Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 12:31:27 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 3  (Đọc 93357 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #90 vào lúc: 27 Tháng Tư, 2009, 01:10:46 pm »

Thành Bình Lỗ chống Tống thời Tiền Lê là chiến lũy theo kiểu thành tuyến dài này kết hợp với chủ trương đóng cọc ngăn sông của Lê Hoàn. Thành này tương ứng với đoạn. sông Hồng ngày nay từ phía bắc ngã ba Lềnh xuống đến phía nam ngã ba Vàng. Đoạn sông Hồng này bên hữu ngạn đi qua địa phận huyện Nam Xang, nay là huyện Lý Nhân tỉnh Hà Nam; bên tả ngạn đi qua một phần đất huyện Kim Động, qua huyện Tiên Lữ, qua cửa Hải Triều (tức cửa sông Luộc), qua huyện Hưng Nhân, Duyên Hà (thuộc tỉnh Thái Bình), đến xã Phạm Nỗ qua cửa Trà Lý, rồi qua đất huyện Thư Trì, xuống đến phía nam ngã ba Vàng.

Thành Bình Lỗ với một phạm vi giới hạn như vậy, đã đủ chặn hết các cửa sông quan trọng của các tuyến sông vào Hoa Lư. Cụ thể đã chặn được cửa phụ lưu Nhị Hà ở ngã ba Lềnh và ngã ba Vàng, chặn được cửa sông Hải Triều (thượng lưu của Lục Giang) và cửa sông Trà Lý 1. 
 
Hệ thống đồn trại bảo vệ khu Đại La - Loa Thành.

Sau Hoa Lư, khu Đại La - Loa Thành là một địa bàn chiến lược quan trọng số hai vì đây là trung tâm Giao Châu trải hàng chục thế kỷ, có nguồn nhân tài, vật lực phong phú, có vị trí chiến lược trọng yếu.

Quân Tống thời ấy trội hơn ta về thuyền thường chuyển quân vận lương cũng dùng thuyền là chính. cho nên khi sang nước ta, muốn chiếm đóng khu Đại La - Loa Thành, tất chúng phải đi vào bằng tuyến sông Hồng hoặc tuyến sông Bạch Đằng - Kinh Thầy- sông Đuống...

Trong hai tuyến sông nói trên, tài liệu đến nay thu thập được mới thấy rõ được một tuyến có sự bố phòng chống Tống của Lê Hoàn. Đó là hệ thống đồn trại chặn quân Tống vào theo tuyến sông Kinh Thầy-sông Đuống.

Hệ thống phòng thủ này. Lê Hoàn thiết lập ba cụm đồn:

- Đồn Nghĩa Đô: đồng thời là Sở chỉ huy của tuyến này.

- Trại Xuyên Bảo: chốt của sông Đống vào Nhị Hà.
   
- Trại Phù Lan: phòng thủ vùng sông Lục Đầu.

Chỉ huy hệ thống phòng thủ này là tướng Trần Công Tích với quân doanh tại đồn Nghĩa Đô và hai kho lương thực chính là kho Nghĩa Đô và kho Hoa Xá ở làng Tó (Tả Thanh Oai).

Bố trí lực lượng phòng thủ tuyến xa

Tuyến xa ở đây giới hạn phía bắc khoảng từ lưu vực sông Kinh Thầy - Bạch Đằng đến biên giới Việt - Tống, giới hạn phía nam khoảng từ cửa biển Thần Đầu vào tới biên giới Việt - Chiêm. Lê Hoàn quan tâm phòng thủ cả hai phía, vì bấy giờ Tống và Chiêm liên kết với nhau xâm lược Đại Cồ Việt.  Đối với tuyến xa thì bố phòng ở Bạch Đằng - Hoa Bộ là quan trọng.

Theo tài liệu địa lý lịch sử của ta và Trung Quốc, nhất là sử liệu thời Tống, Bạch Đằng và Hoa Bộ là hai vị trí gần nhau. Hoa Bộ là căn cứ bộ binh gắn liền với tuyến đường bộ thông quốc qua Tiên Yên, Đông Triều đến thành Luy Lâu, rồi đến Tây Kết, Chương Dương đồng thời nó gần sông Bạch Đằng để kết hợp thủy bộ trong quá trình hành quân, xâm lược của Tống.

__________________________
1. Xem thêm Trần Bá Chí: Cuộc kháng chiến chông Tống lần thứ nhất, Sđd, tr. 117-120.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #91 vào lúc: 27 Tháng Tư, 2009, 01:12:55 pm »

Về lực lượng chiến đấu ở Bạch Đằng - Hoa Bộ sử không chép rõ. Về cách bố phòng thì Cương mục có đoạn chép sơ lược như sau:

“ Nhà vua (Lê Hoàn) tự làm tướng ra kháng chiến, sai quân sĩ đóng cọc ở sông Bạch Đằng để ngăn cản địch...” 1.  Như vậy, trong những ngày quân Tống chưa sang, Lê Hoàn đã mang quân đến sông Bạch Đằng đóng cọc sông, bố phòng kháng chiến. Còn cách đóng cọc như thế nào Cương mục không chép và chỉ có thể suy đoán rằng: Lê Hoàn đã rút kinh nghiệm thời Ngô Quyền phá quân Nam Hán.

3. Các trận đánh lớn

Trận đánh thủy quân Hầu Nhân Bảo mới tới Bạch Đằng (ngày 24-1-981)

Theo kế hoạch hành quân của nhà Tống thì Bạch Đằng là hợp điểm thứ hai, nơi tập kết quân thủy bộ, để rồi từ đó chia quân tiến sâu vào kinh đô Hoa Lư. Nhưng trong quá trình tiến quân, tất nhiên quân thủy của Hầu Nhân Bảo sẽ đến Bạch Đằng sớm hơn bộ binh của Tôn Toàn Hưng, vì tốc độ hành quân bằng thuyền lúc bấy giờ thường nhanh hơn tốc độ hành quân của bộ binh.

Nhận rõ vị trí quan trọng của sông Bạch Đằng, Lê Hoàn tổ chức phòng thủ ở đây và theo kinh nghiệm của Ngô Quyền ra lệnh cho quân thấy giặc đến thì đánh ngay, vì rằng :

- Thủy quân Tống đi lâu mỏi mệt, quân ta lâu nay giừ sức chờ giặc, lấy quân còn sức đánh quân mỏi mệt là điều làm được. Đó là điều mà binh pháp nói: dĩ dật đãi lao.

- Thủy quân Hầu Nhân Bảo đến còn chờ bộ binh, tức là lúc thế còn cô lực còn đơn.
   
- Giặc vào cướp nước ta, phải đánh chặn ngay, dẫu chưa thắng về lực cũng đã thắng về uy.

Nghiên cứu các trận đánh thủy quân Hầu Nhân Bảo ở sông Bạch Đằng tháng Chạp năm Canh Thìn, nhiều vấn đề phức tạp cần được làm sáng tỏ. Đó là những vấn đề :

a) Tình hình sử liệu về trận Bạch Đằng tháng Chạp năm Canh Thìn.

Sách Tống sử (Giao Chỉ truyện) có đoạn chép: “Năm Thái Bình Hưng Quốc thứ năm (980) mùa Đông... quan quân tiến đánh, phá được giặc”.

Sách Tống sử, bản kỷ 4 chép: “Năm Thái Bình Hưng Quốc thứ năm (980) tháng 12 ngày Ất Dậu (24- 1- 981) Giao Châu hành doanh đánh nhau với giặc, đại phá được quân giặc”.

Các sách Tục tư trị thông giám trường biên, Đông Đô sử lược cũng chép như Tống sử bản kỷ.

________________________
1. Cương mục,Sđd, t. 1, tr.251.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #92 vào lúc: 27 Tháng Tư, 2009, 01:14:15 pm »

Sách An Nam chí lược (4. mục Chinh thảo triều trước) chép rằng: “năm thứ năm hiệu Thái Bình Hưng Quốc, đời Tống Thái Tông. . . Vua lấy Hứa Xương Duệ giữ chức giao Châu hành doanh thông tín sứ. . . Bọn Tôn Toàn Hưng đến từ biệt, vua sai Dẫn tiến sứ là Lương Hồi trần thiết, trang hoàng ở vườn hoa Ngọc Tân để vua ra tiễn. Mùa Thu năm ấy tiến quân đánh. Mùa Đông tháng Chạp đánh nhiều trận phá được hàng vạn quân Giao Chỉ. Sang xuân năm sau lại cũng phá giặc ở sông Bạch Đằng”.

Sách Việt sử thông giám cương mục chép: “Tháng 10 mùa Đông sai sứ sang nhà Tống. . . Giang Cự Vọng và Vương Thiệu Tộ dâng thư, nói trá là tờ biểu của Đinh Toàn xin nối ngôi cha, cầu được ban chân mệnh. Làm vậy chỉ cốt hoà hoãn tình thế. Bấy giờ Tống đã cất quân, nên vua Tống không ưng thuận... Nhà vua tự làm tướng ra kháng chiến, sai quân sĩ đóng cọc ở sông Bạch Đằng để ngăn cản địch.  Quan quân Tống đông lắm, quan quân ta đánh bất lợi”. 

Theo sử sách, thần tích và theo diễn biến thực tế, thì trong trận Bạch Đằng xảy ra vào tháng Chạp năm Canh Thìn, quan quân ta bất lợi, thủy quân Hầu Nhân Bảo chiếm được sông Bạch Đằng, lấn chiếm các làng mạc chung quanh, lại đặt Giao Châu hành doanh tại đó. . 

b) Vấn đề trận đia cọc.

Sự kiện đóng cọc chống Tống ở sông Bạch Đằng là nối tiếp kinh nghiệm truyền thống thời Ngô Quyền thắng quân Nam Hán, nhưng điều kiện kháng chiến và tương quan lực lượng thời Lê Hoàn có khác. Tìm hiểu chính sử thì các bộ sử thời Lê về trước chỉ chép chung chung, không ghi địa điểm cụ thể; chỉ riêng sách Việt sử thông giám cương mục thời Nguyễn thì phép như sau:

“Nhà vua tự làm tướng ra kháng chiến, sai quân sĩ đóng cọc ở sông Bạch Đằng để ngăn cản địch. Quan quân Tống đông lắm, quan quân ta đánh bất lợi...”.

Vậy thì việc đóng cọc ở sông bạch Đằng của Lê Hoàn có thể chỉ có tác dụng gây cản trở, khó khăn phần nào cho quân Tống, chứ không đủ tác dụng chặn đứng quân địch và góp phần tạo nên thắng lợi của trận quyết định như trận địa cọc thời Ngô Quyền và thời Trần Hưng Đạo. 

c) Kết quả và ý nghĩa trận đánh thủy quân Hầu Nhân Bảo ngày 24-1-981.

Tư liệu không cho phép phục dựng lại trận Bạch Đằng đánh quân thủy Hầu Nhân Bảo. Sử Tống có phần khuếch đại trận đánh này. Tuy vậy. theo cách bài binh bố trận của Lê Hoàn và diễn biến cuộc kháng chiến sau đó, thì đây không phải là trận quyết chiến. Đây chỉ là trận đụng độ đầu tiên mà quân ta chỉ nhằm gây khó khán, cản trở cho địch và qua đó, thăm dò sở trường sở đoản của địch. 

Tóm lại theo sử liệu đương đại, trận Bạch Đằng ngày 24-1-981 là trận mở màn cuộc chống Tống lần thứ nhất của dân tộc ta. Những bất lợi buồi đầu trở thành những kinh nghiệm quý báu của quân ta, để về sau tạo nên những trận thắng lớn.

Trận đánh quân Tống ở Hoa Bộ - Bạch Đằng (30-1-981)

Ngày 24-1-981, thủy quân Hầu Nhân Bảo vào sông Bạch Đằng. nhưng bộ binh Tôn Toàn Hưng đến Hoa Bộ muộn hơn, tức vào ngày 22 tháng 12 năm Canh Thìn (30-l-981). Có lẽ bộ binh phải đóng vùng Hoa Bộ và Trúc Động, các làng xã phần bắc huyện Thủy Đường.

Về phía quân ta tuy có tổn thương, mất mát trong trận đánh thủy quân Hầu Nhân Bao ngày 24-1-981, nhưng vẫn quyết tâm phá giặc bảo vệ non sông đất nước.

Việc chặn đạo quân bộ của Tôn Toàn Hưng, có lẽ không chỉ đợi chúng tập kết đến Hoa Bộ ta mới đánh, mà chắc rằng trong quá trình chúng hành quân trên đất nước ta cũng có lúc có nơi, chúng bị quân ta chặn đánh bằng nhiều hình thức, nhưng do lâu ngày không còn sử sách tài liệu phản ánh, nay ta chỉ biết được có trận ngày 30-1-981 mà thôi.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #93 vào lúc: 07 Tháng Năm, 2009, 08:24:29 pm »

Sách Tục tư trị thông giám trường biên của Lý Đào chép: Thái Bình Hưng Quốc năm thứ năm tháng 12 ngày Tân Mão (30- 1-981) Giao Châu hành doanh phá được hơn vạn quân Giao Chỉ, chém được 2.345 đầu giặc.

- Các sách: Tống sử, Giao Chỉ truyện, Tống Lý bang giao tạp lục. An Nam chí lược, Văn hiến thông khảo đều chép tương tự.

- Thần tích đình Thường Sơn huyện Thủy Đường, nay thuộc huyện Thuỷ Nguyên thành phố Hải Phòng cho biết đồn Thường Sơn cũng là hành doanh của Lê Hoàn (hay gọi Hổ trướng) gần núi Đèo về phía đông ở toạ độ trung bình: 20o54’ vĩ bắc, 106o,41’ kinh đông.

Về cách bài binh bố trận, theo các thần tích liên quan thì bấy giờ hành doanh (sở chỉ huy) của Lê Hoàn đặt ở vùng đồi gần chợ Phướn thuộc trang Thường Sơn huyện Thủy Đường.  Các thần tích cũng phản ánh: “Buổi đầu tướng sĩ ta đánh bất lợi”, nhưng quân dân, tướng sĩ trên dưới một lòng, vui vẻ theo vua hếu chết đánh giặc.

Như vậy trong các trận Bạch Đằng - Hoa Bộ buổi đầu, ta bị bất lợi: bị tổn thất, nhưng kết quả là quân dân ta đã chặn và hãm chúng lại trong vùng Bạch Đằng - Hoa Bộ, không cho chúng thực hiện chiến lược tốc chiến tốc thắng.

Trận Đồ Lỗ cuối năm Canh Thìn (7-2-981)

Trận Đồ Lỗ xảy ra vào ngày 30 tháng Chạp, ngày cuối của năm Canh Thìn (7-2-981). Đó có thể cũng là một sự lựa chọn nham hiểm của Hầu Nhân Bảo. Trận này được sử liệu nước ta ghi chép khá nhiều, nhưng sử sách Tống lại không hề ghi chép. Có thể do trận này phía quân Tống không thắng chăng?

Tên sông Đồ Lỗ chỉ sự tích thắng Tống ở sông Lục Đầu và trại Phù Lan đã được ghi trong Lĩnh Nam chích quái, Thiên Nam ngữ lục, Trương tôn thần sự tích và Thần tích thánh Tam Giang ở các xã Vân Mẫu, Phương Cầu, Vĩnh Thế, Hữu Bằng thuộc huyện Võ Giàng; xã An Trạch, Đồng Sài, Phù Lương, An Định, Vệ Xá thuộc huyện Quế Dương và rải rác ở một số tài liệu khác.

Ngày xảy ra trận Đồ Lỗ .

Trận Đồ Lỗ xảy ra ngày nào, các tài liệu chép không giống nhau. Lĩnh Nam chích quái chép trận này xảy ra vào ngày 30 tháng 10 năm Canh Thìn; Trương Tôn thần tích, in bản gỗ, cuối đề tên Mai Du Lân, do Nguyễn Thị Gán xuất bản năm 1929 ghi trận này xảy ra ngày 23 tháng 10; thần tích đền Vân Mẫu ghi xảy ra vào tháng 12 năm đầu hiệu Thiên Phúc . . .

Hệ thống và đối chiếu các văn bản trên thì ngày 30 là hợp lý. Về tháng 12 thì hợp lý hơn tháng 10, vì tháng 10 các tướng chỉ huy của Tống đang trên đường từ Biện Kinh xuống Ung Châu, chưa sang đất nước ta.

Vậy trận Đồ Lỗ xảy vào ngày 30 tháng Chạp năm Canh Thìn, tức ngày 7-2-981. Do phía quân Tống sau mấy trận giao chiến với quân ta, nhất là những trận lớn ở Bạch Đằng (24-l-981) và ở Hoa Bộ ngày Tân Mão tháng Chạp (30-1-981), có đà thuận lợi để tập trung quân đánh chiếm Hoa Lư.

Nhưng rồi chúng lại chưa đánh vào Lục Giang và Hoa Lư, mà phối hợp thủy bộ theo sông Kinh Thầy, tiến vào sông Lục Đầu. Như vậy bây giờ Giao Châu hành doanh đã đổi chiến lược một cách cơ động, nghĩa là đánh chiếm Đại La trước, rồi lấy đó làm bàn đạp đánh xuống Hoa Lư. 

Về phía ta, sau mấy trận đầu ở Bạch Đằng - Hoa Bộ, Lê Hoàn chuyển các đồn binh đóng xa vùng Bạch Đằng một quãng. Khi biết được ý đồ quân Tống sắp tiến quân theo sông Kinh Thầy, Lê Hoàn rút phần lớn lực lượng về giũ vùng sông Lục Đầu, chuẩn bị điều kiện đối phó quân Tống. 

Hệ thống đường thủy từ sông Lục Đầu vào thành Đại La, từ trước đã đặt ba đồn trại dọc sông Diên Uẩn (tức sông Đống) do tướng Trần Công Tích chỉ huy. Đó là trại Phù Lan liền bờ sông Lục Đầu, trại Xuyên Bảo chặn giặc từ cửa sông Già La (Thiên Phù) đến cửa sông Diên Uẩn, đồn Nghĩa Đô cũng là đại bản doanh của Trần Công Tích.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #94 vào lúc: 07 Tháng Năm, 2009, 08:25:46 pm »

Đến đây vua xuống chiếu điều thêm lực lượng dân binh các vùng Long Đỗ, Từ Liềm, Cổ Pháp, Vũ Ninh, Quế Dương, Thiện Tài, v.v., bố trí lực lượng dọc các sông để chống giặc. 

Lê Hoàn cùng tướng Trần Công Tích và các tướng Trần Bảo Trung, Trần Minh thiết, v.v., khẩn trương chuẩn bị mở trận Đồ Lỗ vào những ngày cuối năm, ngày mà quân địch tưởng dân ta bận lo việc Tết mà sao nhãng việc binh...

Tục truyền vua nói với quân : “Tết nay ta trừ tà ở sông Đồ Lỗ”.  Vua lại kể chuyện cho quân sĩ nghe rằng : “Một hôm ngự ở doanh trại Xuyên Bảo, việc quân mệt mỏi ngủ thiếp đi, chiêm bao thấy một nữ thần có vết chén ngọc trên trán, hứa sẽ giúp quân ta Tết này phá được quân Tống”.

Truyền thuyết ven hồ Tây (1975) cũng ghi rằng : “Đến thời Lê Hoàn, trước khi tiến quân đánh Tống. . . vua ngự thuyền qua trang Xuyên Bảo dừng ở doanh trại gần mộ Bà Chén, bỗng nằm mộng thấy một người con gái đến xin vua cho theo giúp phá giặc.  Đánh thắng quân Tống rồi, vua Lê bèn phong cho nữ thần là Y Hạnh phu nhân và lệnh cho dân làng dựng đền thờ phụng . . . “ .

Diễn biến và kết quả của trận đánh

Lực lượng quân ta đánh dọc tuyến sông từ thành Đại La đến trại Phù Lan gồm quân thường trực từ Hoa Lư được điều về đây, nhiều đội quân địa phương tự nguyện xin về tham chiến, hăng hái lên đường vào giữa mùa Tết. 

Về phía Tống, thủy quân Tống dàn chiếm sông Lục Đầu, bộ binh cũng được vận chuyển bằng thuyền, đến nơi thì đổ bộ lên bờ chiếm đóng các làng mạc quanh sông. Nếu không gặp sự đánh chặn của quân ta, thì phần lớn quân Tống sẽ chiếm đóng đất Đại La là mục đích chính. Đây chỉ là một điểm tập kết của quân Tống.

Về tiến trình của trận đánh, sách Lĩnh Nam chích quái cho biết : “bọn tướng Hầu Nhân Bảo, Tôn Toàn Hưng kéo quân đến, Lê Hoàn và Phạm Cự Lạng cùng họp quân tại sông Đồ Lỗ chống cự, hai bên đối luỹ . . .” . 

Theo các sách và các thần tích thì ngày 30, quân Tống tiến công mấy đợt, mở đường để vượt sông Đống đột nhập Đại La, nhưng đều bị quân ta đánh chặn kịch liệt và lòng sông có nhiều cọc gỗ chặn thuyền, tạo thành thế hai bên đối lũy.

Chính sử ta và chính sử Tống đều chép Hầu Nhân Bảo mắc mưu trá hàng của Lê Hoàn, đã bị quân ta giết chết ở sông Bạnh Đằng vào tháng Ba năm Tân Tỵ (4-981). Chỉ riêng sách Thiên Nam ngữ lục (câu 4.266) lại nói Hầu Nhân Bảo bị quân ta giết chết ở trận Đồ Lỗ này. 

Trận Lục Giang chặn đứng thủy quân Hầu Nhân Bảo (giữa Xuân Tân Ty (tháng 3-981)
Suy theo cách hành quân thì Bạch Đằng - Hoa Bộ là hợp điểm thứ hai, quân Tống phải tiến lên hợp (điểm thứ ba mới chiếm được Hoa Lư và mới đạt mục đích cuộn xâm lược.  Nhưng từ khi thua trận Đồ Lỗ ở trại Phù Lan và sông Lục Đầu, thì Tôn Toàn Hưng cứ nằm ỳ ở Hoa Bộ, án binh bất động. mặc dầu Hầu Nhân Bảo thúc mấy lần. Tôn Toàn Hưng cũng không chịu tiến quân.

Muốn tạo được một hợp điểm thử ba, thủy quân Tống phải tiến chiếm đại giang (tức sông Nhị Hà), bộ binh Tống phải đến tây Kết, rồi phối hợp thủy bộ nhịp nhàng cùng tiến vào Hoa Lư. Nhưng chính Tôn Toàn Hưng đã làm vỡ lở kế hoạch này vì không chịu mang quân xuống Tây Kết để phối hợp. Do đó lịch trình xâm lược của Giao Châu hành doanh đã gần hai tháng mà vẫn cứ dậm chân tại chỗ. 

Bấy giờ đã đến tháng Hai năm Tân Ty, Hầu Nhân Bảo đã đến lúc tự thấy mình phải quyết đoán lấy mọi viện, không chịu phụ thuộc vào Tôn Toàn Hưng nữa. Ý nghĩ đó đưa Hầu Nhân Bảo tới quyết định mở trận Lục Giang. 

Mặt khác, Hầu Nhân Bảo cũng nghĩ rằng nếu đợi đến lúc có thêm viện binh do Lưu Trừng và Trần Khâm Tộ đem sang thì dù lúc đó có đại thắng Giao Châu, chắc chắn uy danh và công trạng của hắn cũng bị đánh giá giảm sút.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #95 vào lúc: 07 Tháng Năm, 2009, 08:27:38 pm »

Do vậy, khoảng giữa tháng Hai năm Tân Tỵ, Hầu Nhân Bảo cùng Quách Tiến và các tướng kéo toàn bộ thủy quân từ Bạch Đằng đến cửa biển Ngãi Am (cửa Thái Bình nay) rẽ vào sông Tranh, sông Lục (tức sông Hóa, sông Luộc); mặc dầu Tôn Toàn Hưng không đem bộ binh đến Tây Kết theo kế hoạch hội quân tại hợp điểm thứ ba.

Có thể nói nguyên nhân xảy ra trận Lục Giang là do Hầu Nhân Bảo muốn đạt mục đích cuộc hành quân theo dự định và hắn cũng muốn lập công lớn khi các đạo viện binh chưa có mặt ở Giao Châu. 

Tư liệu không cho phép khôi phục lại toàn bộ diễn biến của trận Lục Giang, nhưng kết quả của nó có thể tóm lược như sau:

Bọn Hầu Nhân Bảo, Quách Tiến, v.v. , dốc toàn lực thủy quân Tống, mưu đồ san phẳng lũy thành Bình Lỗ để vào chiếm Hoa Lư, lập chiến công lớn khi viện binh của Lưu Trừng, Trần Khâm Tộ chưa sáng Giao Châu.

Nhưng với quyết tâm cao, quân ta dũng cảm chiến đấu, lại được dân binh các làng xã phối hợp đánh giặc, nên ta đã tháng, đánh đuổi được thủy quân Tống lùi lại căn cứ Bạch Đằng. 

Thắng lợi trận Lục Giang, có phần do tác dụng ngăn chặn của thành Bình Lỗ, nó đã phá tan mưu kế của địch và củng cố thêm lòng tin của quân dân ta vào thành công của cuộc kháng chiến.

Điều này cũng đã được nhà quân sự xuất sắc Trần Quốc Tuấn đánh giá cao qua câu trả lời vua Trần vào năm 1300 về kế chống giặc nếu phương Bắc lại sang xâm lược rằng: “Đời Đinh-lê dùng được người tài, giỏi (...) xây thành Bình Lỗ mà phá được quân Tống...” 1.
 
Trận quyết chiến ở sông Bạch Đằng (28-4-981)

Trong chiến sự mùa Xuân năm Tân Ty (981) thì trận Bạch Đằng này là trận lớn nhất, có tính chất quyết định thắng bại của cuộc chiến tranh. Nhưng sử liệu thì mỗi bên chép một khác và cách nhìn nhận của mỗi thời cũng có khác. 

Về thời điểm chiến sự thì Tông sử thường ghi một ngày quyết định nhất. chính sử ta phần nhiều ghi tháng có ý phản ánh chiến sự diễn ra không chỉ một ngày. 

Những trận đụng độ buổi đầu của cuộc phản công chiến lược ở sông Bạch Đằng (28-4-981) sử sách đều chép: “Quân ta đánh bất lợi”, có ý nói quân sĩ ta đã bị hy sinh, tổn thương nhiều. Lê Hoàn phải rút quân ra một quãng xa, rồi sau tập trung củng cố lại ở các đồn Thường Sơn, Hoa Cương Xạ Sơn, v.v., để chuẩn bị lực lượng tổ chức phản công.

Trong quá trình chuẩn bị thêm mọi điều kiện vật chất, tăng cường thêm lực lượng thì quân Tống mở hai trận Đồ Lỗ và Lục Giang nhằm hướng đánh chiếm Hoa Lư, nhưng rút cục chúng bị quân ta đánh bại, đẩy lùi chúng trở lại Bạch Đằng. 

Có thể nói từ sau trận Lục Giang, khí thế chiến đấu và lòng tự tin của quân sĩ ta được nâng cao, sẵn sàng đối phó với viện quân Tống, sẵn sàng mở đợt phản công toàn bộ để đuổi quân Tống ra khỏi đất nước.

Cuộc kháng chiến chống Tống của dân tộc ta bướt vào tháng Ba năm Tân Ty (981) có những thay đổi đột ngột, trước hết là thay đổi về quân số của địch và hình thế chiến trường.

Theo chủ trương của Tống Thái Tông và Lư Đa Tốn từ tháng Bảy năm trước đã dự kiến rằng: “ . . .cho Hầu Nhân Bảo kéo quân sang trước đánh lúc bất ngờ, sau đó sai tướng điều thêm một hai vạn quân Kinh Hồ sang tiếp viện, thì thế nào cũng lấy được Giao Chỉ” .

_______________________
1. Toàn thư, Sđd, t.2, tr.77 .
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #96 vào lúc: 07 Tháng Năm, 2009, 08:28:49 pm »

Đáng lý ra việc đóng quân ở Tây Kết là Tôn Toàn Hưng phải đảm nhiệm từ đầu theo hợp điểm trong kế hoạch hành quân, nhưng do Tôn Toàn Hưng vừa nhát gan sợ chết, lại vừa có sự bất bình với Hầu Nhân Bảo, nên cứ nằm lý ở Hoa Bộ.

Đến đây có quân của Trần Khâm Tộ sang, Tôn Toàn Hưng mới đùn cho Trần Khâm Tộ xuống đóng ở Tây Kết để tiến chiếm Hoa Lư. Trần Khâm Tộ là tướng cấp dưới đã thực hiện sự phân công của Toàn Hưng. Từ đây chiến trường chống Tống của ta đột ngột mở rộng, Lê Hoàn phải điều nhiều quân về Tây Kết để vây hãm, đối phó. 

Bấy giờ quân Tống kéo sang rất đông, bộ binh Trần Khâm Tộ đã đến gần Hoa Lư, vận mệnh đất nước đang bị uy hiếp, nhưng cũng là dịp Lê Hoàn kiếm cớ thực hiện kế trá hàng đã ôm ấp, tính toán từ lâu.

Mưu tính của Lê Hoàn đã được thực hiện một cách khôn khéo. Hầu Nhân Bao đã bị giết và quân đội Tống đóng ở Bạch Đằng đã bị đánh tan vào ngày 28-4-981.

Chính sử Tống nói là “thắng” nhưng cũng phải công nhận Hầu Nhân bảo chết vào ngày đó tại địa điểm đó.

Kết quá trận phản công chiến lược ở sông Bạch Đằng ngày 28-4-981:

- Giết được tên tướng chủ mưu, hiếu chiến nhất, nguy hiểm nhất là Hầu Nhân Bảo.

- Đánh tan lực lượng thủy quân của Lưu Trừng, Lưu Trừng tẩu thoát.

- Bộ binh của Tôn Toàn Hưng tự tan, rút chạy.

- Giải phóng khu vực Bạch Đằng - Hoa Bộ.

- Khai thông các tuyến đường bộ, đường thủy, thừa thắng tiến lên đánh tan lực lượng còn lại của địch.

Rõ ràng đó là thắng lợi lớn lao của một trận quyết chiến chiến lược để trên cơ sở đó quét sạch quân dịch ra khỏi đất nước: giành thắng lợi trọn vẹn, kết thúc chiến tranh . 

Trận Tây Kết đánh tan bộ binh Trần Khâm Tộ.

Trận phản công chiến lược ngày 28-4-981, đã đánh tan thủy quân Hầu Nhân Bảo và Lưu Trừng ở sông Bạch Đằng.  Bộ binh Tôn Toàn Hưng cũng rút khỏi Hoa Bộ, chỉ còn quân Trần Khâm Tộ ở Tây Kết bị ta vây chặt và trận Tây Kết bắt đầu.

Tây Kết là vị trí chiến lược quan trọng nằm bên tả ngạn sông Hồng thuộc đất huyện Châu Giang, tỉnh Hưng Yên ngày nay. Địa danh Tây Kết được xuất hiện sớm, gàn liền với sự tích sông Kim Ngưu qua quận Tế Giang, một dòng sông có chiến tích từ thời Triệu Quang Phục chống Lương, một bến sông gắn với hệ đường thủy Nhị Hà. 

Tế Giang là một làng cổ (hương Tây Kết) có tuyến đường bộ thông quốc qua Chương Dương - Hàm Tử, nên càng nổi bật lợi thế quân sự của nó. Quân Tống, quân Nguyên đã chiếm đóng ở đây và tổ tiên ta cũng đã thắng trận ở đây, nên tên tuổi Tây Kết mãi mãi sáng ngời trong lịch sử bảo vệ Tổ quốc. 

Lực lượng bộ binh của Trần Khâm Tộ đến chiếm đóng Tây Kết chưa lâu, nhưng đã bộc lộ sự uy hiếp đối với kinh đô Hoa Lư. Do đó, sau trận Bạch Đằng, Lê Hoàn cùng các tướng gấp rút kéo quân về bao vây Tây Kết, nhằm mở một trận đánh tiêu diệt, đánh mạnh vào đạo quân chủ lực của Tống, giáng thêm đòn thất bại nặng nề cho quân Tống. 

Trận này ta tiêu diệt nhiều địch, bắt sống tướng Triệu Phụng Huân. Theo Toàn thư, trong trận này “Quân giặc chết đến quá nửa, thây thất đầy đồng”, thật là một trận thắng lớn trong lịch sử.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #97 vào lúc: 07 Tháng Năm, 2009, 08:30:41 pm »

Trần Khâm Tộ chạy thoát thân còn tướng Quách Quân Biện thì kéo một cánh quân rút chạy theo đường qua Sóc Sơn, Phổ Yên nhằm hướng Vũ Nhai vượt dốc Tam Canh, qua Bình Gia về đất Tống.

Quân ta đánh xong trận Tây Kết thì Lê Hoàn tiếp tục cho quân đuổi theo cánh quân của Quách Quân Biện vây bắt được Quân Biện ở chân núi thuộc châu Vũ Nhai, còn mất chục tên sống sót, chạy tản vào rừng 1.
 
Trận truy kích quân Tống đến Vũ Nhai là trận cuối cùng, kết thúc hoàn toàn cuộc kháng chiến chống Tống lần thứ nhất của dân tộc ta ở thế kỷ X. Sử chép: Từ đây đất nước yên tĩnh .
 

II CHIẾN THẮNG GIẶC TỐNG LẦN THỨ HAI (1075-1077)

1. Âm mưu xâm lược Đại Việt của nhà Tống.

Cuộc kháng chiến chống Tống lần thứ nhất (980-981) quân dân nước ta đã giành được thắng lợi vẻ vang, nhưng vua quan nhà Tống vẫn không chịu từ bỏ âm mưu xâm lược, kỳ vọng tái đô hộ Đại Việt.

Giữa thế kỷ XI, nhà Tống lại khẩn trương chuẩn bị xâm lược nước ta lần nửa với mục đích vừa để chiếm đất đai, mở rộng phạm vi bóc lột vừa để trả thù lần trước bị Lê Hoàn đánh bại.

Mặt khác, việc xâm lược Đại Việt còn nhằm giải quyết một số mâu thuẫn về mặt đối nội, đối ngoại, đặc biệt là phải đối phó với Liêu, Hạ ở phía bắc.

Liêu nguyên là Khiết Đan, tộc Hồ ở vùng Mãn Châu, Hà Bắc bây giờ. Từ đời Đường, tộc du mục Khiết Đan chia làm tám bộ tộc do tám thủ lĩnh gọi là “đại nhân” đứng đầu. Vào thế kỷ X, một thủ lĩnh là A Bảo Cơ dùng bạo lực thâu tóm các bộ tộc khác, lập nước, xưng hoàng đế vào năm 916.

Năm 937, Khiết Đan từng chiếm 16 châu đất U Vân (bắc Sơn Tây và Hà Bắc Trung Quốc ngày nay), đổi quốc hiệu là Liêu (năm 983 đổi thành Khiết Đan, năm 1066 đổi lại thành Liêu).

Năm 960, khi Triệu Khuông Dận lập nên triều Tống, sử gọi là Bắc Tống, đóng đô ở Khai Phong thì Liêu là thành lân bang của Tống. Nếu như đối với Liêu, Tống Thái Tổ chỉ giữ thế thủ, thì đến Tống Thái Tông từng hai lần đem quân đánh Liêu vào các năm 979 và 986 nhằm thu hồi đất U Vân, nhưng đều bị thất bại. Tống Thái Tông từng bị thương chữa không khỏi, sau đó bị chết.

Đến đời Tống Chân Tông, vào năm 1003, Liêu đem quân đánh vào đất Trung Quốc, xâm nhập vùng phụ cận Khai Phong. Triều đình Tống hốt hoảng, chia rẽ. Tuy vậy, Tống Chân Tông vẫn cầm quân chiến đấu bảo vệ đất đai, và từng giành được thắng lợi nhỏ.

Nhưng trước sự tiến công của Liêu, nhiều đại thần khiếp nhược, xui Tống Chân Tông cầu hòa (năm 1004). Hàng năm Tống xin nộp cho Liêu 10 vạn lạng bạc, 20 vạn tấm lụa. Liêu rút quân, nhà Tống phải để yên, dọc đường không được đón đánh.

Để yên với Liêu, năm 1075, vua Tống nghe theo lời Vương An Thạch lại nhượng cho Liêu 700 dặm đất Hà Đông để rảnh tay quay về biên thuỳ phía nam với Đại Việt.

Hạ có nguồn gốc từ thời Đường, thuộc bộ lạc Hướng, phiếm giữ vùng Cam Túc, Ninh Hạ ngày nay. Hạ từng giúp Tống đánh Bắc Hán (một tiểu vương quốc thời Ngũ đại thập quốc tồn tại từ năm 951 đến năm 979), sau lại theo Liêu chống lại Tống, được Liêu phong Hạ quốc vương (năm 986). 

Hạ thường uy hiếp biên thùy tây bắc của Tống. Vào năm 1032 đời Tống Nhân Tông, vua Hạ là Nguyên Hiệu nối ngôi, năm 1038 tự xưng hoàng đế. Hạ trở thành một nước mạnh, thường xuyên tính chuyện đánh Tống.

___________________________
1. Bia tám mặt trước đền Thánh Gióng xã Phù Linh huyện Sóc Sơn.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #98 vào lúc: 07 Tháng Năm, 2009, 08:35:09 pm »

Trong khi đó lúc đầu triều Tống cho Hạ là giặc cỏ, chỉ yết bảng ở biên cương hứa ban thưởng cho người chém được đầu Nguyên Hiệu. Đến khi lâm trận nhiều lần đều bị thua, Tống Nhân Tông mới giật mình sợ hãi, câu hoà vào năm 1044. Mỗi năm Tống phải nộp cho Hạ bảy vạn lạng bạc, 15 vạn tấm lụa, ba vạn cân trà. 

Vua Hạ nhận lễ vật nhưng vẫn tiếp tục xâm lược đất Tống.  Nhà Tống phải cử những danh tướng như Hàn Kỳ, Phạm Trọng Yêm ra trấn giữ biên ải. Hạ và Tống khi hòa khi chiến thất thường. Đến năm 1099 hòa nghị giữa Hạ và Tống mới thành. Việc dụng binh không xảy ra nữa. 

Như vậy vào thời gian Tống xâm lược Đại Việt. Liêu (Khiết Đan), Hạ ở phía bắc thực sự là mối đe doạ lớn của nhà Tống. Mặc dù nhà Tống từng nhượng bộ cầu hòa với điều kiện nặng nề nhưng mối hoạ Liêu, Hạ vẫn còn đeo đuổi khiến nhà Tống phải chống đỡ và trở thành gánh nặng cho nhân dân.

Năm 1068, Tống Thần Tông lên ngôi, năm 1069 dùng Vương An Thạch - một nho thần có biệt tài về kinh tế, làm tể tướng, ban hành và thực thi một số cải cách nhằm giải quyết nguy cơ suy yếu của đất nước đang ngày càng trầm trọng.  Mục tiêu cải cách nhằm khôi phục kinh tế, củng cố quân lực làm cho nước giàu binh mạnh.

Nội dung “tân pháp” của Vương An Thạch gồm những nét chủ yếu sau:

- Phép thanh miêu: Vào lúc thiếu thốn, giáp hạt, nhà nước bỏ tiền cho nông dân vay, mùa Xuân cho vay mùa Hè trả, mùa Thu cho vay cuối năm trả, lãi 20%. Phép thanh miêu nhằm hạn chế địa chủ, con buôn lợi dụng lúc đói kém bóc lột nông dân bằng cho vay nặng lãi.

- Phép miễn dịch: Người nào đi phu thì theo thứ bậc nộp tiền (tiền miễn dịch). Người trước kia được miễn dịch thì nay theo thứ bậc nộp tiền (tiền trợ dịch). Tiền miễn dịch và trợ dịch dùng thuê người đi phu để cho nông dân có thời gian sản xuất. Phép miễn dịch còn có tác dụng hạn chế đặc quyền của quan lại.

- Phép phương điền (đo ruộng): Địa chủ quan liêu chiếm nhiều ruộng đất, ẩn lậu thuế, nay đo đạc lại làm cơ sở để đánh thuế, tăng ngân sách của nhà nước.

- Phép thị dịch: Hàng hóa nhiều bán không nhạy, nhà nước bỏ tiền ra mua vào, khi hàng hóa thiếu thì bán ra nhằm ngăn chặn sự lũng đoạn của thương nhân và tăng ngân thu cho nhà nước.

- Phép bảo giáp: Tổ chức nông dân lại 10 nhà thành một bảo, 50 nhà là một đại bảo, 10 đại bảo là một đô bảo, có bảo trưởng, đại bảo trưởng, đô bảo chính đứng đầu. Trên cơ sở đó nhà nước nắm số đinh lục nông nhàn thì luyện tập võ nghệ.  Bình thường thì bảo đinh tuần phòng trộm cướp, thời chiến thì bổ sung vào quân ngạch. Với phép bảo giáp, nhà nước vừa tăng được quân số, vừa giảm tổn phí nuôi quân.

- Phép bảo mã: Nhà nước giao cho các bảo phải nuôi ngựa. Nếu ngựa chết thì dân phải bồi thường. Phép bảo mã tạo ra một nguồn dự trữ ngựa rất lớn mà nhà nước không phải nuôi giữ.

Tân pháp của Vương An Thạch có đem lại cho nhà Tống ít nhiều thành tựu: diện tích ruộng đất khai khẩn tăng, ngân sách nhà nước được bổ sung, lực lượng quân ngu tăng cường. Tất cả vì mục đích thu lợi và bảo vệ địa vị cho nhà nước Tống đang trong tình trạng khốn đốn. Trong khi đó đời sống nhân dân không được cải thiện. Tân pháp của Vương An Thạch còn gặp phải sự chống cự quyết liệt của địa chủ, của phái quan liêu cũ, gây nên mâu thuẫn nội bộ giữa các tầng lớp nhân dân.

Do đó, kết quả tân pháp của Vương An Thạch không những bị hạn chế nhiều mà còn làm cho tình trạng xã hội càng thêm rối loạn. Tân pháp sớm bị phá sản, Vương An Thạch phải thôi giữ chức tể tướng vào năm 1074, mười tháng sau lại được triệu về chấp chính (1075). 

Như vậy về phương diện đối nội, tân pháp của Vương An Thạch không giải quyết được mâu thuẫn nội bộ, không đạt được mục tiêu nước giầu quân mạnh. Trong khi đó về đối ngoại thì Liêu, Hạ ở biên thùy phía bắc vẫn là mối lo thường trực .
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #99 vào lúc: 07 Tháng Năm, 2009, 08:36:07 pm »

Trước tình hình đó, vua tôi nhà Tống chủ trương xâm lược Đại Việt hy vọng chiến thắng để đánh lạc hướng đấu tranh của quần chúng, củng cố uy thế, khiến hai nước Liều, Hạ phải nể sợ. 

Âm mưu xâm lược Đại Việt đã hình thành cùng với việc Tống Nhân Tông lên ngôi (l068) và Vương An Thạch làm tể tướng (1069). Tuy nhiên tình hình đối nội, đối ngoại cũng như mâu thuẫn nội bộ khiến âm mưu đó chưa được triển khai.

Mặc dù vậy, triều đình Tống thông qua các viên quan nối nhau coi giữ Quế Châu như Tiêu Chú (từ năm 1071), Thẩm Khỉ (1073), Lưu Di (1074) đã từng bước chuẩn bị cho quá trình xâm lược.

Nếu như Tiêu Chú còn dè dặt, thì Thẩm Khỉ đã lấy dân đinh các động thuộc Ung Châu kết thành bảo giáp sai quan rèn dạy và kiểm tra, kiểm điểm dân đinh các khe động lập bảo ngũ, luyện tập trận đồ, tập thủy chiến ở dọc biển, dụ dỗ mua chuộc các tù trưởng.

Lưu Di thay Thẩm Khỉ, được lệnh tăng cường binh lực, tiếp tục điểm dân, tích lương, đóng chiến thuyền, luyện tập thủy binh. Cũng như Thẩm Khỉ, Lưu Di còn cấm người nước ta sang đất Tống buôn bán vì sợ bị do thám.

Để xúc tiến việc xâm lăng Đại Việt, Tống Thần Tông và Vương An Thạch đã ráo riết chuẩn bị nhiều căn cứ quân sự và hậu cần ở vùng giáp biên giới đông bắc nước ta thuộc Quảng Tây, Quảng Đông ngày nay.

Đặc biệt nhà Tống đã biến Ung Châu thành căn cứ quân sự, nơi xuất phát của các đạo quân xâm lược Đại Việt. Thành Ung Châu (Nam Ninh, Quảng Tây) ở trên sông Uất Giang, sau điểm hợp lưu của hai sông Tả Giang và Hữu Giang là vị trí quan trọng và là nơi tập kết quân tiện lợi nhất.

Từ Ung Châu đến các châu biên giới của ta như Quảng Nguyên (Cao Bằng), Quang Lang (Lạng Sơn), Tô Mậu (Tiên Yên, Na Dương, Đình Lập) đều có đường bộ khoảng 150 km. Từ Ung Châu đến cửa biển Khâm Châu và Liêm Châu (Quảng Đông) cũng có đường thủy dài khoảng 120 km.

Nhà Tống biến Ung Châu thành một căn cứ xâm lược trọng yếu, tập trung tướng tá, luyện tập binh lính, thu giữ quân lương. Từ năm 1071, nhà Tống đã cử viên lão tướng có nhiều kinh nghiệm, già dặn chiến trường là Tô Giám đến coi giữ thành Ung Châu. Tại đây tập trung 5.000 quân chính quy gồm hai bộ phận: 2.000 quân giữ thành, 3.000 quân chia đóng ở nam trại quân sát biên giới nước ta là Thiên Long, Cổ Vạn, Vĩnh Bình, Thái Bình và Hoành Sơn. 

Cùng với Ung Châu, tại Khâm Châu nhà Tống đặt quan cai quản, đóng quân ở hai trại: Như Tính giáp châu Vĩnh An của ta và Đề Trạo ở cửa sông Khâm Châu. 

Về quân lính, ngoài quân của triều đình, nhà Tống còn tổ chức các đội quân của các châu, các động như một thứ dân quân sẵn sàng tham gia canh phòng, xâm lược.

Nhà Tống còn thường xuyên tung gián điệp, thuyết khách mua chuộc các tù trưởng dân tộc thiểu số ở biên giới nước ta làm nội gián cho họ.

Từ năm 1075, mưu toan xâm lược Đại Việt của vương triều Tống đã bộc lộ rõ ràng. Căn cứ Ung Châu cùng các trại quân và các cửa biển Khâm Liêm đã hiện ra như những mũi dao nhọn đe dọa sự sống còn của đất nước Đại Việt.

Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM