ủi Nhật Quang, gia tước vương và trao cho quyền tiết việt vùng đất ấy 1.
Trên đây là một số biểu hiện cụ thể về việc cung cấp nuôi dưỡng binh sĩ trong thời bình và thời chiến. Còn chế độ đối với các võ quan, tướng lĩnh thì nhà nước đã có quy chế rõ ràng về lương bổng và ruộng đất. Khi dã là quan lại thuộc hệ thống chính quyền thì họ được hưởng những đặc ân, đặc quyền và bổng lộc theo quy định trong quan chế của các triều đại.
Như vậy, chế độ cung cấp cho quân đội trong giai đoạn này chủ yếu dựa vào dân và do dân, chính quyền đứng ra tổ chức thực hiện “gửi binh ở nông” để quân lính tự túc, đỡ phần chi phí quân sự, dựa vào dân để huy động lực lượng vật chất, đồng thời tổ chức các kho chứa của trung ương và địa phương là những phương thức hợp lý trong quá trình thực hiện chính sách cung cấp nuôi dưỡng quân đội.
Nhờ thế quân đội các thời Đinh, Tiền Lê và nhất là thời Lý không chỉ có tổ chức ngày một chính quy mà còn cung cấp đủ trang phục, lương thực cho quân sĩ lúc thường cũng như lúc có chiến tranh. Tuy nhiên, cũng phải hiểu rằng, cái ăn. cái mặc của binh sĩ trong các thời kỳ nói trên cũng còn rất giản đơn và nhiều hạn chế.
3. Vũ khí trang bị
Thế kỷ X-XII là giai đoạn quân đội quốc gia Đại Cồ Việt - Đại Việt sản xuất và sử dụng hoàn toàn vũ khí bạch binh, bởi vì lúc bấy giờ ở nước ta chưa chế được thuốc súng, nên hoả khí vẫn chưa ra đời.
Tuy nhiên, các nhà lãnh đạo quốc gia cũng nhủ các tướng lĩnh đều nhận biết rằng. vũ khí trang bị là cơ sở vật chất kỹ thoật của sức chiến đấu. là một trong những yếu tố cơ bản để tạo nên sức mạnh quân đội, do đó thời kỳ nào cũng quan tâm đến vũ khí trang bị của quân đội.
Cung, nỏ với các loại mũi tên là thứ vũ khí đánh xa: còn lao: giáo kiếm, côn. dao găm, v.v., là những vũ khí chiến đấu khi tiếp cận quân địch. Kết hợp trang bị giữa lao, giáo... với cung. nó . . . là một đặc (điểm truyền thống trong tổ chức trang bị quân đội dân tộc ta thời kỳ chưa có hoả khí.
Sử không chép nhiều về việc vũ trang của các binh đội dân tộc ở thế kỷ X. Hắn rằng quân đội thời Đinh và Tiền Lê, bên cạnh các đội quân cung nỏ là các đội được trang bị các bạch khí như giáo, lao, côn, kiếm, v.v.. Trên thuyền chiến bấy giờ đã thấy xuất hiện loại nỏ lớn phóng tên sắt và phóng cả vật mang nhựa thông dễ cháy để đốt phá thuyền giặc.
_________________________ 1. Cương mục, Sđd, t.1. tr.276.
|
|
|
|
|
Logged
|
"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
|
|
|
UyenNhi05
Cựu chiến binh

Bài viết: 2589
Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.
|
 |
« Trả lời #46 vào lúc: 14 Tháng Ba, 2009, 05:18:12 pm » |
|
Ở phần trên đã cho chúng ta biết một đặc điểm đáng lưu ý là, quân đội thường trực thời Đinh - Lê đã bắt đầu có trang phục thống nhất. Binh lính đều đội mũ tứ phương bình đính” bằng da hoặc mũ đầu mâu”, quân cấm vệ thời Tiền Lê đều thích ba chữ “thiên tử quân” ở trán để phân biệt với các loại quân khác.
Điều đó cũng có thể cho chúng ta suy luận rằng, quân đội thời bấy giờ cũng đã được trang bị khá thống nhất về các loại vũ khí. tuy đó mới chỉ là các thứ bạch khí thông thường. Quân đội thời Đinh và Tiền Lê được trang bị áo giáp. Như thế là đã có sự thống nhất về võ khí và võ phục. Có thể phần nào đó đã lọc theo trang phục của quân Đường - Tống; áo giáp chủ yếu bằng da trâu hoặc bằng đồng (cho võ quan).
Việc triều đình chế tạo vũ khí trang bị cho quân đội là một yêu cầu tất yếu thường xuyên. Sử cũ ghi rằng, năm 982. vua Lê Đại Hành cử sứ giả Từ Mục và Ngô Tử Canh sang Chiêm Thành, bị người Chiêm bắt giữ. Vua giận lắm sai đóng chiến thuyền, sửa sang binh khí và tự làm tướng đi đánh. Chiêm Thành thua to.
Trong bài sớ của Tống Cảo dâng lên vua Tống trong một dịp đi sứ Đại Cồ Việt có nói: “Cuối mùa thu năm ngoài (tức năm 989)- chúng tôi là lũ Tống Cảo đến cõi giao Châu, Lê Hoàn đã sai lũ Đinh Thừa Chính làm Nha nội đô chỉ huy sứ. chở chín chiếc thuyền và 300 quân đến đón ở cửa biển Thái Bình... Đến Trường Châu (gần kinh đô) nước Nam: Lê Hoàn trang hoàng sẵn, đem hết cả thuyền chiến ra nói là “diễu quân”... Sĩ tốt độ 3.000 người. đều viết chữ vào trán là “thiên tử quân”, ngày lượng cấp thóc lúa cho, sai tự giã lấy mà ăn. Đồ tinh khí chỉ có: cunn nỏ, mộc bài, giáo gỗ, giáo tre, yếu ớt không thể dùng được . . .” 1 . Tuy lời lẽ bài tấu tỏ ra hết sức khinh miệt, nhưng qua dó chúng ta cũng có thể biệt phần nào tình hình quân số và trang bị quân đội thời Lê Hoàn. Sang thời Lý, binh chế nói chung cũng như trang bị vũ khí và phương tiện quân sự nói riêng được sử liệu phản ánh rõ hơn.
Thời Lý, nước Đại Việt trở nên khá cường thịnh trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế và quân sự. Đặc biệt các vua Lý rất quan tâm đến võ bị. Vua Lý Thái Tổ khi xây thành Thăng Long đã nghĩ ngay đến việc tăng cường tổ chức cấm quân và trang bị cho quân lính giữ thành.
Năm 1043. vua Lý Thái Tông “Xuống chiếu cho chư quân sắm sửa áo giáp và binh khí”. Lý Nhân Tông, vị vua trị vì trong thời kỳ phạt Tống bình Chiêm, lúc hoà bình vẫn luôn mong sao có quốc phòng tốt để trong nước được trên hàn, ngoài biên không có giặc giã”. Và trước khi qua đời nhà vua không quên dặn Thái tử và các đình thần: “ Lại phải sửa sang giáo mác, đề phòng việc không ngờ” 2. Nhờ vậy dưới triều Lý việc quân sự cũng như việc phòng bị dết nước luôn được chú ý, quân đội được trang bị và huấn luyện tốt hơn.
Quân đội thời Lý vẫn được trang bị các loại bạch khí thông thường như giáo, mác, dao kiếm (gươm), kích, trượng. lao: câu liêm. các loại chông. bẫy dá. máy bắn đá, cung nỏ, v.v.. Bên cạnh các loại vũ khí đó, người chiến binh còn được trang bị kèm theo các phương tiện hộ thân như áo giáp, khiên, mộc, hộ tâm phiến... Tuy vẫn là các thứ bạch khí như các thời trước, nhưng số lượng và chất lượng vũ khí thì đa dạng và tốt hơn nhiều.
Giáo, mác và kiếm (gươm) là vũ khí đột kích bằng sắt, sắc và nhọn rất thông dụng. Vua Lý Nhân Tông căn dặn Thái tử “phải lo sửa sang giáo mác...”. Đội cấm binh của Lý Anh Tông do quan Điện tiền Vũ Đái chỉ huy đã sử dụng giáo trong vụ bắt tên phản thần Đỗ Anh Vũ năm 1150. Lính thị vệ nhà Lý dã sử dụng giáo trong sự biến cung đình năm 1210.
Quân nhà Lý trong khi đánh Tống, phạt Chiêm phần lớn đều cầm giáo chiến đấu. Trên chiếc thạp bằng sứ tráng men hoa văn thời Lý-Trần, ta thấy vẽ hình các chiến binh tay trái cầm giáo. tay phải cầm khiên tròn. Đó có thể là thứ vũ khí chủ yếu thời Lý-trần. Các tướng lĩnh, võ quan thời Lý phần lớn đeo kiếm cưỡi ngựa trong chỉ huy chiến đấu. Năm 1022. khi dẹp vụ loạn ba vương”, Lê Phụng Hiểu đã dùng kiếm chém Vũ Đức Vương. Ông nổi tiếng là người "quăng dao, múa kiếm lừng danh”, được vua Lý Thời Tông ngợi khen là giỏi hơn cả Kính Đức vậy”.
Năm 1044, nhà vua ra lệnh phát vũ khí trong kho cho quân sĩ trước khi lên đường đánh Chiêm Thành và cuộc chiến tranh đó được sử chép là: máu nhuộm gươm giáo, xác chất đầy đồng” 3 chứng tỏ gươm giáo là những thứ vũ khí trang bị chính của quân đội nhà Lý.
_______________________ 1. Dẫn theo ứng Hoè Nguyễn Văn Tố, Tạp chí Tri Tân (1941-1946), trung tâm Unesco Thông tin tư liệu lịch sử văn hoá Việt Nam xuất bản, Hà Nội, 2000 tr.45-46. 2. Cương mục. Sđd. T.I, tr.379. 3. Toàn thư, Sđd, t.1, tr.276 - 347.
|
|
|
|
|
Logged
|
"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
|
|
|
UyenNhi05
Cựu chiến binh

Bài viết: 2589
Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.
|
 |
« Trả lời #47 vào lúc: 14 Tháng Ba, 2009, 05:20:24 pm » |
|
Bấy giờ, vũ khí đánh xa chủ yếu chỉ có cung nỏ và máy bắn đá. Cung nỏ là loại vũ khí truyền thống của quân đội nước ta ngay từ buổi đầu dựng nước và giũ nước. Phép cưỡi ngựa bắn cung có ở nước ta từ lâu đời. Thời Lý ở kinh thành Thăng Long có Xạ Đình, tức bãi tập bắn. Sử chép: vua (Lý Anh Tông - 1170) tập bắn và cưỡi ngựa ở phía nam thành Đại La gọi là Xạ Đình, sai các quan võ hàng ngày luyện tập phép công chiến, phá trận” 1. Thời Lý. việc cưỡi ngựa, sử dụng cung kiếm là yêu cầu bắt buộc đối với các vương hầu, võ quan, tướng lĩnh triều đình. Bấy giờ, ở kinh thành có Điện Giảng Võ, có bãi tập và trường đua ngựa. Quan Thái uý Lý Tự Khánh nổi tiếng có tài bắn cung.
Trong các chiến trận lớn đánh quân Chiêm Thành và đánh quân Tống xâm lược, quân Lý sử dụng nhiều cung nỏ để tiêu diệt địch. Các đội quân của những thủ lĩnh dân tộc đã dùng nỏ, bẫy đá mai phục ở những nơi hiểm yếu, khiến quân Tống rất kinh sợ. Trong trận vây đánh thành Ung Châu, quân ta đã dùng tên độc bắn lên thành, người và ngựa quân Tống chết rất nhiều.
Năm 1075, Lý Thường Kiệt khi vây đánh thành Ung Châu đã dùng máy bắn đá để ném đá và những giỏ đựng chất cháy vào thành. Sách Lý Thường Kiệt có ghi: quân Lý dùng công cụ (mát bắn đá) tứ bề trèo lên cao nhằm bắn vào trong thành, giết nhiều quân phòng thủ” 2.
Tuy nhiên, máy bắn đá không phải là thứ vũ khí thông dụng ở nước ta. Cũng trong trận đánh thành Ung Châu. quân ta đã dùng “vân thế” (thang chuyền nối nhau rất cao) để trèo lên mặt thành rồi dùng tên độc và hoả tiễn” (bắn chất cháy) để tiêu diệt và dốt trại giặc. Quân ta còn đào đường hầm, dùng da lót cho kín nước để chui vào thành và cuối cùng ta dùng hàng vạn bao chứa đất xếp chồng thành bậc thềm để quân sĩ leo lên. Nhờ đó quân ta đã hạ được thành Ung sau 42 ngày chiến dấu ác liệt. Điều đó chứng tỏ, trong chiến đấu, quân đội nhà Lý đã sử dụng rất nhiều loại vũ khí và phương tiện đánh giặc.
Về phương tiện cơ động, đối với bộ binh có thể đi bộ hoặc đi thuyền, quân đội cũng có trang bị voi, ngựa nhưng chưa nhiều. Tất nhiên, với thuỷ binh chủ yếu dùng thuyền. Thuyền là phương tiện cơ động và chiến đấu quan trọng nhất. Từ sớm, tổ tiên ta đã nổi tiếng thạo nghề sông nước, giọi thuỷ chiến; mặt khác địa hình sông nước, nhiều sông ngòi, kênh rạch. dầm ao, nên phương tiện giao thông vận tải kể cả dân sự và quân sự, phần lớn dùng thuyền, bè, mảng.
Quân đội các thời Ngô, Đinh, Tiền Lê và Lý có bộ phận quan trọng là thuỷ quân và thuỷ chiến luôn luôn được coi trọng, vì thế trong các thế kỷ X - XII, trong quân đều chú ý xây dựng các đội thuyền chiến và thuyền vận tải.
Thời Tiền Lê, Lê Hoàn đã đào sông từ Thanh Hoá đến Nghệ An để vận chuyển quân và lương đi đánh Chiêm Thành. Các trận chiến trên sông Bạch Đằng, sông Thương hoặc chặn giặc ở Bình Lỗ thành đều có phần đóng góp to lớn của thuỷ quân.
Đến thời Lý, trong các cuộc hành quân bình Chiêm và đánh Tống, quân đội đều cơ động bằng thuyền. Năm 1069, Lý Thánh Tông thân hành dẫn quân đi hỏi tội Chiêm Thành và dùng toàn thuyền chiến để cơ động năm vạn quân từ Bắc vào Nam. Nếu tính mỗi thuyền chở được 250 quân và lương thực thì phai có đến 200 chiếc. Năm 1075, đại quân năm, sáu vạn do Lý Thường Kiệt chỉ huy tiến sang Khâm Châu cũng hành quân theo đường thuỷ và ít nhất cũng phải dùng đến 200-300 thuyền lớn.
Sở dĩ khi có chiến tranh, các triều đại nói trên đã huy động được các đạo binh thuyền lớn như vậy, bởi các nhà lãnh đạo đất nước thuở đó đều ý thức được tầm quan trọng của những hoạt động quân sự trên sông biển, hiểu được tầm quan trọng của chiến trường sông nước ở ta, cói thuỷ chiến là một ưu thế của quân đội Đại Việt và luôn chú ý phát triển quân đội, trong đó có thuỷ quân cùng với các phương tiện cơ động chiến đấu của nó.
_____________________ 1. Toàn thư, Sđd, t.1, tr.276 - 347. 2. Hoàng Xuân Hãn: Lý Thường Kiệt, Sđd, tr.127-128.
|
|
|
|
|
Logged
|
"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
|
|
|
UyenNhi05
Cựu chiến binh

Bài viết: 2589
Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.
|
 |
« Trả lời #48 vào lúc: 14 Tháng Ba, 2009, 05:22:38 pm » |
|
Vua Lê cũng như vua Lý nhiều lần ra lệnh: “Sắm sửa vũ khí và đóng thuyền chiến”. Năm 1043. Lý Thái Tông xuống chiếu đóng vài trăm chiến thuyền. Năm 1068, nhà vua lại ra lệnh đóng chiến hạm. Vua Lý Thần Tông (1106), sai đóng thuyền Mông Đồng để trang bị cho thuỷ quân.
Năm 1119, nhà vua hạ lệnh đóng thuyền chỉ huy gọi là Cảnh Hưng và Thanh Lan, đồng thời hạ lệnh cho chư quân đóng thuyền chiến và sắm sửa vũ khí chuẩn bị đánh quân phản loạn Ma Sa.
Chiến thuyền thời Lý có hạng lớn, hạng vừa và nhỏ, trong đó có loại chở được vài trăm quân cùng vũ khí, lương thảo và có khả năng vượt biển xa hàng ngàn dặm. Các cuộc hành quân vượt biển đánh Chiêm Thành, đánh Tống hay cuộc hành trình của thái tử Lý Long Tường cùng gia đình và quân bản bộ của ông hồi đầu thế kỷ XIII từ Đại Việt sang Cao Ly (Triều Tiên) chứng tỏ điều đó.
Theo sử sách ta biết được thời Lý có nhiều loại thuyền chiến như thuyền Mông Đồng (hai đáy), thuyền Lưỡng Phúc (hai lòng), thuyền Ngự (thuyền vua chỉ huy) và Lâu thuyền (thuyền lầu). Việt sử lược chép: “Tháng 11 (1106) vua sắp có việc lôi thôi với nhà Tống, sai đóng thuyền Vĩnh Long hai đáy và đóng chiến hạm” 1.
Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Năm 1124, đóng thuyền Trường Quang kiểu hai lòng” 2. . . Loại thuyền chiến phổ biến thời bấy giờ là thuyền Mông Đồng và thuyền Lưỡng Phúc, có hai đáy an toàn và tiện lợi. Trên thực tế, thuyền Mông Đồng đã có từ những đời trước.
Từ thế kỷ IX, ở nước ta đã đóng loại thuyền này và sau đó được sử dụng phổ biến. Quân thuỷ của Ngô Quyền ngoài các thuyền nhỏ như thuyền độc mộc, thuyền thúng, cũng đã sử dụng loại thuyền Mông Đồng theo sử sách mô tả, lúc đó mỗi chiếc có 25 chiến thủ, 23 tay chèo, thuyền chèo ngược xuôi, nhanh như gió”, đó là thứ “thuyền hẹp và dài, dùng để xông đánh thuyền giặc” 3.
Đến thời Lý, thuyền Mông Đồng nói trên chắc đã được cải tiến, có hiệu quả hơn trong việc vận tải và thực hành chiến đấu so với thế kỷ tx’ước. Thuyền chỉ huy của các vua Lý mang cá tên như Kim Phượng, Thanh Lan, Cảnh Hưng, Vĩnh Xuân, v.v. . Bấy giờ nhà vua thường thân chinh tự làm tướng chỉ huy quân đội đánh giặc.
Ngoài thuyền chiến, thời Lý còn sử dụng voi chiến. Nước ta có nhiều voi và từ rất sớm đã sử dụng voi trong mục đích quân sự. Người Trung Quốc cho rằng: quân Nam đánh trận hay dùng sức voi”. Voi chiến có thể vừa là phương tiện chiến đấu, vừa như một thứ vũ khí để sát thương địch. Voi chuyên chở vũ khí, binh lính và lương thảo khi cận chiến, giáp lá cà, voi có thể dùng vòi, dùng chân tiêu diệt địch, phá rào luỹ, mở đường cho bộ binh. Với ưu thế đó, voi luôn là nỗi kinh hoàng mỗi lần quân xâm lược gặp phải.
Lý Thường Kiệt đã sử dụng voi chiến tham gia chiến đấu ở Ung Cháu, gây cho quân Tống nhiều khốn đốn. Tướng Thân Cảnh Phúc đã sử dụng voi trong trận chặn đánh quân Tống ở ải Quyết Lý (năm 1077), khiến quân giặc bị tổn hao trước khi tiến đến bờ bắc sông Như Nguyệt.
Tống sử cho biết, khi Quách Quỳ tiến tới huyện Quan Lang, thì tiền quân Lý do Thân Cảnh Phúc chỉ huy đem voi cản đường, quân Tống không thể tiến được. Người Tống vừa sợ hãi vừa khâm phục voi chiến của ta; vì thế sau chiến thắng Như Nguyện, nhà Lý dã sử dụng voi làm sản vật quý dâng tặng vua Tống để đổi lấy châu Quảng Nguyên đang bị Tống chiếm giữ.
Sứ ta Đào Tông Nguyên mang theo năm con voi để cống. Vua Tống đã nhận voi và trả đất Quảng Nguyên cho ta. Người Tống đã làm thơ chế nhạo vua Tống rằng “nhân tham Giao chỉ tượng, khước thất Quang Nguyên kim” (vì tham voi Giao Chỉ, nên mất vàng Quảng Nguyên). Tất nhiên nguyên nhân chủ yếu phải trả không phải chi vì voi mà do quân Tống không thể giữ được vùng đất ấy nữa.
__________________________ 1. Việt sử lược bản dịch của Trần Quốc Vượng: Nxb. Sử học, Hà Nội, 1960, tr.122. 2, 3. Toàn thư, Sđd. t.1, tr 308, 183.
|
|
|
|
|
Logged
|
"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
|
|
|
UyenNhi05
Cựu chiến binh

Bài viết: 2589
Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.
|
 |
« Trả lời #49 vào lúc: 14 Tháng Ba, 2009, 05:25:09 pm » |
|
III. RÈN TƯỚNG, LUYỆN QUÂN
1. Tuyển chọn, dào luyện võ quan, tướng lĩnh
Nhà nước độc lập tự chủ do Ngô Quyền thiết lập tuy mới là bước đầu nhưng đã có đầy đủ các chức quan văn. võ với mọi nghi lễ triều chính và sắc phục quan lại các cấp. Sử thần Ngô Sĩ Liên viết “tiền Ngô Vương nổi lên không chỉ có công đánh thắng mà thôi, việc đặt trăm quan, chế định triều nghi phẩm phục, có thể thấy được quy mô của bậc đế vương” 1.
Bộ máy triều chính ấy được xây dựng theo thể chế của một nhà nước quân chủ mang tính tập quyền, trong đó có nhiều võ quan, tướng linh của một tổ chức quân đội riêng. Những hào kiệt những thủ lĩnh quân sự từng đồng tâm hợp lúc với Ngô Quyền tiêu diệt thế lực phản động Kiều Công Tiễn và đánh thắng quân xâm lược Nam Hán, đã được ông tuyển chọn, trao chức vụ trong chính quyền mới, phần lớn họ là tướng lĩnh chỉ huy quân đội quốc gia.
Tiếc thay Ngô Vương ở ngôi vị không được lâu, chưa có điều kiện để kiện toàn tổ chức quán sự đó. Sau khi ông mất (944), Dương Tam Kha cướp ngôi, đẩy chính quyền mới vào thế bị sẻ chia, dẫn đến tình trạng đất nước bị phân hệt bởi các sứ quân. Đinh Bộ Lĩnh tái thống nhất đất nước, lập triều Đinh, xây dựng kinh đô Hoa Lư.
Lê Văn Hưu viết: “Vua mở nước dựng đô, đổi xưng hoàng đế. đặt trăm quan, lập sáu quân, chế độ gần đầy đủ” 2. Năm 971, hoàng đế mới bắt đầu quy định cấp bậc bá quan văn võ. Lấy Nguyễn Bắc làm Định quốc công, Lưu CƠ làm ĐÔ hộ phủ sĩ phu (chức quan coi việc hình trong cả nước), Lê Hoàn làm Thập đạo tướng quân (tổng chỉ huy quân đội) Tăng thống Ngô Chân Lưu được ban hiệu là Khuông Việt đại sư, v.v. . Hệ thống các chức quan trong triều được thiết lập khá chu tất.
Như vậy, ở nước ta, từ thời Đinh bắt đầu chế định giai phẩm quan văn võ, đặt chức tướng quân. Phạm Phòng Át có một giai đoạn được cử làm Thân vệ tướng, Lê Hoàn ngoài Chức Thập đạo tướng quân còn kiêm Điện tiền chỉ huy sứ dưới triều vua Đinh. Một đội ngũ đông đảo võ quan, tướng lĩnh tham gia vào cơ cấu chỉ huy quân thập đạo. Mỗi tướng được cử chỉ huy một đạo quân riêng đóng ở các đạo.
Lê Hoàn sau khi lên ngôi đã kiểm duyệt quân ngũ. Triều đình Tiền Lê chia làm hai ban văn. võ. Trong ban võ có Phạm Cự Lạng giữ chức Thái uý, Tử Mục làm Tướng quản tri quân dân sự, lĩnh tước hầu. Năm 1006 Khai Minh vương Lê Long Đĩnh lên ngôi dã cho sửa đổi quan chế về vàn võ, nhất thiết theo mô hình Tống” 3. Bấy giờ Lý Công Uẩn giữ chức Tứ sương quân phó chỉ huy sứ: sau thăng lên làm Tả thân vệ Điện tiền chỉ huy sứ, quản cấm quân.
Năm 1010: Lý Công Uẩn (Lý Thái Tổ) xây dựng kinh đô mới ở Thăng Long, đã phong tước cho những người thân thuộc và các tướng có công với nhiều danh hiệu như Thái sư Thái phó, Thái bảo, Thái uý, Tổng quản, Tướng công, Tả Kim ngô, Tả hữu vũ vệ. . . Phong Vũ Đức vương Trương Hiển làm Thái uý, Dực Thánh vương làm Tổng quản, Trần Cảo làm Tướng công, Phí Xa Lỗi làm Tả Kim ngô, Vệ Trúc làm Hữu Kim ngô, Đàm Thảo và Đỗ Giản làm Tả, Hữu vũ vệ. Năm 1028, nhà vua cử Lý Đạo Kỷ làm Tả khu mật, Xung Tân làm Hữu khu mật, Nguyễn Quang Lợi làm Thái uý, Đàm Toái Trạng làm Đô thống, Vũ Ba Tư làm Ung vệ Thượng tướng v.v..
Các đời vua Lý kế tiếp đều giữ cơ cấu quan lại thời Lý Thái Tổ, trong đó có hệ thống võ quan. Năm 1128, Lý Thần Tông xét duyệt các chức quan văn võ, đặt thêm chức Chỉ huy Sứ, Vũ Vệ tưởng và Hoả đầu. Chỉ huy quân triều đình là Thái uý và Điện tiền chỉ huy sứ trực tiếp quản lãnh cấm quân.
Khi điều động quân đội đánh dẹp, vua còn phong các chức Đô thống đại nguyên soái, Đô thống nguyên soái hoặc Chiêu thảo sứ. v.v..
Năm 1182, Lý Cao Tông xuống chiếu cầu người hiền lương và đắp đàn phong tướng cho Ngô Lý Tín làm Thượng tướng quân. Theo Phan Huy Chú, triều Lý đại lược về văn và võ đều có chín phẩm: lấy ba chức thái (thái sư thái phó, thái bảo), ba chức thiếu (thiếu sư, thiếu phó, thiếu bảo), cùng với thái uý, thiếu uý, kiểm hiệu bình thường sự làm trọng chức của văn võ đại thần.
______________________ 1. Toàn thư, Sđd, t.l, tr.198. 2. Toàn thư, Sđd, t.l, tr.205 3. Toàn thư. Sđd. t.l tr.232.
|
|
|
|
|
Logged
|
"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
|
|
|
|