Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 01:47:54 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 3  (Đọc 93271 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #60 vào lúc: 15 Tháng Ba, 2009, 01:36:17 pm »

Như vậy ta có thể hình dung trận thủy chiến này đã diễn ra trên dòng sông Mã ở đoạn chảy qua huyện Cẩm Thủy ngày nay. Theo sách Lịch sử Thanh Hoá, tập II, sông Mã chảy từ phía tây xuống địa phận Cẩm Thủy là đoạn từ Cửa Hà (xã Cẩm Phong) chảy qua tổng Cự Lữ gồm bốn sách: Cự Lữ Trung, Mỹ Ngọc, Cự Lừ Hạ, Thiêm đinh. Đến đây sông đã hết thác ghềnh hiểm trở, nhưng hai bên bờ sông lại có vách núi cao. Gần Cửa Hà có một ngách sông Mã một bên vách đá dựng đứng, một bên bờ sông cao, nhân dân thường gọi là “ngách Cùng”, theo truyền thuyết đây là bãi chiến trường xưa. Hẳn đây là địa danh “Cùng Giang” mà Lê Đại Hành đã đem binh thuyền đuổi theo và đánh dẹp” 1.

Bị đánh dẹp lần này (1001) nhưng thủ lĩnh người Cử Long vẫn chưa hoàn toàn phịu khuất phục. Bốn năm sau, vào năm 1005, trong lúc ở Hoa Lư vua Lê Đại Hành qua đời, các con tranh giành ngôi vua, người Cử Long lại kéo quân đến cửa Thần Đầu (tức Thần Phù) buộc Lê Long Đĩnh, lúc này đã giành được ngôi vua từ tay Long Việt, phải đem quân đi đánh dẹp.

Sử không chép rõ kết quả ra sao. nhưng có thể đoán được rằng quân của triều đình Hoa Lư đã đẩy lùi được người Cử Long, nhưng chưa hoàn toàn khuất phục được họ.  Vì vậy cho đến năm 1011, năm Thuận Thiên thứ hai: thời Lý Thái Tổ, sử còn chép: “Vua thấy giặc Cử Long ở châu Ái hung hăng dữ tợn, trải hai triều Đinh. Lê không đánh nổi, đến nay càng dữ, mới đem sáu quân đi đánh, đốt bộ lạc, bắt kẻ đầu sỏ đem về, giặt ấy bèn tan” 2.
 
Ta lưu ý, ba lần dẹp loạn Cử Long vào đầu thế kỷ XI đều do các nhà vua trực tiếp điều khiển, dùng lực lượng vũ trang để đánh dẹp. Tham gia dẹp loạn, thủy binh giữ một vai trò rất quan trọng vào các năm 1001 và 1005. Cho đến đầu thời Lý, vào năm 1011. sau lần đem “sáu quân” đi đánh dẹp của Lý Thái Tổ, vùng đất Cử Long thuộc miền Cẩm Thủy, Thanh Hóa ngày nay mới hoàn toàn tuân theo sự quản lý của nhà nước quân chủ trung ương tập quyền Lý. 

3. Vụ Hà Trắc Tuấn ở Vị Long (Tuyên Quang)

Vào năm 1013, Hà Trắc Tuấn thủ lĩnh châu Vị Long, nay thuộc vùng Chiêm Hóa, Tuyên Quang về hùa với người Nam Chiếu nổi dậy chống lại triều đình. Vua Lý Thái Tổ trực tiếp đem quân đi đánh dẹp. Trắc Tuấn sợ, chạy trốn vào rừng núi. Hai năm sau, vào năm 1015, Hà Trắc Tuấn lại nổi lên chiếm giữ vùng đất thuộc các châu Vị Long, Đô Kim, Thường Tân, Bình Nguyên đều thuộc Tuyên Quang ngày nay. Lý Thái Tổ hạ chiếu cho con là Dực Thánh vương, Vũ Đức vương đi đánh dẹp, bắt được Hà Trắc Tuấn đem về Thăng Long “chém đầu bêu ở chợ Cửa Đông” 3.
 
4. Vụ Khai Quốc vương Bồ ở Trường Yên

Bồ là con của Lý Thái Tổ được phong Khai Quốc vương quản giữ Trường Yên (Ninh Bình ngày nay) vào năm 1013.  Ông từng được vua cha sai đi đánh dẹp châu Đô Kim (Tuyên Quang) vào năm 1024. Năm 1028, Lý Thái Tổ mất, triều đình lục đục vì vụ Đông Chinh vương Lực cùng Dực Thánh vương và Vũ Đức vương nổi loạn. Nhân dịp này Khai Quốc vương Bồ quản giữ Trường Yên đem quân bản phủ nổi dậy chống chính quyền trung ương, lúc này do Lý Phật Mã tức Lý Thái Tông kế vị.

Sử chép: “Trước vương đóng ở phủ Trường Yên, cậy có núi sông hiểm trở, tụ tập kẻ trốn tránh, cướp bóc dân mọn, Thái Tổ không hề hay biết, nuôi thành tội ác. Đến khi nghe Thái Tổ băng (năm 1028) Vũ Đức vương bị giết, lòng càng bất bình, bèn đem Phủ binh (tác giả nhấn mạnh) làm phản” 4. 
 
Để đối phó với trường hợp Khai Quốc vương Bồ, Lý Thái Tông giao cho Lý Nhân Nghĩa giữ kinh đô, đích thân cầm quân đi đánh dẹp. Lý Thái Tông đến Trường Yên, Khai Quốc vương Bồ xin hàng phục. Lý Thái Tông ưng thuận, ra lệnh: “Hễ kẻ nào cướp bóc của nả của dân thì chém”. Lệnh của nhà vua được quân sĩ tuân thủ nghiêm ngặt. Khi nhà vua đem quân vào thành dân chúng dâng bò, rượu đón mừng. Lý Thái Tông tha tội và điều Khai Quốc vương Bồ cùng liêu thuộc về Thăng Long, vẫn cho Bồ giữ tước vương như đã từng được vua Lý Thái Tổ phong tặng.


_____________________
1. Lịch sử Thanh Hóa, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1994, t.II, tr. 111
2. Việt sử lược Sđd, tr.71; Toàn Thư, Sđd, t.l, tr.293; Cương mục, Sđd, t.I, tr. 288.
3. Toàn thư, Sđd, t. 1, tr. 247; Cương mục, Sđd, t.I, tr. 293.
4. Toàn thư, Sđd, t. 1, tr. 255.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #61 vào lúc: 16 Tháng Ba, 2009, 12:06:42 am »

5. Vụ Nùng Trí Cao (1041 - 1053)

Nùng Trí Cao là con trai Nùng Tồn Phúc ở Thạch An, Cao Bằng, Tồn Phúc từng được vua Lý giao cho quản giữ vùng châu Thảng Do (thuộc đất Cao Bằng), em trai Tồn Phúc là Tồn Lộc quản giữ châu Vạn Nhai (thuộc đất huyện Bắc Sơn, Lạng Sơn và huyện Võ Nhai, Thái Nguyên ngày nay); em vợ là Đương Đạo thủ lĩnh châu Vũ Lặc (vùng đất giáp ranh Lạng Sơn - Cao Bằng ngày nay) đều thuộc châu Quảng Nguyên, hàng năm phải nộp đồ tiến cống cho triều đình bằng sản vật địa phương. 

Đầu năm 1039 đời Lý Thái Tông, Tồn Phúc giết Tồn Lộc và Đương Đạo, chiếm đất, tự xưng là Chiêu Thánh hoàng đế, lập vợ làm hoàng hậu, phong con là Trí Thông làm Nam Nha vương, lập nước Trường Sinh cắt đứt quan hệ tiến cống vương triều Lý. Nùng Tồn Phúc sửa soạn binh giáp, đắp thành tự thủ, nhằm tách ra khỏi sự quản lý của nhà nước quân chủ Lý.  Vua Lý Thái Tông trực tiếp cầm quân đánh dẹp, bắt được Tồn Phúc và Trí Thông.

Đem quân về Thăng Long, vua Lý Thái Tông xuống chiếu: “Trẫm từ khi có thiên hạ đến giờ, tướng văn tướng võ cùng các bề tôi không người nào dám thiếu đại tiết, phương xa cõi lánh, không đâu không đến xưng thần mà họ Nùng nối đời giữ bờ cõi vẫn thường cúng nộp đồ cống. Nay Tồn Phúc càn dở tự tôn, tiếm vị hiệu, ra mệnh lệnh, tụ họp quân ong bọ, làm hại dân chúng biên thùy. Trẫm vâng mệnh trời đi đánh, bắt được bọn Tồn Phúc năm tên đều chém ở chợ Kinh đô” Trong khi đó vợ Tồn Phúc là A Nùng và con là Trí Cao chạy thoát 1.

Năm 1041 Nùng Trì Cao cùng mẹ từ động Lôi Hỏa (thuộc đất Cao Bằng) về chiếm lại châu Thảng Do lập nên nước Đại Lịch. Lý Thái Tông sai tướng đi đánh dẹp, bắt được Trí Cao đem về Thăng Long. Nhà vua thương tình cha và anh của Trí Cao đã bị giết nên không những không trừng trị, mà Trí Cao còn được vua Lý tha về, cho tiếp tục quản giữ châu Quảng Nguyên và thêm các đất động Lôi Hỏa, Bình, An, Bà và châu Tư Lang đều thuộc các huyện Thượng Lang, Hạ Lang, Trùng Khánh tỉnh Cao Bằng ngày nay 2. Năm 1043, vua Lý Thái Tông lại ban cho Nùng Trí Cao quả ấn và phong làm Thái bảo 3. 

Bảy năm sau khi được hưởng đặc ân, vào năm 1048, Nùng Trí Cao lại nổi dậy chống triều đình. Nhà vua sai Thái uý Quách Thịnh Dật đi đánh, Trí Cao xin hàng 4.

Năm 1049 Trí Cao đem quân vào đất Tống, cướp phá Ung Châu (Quảng Tây). Năm 1050 Trí Cao giữ động Vật Dương ở châu An Đức thuộc đất Tống (tây bắc Cao Bằng) lập nước Nam Thiên cải nguyên là Cảnh Thụy 5. Năm 1051, Trí Cao dâng biểu thần phục nhà Tống. Triều Tống không chấp nhận.

Vào năm 1052, Nùng Trí Cao lại theo gót cha, xưng Nhân Huệ hoàng đế, lập nên nước Đại Nam lại xin quy phục nhà Tống, bị khước từ. Trì Cao đem quân cướp đất đai nhà Tống, đánh phá vùng đất biên giới thuộc Quảng Tây, phá trại Hoành Sơn, vây hãm châu Ung, Hoành, Quý, Đằng, Ngô. Khang, Đoan, Củng Tầm, kéo đến đánh thành Quảng Châu, tiếp lại đánh chiếm Ung Châu đều thuộc Quảng Tây, Quảng Đông Trung Quốc 6, cuối Cùng Trí Cao bị quân Tống do Tống Địch Thanh chỉ huy đánh bại ở Ung Châu. Trí Cao phải đốt thành chạy trốn để rồi bị giết ở Đại Lý (Vân Nam - Trung Quốc) vào năm 1053 7.


______________________
1. Toàn thư, Sđd, t.1: tr. 267.
2,3. Toàn thư, Sđd, t.1, tr. 270, 272. Thái bảo một trọng chức của triều đình, sau thái sư, thái phó.
4. Toàn thư, Sđd, t.l, tr. 277.
5. Việt sử lược, Sđd, tr.90.
6. Toàn thư, Sđd, t.1, tr. 279; Toàn thư và Cương mục đều chép sự kiện này vào năm 1052.
7. Toàn thư, Sđd, t.1, tr 280;Việt sử lược, Sđd, tr.92.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #62 vào lúc: 16 Tháng Ba, 2009, 12:09:09 am »

Trước việc Nùng Trí Cao bị bắt rồi lại được vua Thái Tông tha, sử gia Lê Văn Hưu từng nói: “Năm trước. Nùng Tồn Phúc phản nghịch, tiếm hiệu, lập nước, đặt quan thuộc, Thái Tông đã trị tội Tồn Phúc mà tha cho con là Trí Cao. Nùng Trí Cao lại noi theo việc trái phép của cha thì tội lớn lắm, giết đi là phải, nếu lấy lại tước và ấp phong, giáng làm thứ dân thì cũng phải. Thái Tông đã tha tội, lại cho thêm mấy châu quận nữa, ban cho ấn tín, phong làm Thái bảo như thế là thưởng phạt không có phép tắc gì (…). Đó là vì Thái Tông say đắm cái lòng nhân nhỏ nhặt của nhà Phật mà quên mất cái nghĩa lớn của người làm vua” 1.

Có lẽ cái lòng nhân của nhà Phật ở Lý Thái Tông chưa hẳn đã chi phối việc làm này của nhà vua. Thực ra nhà vua đã từng thân chinh, sai tướng đi đánh dẹp, bắt được Trí Cao. Nhưng ta biết việc khoan dung, vỗ về các thủ lĩnh ở vùng rừng núi xa xôi nhằm cố kết khối cộng đồng các dân tộc, thông qua họ để quản dân giữ đất là quốc sách đúng đắn mà các vua Lý thường theo đuổi. Biện pháp dùng lực lượng vũ trang để đánh dẹp là biện pháp cuối cùng, chỉ sử dụng khi thật cần thiết, ở trường hợp Trí Cao, cho đến lần thứ ba, vua Lý Thái Tông mới có ý định phối hợp với quân Tống để trừ diệt tận gốc, nhưng tướng Tống là Tống Địch Thanh khước từ. Trí Cao bị người Tống giết trên đất Tống.

6. Vụ động Ma Sa ở Đà Bắc (Hòa Bình)

Động Ma Sa thuộc vùng huyện Mai Đà (Đà Bắc), nay thuộc lòng hồ Hòa Bình. Thời Lý, động Ma Sa do tù trưởng Ngụy Bàng quản giữ. Mặc dù Ma Sa nằm trong phạm vi lãnh thổ của Đại Việt, là địa bàn cơ trú của người Mường tách ra từ người Việt cổ, nhưng tù trưởng Ngụy Bàng không chịu sự quản lý của nhà nước quân chủ Đại Việt.

Cách Thăng Long không xa, nhưng núi non cách trở, đường bộ khó đi, đường thủy có thác Bờ nổi tiếng hiểm trở, là chỗ dựa về mặt địa lý để các tù trưởng ở vùng này có thái độ ly khai. 

Vào năm Hội tường Đại khánh thứ 10 (1119) đời Lý Nhân Tông, nhà vua phải tiến hành đánh dẹp. Lần ra quân này được chuẩn bị chu đáo và huy động một lực lượng quân thủy, bộ khá lớn. Từ tháng bảy âm lịch nhà vua đã hạ chiếu cho các quân đóng thuyền chiến, sửa soạn binh giáp. Tháng 10 duyệt binh, huy động cả sáu quân: Ngọc Giao, Hưng Thánh, Bổng Nhật, Quảng Thành, Vũ Đô, Ngự Long tham gia đánh dẹp.

Trước khi ra quân, nhà vua còn tổ chức hội thề ở Long Trì. Toàn thư chép: “Vua ngự thuyền Cảnh Hưng, xuất phát từ bến Thiên Thu (?), cờ xí rợp trời, gươm giáo rẽ sương, quân sĩ đánh trống reo hò, khí thế trăm phần hăng hái 2. Nhà vua đích thân điều quân tiến vào động Ma Sa” phá tan được, bắt được bọn động trưởng Ngụy Bàng vài trăm người (…). Sai tỳ tướng vào các động dọc biên giới chiêu dụ những người trốn tránh bảo về yên nghiệp 3. 

Hẳn rằng vào thời Lý không chỉ có động Ma Sa, mà các vùng đất rừng núi, biên viễn còn nằm trong tình trạng gần như tự trị. Bảng liệt kê các vụ nổi dậy ở vùng biên viễn vào thời này do sử cũ chép cho phép ta hình dung xu hướng ly khai buộc nhà nước quân chủ Lý phải giải quyết:

- Năm 999: Hà Động (Thạch Thành - Thanh Hóa) do vua Lê Đại Hành thân chinh cầm quân đánh dẹp. 

- Năm 1001: Cử Long (Cẩm Thủy - Thanh Hóa) do vua Lê Đại Hành thân chinh cầm quân đánh dẹp. 

- Năm 1011: Cử Long (Cẩm Thủy - Thanh Hóa) do vua Lý Thái Tổ thân chinh cầm quân đánh dẹp.

______________________
1. Toàn thư, Sđd, t.1, tr.273. 
1,2. Toàn thư, Sđd, t.1, tr. 305.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #63 vào lúc: 16 Tháng Ba, 2009, 12:11:13 am »

- Năm 1024: Đô Kim (Tuyên Quang) do Khai Quốc vương Bồ cầm quân đánh dẹp.

- Năm 1024: Phong Châu (Phú Thọ) do Khai Thiên vương Phật Mã cầm quân đánh dẹp.

- Năm 1026: châu Diễn (Nghệ An) do Khai Thiên vương Phật Mã cầm quân đánh dẹp.

- Năm 1027: Thất Nguyên (Cao Bằng) do Khai Thiên vương Phật Mã cầm quân đánh dẹp.

- Năm 1027: Văn Châu (Lạng Sơn) do Đông Chinh vương Lực cầm quân đánh dẹp.

- Năm 1033: Định Nguyên (Yên Bái?) do vua Lý Thái Tông thân chinh cầm quân đánh dẹp.

- Năm 1033: Trệ Nguyên (Yên Bái?) do vua Lý Thái Tông thân chinh cầm quân đánh dẹp.

- Năm 1035: châu Ái (? - thuộc Thanh Hóa) do vua Lý Thái Tông thân chinh cầm quân đánh dẹp.

- Năm 1037: Lâm Tây - Đô Kim (Tuyên Quang) do vua Lý Thái Tông thân chinh cầm quân đánh dẹp. 

- Năm 1037: Đô Kim, Thường Tân, Bình Nguyên (Tuyên Quang) do Khai Hoàng vương Nhật Tôn cầm quân đánh dẹp. 

- Năm 1039: Thảng Do - Vạn Nhai - Vũ Lặc (Cao Bằng) do vua Lý Thái Tông thân chinh cầm quân đánh dẹp. 

- Năm 1041-1053: Thảng Do - Văn Uyên (Cao Bằng) sai tướng cầm quân đánh dẹp.

- Năm 1119: động Ma Sa (Đà Bắc - Hòa Bình) do vua Lý Thái Tông thân chinh cầm quân đánh dẹp. 

- Năm 1140- 1141: Thái Nguyên, Tây Nông, Lục Lệnh, Thượng Nguyên, Hạ Nông (Thái Nguyên - Bắc Cạn), sai tướng cầm quân đánh dẹp.

- Năm 1154: châu Đại Hoàng (Ninh Bình) do vua Lý Anh Tông thân chinh cầm quân đánh dẹp.

- Năm 1164: Lộng Lạc ‘ Mang Quán Giang (Sơn La), sai tướng cầm quân đánh dẹp.

- Năm 1194: châu Đăng (Phú Thọ), sai tướng cầm quân đánh dẹp.

Chính sách bao quát của nhà nước quân chủ đối với vùng biên viễn là thuyết phục, đoàn kết. giao cho các tù trưởng quản lý đất đai và cơ dân, chỉ phải nộp phẩm vật hàng năm. Hành động ly khai của động Ma Sa là một trong những vụ lớn, hẳn đã gây nhiều bất lợi cho việc quản lý cả một vùng thượng du xa xôi phía tây nam Thăng Long.

Vì vậy cho nên trong lần thân chinh này nhà vua không chỉ chuẩn bị chu đáo về mặt lực lượng quân đội mà còn đặc biệt lưu ý đến động viên cổ vũ tinh thần. Trước khi ra quân, vua Lý Nhân Tông xuống chiếu có đoạn viết:

“Vả xét động Ma Sa sống ở trong cõi của ta, động trưởng Ma Sa thì đời đời làm phiên thần của ta, thế mà nay kẻ tù trưởng ngu hèn ấy bỗng phụ ước của ông cha, quên việc tuế cống, khiếm khuyết lệ thường phép cũ. Trẫm vẫn nghĩ mãi, việc không đừng được, nay trẫm tự làm tướng đi đánh dẹp ...” 1.

Cuộc hành binh lần này kéo dài trong gần hai tháng.  Tháng 10 chuẩn bị xuất quân, đầu tháng 12 nhà vua trở về Thăng Long, dâng tù trưởng Ngụy Bàng ở nhà thái miếu, khao thưởng tướng sĩ ban cho tiền lụa theo thứ bậc khác nhau.


_______________________
1. Toàn thư, Sđd, t.1, tr. 305.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #64 vào lúc: 16 Tháng Ba, 2009, 12:18:26 am »

7. Vụ phản loạn Thân Lợi (1140 - 1141)

Vào năm đầu đời Lý Anh Tông (1140) có một thầy bói  tên là Thân Lợi xưng là con của Nhân Tông cùng đồ đảng theo đường thủy 1 đến chiếm giữ các châu Thái Nguyên, Tây Nông, Lục Lệnh, Thượng Nguyên, Hạ Nông thuộc vùng đất Thái Nguyên, Bắc Cạn ngày nay.

Đầu năm sau (1141), Thân Lợi tự xưng là Bình Vương, lập vợ cả, vợ lẽ làm hoàng hậu, phu nhân, phong vương hầu cho các con, ban quan tước cho tay chân. Lúc đầu có đến hơn 1.000 người theo. Thân Lợi phao tin giỏi binh thuật, hiếp chế người bản địa, khiến cho nhân dân vùng biên giới khiếp sợ

Được tin từ biên giới báo về, nhà vua sai gián nghị đại phu Lưu Vũ Nhĩ chỉ huy quân bộ, thái phó Hứa Viêm chỉ huy quân thủy tiến hành đánh dẹp. Vũ Nhĩ sai tướng tiên phong Tô Tiệm và chủ đô trại Tuyên Minh là Trần Thiềm đem quân đi trước. Gặp thủy quân của Thân Lợi, trận giao chiến đầu tiên xảy ra ở sông Bác Đài, quân triều đình thất lợi, thị vệ Tô Tiệm bị Thân Lợi giết. Thân Lợi giữ châu Thượng Nguyên, đắp đồn ải ở Bác Như. Vũ Nhĩ hạ được Bác Như tiến đến Bồ Dinh (?) gặp thủy quân của Thân Lợi. Chiến trận xảy ra, Vũ Nhĩ cũng bị thua, quá nửa tướng sĩ bị chết, phải rút quân về 2.

Tháng Tư âm lịch, Thân Lợi chiếm châu Tây Nông, nay thuộc huyện Phú Bình - Thái Nguyên, huy động các châu Thượng Nguyên, Tuyên Hóa, Cảm Hóa, Vĩnh Thông (thuộc Bắc Cạn, Thái Nguyên) đánh chiếm phủ Phú Lương, nay là huyện Phú Lương, Thái Nguyên; chiếm giữ phủ lỵ, mưu tính kế về đánh chiếm kinh đô Thăng Long 3. 

Tháng năm âm lịch, Thân Lợi kéo quân về Thăng Long đóng ở Quảng Dịch (?) bị quân của triều đình do Anh Vũ chỉ huy đánh bại. Thân Lợi chạy thoát về Lục Lệnh. Thủ lĩnh các châu Vạn Nhai, động Kim Khê là Dương Mục, Chu Ái bị bắt giải về Thăng Long, sau đó giải về trói giam ở lỵ sở phủ huyện của họ. Sau thắng lợi nhà vua không truy quét, trừng trị, mà ra lệnh cho Anh Vũ chiêu tập tàn binh của Thân Lợi, tha hai thủ lĩnh bị bắt và đem muối ở kho phát cho họ 4.

Đến tháng 10 âm lịch, Lý Anh Tông lại sai Anh Vũ đi đánh dẹp châu Lục Lệnh, bắt được bè đảng hơn 2.000 người.  Thân Lợi chạy trốn sang châu Lạng (thuộc Lạng Sơn ngày nay), bị thái phó Tô Hiến Thành chỉ huy quân đánh bắt, giải về Thăng Long. Nhà vua ngự điện Thiên Khánh xét tội, xử trảm Thân Lợi và 20 người đồng mưu, tha cho những người bị Thân Lợi ép buộc 5.

8. Đại loạn vào buổi cuối triều Lý

Cuối đời Lý Cao Tông vào năm Trị Bình Long ứng thứ ba (1207) tình hình loạn lạc đã lên đến đỉnh điểm. Có nhiều nguyên nhân. Theo sử sách, một nguyên nhân cực kỳ quan trọng là sự tha hóa, suy thoái của nhà nước quân chủ Lý, đứng đầu là nhà vua.

Sử chép vào năm 1205, đời Lý Cao Tông: “Vua thì ham thích tiền của, các quan phần nhiều bán quan buôn ngục” 6. 

Sách Việt Sử lược chép cũng vào năm này: “Vua rất ham của cải lợi lộc, lấy việc bán quan buôn ngục làm chính sự. Hai người nào mà tranh nhau ruộng đất, sản vật, hễ một người đem dâng nạp rồi thì vua chẳng hỏi tình lý phải trái thế nào đều tịch thu sung công cả, vì thế mà kho đụn của nhà nước của cải chất như núi, còn bách tính thì kêu ca, oán thán. Giặc cướp nổi lên như ong” 7.


______________________
1. Có lẽ là đoạn sông thuộc thượng lưu sông Cầu ở các huyện Bạch Thông, Phú Lương, Thái Nguyên ngày nay. 
2,3. Toàn thư, Sđd, t.1, tr. 331, 332, 333.
4,5. Toàn thư, Sđd, t.1, tr. 331, 332, 333. 
6. Toàn Thư, Sđd, t.1, tr. 357.
7. Việt Sử lược Sđd, t.1, tr.170.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #65 vào lúc: 16 Tháng Ba, 2009, 12:22:48 am »

Cho đến năm 1207 trước tình hình đó ông vua “xây dựng không ngớt, rong chơi vô độ, hàng ngày cùng cung nữ dạo chơi làm vui, nghe ngoài thành có trộm cướp thì lờ đi như không biết” 1 mới xuống chiếu “chọn các đinh nam, người nào khoẻ mạnh sung vào quân ngũ, sai quan các lộ thống quản để bắt” 2.

Như vậy là bất lực trước tình thế không ổn định do bộ máy quản lý hành chính từ vua đến quan tha hóa gây nên, lực lượng vũ trang của nhà nước quân chủ không còn khả năng dẹp loạn. Nhà nước phải tăng cường quân số địa phương bằng cách tuyển lựa trai tráng giao nhiệm vụ cho quan các lộ (cấp tỉnh sau này) đánh dẹp.

Mặt khác, nhà vua cũng nhận thấy tội lỗi của mình khi hạ chiếu: “Trẫm còn bé mà phải gánh vác việc lớn ở tận nơi cửu trùng không biết cảnh khó khăn của dân chúng, nghe lời bọn tiểu nhân mà gây nên oán với kẻ dưới. Dân đã oán thì trẫm còn dựa vào ai.  Nay trẫm sẽ sửa lỗi cùng dân đổi mới. Ai có ruộng đất sản nghiệp bị sung công thì sẽ được hoàn lại". Mặc dù vậy, tình hình loạn lạc vẫn diễn ra với cấp độ ngày càng mạnh.  Có thể kể một vài vụ điển hình.

Phạm Du - một viên quan coi việc quân ở Nghệ An, lợi dụng tình hình nhà nước yêu cầu mộ quân để dẹp loạn mà “Chiêu tập bọn vong mệnh, tụ tập bọn giặc cướp... ngang nhiên cướp bóc”, làm loạn ở vùng châu Đằng châu Khoái (Hưng Yên). Năm 1209, vua Lý Cao Tông sai Phạm Bỉnh Di đi đánh dẹp, tịch biên gia sản của Phạm Du. Mặt khác, nhà vua lại triệu Phạm Du về kinh. Mâu thuẫn giữa Phạm Du và Bỉnh Di đến cao độ. Nghe lời gièm pha của Phạm Du, vua Cao Tông bắt giam cha con Bỉnh Di.

Bộ tướng của Bỉnh Di là Quách Bốc đem quân phá cửa Đại Thành tiến vào thành. Lý Cao Tông sai giết bố con Bỉnh Di. Bọn Quách Bốc lấy xe của nhà vua chở xác Bỉnh Di, lấy chiếu của nhà vua bọc xác của con Bỉnh Di chở ra bến Đông Bộ Đầu, sau đó trở lại cung Vạn Diên lập hoàng tử Thầm lên làm vua. Lý Cao Tông chạy lên vùng Quy Hóa giang để lánh nạn. Trong khi đó Phạm Du rước con của Lý Cao Tông là Thầm và Sảm về Hải ấp (Thái Bình). Đây là dịp để cho một thế lực vùng lớn mạnh là họ Trần chuyên nghề đánh cá ở Hải ấp, với vai trò mở đầu của Trần Lý, tham gia vào nội bộ của vương triều Lý.

Tại Hải ấp, Hoàng thái tử Sảm lấy con gái Trần Lý làm vợ do đó Trần Lý được ban tước Minh tự, cậu của vợ thái tử Sảm là Tô Trung Từ làm Điện tiền chỉ huy sứ . . . Cuối năm 1209 “Anh em họ Trần họp hương binh để dẹp loạn, rước vua (Cao Tông) về kinh, trừng trị bọn Quách Bốc” 4. 
 
Như vậy là việc mất còn của ngôi vua nhà Lý, cụ thể là đương kim hoàng đế Lý Cao Tông, cũng như Hoàng thái tử Sảm đã nằm trong vòng tay che chở, khống chế của họ Trần với lực lượng vũ trang ban đầu là hương binh do họ điều khiển.

Đầu năm sau, năm 1210, vua Lý Cao Tông từ kinh đô Thăng Long sai Thượng phẩm phụng ngự là Đỗ Quảng đem quân đến nhà Tô Trung Từ ở Hải ấp đón hoàng thái tử Sảm về kinh sư. Trần Thị - vợ của thái tử Sảm thì về nhà cha mẹ.  Lúc này Trần Lý - bố của Trần Thị đã bị loạn quân giết. Con thứ của Trần Lý là Trần Tự Khánh - anh Trần Thị - thay cha nắm quyền, đem quân bản bộ cùng về kinh đô, được nhà vua phong Thuận Lưu bá.

Cuối năm này Lý Cao Tông chết, Hoàng thái tử Sảm 16 tuổi lên ngôi, tức Lý Huệ Tông. Lập tức nhà vua đem thuyền rồng về Hải ấp đón Trần Thị. Đầu năm 1211, Trần Tự Khánh sai Phùng Tá Chu đưa Trần Thị đi, được Tô Trung Từ đón vào cung. Lý Huệ Tông lập Trần Thị làm nguyên phi, Tô Trung Từ làm thái uý phụ chính, phong Thuận Lưu bá Trần Tự Khánh làm Chương Thành hầu.

Việc làm này không được thái hậu Đàm Thị ủng hộ. Bà tìm cách đuổi bỏ họ Trần, cho Trần Tự Khánh là kẻ phản trắc, cho Trần Thị lúc này là Thuận Trình phu nhân là bè đảng của giặc. Trong khi đó thì từ đầu năm 1212, Đoàn Thượng được lệnh đi mộ dân châu Hồng bắt đảng giặc, đã tự tiện tác oai, tác phúc. Khi bị đàn hặc, bắt giam vào ngục để hỏi tội, Đoàn Thượng lại chạy về châu Hồng “nhóm bè đảng, đắp thành xưng vương, cướp bóc lương dân, triều đình không thể ngăn được” 5.


_____________________
1,2. Toàn Thư, Sđd, t.1, tr.357. ‘
3. Việt Sử lược, Sđd, t.1, tr.173,174.
4. Toàn thư, Sđd, t.1, tr. 360.
5. Toàn thư, Sđd, t.1, tr. 362.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #66 vào lúc: 16 Tháng Ba, 2009, 03:29:56 pm »

Ở Thăng Long, vượt qua sự ngăn cản của Đàm Thái hậu, Lý Huệ Tông ngày càng rơi vào vòng kiềm chế của thế lực họ Trần. Cuối năm 1216, nhà vua sắc phong Trần Thị làm hoàng hậu Trần Tự Khánh làm thái uý phụ chính, anh Trần Tự Khánh là Trần Thừa (thượng hoàng nhà Trần sau này) làm nội thị phán thủ. Năm 1217, vua Lý Huệ Tông mắc bệnh điên, chính sự do Trần Tự Khánh quyết đoán.

Vụ Đoàn Thượng nổi loạn kéo dài từ năm 1212 chưa dẹp yên được, thì Nguyễn Nộn vào năm 1220 đã giữ hương Phù Đổng, tự xưng Hoài Đạo vương, dâng biểu xưng thần lại mở đầu cho một vụ loạn mới kéo dài.

Có thể nói từ đây sân khấu chính trị của quốc gia Đại Việt đang chìm trong loạn lạc triền miên nằm trong tay của họ Trần. Năm 1223, Trần Tự Khánh chết, truy phong Kiến Quốc đại vương; Trần Thừa làm làm Phụ Quốc thái úy. Việc Lý Huệ Tông xuất gia vào năm 1224, nhường ngôi cho con gái là Lý Chiêu Hoàng lên bảy tuổi, để rồi chuyển sang tay Trần Cảnh tám tuổi (tức Trần Thái Tông) vào năm 1225 đã diễn ra theo sự sắp đặt của Điện tiền chỉ huy sứ Trần Thủ Độ.

Một lần nữa qua vụ đại loạn vào cuối đời Lý, chúng ta thấy rất rõ một khi bộ máy nhà nước quân chủ tập quyền suy yếu, thì tình trạng phân tán, ly khai cùng với việc nổi dậy của các thế lực vùng xuất hiện, kéo theo đó là sự phân hóa, bất lực của lực lượng vũ trang. Quân đội của triều đình, của các địa phương rơi vào tình trạng bị chia rẽ, giằng co giữa các thế lực.

Lực lượng vũ trang đó không chỉ không làm được nhiệm vụ dẹp loạn, bảo vệ nhà nước, vãn hồi an ninh mà còn bị lôi cuốn vào cơn lốc của loạn lạc.  Từ tám trường hợp điển hình về nội loạn và hành động ly khai cùng với hoạt động vũ trang bình dẹp của thời này, ta có một nhìn nhận bao quát qua bảng tổng hợp sau đây:
 

Bảng tổng hợp trên phản ánh khá rõ vị trí và vai trò của lúc lượng vũ trang trong dẹp trừ nội loạn, khắc phục hiện tượng ly khai, đẩy lùi khuynh hướng phân tán, xây dựng và bảo vệ nhà nước quân chủ, quản lý đất nước độc lập, tự chủ và thống nhất.

Bên cạnh đó còn có điều đặc biệt quan trọng cần lưu ý.  Đó là một khi tổ chức lực lượng vũ trang của nhà nước quân chủ bị chia rẽ thì nó cũng sẽ bất lực trong dẹp loạn, hơn nữa còn dẫn đến sự sụp đổ của bộ máy nhà nước. Tình hình đại loạn vào cuối triều Lý là trường hợp tiêu biểu.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #67 vào lúc: 16 Tháng Ba, 2009, 11:05:56 pm »

II. DẸP LOẠN CUNG CUNG ĐÌNH BẢO VỆ NHÀ NƯỚC QUÂN CHỦ ĐỘC LẬP TỰ CHỦ

Hành động nội loạn mà lực lượng vũ trang thời kỳ này phải tham gia bình dẹp không chỉ dừng lại ở các đối tượng thổ hào, thủ lĩnh địa phương như đã trình bày ở phần trên. Cũng thuộc loại hình nội loạn còn có những vụ rắc rối, tranh giành quyền lực ở cung đình.

Loại hình này không kém phần nguy hiểm. Chúng thường gây nên những mất ổn định, thậm chí sụp đổ của bộ máy nhà nước mà lực lượng vũ trang phải can thiệp nhàm giữ vừng “an ninh chính trị”, bảo vệ nhà nước quân chủ trung ương tập quyền.

Khác với loại hình nội loạn, ly khai trên, loại hình nội loạn cung đình thường có nguyên nhân xuất phát ngay từ trong nội bộ triều đình, bao gồm các hoàng thân quốc thích, các quan lại tham dự triều chính, mà mục tiêu thường chỉ vì quyền và lợi ích cá nhân. Tuy nhiên cũng có trường hợp vì lợi ích chung cần phải có sự thay đổi để tạo điều kiện đáp ứng yêu cầu vận động phát triển của lịch sử. Trong trường hợp này, lực lượng quân sự sẽ giữ vai trò chủ động, thông qua “binh biến” để giải quyết vấn đề cấp bách đang đặt ra trước mắt.

Chúng ta sẽ lần lượt tìm hiểu về diễn biến. hoạt động quân sự qua một số vụ tiêu biểu.

1. Vụ chính biến của Dương Tam Kha sau khi Ngô Quyền qua đời.

Khác vụ Kiều Công Tiễn với hành động phản phúc trắng trợn giết chủ đoạt quyền, vụ chính biến của Dương Tam Kha thực sự là vụ tranh giành quyền bính giữa hai thế lực lớn có quan hệ khăng khít qua con đường hôn nhân. 

Theo sử sách, Ngô Quyền là con Ngô Mân - một hào trưởng tầm cỡ lớn - có nguồn gốc châu Ái, đã nhiều đời di chuyển ra châu Phong, và tụ lại ở Đường Lâm. Ngô Quyền từng là nha tướng và là con rể của Dương Đình Nghệ. ông lấy Ngọc Thư (có thuyết nói là Ngọc Vân), chị (có thuyết nói là em) của Dương Tam Kha.

Như vậy dưới trướng của Dương Đình Nghệ, Ngô Quyền và Dương Tam Kha với mối quan hệ chiến hữu thân thiết được gắn bó thêm chặt chẽ bằng quan hệ anh em rể.

Sau vụ loạn Kiều Công Tiễn, đồng thời sau chiến thắng giặc Nam Hán trên sông Bạch Đằng năm 938, Ngô Quyền xưng vương và Dương Tam Kha trở thành người trợ thủ đắc lực, việt sử lược chép là “gia thần” của Ngô vương ở Cổ Loa. 

Đại Việt sử ký toàn thư chép vào năm 944 “Tiền Ngô vương” (tức Ngô Quyền) bệnh nặng, có ai thúc giao cho Tam Kha giúp rập cho con. Khi Vương mất, Tam Kha cướp ngôi” 1.  Trước việc làm của Tam Kha, con trưởng của Ngô Quyền là Xương Ngập sợ, chạy về Trà Hương, nay thuộc Kinh Môn - Hải Dương, được Phạm Lệnh Công che giấu. 

Sau khi đoạt được vương vị, nắm trong tay mọi quyền lực Dương Tam Kha sử dụng lực lượng quân lính Cổ Loa phục vụ cho mục đích bất chính của mình. Trước sự việc này sử sách không hề chép lực lượng vũ trang từng phục vụ vương triều Ngô, được Ngô Quyền rèn luyện, nuôi dạy có phản ứng tức thời.

Thậm chí các chỉ huy sứ Dương Cát Lợi  và Đỗ cảnh Thạc còn theo lệnh Dương Bình vương Tam Kha sai đi bắt Xương Ngập ở Trà Hương đến ba lần “đều không thực hiện được mệnh lệnh” 2, Phạm Lệnh Công đem giấu Xương Ngập trong động núi. Liệu có khả năng hai vị chỉ huy sứ họ Dương và họ Đỗ không thực tâm thi hành mệnh lệnh của Tam Kha? Phải đợi đến năm năm sau, vào năm 950, trong dịp được Dương Tam Kha sai đi đánh dẹp hai thôn Đường Nguyễn ở Thái Bình (thuộc Hà Tây) thì tướng lĩnh và quân đội của Ngô Quyền mới tỏ thái độ quyết liệt.

______________________
1. Toàn thư, Sđd, 1.1, tr. 198.
2. Toàn thư, Sđd, t.1, tr. 199.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #68 vào lúc: 16 Tháng Ba, 2009, 11:09:55 pm »

Theo sử cũ trên đường ra quân đến Từ Liêm, Xương Văn nói với hai vị chỉ huy sứ họ Dương họ Đỗ rằng: “Đức của tiên vương ta thấu khắp lòng dân, phàm chính lệnh ban ra không ai không vui lòng nghe theo, không may lìa bỏ quần thần, Bình vương tự làm việc bất nghĩa, cướp ngôi của anh em ta, tội không gì to bằng. Nay lại sai bọn chúng ta đi đánh ấp không có tội may mà đánh được thì thôi, nếu họ không phục thì làm thế nào?” 1.

Đây là lúc quân lính được dịp bày tỏ lòng trung thành của mình với Ngô vương. Quân lính quay trở về Cổ Loa, bắt Dương Tam Kha, giành lại vương vị cho con trai của chủ cũ. Bắt Dương Tam Kha, Xương Ngập không giết mà chỉ giáng làm Trương Dương công, còn ban cho thực ấp ở Chương Dương, ngoại thành Hà Nội ngày nay. 

Dẹp được vụ biến Dương Tam Kha, quân đội Cổ Loa đặt dưới quyền của Xương Văn lúc này là Nam Tấn vương.  Nhưng hàng loạt diễn biến tiếp theo: Xương Văn đón Xương Ngập về cùng cầm quyền giữ nước. Thiên Sách vương Xương Ngập chuyên quyền dẫn đến nội bộ hiềm khích.

Năm 954, Thiên Sách vương Xương Ngập mất, Xương Văn cầm quyền cho đến năm 965 thì bị chết trong khi đem quân đi đánh dẹp hai thôn Đường Nguyễn ở Thái Bình (thuộc Hà Tây).  Dường như sự bất hòa trong nội bộ triều đình Cổ Loa là nguyên nhân dẫn đến sự suy yếu và tan rã trong quân đội của vương triều Ngô.

Quân lính của Cổ Loa đã không thắng nổi đoàn quân mới nhóm họp của Đinh Bộ Lĩnh ở động Hoa Lư vào năm 951; lại còn bị bại ở hai thôn Đường Nguyễn vào năm 965. Nam Tấn vương Xương Văn bị trúng tên chết tại trận, vương triều Ngô sụp đổ.

Cũng trong thời gian này, tổ chức lực lượng vũ trang của triều đình Cổ Loa bị phân hóa, chia rẽ lực lượng để rồi bị lôi kéo vào cái gọi là “loạn 12 sứ quân” xảy ra từ năm 965, sau cái chết của Xương Văn. Như vậy vào lúc nguy hiểm xảy ra với nhà nước vương triều Ngô, sớm muộn lực lượng vũ trang đã tỏ ra khí tiết và lòng trung thành để bảo vệ sự tồn tại của triều đình Cổ Loa.

Nhưng những người đứng đầu vương triều đã tỏ ra ươn hèn, bất lực, mất đoàn kết đã dẫn đến sự sụp đổ của vương triều. Không những thế, họ còn tạo nên tình trạng tan rã của tổ chức lực lượng vũ trang từng được Ngô Quyền rèn luyện và trưởng thành trong diệt ngoại xâm, trừ nội loạn, tạo cơ hội cho cục diện “loạn 12 sứ quân” xuất hiện như đã trình bày ở phần trên.

2. Vụ rối loạn ở cuối vương triều Đinh

Sau 12 năm tồn tại, vào năm Kỷ Mão (977), vương triều Đinh ra đời từ dẹp loạn “12 sứ quân” bị một phen nghiêng ngả vì hành động bạo nghịch của Đỗ Thích. Theo ghi chép của sử sách. Đỗ Thích giữ chức Chi hậu nội nhân, vì một giấc mơ thấy sao rơi vào miệng, cho là điềm tốt, nảy ra ý định giết vua đoạt ngôi.

Vào một đêm sau bừa yến tiệc, vua Đinh cùng con trai là Đinh Liễn say rượu ngủ ở cấm đình thì bị Đỗ Thích giết hại 2. Nguyên nhân dẫn đến việc Đỗ Thích giết cha con vua Đinh dường như đã rõ qua ghi chép của sử. Nhưng sự thể hẳn không đơn giản chỉ có thế.

Một nguồn tài liệu từ gia phả của chi họ Đỗ lại cho biết Đỗ Thích thuộc dòng dõi của cựu sứ quân Đỗ Cảnh Thạc, được vua Đinh thu nạp và tin dùng, như trường hợp Ngô Nhật Khánh 3. Cả hai cùng nuôi thù riêng và tìm cách chống vua Đinh, giành quyền lực. Nhưng mỗi người hành động một  cách khác. Ngô Nhật Khánh rước giặc Chiêm Thành về toan đánh chiếm Hoa Lư. Chiến thuyền của chúng bị bão dìm đắm ở ngoài cửa biển Đại Ác và Tiểu Khang (thuộc Nam Định, Ninh Bình ngày nay) vào năm 979. Còn Đỗ Thích giết vua Đinh và Đinh Liễn thì bị Định Quốc công Nguyễn Bặc bắt trừng trị.

Sự rối loạn ở vương triều Đinh không dừng lại chỉ có thế.  Sau khi vua Đinh và con trưởng là Nam Việt vương Liễn bị giết hại, các tướng lĩnh Nguyễn Bặc, Đinh Điền, Thập Đạo tướng quân Lê Hoàn rước con nhỏ là Đinh Toàn - con của Đinh Bộ Lĩnh và Dương Thái hậu 4 - lên ngôi.

_____________________
1. Toàn thư, Sđd, t.1, tr. 199 - 200; Việt sử lược, Sđd, tr. 42.
2. Theo truyền thuyết và thần phả thì nhà vua và Đinh Liễn bị Đỗ Thích đầu độc bằng cách cho thuốc độc vào lòng lợn dâng lên trong bữa yến tiệc.
3. Xem thêm - Nguyễn Danh Phiệt: Nhà Đinh dẹp loạn và dựng nước, Sđd, tr . 151 .
4. Dương Thái hậu ở đây là con của Dương Tam Kha, khác với Dương hậu, vợ của Ngô Quyền là chị (có thuyết nói là em) của Dương Tam Kha.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #69 vào lúc: 16 Tháng Ba, 2009, 11:13:43 pm »

Vệ vương Toàn mới lên sáu tuổi, mọi việc đều do Lê Hoàn nhiếp chính quyết định. Trước tình hình đó các bậc đại thần như Nguyễn Bặc, Đinh Điền, Phạm Hạp “ngờ” 1 sẽ bất lợi cho vua nhỏ nên đã về Ái Châu (Thanh Hóa) họp quân chống lại Lê Hoàn. Lê Hoàn đem quân đánh dẹp. Đinh Điền bị chết tại trận, Nguyễn Bắc bị bắt và bị giết ở Hoa Lư. Còn Phạm Hạp chạy lên Bắc Giang, sau cũng bị bắt đem về giết chết ở Hoa Lư. 

Cho đến lúc này thì nguyên nhân của mọi rối loạn ở triều đình Hoa Lư cũng chỉ vì tranh giành nội bộ, xoay quanh việc trả thù cho chủ, giành giữ quyền lực xung quanh chiếc ngai vàng đang nằm trong tay ấu chúa. Sự phân hóa, chia rẽ giữa các tướng lĩnh thuộc hai phái: phái Lê Hoàn - Phạm Cự Lạng và phái Nguyễn Bặc - Đinh Điền - Phạm Hạp 2, lại một lần nữa dẫn đến sự chia rẽ trong nội bộ lực lượng vũ trang như trường hợp ở triều đình Cổ Loa hơn 10 năm trước.  Nhưng lần này sự chia rẽ đó không dẫn đến đỗ vỡ, mà lại diễn biến theo một hướng khác.

Tiếp sau tình hình rối loạn trong nội bộ triều đình Hoa Lư là hành động lợi dụng cơ hội, chuẩn bị gấp rút tiến hành xâm lược của giặc Tống. Trước tình thế đó, lực lượng vũ trang ở Hoa Lư do đại tướng Phạm Cự Lạng cầm đầu, được sự ủng hộ của Dương Thái hậu, tôn Thập Đạo tướng quân Lê Hoàn lên ngôi vua, thực hiện việc chống giặc vào cuối năm 980 đầu năm 981.

Kết quả quân, dân Đại Cồ Việt đã đánh bại giặc Tống, bắt sống tướng giặc Triệu Phụng Huân và Quách Quân Biện, bảo vệ được độc lập chủ quyền của quốc gia. 
Qua vụ việc này, lại một lần nữa lịch sử chứng minh sự bất hoà trong đội ngũ cầm quyền đã dẫn đến chia rẽ trong tổ chức lực lượng vũ trang của quốc gia Đại Cồ Việt. Nhưng lần này, tình trạng chia rẽ đó chỉ là hiện tượng tạm thời. Trước nguy cơ giặc ngoài xâm lược lực lượng vũ trang của triều đình Hoa Lư đã nhanh chóng xiết chặt đội ngũ, thống nhất lực lượng để tiến hành thống giặc thắng lợi. 

3. Vụ loạn ba vương vào năm Ất Ty (1005) Sau khi Lê Đại Hành qua đời.

Trong những hoạt động quân sự vào thời Tiền Lê không thể không tìm hiểu về vụ loạn trong nội bộ vương triều có nguồn gốc từ việc phân phong của nhà nước quân chủ thời này.

Theo ghi chép của sử sách, thời Tiền Lê tình trạng phân  tán quyền lực có xu hướng trỗi dậy mà nguyên nhân chính là do chủ trương của người đứng đầu nhà nước. Sách Toàn thư chép nhà vua phong cho các con như sau 3 :

Năm 991, phong hoàng tử thứ tư là Đinh làm Ngự Man vương, đóng ở Phong Châu.

Năm 991, phong hoàng tử thứ sáu là Cân làm Ngự Bắc vương, đóng ở trại Phù Lan (thuộc huyện Đường Hào,Hải Dương) .

Năm 992, phong hoàng tử thứ năm là Đĩnh làm Khai Minh vương, đóng ở Đằng Châu (Kim Động, Hưng Yên).
 
Năm 993, phong hoàng tử thứ bảy là Tung làm Định Phiên vương, đóng ở Tư Doanh, Ngũ Huyện Giang (thuộc vùng Bắc Ninh).

Năm 993. phong hoàng tử thứ tám là Tương làm Phó vương đóng ở Đỗ Động (Quốc Oai, Sơn Tây). 


_____________________
1 Toàn thư, chép là “ngờ”, còn Việt sử lược chép: “Thấy vua (chỉ Lê Hoàn) sẽ bất lợi cho ấu chúa”, Sđd, tr. 54. Cương mục chép: “Lê Hoàn cậy có Thái hậu cưng yêu, không kiêng sợ chi cả. Bọn Bặc bàn với nhau: Lê Hoàn sẽ bất lợi cho nhu tử...”, Sđd, tập 3, tr. 10. 
2. Phạm Hạp, người Chí Linh, Hải Dương là anh ruột Phạm Cự Lạng. ông và cha Phạm Hạp đều tham gia cầm quân dưới thời vương triều Ngô.
3. Toàn thư, Sđd, t.1, tr. 224, 225, 226.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM