Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 11:00:13 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 3  (Đọc 93245 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #70 vào lúc: 16 Tháng Ba, 2009, 11:19:20 pm »

Năm 993, phong hoàng tử thứ chín là Kính làm Trung Quốc vương. đóng ở Càn Đà,huyện Mạt Liên thuộc đất Phù Tiên, Bắc Ninh).

Năm 994, phong hoàng tử thứ mười là Mang làm Nam Quốc vương. đóng ở châu Vũ Lung (nay thuộc Thanh Hóa). 

Năm 995, phong hoàng từ thứ 11 là Đề làm Hành Quân vương, đóng ở châu Cỗ Lãm (nay thuộc Bắc Ninh).   

Năm 995, phong con nuôi là Phù Đái vương, đóng ở Phù Đái (nay thuộc Vĩnh Bảo, Hải Phòng).

Như vậy là trong số 11 con đẻ và một con nuôi, vua Lê Đại Hành đã phong vương và đất phong đến chín người. Còn lại các con thứ nhất, thứ hai và thứ ba, không cấp đất mà chi phong vương vào năm 989. Đó là:

- Con trưởng: Long Thâu làm Kình Thiên đại vương.

- Con thứ hai: Long Tích làm Đông Thành vương.

- Con thứ ba: Long Việt làm Nam Phong vương 1. 
 
Việc phong vương, kèm theo đất phong cấp đồng nghĩa với việc tạo cho người được phong một quyền lực quản giữ đất đai và quân dân ở địa phương được phong cấp. Đây chính là cơ sở để họ có thể nổi dậy, đem quân bản bộ tranh giành quyền lực một khi thời cơ đến, mà nhà vua không thể lường trước được.

Đến năm 1004, một năm trước khi qua đời, Lê Đại Hành mới tính chuyện lập người nối ngôi. Lúc này thái tử Long Thâu (con trưởng) đã mất. Theo thứ tự thì ngôi thái tử phải trao cho Long Tích - con thứ hai, nhưng nhà vua lại muốn trao cho Long Đĩnh là con thứ năm; triều thần khuyên can nên việc phải đình lại.

Đến đây nhà vua mới lập Long Việt là con thứ ba làm thái tử. Dường như để xoa dịu tình hình, nhà vua gia phong cho Long Tích (con thứ hai) và Long Đĩnh (con thứ năm) từ tước vương lên đại vương 2. Nhưng việc làm này của nhà vua không đem lại hiệu quả như ý muốn. Mối bất hòa và mầm loạn xuất phát từ đây thời cơ nổi loạn đã đến.

Đầu năm 1005, tháng ba âm lịch, nhà vua băng hà. Theo sự sắp đặt từ trước của vua cha, thái tử Long Việt (con thứ ba) lên nối ngôi. Sự việc diễn ra không êm thấm, vấp phải sự chống cự quyết liệt của Đông Thành đại vương Long Tích (con thứ hai), Trung Quốc vương Long Kính (con thứ chín) và Khai Minh vương Long Đĩnh (con thứ năm).

Cuộc tranh chấp diễn ra ở thế giằng co, cầm cự, đến nỗi ngôi vua phải bỏ trống tám tháng. Long Tích bị Long Việt đánh đuổi phải chạy sang Chiêm Thành, chưa đến nơi thì bị giết ở cửa biển Kỳ La (Hà Tĩnh). Cho đến tháng 10 âm lịch, Long Việt mới lên ngôi. Nhưng chỉ ba ngày sau thì Long Việt bị Long Đĩnh con thứ năm, cùng mẹ với (Long Việt) giết, giành lấy ngôi vua mà sử chép là Lê Ngọa Triều, ở ngồi từ cuối 1005 đến cuối 1009.

Trong số ba vương nổi loạn này theo sử sách có hai người là Khai Minh đại vương Long Đĩnh và Trung Quốc vương Long Kính được cắt đất phân phong.

Sự tranh chấp quyền lực không dừng lại ở đây. Long Đĩnh giết anh lên ngôi, lập tức bị Long Ngân và Long Kính, Long Đinh đều được cắt đất phân phong, nổi lên chống lại.  Long Đĩnh phải đích thân cầm quân đi đánh dẹp, bao vây trại Phù Lan đến hai tháng. Thế cùng, Long Ngân bắt Long Kính đem nộp. Long Ngân được tha, Long Kính bị giết 3.  Bình dẹp xong trại Phù Lan, Long Đĩnh đem quân đi đánh Phong Châu, Long Đinh phải đầu hàng 4.

___________________
1. Toàn thư, Sđd, t.I, tr. 223; Cương mục, Sđd, t.III, tr. 20.
2. Toàn thư, Sđd, t.1, tr. 229.
3,4. Toàn thư, Sđd, t.1, tr. 232; Cương mục, Sđd, t.1, tr. 271.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #71 vào lúc: 16 Tháng Ba, 2009, 11:24:18 pm »

Từ tranh giành quyền lực dẫn đến cảnh huynh đệ tương tàn giữa các con Lê Đại Hành xảy ra vào năm 1005 đã khiến lực lượng võ trang của quốc gia Đại Cồ Việt không còn sức mạnh của một quân đội thống nhất chỉ huy với ý chí sắt đá trong buổi đầu ở những năm tháng chống giặc Tống xâm lược (980-981).

Chỉ vì một chủ trương sai lầm của người đứng đầu nhà nước: cắt đất phân phong, bỏ trưởng lập thứ rnà dẫn đến sự đổ vỡ của đại cục. Trong tình hình đó, lực lượng vũ trang với tư cách là một công cụ bạo lực của nhà nước cũng bị rơi vào cảnh tượng phân tán chia lìa, đưa vương triều Tiền Lê vào chặng tàn mạt, kết thúc vào năm 1009 thời Lê Ngọa Triều.

4. Vụ loạn ba vương vào buổi đầu triều Lý và vai trò của Vũ Vệ tướng quân Lê Phụng Hiểu.

Đầu năm 1028, vua Lý Thái Tổ băng hà ở điện Long An.  Theo di chúc của nhà vua, quần thần tôn thái tử Phật Mã - con trưởng, lên ngôi. Việc chuẩn bị ngôi kế vị cho Phật Mã đã được Lý Thái Tổ tiến hành từ năm Thuận Thiên thứ ba (1012).

Sử chép vào năm này: “Sắc phong hoàng thái tử Phật Mã làm Khai Thiên vương, làm cung Long Đức ở ngoài thành cho ở, ý muốn cho thái tử hiểu biết mọi việc của dân” 1.  Theo chế độ nhà Lý, ngoài việc phong vương cho các con như thường lệ, dường như còn cho các con quản giữ một địa phương.

Trường hợp Khai Quốc vương Bồ quản giữ phủ Trường Yên (Ninh Bình ngày nay) thì đã rõ. Riêng Dực Thánh vương, Vũ Đức vương, Đông Chinh vương, sử không chép vùng đất họ quản giữ. Nhưng căn cứ vào việc họ đem “phủ binh” của mình tham gia tranh chấp đế vị, ta biết họ có khả năng được có đất phong, hay ít nhất họ cũng có phủ đệ riêng với quân đội riêng của “phủ” mình.

Với lực lượng quân đội trong tay, họ thường được vua cha giao việc cầm quân đánh dẹp các nơi mỗi khi cần thiết. Đó là các trường hợp Dực Thánh vương, Vũ Đức vương đánh dẹp các châu Đô Kim, Vị Long, Thường Tân, Bình Nguyên (Hà Giang - Tuyên Quang ngày nay) vào năm 1015; Khai Thiên vương Phật Mã đánh Chiêm Thành năm 1020; Dực Thánh vương đánh Đại Nguyên Lịch thuộc vùng biên giới phía bắc vào năm 1022; Khai Thiên vương đánh châu Phong, Khai Quốc vương Bồ đánh châu Đô Kim vào năm 1024; Khai Thiên vương đánh dẹp ở Diễn Châu năm 1026; Khai Thiên vương đánh châu Thất Nguyên, Đông Chinh vương đánh dẹp châu Văn (đều thuộc vùng Lạng Sơn) vào năm 1027.

Tất nhiên, các vương nhận chiếu chỉ cầm quân đi thảo phạt, ngoài quân số của bản phủ còn có lực lượng quân lính của triều đình cùng các tướng lĩnh tham gia tòng chinh.  Điều cần quan tâm ở đây là việc cho phép các vương có quân đội riêng sẽ có lợi khi nhà vua cần huy động, nhưng lại có  mặt trái của nó.

Với lực lượng quân đội riêng, họ sẵn sàng nổi dậy mỗi khi bất bình vì một duyên cớ nào đó.  Ngoài trường hợp đem phủ binh “làm loạn” của Khai Quốc vương Bồ ở Trường Yên đã nói ở phần trên, vụ nổi loạn của ba vương xảy ra sau khi vua Lý Thái Tổ băng hà là một trường hợp điển hình vào thời Lý.

Sử chép sau khi được tin thái tử Lý Phật Mã sẽ lên ngôi “Ba vương là Đông Chinh, Dực Thánh và Vũ Đức nghe tin đều đem quân ở phủ mình vào phục sẵn trong cấm thành.  Đông Chinh vương phục ở trong Long Thành, hai vương Dực Thánh và Vũ Đức phục sẵn trong cửa Quảng Phúc, đợi thái tử đến thì đánh úp” 2.

Biết có biến, thái tử Phật Mã đối phó bằng cách “sai các vệ sĩ trong cung phòng giữ”, bàn bạc với các bề tôi trong cung: “Ta đối với anh em không phụ bạc chút nào. Nay ba vương làm việc bất nghĩa, quên di mệnh của tiên đế, muốn chiếm ngôi báu, các khanh nghĩ thế nào?”.

Nội thị Lý Nhân Nghĩa nói: “Anh em với nhau, bên trong có thể hiệp sức bàn mưu, bên ngoài có thể cùng nhau chống giặc.  Nay ba vương làm phản thì là anh em hay là kẻ thù. Xin cho bọn thần đánh một trận để quyết được thua” 3.

_____________________
1. Toàn thư, Sđd, t.1, tr. 224; tiệt sử lược, sđd, t.1, tr. 72.
2,3. Toàn thư, Sđd, t.1, tr. 251-152; Cương mục, Sđd, t.III, tr.52- 53.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #72 vào lúc: 16 Tháng Ba, 2009, 11:28:49 pm »

Thái tử Phật Mã tỏ ý chần chừ vì “tiên đế mới mất chưa quàn mà cốt nhục đã giết nhau sợ để lại tiếng chê cười cho muôn đời”. Lý Nhân Nghĩa tìm cách thuyết phục và nói: “Tiên đế cho điện hạ là người hiền đủ để nối được chí, tài đủ để làm nổi việc, nên đem thiên hạ phó thác cho điện hạ. Nay giặc đến vây bức cửa cung mà ẩn nhẫn như thế thì đối với sự phó thác của tiên đế ra sao?” 1. Lý Phật Mã vẫn muốn để ba vương tự ý rút quân chịu tội để vẹn toàn tình cốt nhục.

Trong khi đó phủ binh của ba vương càng vây bức gấp.  Biết không thể ngăn được, Phật Mã đành phải ủy thác việc đánh dẹp cho đám cận thần: Lý Nhân Nghĩa, Dương Bình, Quách Thịnh, Lý Huyền Sư, Lê Phụng Hiểu. Phật Mã nói với Lê Phụng Hiểu: “Trẫm nay tiến thoái đều không được, giao quyền cho ngươi tùy tiện chống đánh” 2.
 
Được lệnh của Lý Phật Mã, Lý Nhân Nghĩa ra lệnh cho vệ sĩ cấm binh trong cung mở cửa xông ra đánh dẹp. Lê Phụng Hiểu đem vệ binh trong cung ra cửa đại nội giáp chiến. Hai bên đánh nhau chưa phân được thua thì Vũ Vệ tướng quân Lê Phụng Hiểu nổi giận, tuốt gươm tiến đến cửa Quảng Dương, hô to bảo Vũ Đức vương: “Các vương định cướp ngôi báu coi khinh tự quân, thật là trái mệnh tiên đế, lỗi đạo làm tôi, Phụng Hiểu này xin dâng các vương nhát kiếm”. Tiếp đó Lê Phụng Hiểu đem quân xông vào bắt giết được Vũ Đức vương, Phủ binh của ba vương bị đánh tan, Đông Chinh vương và Dực Thánh vương chạy thoát.

Sau vụ dẹp loạn này Lê Phụng Hiểu được phong Đô thống thượng tướng quân, tước hầu. Khi thái tử Phật Mã lên ngôi, Đông Chinh vương và Dực Thánh vương đến xin chịu tội. Họ được tha và đều cho lại tước cũ.

Đội ngũ tướng lĩnh và quân lính cấm vệ của nhà nước quân chủ Lý đã phát huy tác dụng, kịp thời dẹp loạn xảy ra trong nội bộ vương triều. Họ đã lập lại trật tự, kỷ cương và sự yên bình cho vương triều Lý sau khi Lý Thái Tổ băng hà.

Qua năm vụ nội loạn trong nội bộ vương triều đã khảo sát kể trên, chúng ta có thể rút ra một vài nhận xét sau đây:

1. Nguyên nhân xảy ra nội loạn thường do tranh giành quyền lực nội bộ. Mọi mối quan hệ huyết thống thân tộc, quân thần, ngoại thích, đồng liêu đều bị chà đạp, nhường chỗ cho lòng tham quyền vị, chia rẽ phe phái, cá nhân. 

2. Hầu hết các vụ nội loạn đều bị đánh dẹp bằng biện pháp quân sự. Kiều Công Tiễn bị Ngô Quyền đánh dẹp; Dương Tam Kha bị quân lính của Xương Văn truất quyền; Nguyễn Bặc, Đinh Điền, Phạm Hạp bị Lê Hoàn bình định; loạn ba vương cuối triều Tiền Lê bị Lê Long Đĩnh đánh dẹp; loạn ba vương đầu triều Lý bị Vũ Vệ tướng quân Lê Phụng Hiểu đem quân diệt trừ.

3. Các vụ nội loạn thường kéo theo sự chia rẽ trong lực lượng vũ trang. Một bộ phận của quân triều đình ngả theo quân phiến loạn mà quân bản bộ trong tay của thế lực cầm đầu là hạt nhân.

4. Bất luận vì lý do gì, nội loạn trong nội bộ cung đình đều gây nên rối loạn, làm suy yếu sứt mẻ, thậm chí đổ vỡ của bộ máy nhà nước quân chủ thời này.

_______________________
1. Toàn thư, Sđd, t.1, tr. 251-152; Cương mục, Sđd, t.III, tr.52- 53. 
2. Việt điện u linh, truyện Đô thông Khuông quốc tá thánh vương, bản dịch, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1972, tr.65.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #73 vào lúc: 16 Tháng Ba, 2009, 11:33:36 pm »

III. ĐẨY LÙI NGUY CƠ XÂM LẤN, GIỮ VỮNG BIÊN CƯƠNG PHÍA NAM CỦA TỔ QUỐC

Sau khi giành được độc lập tự chủ vào đầu thế kỷ X, biên giới phía nam của quốc gia Đại Cồ Việt - Đại Việt dừng lại ở Hoành Sơn, giáp với Chiêm Thành. Đây là quốc gia của người Chăm thuộc dòng Mã Lai - Đa Đảo, có lịch sử dựng nước từ cuối thế kỷ II sau Công nguyên.

Sử chép vào khoảng đời Sơ Bình (190- 193) cuối thời Hán, một người tên là Khu Liên đánh chiếm quận Tượng Lâm lập nước Lâm ấp và làm vua nước ấy.

Vào cuối thế kỷ VIII, sử Trung Quốc chép là nước Hoàn Vương. Tên gọi Chiêm Thành dịch nghĩa từ Campapura từng xuất hiện trong bi ký từ thế kỷ XV, được chép trong thư tịch từ cuối thế kỷ IX vào thời Đường, khoảng năm 855 hay 877; cuối thế kỷ IX xuất hiện tên nước Tân Đồng Long phiên âm từ Panduranga.

Trong thực tế, vương quốc Champa chỉ là một tập hợp không ổn định của nhiều nước khác nhau. Mặc dù vậy, người ta đã quen dùng thuật ngữ Champa - Chiêm Thành để chỉ cộng đồng xã hội khu vực này 1.

Dưới thời Bắc thuộc, Chiêm Thành đã nhiều lần đem quân đánh phá vùng châu Hoan (Nghệ An - Hà Tĩnh), châu Ái (Thanh Hóa), buộc quan quân đô hộ phải đánh dẹp.

Vào năm 248, Lâm ấp đã cướp phá các tỉnh phía bắc, bị quan quân đô hộ Trung Quốc đánh dẹp ở khu vực Ba Đồn (sông Gianh) 2.

Theo Toàn thư, năm 399, vua nước Lâm ấp là Phạm Hồ Đạt đánh cướp Nhật Nam, Cửu Chân rồi vào cướp Giao Châu, bị thứ sử Đỗ Viện đánh tan 3. Vào thế kỷ V, năm 413, Phạm Hồ Đạt lại cướp quận Cửu Chân, bị Tuệ Độ đánh tan 4. Năm 543, thời Lý Nam Đế, người Lâm ấp dưới triều vua Rudravarman vào cướp quận Nhật Nam, vua Lý Nam Đế sai tướng là Phạm Tu đánh tan ở Cửu Đức (nay thuộc vùng Đức Thọ, Hà Tĩnh) 5. 

Vào thế kỷ IX, từ thời vua Indravarman II (854- 893) , Chiêm Thành dưới sự quản lý của vương triều Đồng Dương của quý tộc bắc Chăm, thủ đô Indrapura trên bờ sông Ly Ly - một nhánh của sông Thu Bồn, cách thành Trà Kiệu khoảng 15 km về phía đông nam.

Đây là thời kỳ phát triển thịnh vượng của vương quốc Chiêm Thành. Từ thế kỷ XI trở đi, Chiêm Thành bước vào suy yếu do nội bộ chia cắt, chiến tranh với Chân Lạp. Đầu thế kỷ XIII, Chiêm Thành biến thành một tỉnh của Khơme từ năm 1203 đến năm 1220... 

Là một quốc gia nông nghiệp còn ở trình độ lạc hậu, diện tích canh tác của Chiêm Thành chỉ giới hạn ở dải đồng bằng nhỏ hẹp chạy dài ven biển, lọt vào giữa dãy núi Trường Sơn và biển Đông, thuộc Trung và Nam Trung Bộ ngày nay.

Đã vậy, dải đất hẹp này lại bị nhiều mạch núi chắn ngang ngăn cách. Ngoài núi Hoành Sơn ở cực bắc, còn có các núi Hải Vân, núi Thạch Bi, núi Đại Lãnh. Giao thông chủ yếu bằng đường biển. Trong hoàn cảnh đó, nguồn nhân lực dồi dào và của cải giàu có thuộc các vùng châu thổ sông Hồng, sông Mã, đông Nam ở phía bắc Hoành Sơn hẳn có sức hấp dẫn lớn đối với Chiêm Thành.


_____________________
1. Lịch sử Đông Nam á, Sđd, tr. 293-294; Lịch sử Việt Nam từ khởi thủy đến thiên kỷ X của Viện Sử học - Đỗ Văn Ninh chủ biên, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2001, tr. 388-389.  Đặng Xuân Bảng: Sử học bị khảo, dẫn lời Cổ Viêm Vũ nói: Lâm ấp sau niên hiệu Chí Đức (nửa cuối thế kỷ VIII) đời Đường vì nước ở chỗ Hoàn Châu mới đổi quốc hiệu là Hoàn Vương, chỗ vua ở gọi là Chiêm Thành nên lại đổi tên nước là Chiêm Thành. Chiêm Thành bắt đầu gọi từ năm Hiển Đức đời Hậu Chu (giữa thế kỷ X),
2. Lịch sử Đông Nam á, Sđd, tr.56.
3,4,5. Toàn Thư, Sđd, t.1, tr.165, 171. 
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #74 vào lúc: 16 Tháng Ba, 2009, 11:42:31 pm »

Việc khôi phục lại được nền độc lập tự chủ của cộng đồng các dân tộc Việt vào đầu thế kỷ X dường như không có tác động mấy đến Chiêm Thành. Về vấn đề này tác giả D.G.E Hall có nhận định: “lúc dầu, thay đổi đó (việc giành lại độc lập tự chủ của người Việt) có vẻ có tác động rất ít đối với Champa, trừ phi cho rằng quan hệ hữu nghị mà Jaya Indravarman I, người kế vị vua Indravarman III đã thiết lập với hoàng đế đầu tiên của nhà Tống có thể sẽ gây nên rắc rối giữa Champa và vương quốc mới (Đại Cồ Việt)” 1. 

Như vậy tác giả Lịch sử Đông Nam A cũng đã nhận ra mối quan hệ tay ba phức tạp giữa Trung Quốc - Đại Cồ Việt - Champa (Chiêm Thành) từ thế kỷ X. Chúng ta biết rằng trong quan hệ đó, về mặt địa lý, cả ba quốc gia đều có chung một bờ biển Đông rộng lớn, nhưng trên lục địa nước Đại Cồ Việt - Đại Việt vào thời này ở vào thế bị kẹp vào giữa.

Phía bắc Đại Cồ Việt là phong kiến Trung Hoa quản lý một đất nước rộng lớn, đông dân, mà ý đồ tái lập ách đô hộ của họ với Đại Cồ Việt chưa phải đã hết. Phía nam là Chiêm Thành tuy nhỏ bé lại luôn luôn khao khát nguồn nhân tài, vật lực phong phú trên vùng đất phù sa các dòng sông lởn ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ mà họ không có được.

Vào đầu thế kỷ X, dưới thời vương triều Ngô, Chiêm Thành hầu như không có quan hệ với Đại Cồ Việt. Chỉ từ vương triều Đinh mới bắt đầu có quan hệ, nhưng lại là quan hệ không mấy tốt đẹp. Đó là sự kiện Chiêm Thành theo chân Ngô Nhật Khánh vào tiến công Đại Cồ Việt.

Ngô Nhật Khánh là con cháu của Ngô Quyền, khi vương triều Ngô suy sụp, Ngô Nhật Khánh chiếm giữ Cam Lâm (Ba Vì - Hà Tây), là một trong “12 sứ quân” như sử sách ghi chép.  Sau khi thu phục được Cam Lâm, Đinh Bộ Lĩnh lấy mẹ Nhật Khánh làm hoàng hậu, lấy em gái Nhật Khánh làm vợ Nam Việt vương Đinh Liễn, lại gả công chúa cho Nhật Khánh. Tuy vậy Nhật Khánh vẫn bất bình đem vợ chạy sang Chiêm Thành. Đến cửa Nam Giới (Cửa Sót - Hà Tĩnh), Nhật Khánh rút dao ngắn xẻo má vợ kể tội “cha mày lừa dối ức hiếp mẹ con ta (. . .) cho mày trở về, ta đi đằng khác tìm kẻ có thể cứu ta” 2.

Năm 979, khi nghe tin Đinh Bộ Lĩnh bị sát hại, Ngô Nhật Khánh dẫn thuyền quân Chiêm Thành hơn nghìn chiếc vào cướp, muốn đánh thành Hoa Lư, theo hai cửa biển Đại Ác 3 Và Tiểu Khang 4.  Qua một đêm gặp gió bão nổi lên, thuyền đều bị lật đắm, Nhật Khánh cùng người Chiêm đều chết đuối. Chỉ có thuyền của vua Chiêm thoát trở về nước 5.
 
Tiếp theo sự kiện này, vào năm 982, sau khi được quân sĩ tôn lên làm vua (980) và đánh thắng giặc Tống (cuối 980 đầu 981), Lê Hoàn sai sứ giả là Từ Mục và Ngô Tử Canh sang Chiêm Thành hẳn là để giao hảo, thông báo việc lên ngôi vua và đánh thắng giặc của mình. Nhưng có lẽ vì còn hận về lần tiến công Hoa Lư bị đại bại ba năm trước (năm 979), nên chúa Chiêm Bề Mi Thuế (Paramesvaravarman) đã “ngu ngốc tống giam vị sứ giả đó” 6.

Đây là một biểu thị thù địch trong quan hệ bang giao mà Đại Cồ Việt không thể bỏ qua.  Hậu quả tuyệt giao một cách thô bạo này của chúa Chiêm đã dẫn đến việc Lê Hoàn - vua nước Đại Cồ Việt - thân chinh vào năm 982 đem quân tiến đánh Chiêm Thành, tàn phá Kinh đô Indrapura, mở đầu cho việc các nhà nước quân chủ Đại Cồ Việt - Đại Việt thường tỏ thái độ quyết liệt nhằm giữ quốc thể, bảo vệ và gìn giữ biên cương phía nam. 

Trước khi điểm đến những hoạt động quân sự nhằm bảo vệ biên cương, đẩy lùi nguy cơ xâm lấn bờ cõi từ phía nam của Chiêm Thành, chúng tôi thấy cần phải tìm hiểu sâu hơn về mối quan hệ tay ba: Trung Hoa - Đại Việt - Chiêm Thành vào thời này.


______________________
1. D.G.E.Hall: Lịch sử Đông nam á, Sđd, tr.295
2. Toàn thư. Sđd, t.1 tr. 211.
3. Cửa Đại ác, cửa sông Đáy thời đó, vua Lý Thánh Tông đồi ra Đại An. nay có dịa danh Đại An thuộc Nam Định.
4. Còn gọi là cửa Cỡn ở Ninh Bình.
5. Toàn Thư, Sđd, t.1, tr.211.
6. D.G.E. Hall: Lịch sử Đông Nam á, Sđd, tr.296.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #75 vào lúc: 16 Tháng Ba, 2009, 11:46:21 pm »

Chiêm Thành là một nước nhỏ, từ trước thường hay đem quân quấy phá biên giới phía nam của Đại Việt. Từ thế kỷ X, vị trí và uy thế của Đại Cồ Việt thời Đinh - Tiền Lê đến Đại Việt thời Lý đã được xác lập ngày một vững mạnh. Những chiến công phá Tống lừng lẫy vào các năm 981, 1077 khiến Chiêm Thành cũng phải kiêng nể.

Tuy nhiên, ý đồ quấy rối, chống phá Đại Cồ Việt - Đại Việt của Chiêm Thành chưa phải đã hết. Các vụ chúa Chiêm theo Ngô Nhật Khánh về đánh chiếm Hoa Lư năm 979, bắt sứ giả của Lê Hoàn vào năm 982 là bằng chứng của nửa cuối thế kỷ X.

Mặc dầu vậy, trên đại thể quan hệ bang giao hoà hiếu giữa hai nước vẫn là nét nổi bật, được thể hiện dưới hình thức giao hảo, cống nạp xảy ra khá đều đặn trong một quãng thời gian dài, đặc biệt từ sau chiến thắng giặc Tống trên sông Như Nguyệt vào năm 1077.

Biên niên sử chép về mối quan hệ này diễn ra thường xuyên. liên tục, hầu như tương đối đều đặn. Từ 1077 đến 1126 ít nhất đã có 27 lần sứ Chiêm sang Đại Việt. Trong suốt thời gian ngót nửa thế kỷ này chỉ xảy ra một vụ rắc rối vào năm 1103 mà nguyên nhân là do Lý Giác, người Diễn Châu (Nghệ An) chống lại triều đình bị Lý Thường Kiệt đánh đuổi. Lý Giác chạy sang Chiêm Thành rước người Chiêm về đòi đất sẽ điểm lại sau.

Trước và sau thời gian này, cụ thể là trước năm 1077 và sau năm 1126, không những quan hệ giao hảo xảy ra hiếm hoi, mà Chiêm Thành còn nhiều lần đem quân cướp phá, quấy rối biên giới Đại Việt. Có thể thấy các vụ xâm lấn của Chiêm Thành qua thống kê dưới đây:

- Trước 1077:

+ Năm 997, Chiêm Thành cướp nơi biên giới, vua Lê Đại Hành đem quân đánh dẹp.

+ Năm 1075, Chiêm Thành quấy rối biên giới, Thái úy Lý Thường Kiệt đem quân đánh dẹp.

- Sau 1126:

+ Năm 1132, Chiêm Thành cùng Chân Lạp vào cướp Nghệ An, Thái úy Dương Anh Nhị hội quân với Thanh Hóa, Nghệ An cùng đánh dẹp.

+ Năm 1166, Chiêm Thành dùng quân phong thủy cướp bóc vùng ven biển. Năm sau (1167), Thái úy Tô Hiến Thành đem quân đánh dẹp.

+ Năm 1177, Chiêm Thành cướp phá châu Nghệ An. 

+ Năm 1203, Chiêm Thành đem binh thuyền cướp bóc ven biển Cư La (Cửa Nhượng, Kỳ An, Hà Tĩnh). Đàm Dĩ Mông - Đỗ An đi giải quyết.

+ Năm 1216, Chiêm Thành cùng Chân Lạp vào cướp châu Nghệ An, Bá Tri châu Nghệ An Lý Bất Nhiễm đánh dẹp. 

+ Năm 1218, Chiêm Thành cùng Chân Lạp vào cướp châu Nghệ An, Bá Tri châu Nghệ An Lý Bất Nhiễm đánh dẹp.
 
+ Năm 1043, Chiêm Thành cướp bóc dân cư ven biển - năm sau (1044) vua Lý Thái Tông cầm quân đánh dẹp. 

Trong các vụ xâm lấn trên, có lần Chiêm Thành cùng kết hợp với Chân Lạp, như vào các năm 1132, 1216,1218.  Trong khi đó đối với nhà Tống, vì ngăn cách qua Đại Việt nên Chiêm Thành không có và cũng không thể tiến hành quấy phá. Trái lại, Chiêm Thành còn tìm cách tranh thủ sự ủng hộ, hoặc có thái độ liên minh với quốc gia lớn mạnh này để chống Đại Việt.

Vào những năm cuối thế kỷ X, vua Chiêm Harivarman II đã bằng quan hệ giao hảo tranh thủ được sự công nhận của nhà nước quân chủ phong kiến Tống, khôi phục được kinh đô Indrapura từng bị Lê Hoàn đánh phá vào năm 982. Ỷ vào thế dựa nhà Tống, từ năm 997, Chiêm thành thường “đem quân dòm ngó biên giới nước ta” 1. Vua Chiêm đã “phát động một loạt cuộc phản công đánh vào An Nam” 2 như đã trình bày.


_________________________
1. Toàn Thư, Sđd, t.I, tr.227; Cương Mục, Sđd, t.III, tr.27. 
2. D.G.E.Hall: Lịch sửầông Nam á. Sđd, tr.296.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #76 vào lúc: 16 Tháng Ba, 2009, 11:53:49 pm »

Quan trọng hơn, ở mối quan hệ tay ba này, trong dịp xâm lược Đại Việt vào năm 1075 nhà Tống đã có ý đồ liên minh với Chiêm Thành và Chân Lạp. Lúc đó quan Tống là Hứa Ngạn Tiên tâu xin xui Chiêm Thành, Chân Lạp đánh biên giới phía nam nước ta. Vua Tống hạ chiếu: “Chiêm Thành, Chân Lạp vốn là huyết thù của Giao Chỉ. Vậy sai Hứa Ngạn Tiên và Lưu Sư mộ dăm ba người buôn bể, đi dụ các quốc trưởng nước ấy dự vào việc đánh Giao Chỉ. Khi nào bình định xong, sẽ có thưởng” 1.

Hứa Ngạn Tiên chưa đi. Kịp khi Ung Châu bị Lý Thường Kiệt vây hạ, vua Tống lại xuống chiếu sai Lý Bột và La Xương Hao mang sắc thư, thuốc, khí dụng và lụa sang dụ Chiêm Thành, Chân Lạp đánh Đại Việt Lời chiếu viết: “Chiêm Thành, Chân Lạp từ lâu nay bị Giao Chỉ cướp. Nay vương sư sang đánh Giao Chỉ để phạt tội. Các nước ấy nên thừa cơ hội, hiệp lực mà trừ nó. Ngày nào đánh dẹp xong trẫm sẽ ban thưởng cho. Trẫm lại nghe nói rằng nhiều dân nước ấy đã bị Giao Chỉ bắt về. Trong số ấy có cựu vương Chiêm Thành, khó lòng trở về nước. Nên triệu y sang chầu trẫm sẽ gia ân cho” 2.

Thực hiện ý đồ liên minh của nhà Tống, vào năm 1075, Chiêm Thành bắt đầu đem quân đánh phá vùng biên giới phía nam Đại Việt. Nhưng kế hoạch này đã bị phát hiện, vua Lý Nhân Tông sai Thái úy Lý Thường Kiệt kịp thời thống lĩnh các quân đi đánh dẹp, họa địa đồ hình thế núi sông của ba châu Địa Lý, Ma Linh, Bố Chính (Quảng Bình, Quảng Trì ngày nay) vào năm 1075, mộ dân đến ở để thực hiện việc phòng giữ 3.

Trong chiến lược bảo vệ, phòng giữ biên cương phía nam, chủ yếu là đối sách với Chiêm Thành, người đứng đầu các triều đại Tiền Lê, Lý thường áp dụng biện pháp cứng rắn.  Điều này thể hiện rõ ở việc đối phó bằng vũ lực, tuỳ theo quy mô xâm lấn của Chiêm Thành mà huy động quân của triều đình hoặc quân địa phương tiến hành chinh phạt. Dưới đây, chúng ta điểm lại một vài vụ hành binh điển hình xảy ra vào các năm sau:

1. Hành binh năm 982

Trước hành động chúa Chiêm ngang ngược bắt giữ sứ giả Từ Mục và Ngô Tử Canh của triều đình Hoa Lư, vua Lê Đại Hành thân chinh đi đánh dẹp. Sử chép về sự kiện này như sau: “Trước đó vua sai Từ Mục, Ngô Tử Canh sang sứ Chiêm Thành, bị người Chiêm bắt giữ. Vua giận sai đóng chiến thuyền, sửa binh khí, tự làm tướng đi đánh, chém Bề Mi Thuế (Paramesvaravarman) tại trận. Chiêm Thành thua to.  Bắt sống được quân sĩ của chúng nhiều vô kể, cùng là kỹ nữ trong cung trăm người và một nhà sư người Thiên Trúc lấy các đồ quý đem về, san phẳng thành trì, phá tông miếu, vừa một năm thì trở về kinh sư” 4 .
 
Mặc dù sử sách chỉ chép những nét lớn, nhưng qua đó ta cũng hình dung đây là một cuộc chinh phạt có quy mô lớn cả về không gian và thời gian. Tham gia đánh dẹp gồm chủ yếu là thủy binh của triều đình được chuẩn bị chu đáo, do nhà vua đích thân chỉ huy.

Cuộc chiến không chỉ dừng lại ở biên giới Đại quân của Lê Đại Hành đã tiến đến tận kinh đô Chiêm Thành. Chúa Chiêm đã bị chết tại trận. Để tiến vào được Indrapura (thuộc Quảng Nam ngày nay), quân đội của Đại Cồ Việt hẳn đã phải vượt qua Hoành Sơn, theo hai đường thủy (biển), bộ, tiến sâu vào qua đèo Hải Vân, ngược dòng sông Thu Bồn tiến vào Đồng Dương.

Thời gian hành binh kéo dài đến một năm cho phép ta dự đoán rằng trên đường hành quân, quân của Lê Đại Hành không chỉ gặp khó khăn về địa hình, về đường tiến quân, mà còn gặp phải sức chống cự quyết liệt của người Chiêm. Tác giả sách Lịch sử Đông Nam á đã cho biết trong dịp này “Indravarman IV, người kế vị Paramesvaravarman (Bề Mi Thuế), phải đi lánh nạn ở miền nam đồng thời kêu gọi một cách vô vọng sự cầu viện của Trung Quốc” 5.

Cuộc động binh của Lê Đại Hành đã buộc Chiêm Thành phải lùi bước. Khôi phục trong một thời gian ngắn ngủi từ sau năm 982, vào năm 1000 chúa Chiêm phải từ bỏ : Indrapura, chuyển kinh đô xuống phía nam, đóng ở Vijaya (Trà Bàn - Bình Định), kết thúc vương triều Đồng Dương một thời vang bóng.


_____________________________
1,2. Hoàng Xuân Hãn: Lý Thường Kiệt, Sđd, tr. 159. 
3 . Toàn thư, Sđd, T.1 , tr. 291.
4. Toàn thư, Sđd, t.1, tr. 218 - 219; Cương mục, Sđd, t.III, tr.17.
5. D.G.E. Hall: Lịch sử Đông nam á, Sđd, tr.296.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #77 vào lúc: 18 Tháng Ba, 2009, 12:16:35 pm »

2. Hành binh vào các năm 1044 và 1069

Sử sách cho biết, bước sang triều Lý, từ khi Lý Thái Tổ lên ngôi, mối quan hệ Đại Việt - Chiêm có những biểu hiện thất thường. Theo biên mền sử, năm 1011 Chiêm Thành tiến dâng sư tử. Hơn 30 năm sau, vào năm 1043 Chiêm Thành lại tràn sang cướp bóc vùng dân cư ven biển 1.

Từ khi Lý Thái Tông lên ngôi (năm 1020), Chiêm Thành không quan hệ với Đại Việt. Trước tình hình đó, vua Lý Thái Tông hạ chiếu đóng hơn vài trăm chiến thuyền mang các tên như:Rồng, Phượng, Cá, Rắn, Hổ, Báo và Anh Vũ, chuẩn bị sang năm thân cầm quân đi đánh Chiêm Thành.

Vào tháng Giêng năm Giáp Thân (1044), nhà vua giao cho Khai Hoàng vương Nhật Tôn coi giữ kinh đô, tự cầm quân tiến về phía nam theo đường biển. Hàng vạn chiến thuyền cùng xuất phát qua cửa Đại ác (nay thuộc Nam Định), gặp gió lặng sóng yên, nhà vua đổi tên Đại ác thành Đại An.

Quân đội của vua Lý qua vùng núi Ma CÔ (thuộc hải phận Kỳ Anh - Hà Tĩnh), vụng Hà Não (vụng Chùa), cửa Trụ Nha... Đại quân vượt qua hai bãi Đại và Tiểu Trường Sa (từ cửa Nhật Lệ đến cửa Tư Hiền - nam Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên), tiến vào nam đèo Hải Vân.

Quân Chiêm đem quân và voi bày trận ở bờ nam sông Ngũ Bồ (hạ lưu sông Thu Bồn - Quảng Nam). Lý Thái Tông truyền cho quân lính bỏ thuyền lên bộ ở bờ bắc sông, chỉnh đốn quân sĩ, “dựng cờ nổi trống, sang tắt ngang sông mà đánh”. Quân Chiêm tan vỡ, chúa Chiêm là Sạ Đẩu bị chết tại trận, bắt hơn 30 thớt voi, bắt sống hơn 5000 người.

Nhà vua ra lệnh “kẻ nào giết bậy người Chiêm Thành thì sẽ giết không tha” 2. Tháng Bảy âm lịch, nhà vua đem quân vào thành Phật Thệ (Vijaya) bắt vợ chúa Chiêm và nhiều cung nữ, sai sứ đi phủ dụ các hương ấp 3.

Tháng Chín nhà vua về đến hành cung Lý Nhân rồi về kinh thành.  Từ sau năm 1044, Chiêm Thành có quan hệ với Đại Việt dưới hình thức cống nạp vào các năm 1055, 1057, 1059, 1060, 1063, 1065.

Đến năm 1068 “Chiêm Thành dâng voi trắng, sau đó đại quấy rồi biên giới Đại Việt” . Tháng Hai năm Kỷ Dậu (1069) vua Lý Thánh Tông cùng đại tướng quân Lý Thường Kiệt đem quân đi đánh Chiêm Thành.

Về nguyên nhân dẫn đến cuộc chinh phạt lần này không hẳn chỉ vì Chiêm Thành không chịu cống nạp. Hoàng Xuân Hãn, tác giả sách Lý Thường Kiệt có lý khi cho rằng nguyên nhân “là sâu xa hơn, chứ không phải vì cớ trên mà thôi”. ở đây có vấn đề từ quan hệ tay ba: Đại Việt - Trung Hoa - Chiêm Thành".

Từ sau năm 1044, Chiêm Thành lén lút sang thần phục nhà Tống, tìm cách dựa vào thế Tống để đánh trả Đại Việt Điều này nằm trong ý đồ của nhà Tống muốn lôi kéo Chiêm Thành làm áp lực với Đại Việt. Theo Tống sử:

Dangpusơli Ludabanmađêpa (Yanpu Cri Rudravarmandra) vừa mới lên ngôi đã tổ chức võ bị, luyện tập binh lính. Lại sai sứ sang Tống cống phương vật và xin mua ngựa; vua Tống ban cho một con ngựa bạch và cho phép mua lừa ở Quảng Châu.

Sách Cương mục chép: “Bấy giờ Chiêm Thành khuấy rối ở biên giới, nhà vua giao cho Nguyên phi (Ỷ Lan) trông coi việc nước, tự làm tướng đi đánh”.

Về phía Đại Việt, bên cạnh quan điểm nhìn nhận nước nhỏ lân bang như một chư hầu, điều quan trọng hơn là muốn thu phục Chiêm Thành, dứt hoạ Chiêm Thành thần phục Tống, biến thành tay chân của Tống đánh phá, quấy rối biên giới chống lại Đại Việt từ phía nam.

Diễn biến lịch sử trong quan hệ tay ba thời Lý - Trần qua các cuộc xâm lược của Tống, Nguyên đã chứng minh rõ hiểm họa thường trực này đối với Đại Việt. Đó là nguyên nhân dẫn đến cuộc chinh phạt năm Kỷ Dậu (1069) do đích thân vua Lý Thánh Tông điều khiển.


_____________________
1. Toàn thư, Sđd, t.1, tr.286.
2,3. Toàn thư, Sđd, t.1, tr. 273. Toàn thu, Sđd, t.1, tr. 286; Cương mục, Sđd, t.1, tr. 344. 
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #78 vào lúc: 26 Tháng Tư, 2009, 12:51:02 pm »

Về cuộc hành binh lần này, Toàn thư và Cương mục chép rất sơ lược, chỉ ghi: mùa xuân, tháng Hai, vua thân đi đánh Chiêm Thành, bắt được vua Chiêm là Chế Củ. Trong trận này nhà vua đánh mãi không được, đem quân về đến châu Cư Liên, nghe tin Nguyên phi (Ỷ Lan) giúp việc nội trị lòng dân cảm hóa hoà hợp, trong eõi vừng vàng nhà vua nói:

“Nguyên phi là đàn bà còn làm được như thế, ta là nam nhi lại chẳng được việc gì hay sao?”, liền quay lại đánh thắng được, bắt chúa Chiêm là Chế Củ đem về. Chế Củ dâng đất ba châu Địa Lý, Ma Linh, Bố Chính (Quảng Bình, Quảng Trị ngày nay) để xin về nước, được nhà vua ưng thuận 1. Trong khi đó sách Việt sử lược được biên soạn từ thời Trần chép kỹ về thời gian và lộ trình hành binh, tuyệt nhiên không chép việc vua Lý Thánh Tông đã có lần quay về đến châu Cư Liên.

Mùa xuân, tháng Hai, năm Kỷ Dậu, ngày Mậu Tuất (24-2-1069), Lý Thánh Tông hạ chiếu thân chinh. 

Ngày Đinh Mùi (5 - 3) thề ở Long Trì.

Ngày Canh Dần (8 - 3) xuất quân.

Ngày Đinh Tỵ (1 - 3) đến châu Nghệ An. 

Ngày Canh Thân (18 - 3) đến cửa biển Nam Giới (Cửa Sót Hà Tĩnh).

Ngày Ất Sửu (28 - 3) đánh thắng ở cửa biển Nhật Lệ (Quảng Bình) .

Ngày Kỷ Tỵ (27 - 3) qua Đại Trường Sa (Quảng Trị). 

Ngày Canh Ngọ (28 - 3) đến cửa Tư Dung (nam Thừa Thiên) .

Tháng Ba, ngày Bính Tý (3 - 4) đến cửa biển Thị Nại (Cri Bonei) (Quy Nhơn). Đại quân tiến đến bờ sông Tu Mao (Bình Định) đánh phá, chém được tướng Chiêm là bọn Bốtrìđàla. Chúa Chiêm là Chế Củ nghe tin quân bại, đang đêm đem vợ con chạy trốn. Vua Lý Thánh Tông dẫn quân  đến thành Phật Thệ (Vijaya - Bình Định), tới bến Đồng La, người Phật Thệ ra hàng.

Tháng Tư (âm lịch), Lý Thường Kiệt bắt được Chế Củ ở biên giới Chân Lạp.

Tháng Năm (âm lịch), thết đãi quần thần tại điện của vua Chiêm; rút quân về.

Tháng Sáu, ngày Kỷ Hợi (25 - 6) quân vượt biển.

Ngày Mậu Thân (4 - 7 qua cửa biển Bố Chính (bắc Quảng Bình).

Ngày Tân Dậu (17-71069) về đến bến Triều Đông (Thăng Long) 2.

________________________
1. Toàn thư, Sđd, t.1, tr. 286; Cương mục, Sđd, t.1, tr. 345.
2. Theo Việt sử lược, Sđd, tr. 103, 104, 105
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #79 vào lúc: 26 Tháng Tư, 2009, 12:55:33 pm »

Chắt lọc, tổng hợp từ các nguồn tư liệu trên ta có thể hình dung được những nét đại thể về lần chinh phạt này như sau:

- Về thời gian: Từ khi xuất quân đến khi trở về Thăng Long gồm 4 tháng 10 ngày (từ ngày 8 - 3 đến ngày 17-7-1069).

- Không gian hành quân: Từ Thăng Long đến cực nam đất Chiêm Thành - biên giới Chân Lạp (Phan Thiết ngày nay). 

- Quân lực: trên năm vạn quân thủy - bộ 1.

- Người chỉ huy: vua Lý Thánh Tông - Lý Thường Kiệt.

- Mục tiêu: Dập tắt ý đồ quấy phá, chống đối của chúa Chiêm.

- Trận đánh lớn:

   + Cửa Nhật Lệ (Quảng Bình) ngày 28-3-1069.

   + Sông Tu Mao (Bình Định) ngày 3-4-1069.

   + Giáp biên giới Chân Lạp (Phan Thiết) tháng 4-1069.

- Phương thức tác chiến: Phối hợp thủy binh và bộ binh tiến công, truy kích.

- Kết quả: Tiến công vào kinh đô truy bắt được chúa Chiêm; mở rộng đất đai thêm ba châu Địa Lý, Ma Linh. Bố Chính, đưa biên giới phía nam từ Hải Vân đến Quảng Bình ngày nay.

3. Những lần hành binh ở thế kỷ XII đầu thế kỷ XIII

Hơn 30 năm sau vào các năm 1103, 1104 đời Lý Nhân Tông, sử chép vào tháng Mười âm lịch năm Quý Mùi (1103) “người Diễn Châu là Lý Giác mưu làm phản ( . . . .  ) chiêu tập kẻ vô lại chiếm cứ châu ấy, đắp thành làm loạn” 2 . 

Nhà vua sai Lý Thường Kiệt đem quân đi đánh, Lý Giác thua chạy trốn sang Chiêm Thành. Cũng vào thời gian này sử chép “Chiêm Thành cướp biên giới” 3.

Hẳn rằng vụ rắc rối ở biên giới này kéo dài từ tháng Mười âm lịch cho đến tháng Hai năm sau (Giáp Thân - 1104) khiến vua Lý Nhân Tông lại sai Lý Thường Kiệt xuất quân. Theo sử cũ, Lý Giác trốn sang đất Chiêm, nói rõ tình hình hư thực ở nước ta, vua Chiêm lúe đó là Chế Ma Na (Jaya Indravarman) lợi dụng cơ hội đem quân vào đánh phá, nhằm giành lại vùng đất mà Chế Củ đã dâng nộp để chuộc thân từ năm 1069.

Đối phó với hành động này của Chế Ma Na, Lý Thường Kiệt phải đem quân đi đánh dẹp. “Chế Ma Na lại dâng nộp đất ấy” 4. Cho đến cuối thời Lý, vào khoảng 20 năm đầu thế kỷ XIII tình hình Đại Việt không yên. Các thế lực vùng nổi dậy tranh giành quyền lực xung quanh chiếc ngai vàng ọp ẹp của vương triều Lý.

______________________
1. Theo Hoàng Xuân Hãn: Lý Thường Kiệt, Sđd, tr. 39. 
2,3,4. Toàn thư, Sđd, t.1, tr.298.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM