Còn đây là những nội dung mà một lái xe phải học:
Theo đúng chương trình bọn tôi sẽ được học thực hành lái tổng cộng 18 giờ máy nổ (các quê nên nhớ một cái động cơ chỉ có 500 giờ bảo hiểm thôi đới). Sau khi học lý thuyết về cấu tạo, nguyên lý làm việc các thiết bị và quy tắc lái sẽ lần lượt phải trải qua các bài lái:
- Lái cắt xích: Mục đích làm quen với động tác khởi động xe, sử dụng các bàn đạp, cần lái, cần số… như kiểu kê bánh xe ô tô lên để tập lái ấy.
- Lái cơ bản: xe bắt đầu được chạy trên đường bằng, thực hiện các thao tác biến số, căn đường, chuyển hướng, dừng xe, khởi xe v.v…
- Lái phân đoạn chướng ngại vật- Vì là xe chiến đấu, có khả năng việt dã cao nên trong HL phải tập lái qua các chướng ngại vật. Hồi ấy chúng tôi phải tập lái qua mấy loại CNV sau: vách đứng, vách hụt, sống trâu, chữ Z, cầu vệt bằng, cầu vệt nghiêng. Lái phân đoạn vật cản là tập cho nhuần nhuyễn động tác vượt qua từng VC một.
- Lái dốc: có cả dốc lên, dốc xuống, dốc nghiêng. Trên các dốc lại phải tập dừng xe và khởi xe nữa.
- Lái tổng hợp chướng ngại vật: sau khi thành thục động tác qua từng vật cản và dốc rồi thì sẽ được lái một vòng qua tất cả các CNV trên. Đây là bài lái khó khăn nhất và khi thi cũng sẽ thi bài này (sau khi hoàn thành bài thi lý thuyết).
- Lái hành quân: sẽ tổ chức hành quân trên một đoạn đường mới lạ và dài hơn, chừng vài chục km. Mỗi tên được lái khoảng 5-6 km.
- Lái bắn, lái trong đội hình chiến đấu- bắt đầu có tý hơi hướng chiến thuật.
- Lái cứu kéo: cho xe xuống bãi lầy rồi tìm cách đưa nó lên bằng tự cứu hoặc kéo nhau v.v...
Tất cả các bài lái trên đều thực hiện cả ngày và đêm.
Sau khi học hết các bài sẽ thi TN- gọi là thi “đạt cấp” vì nếu qua được sẽ được cấp bằng “lái xe cấp 1”. Thi xong rồi có thể được “chuyển K”. Nghĩa là được học loại xe khác. Còn gọi là chuyển K vì theo kiểu xe lính xe tăng chỉ phân ra làm 3 loại: T34 là K2, các loại T54 là K1, các loại xe bơi là K3 (PT76 là K3a, K63-85 là K3b). Ngoài ra còn phải học và thực hành bảo quản, bảo dưỡng, sửa chữa các hư hỏng thông thường. Tổng thời gian một khóa huấn luyện ít nhất phải 3- 4 tháng (hiện nay các Trường HSQ đang huấn luyện 4,5 tháng).
Để phục vụ cho HL bọn tôi được phát mỗi tên 01 bộ quần áo “công tác”. Không biết năm ấy là viện trợ của nước nào- hình như của Hung- ga- ry thì phải. Vải thì dày và cứng như vải bò, còn bộ nào bộ nấy đều dài và rộng cực kỳ. Tôi thì còn đỡ chứ mấy thằng nhỏ con phải xắn lên 2,3 gấu mới vừa. Thời gian lại gấp không đi sửa được nên phải nhờ bà con đính cho vài mũi mặc tạm, trông đến bật cười.
Thôn Đồng Oanh mà bọn tôi ở hồi ấy toàn là dân Nam Hà lên khai hoang quãng đầu những năm 60. Gần như cả thôn theo đạo nhưng lại không có nhà thờ. Tuy nhiên nhà nào cũng có bàn thờ Chúa ở trong nhà. Và như các quê biết, các cô thiếu nữ bên đạo có một cái gì đó thật mê hoặc, nhất là đôi mắt

. Mặc dù là bà con đi đạo nhưng rất thương, rất quý bộ đội.
Tôi và thằng Điểm (Thanh Miện), thằng Ngọt (Kinh Môn) được phân công ở nhà cụ Tư Túc. Hai cụ có một anh con trai tên Tuất đã đi bộ đội, đang ở chiến trường. Anh đã có vợ là chị Kim nhưng chưa có con. Chị Kim chiều chúng tôi lắm, có củ khoai củ sắn gì cũng để phần. Nhà còn hai đứa con gái là cái Trung, cái Thành và một trai út là thằng Chiến. Chẳng hiểu thế nào mà ba đứa này “quấn” bọn tôi lắm. Đi tập về là chúng nó xúm lại, đứa thì trèo lên cổ, đứa thì ngồi lên lòng… bắt kể chuyện quê nhà các anh thế nào. Sau hơn chục năm về gặp lại hai cô em đã con bồng, con mang. Tôi bảo: “giờ có thích kiệu thì trèo lên đây”. Cả nhà cứ cười rũ ra
