Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 10:54:37 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Ngoại giao Đại Việt  (Đọc 96359 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #10 vào lúc: 20 Tháng Năm, 2009, 04:30:00 pm »

Vua Nam Hán cử tướng Trần Bảo sang cứu viện nhưng Trần Bảo bị giết tại trận. Tuy thắng, Dương Diên Nghệ vẫn xưng là Tiết độ sứ. Nhưng nam 937 ông bị một viên tướng là Kiều Công Tiễn giết chết để đoạt chức Tiết độ sứ. 

Như vậy họ Khúc từ năm 880 (khi Tiết độ sứ Trung Quốc Tăng Cổn chạy về nước) ba đời làm Tiết độ sứ, mang danh hiệu nhà Lương, nhà Hán mà cai trị nước ta, thật sự là thực hiện quyền tự chủ trong 51 năm.

Khi đã mất độc lập thì biện pháp cao nhất là phải đấu tranh bằng cả quân sự và chính trị giành lại độc lập điều kiện cơ bản và đầu tiên để giành quyển có ngoại giao bình đẳng với nước đô hộ. 

Trong cuộc đấu tranh không cân sức đó và trong lúc ta phải tập hợp nhân dân, xây dựng lực lượng, và phải giành thắng lợi từng bước, tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn. Đó là ý nghĩa của các cuộc khởi nghĩa từ Hai Bà Trưng, Bà Triệu đến Lý Bí, Mai Thúc Loan, Phùng Hưng.

Trong điều kiện nào đó, có hình thức giành quyền tự chủ, thấp hơn quyền độc lập nhưng mềm dẻo hơn, tạo điều kiện để ta cai trị dân ta, mở đường đi tới độc lập tự chủ hoàn toàn. Đó là con đường khôn khéo mà Lương Thạc, Lý Trường Nhân, Lý Thúc Hiến đã khai thông và họ Khúc đã khôn khéo phát triển để người Việt Nam tự chủ cai trị người Việt Nam trong một nửa thế kỷ. 

Ngô Quyền, một tướng của Dương Diên Nghệ, đem quân ra hỏi tội Kiều Công Tiễn. Tiễn cầu viện vua Nam Hán. Vua Nam Hán cử con là Hoàng Thao làm Giao vương đem thuỷ quân sang đánh Việt Nam. Ngô Quyền hạ thành Đại La, giết chết Kiều Công Tiễn, trừ mối hoạ bên trong, ổn định tình hình, chuẩn bị kháng chiến.

Biết Hoàng Thao sẽ tiến quân từ biển vào, Ngô Quyền cho cắm cọc nhọn dưới lòng sông Bạch Đằng và đặt quân mai phục sẵn. ông cho quân nhử địch vào sâu sông Bạch Đằng. Đợi khi thuỷ triều xuống, quận ta quay lại đánh quân Nam Hán; Quân Nam Hán quay đầu chạy, ta đuổi theo, thuyền Nam Hán đâm phải cọc nhọn xô vào nhau, bị vỡ, bị đắm rất nhiều, Hoàng Thao chết tại trận. Đội quân xâm lược hoàn toàn tan rã. Vua Nam Hán chỉ huy đoàn quân tiếp viện nghe tin cũng rút lui.

 Chiến thắng Bạch Đằng cuối năm 938 chấm dứt hoàn toàn thời kỳ Bắc thuộc kéo dài hơn một nghìn năm, mở ra trang sử mới của kỷ nguyên độc lập lâu dài của dân tộc Việt Nam.


III

BUỔI ĐẦU DỰNG NƯỚC

Sau chiến thắng Bạch Đằng, Ngô Quyền hiểu rằng thời kỳ Bắc thuộc đã chấm dứt, đất nước đã giành lại độc lập hoàn toàn. Thời cơ xây dựng đất nước thành một vương quốc đã đến. Ngô Quyền tự xưng vương, định đô ở Cổ Loa, kinh đô cũ của nước Âu Lạc, ông lại đặt ra các chức quan văn, quan võ.

Ngô Sỹ Liên bình luận: “Nhà Tiền Ngô nổi lên được không những là chỉ có công chiến thắng mà thôi, việc định trăm quan, chế định triều nghi, phẩm phục, có thể thấy được qui mô của đế vương”.

Ông ở ngôi được 6 năm thì mất (944). Gian thần Dương Tam Kha cướp ngôi, xưng là Bình vương, Xương Văn, con thứ hai của Ngô Quyền, đánh úp Bình vương, lên ngôi, khôi phục lại cơ nghiệp. ông sai sứ xin mệnh lệnh vua Nam Hán Lưu Xưởng, Xưởng cho vua làm Tĩnh hải quân Tiết độ sứ kiêm đô hộ. Xương Văn mất năm 967.

Từ khi Ngô Quyền mất, các thế lực phong kiến địa phương nổi dậy cát cứ. Khi chính quyền trung ương tan rã thì đã hình thành 11 thế lực cát cử, mỗi người hùng cứ một phương. Bản thân vua Ngô Xương Xí chiếm cứ một vùng và tự coi mình là một sứ quân. Đó là loạn 12 sứ quân Đinh Bộ Lĩnh lần lượt dẹp tan các sứ quân khác vào năm 967 loạn 12 sứ quân dẹp xong, đất nước trở lại thống nhất.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #11 vào lúc: 20 Tháng Năm, 2009, 09:48:21 pm »

Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi Hoàng đế năm 968, lấy quốc hiệu là Đại Cồ Việt đóng đô ở Hoa Lư. ông tiếp tục củng cố chế độ trung ương tập quyền. Xây dựng 10 đạo quân giao Lê Hoàn làm Thập Đạo tướng quân. Ông rất coi trọng quan hệ ngoại giao với Trung Quốc.

Khi ông lên ngôi hoàng đế, nhà Đinh và nước Đại Cồ Việt còn đối mặt với nhà Nam Hán. Nhưng Nam Hán bị nhà Tống diệt năm 971 và nhà Tống trở thành đối thủ duy nhất và trực tiếp của nước ta.

Sau khi tổ chức xong triều đình, chấn chỉnh xong quân đội, năm 972 ông cử con là Nam Việt Vương Đinh Liễn sang giao hảo với nhà Tống, biếu sản vật địa phương và xin phong tước hiệu cho Hoàng đế Đại Cồ Việt.

Vừa mới diệt Nam Hán xong lại phải lo việc củng cố đất nước sau khi thống nhất, nhà Tống không làm gì hơn là chấp nhận thái độ hữu nghị của nhà Đinh và năm 973 vua Tống sai sứ sang phong Đinh Bộ Lĩnh làm Giao Chỉ quận vương và Đinh Liễn làm Kiểm hiệu thái sư tĩnh hải quân, Tiết độ sứ An Nam đô hộ. Ba năm sau vua Tống lại sai sứ sang phong Đinh Tiên Hoàng làm Việt vương, phong cho Đinh Liễn làm Giao Chỉ quận vương; Hoàng đế Trung Quốc còn vấn vương thời “đô hộ” nên chỉ phong cho Đinh Liễn là Giao Chỉ quận vượng, nhưng điều đó đến quá muộn sau khi Đinh Bộ Lĩnh Hoàng đế Đại Cồ Việt, đã phong cho Liễn tước Nam Việt vương.

Nhà Đinh trị vì có 12 năm (968-980) nhưng về nội trị cũng như ngoại giao đã làm được nhiều việc.  Riêng về ngoại giao đã có sách lược thích đáng đối với nhà Nam Hán rồi nhà Tống, đặc biệt là tranh thủ được việc phong làm Nam Việt vương. Đây là sự kiện quan trọng sau khi ta chấm dứt dược chế độ đô hộ.

Sử gia Phan Huy Chú đã viết: “Nước ta từ thời Hùng Vương mới bắt đầu thông hiếu với Trung Quốc nhưng danh hiệu còn nhỏ, không được dự vào hàng chư hầu triều hội ở nhà Minh Đường. Rồi bị Triệu Đà thôn tính, nhà Hán phong Đà làm Nam Việt vương, chỉ được sánh với chư hầu của Trung Quốc, chứ chưa từng được nêu là một nước. Đến sau nội thuộc vào nhà Hán, nhà Đường, bèn thành quận huyện. Đến khi Đinh Tiên Hoàng bình định các sứ quân, khôi phục mở mang bờ cõi, bấy giờ điển lệ sác phong của Trung Quốc mới nhận cho đứng riêng là một nước”.

Năm 979 Đỗ Thích giết Đinh Tiên Hoàng và Nam Việt vương Đinh Liễn. Định quốc công Nguyễn Bặc, Ngoại giáp Đinh Điền và Thập đạo tướng quân Lê Hoàn tôn Vệ vương Đinh Toàn lên làm vua. Vua lúc đó mới 6 tuổi nên Lê Hoàn nhiếp chính và tự xưng là phó vương. Nguyễn Bặc, Đinh Điền dấy quân chống lại Lê Hoàn nhưng đều bị thua và bị giết.

Vua ở ngôi được 8 tháng thì tình hình đất nước rất nguy ngập, bên trong thì nội bộ triều đình lục đục các phe phái đánh nhau giành quyền lực. Bên ngoài nhà Tống thấy Đại Cồ Việt nội loạn, muốn nhân cơ hội này đánh chiếm lại Việt Nam. Trước tình hình đó, binh sĩ tôn Lê Đại Hành làm Hoàng đế Thái hậu Dương Vân Nga cũng mời Lê Đại Hành lên ngôi Hoàng đế; Lê Đại Hành lên ngôi Hoàng đế đổi niên hiệu là Thiên phúc, giáng phong vua làm Vệ vương.

Nhà Bắc Tống cướp được ngôi vua của nhà Nam Hán, nhà Hậu Chu năm 960, từ đó liên tiếp tiêu diệt được các vương quốc nhỏ nhưng hai lần đánh nước Liêu đều thất bại. Năm 1004 phải giảng hoà với Liêu, chịu nộp cho Liêu 10 vạn lạng bạc và 20 vạn tấm lụa.

Hết Liêu, Bắc Tống lại phải đối phó với Tây Hạ và bị thiệt hại nặng. Tây Hạ chủ động giảng hoà với Bắc Tống, Tây Hạ nhận xưng “thần” với Tống nhưng Tống phải nộp cho Tây Hạ mỗi năm 7 vạn lạng bạc, 15 vạn tấm lụa, ba vạn cân chè. 

Tuy chiến tranh liên miên như thế, Bắc Tống vẫn không từ bỏ mưu đồ xâm chiếm Việt Nam.  Vua Tống xuống chiếu đem quân sang xâm lược Việt Nam, đồng thời sai sứ Lư Đa Tốn mang thơ cho Lê Đại Hành. Lời thư là giọng đe doạ: “Ngươi có theo về không? Chớ rước lấy tội lỗi. Ta đương chỉnh bị xe ngựa quân lính, sắp sửa các thứ chiêng trống, nếu quy phục thì ta tha cho, nếu trái mệnh thì ta quyết đánh. Theo hay không, lành hay dữ tự ngươi nghĩ lấy” .
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #12 vào lúc: 20 Tháng Năm, 2009, 09:49:24 pm »

Lê Đại Hành sai sứ sang nhà Tống, đưa thư của Đinh Toàn xin nối nghiệp cha: “Cúi mong ban cho chân mệnh được dự hàng phiên bang, để yên lòng kẻ tôi mọn giữ hết đạo trung, ban ân điển của thánh triều thưởng cho đời sau”. Sự thật đây là bức thư mạo tên Đinh Toàn nhằm làm cho Tống hoãn đánh ta.

Nhà Tống không nghe, sai Trương Tông Quyền đưa thư trả lời: “Họ Đinh truyền nối ba đời, trẫm muốn cho Toàn làm thống soái khanh làm phó, nếu Toàn không có tướng tài, hãy còn non dại thì nên bảo mẹ con sang quy phục, đợi khi vào chầu, tất sẽ cho khanh cờ tiết. Có hai đường ấy, khanh nên chọn lấy một đường” . 

Lê Đại Hành không chịu và chuẩn bị nghênh chiến. Quân Tống tiến theo ba đường: Hầu Nhân Bảo tiến quân đến Chi Lăng; Tôn Toàn Hưng đi đường bộ Ung Châu đến Lạng Sơn, Lưu Trừng đi đường thuỷ từ Quảng Châu. Quân Trần Khâm Tộ đến Tây Kết. Lê Đại Hành tự làm tướng. Quân ta đóng cọc ở sông Bạch Đằng để dụ quân Tống vào.  Ở Chi Lăng, binh sĩ giả hàng để dụ Hầu Nhân Bảo bắt đem chém. Thuỷ quân thua to. Cánh quân Khâm Tộ nghe tin quân thuỷ thua thì rút về, nhưng quân ta đuổi theo, quân Khâm Tộ thua to, hai tướng Quách Quân Biện, Triệu Phụng Huân bị bắt và đưa về Hoa Lư.

Cuộc tiến đánh Việt Nam thất bại. Vua Tống xuống chiếu rút quân về.  từ 982 đến năm 985, hai nước nối lại quan hệ ngoại giao, Đại Cồ Việt cử sứ sang Tống xin kinh Phật, nộp cống và đặt quan hệ buôn bán. Trong năm năm, Lê Đại Hành lờ chuyện bắt được hai tướng Tống với ý đồ giữ một con bài. Năm 985, vua Tống sai sứ Lý Giác sang mang chế sách phong Lê Đại Hành là Tiết độ sứ. Vua đón tiếp rất nồng hậu và nhân dịp này trao trả hai tướng Quách Quan Biện và Triệu Phụng Huân. Vua sai Ngô Quốc An sang thăm nước Tống để đáp lễ.

Năm 987 nhà Tống lại sai Lý Giác sang ta. Trên đường đi đến Hoa Lư, Lý Giác có dịp thấy non nước và con người Việt Nam, bèn làm thơ nói lên cảm tình với Việt Nam, trong đó có câu:

Thiên ngoại hữu thiên ưng viễn chiếu
Khê đàm ba tinh kiến thiềm thu


Dịch:

Ngoài trời lại có trời soi nữa
Sóng lặng khe dầm bóng nguyệt thâu


Bài thơ nhất là hai câu này rõ ràng có ý tôn Lê Đại Hành không khác gì vua Tống. Khi Lý Giác ra về vua tặng rất hậu và có bài hát tiễn đưa chân:

Gió xuân đầm ấm cánh buồm giương
Trông vị thần tiên về đế hương
Muôn lần non nước vượt trùng dương
Đường về bao dặm trường
Tinh lưu luyến, chén đưa đường
Nhờ vị sứ lang
Xin lưu ý đến việc biên cương
Tâu rõ lệnh thánh hoàng…


Năm 990 nhà Tống sai sứ Tống Cảo mang chế tiết sang phong thêm cho vua hai chữ “Đặc tiến”.  Được biết Tống Cảo là con người hống hách, nhà vua bố trì một kế hoạch đặc biệt: chín chiếc thuyền cùng ba trăm quân đến cửa biển Thái Bình (tức Liêm Châu) đón Tống Cảo theo đường biển đến sông Bạch Đằng. Vua ra ngoài để đón, bày thuỷ quân và chiến cụ để khoe. Vua cầm cương ngựa cùng đi với sứ thần. Đến cửa Minh Đức vua bưng chế thư để lên trên điện, không lạy, nói dối là năm vừa rồi đánh giặc bị ngã ngựa đau chân. Khi Tống Cảo từ tạ vua, vua nói: “Sau này có quốc thư nên giao nhận ngay ở đầu địa giới, không nên phiền sứ thần đến đây”. Cảo về tâu, vua Tống đồng ý. Năm 991 Lê Đại Hành cử sứ sang Tống đáp lễ.

Năm 993 nhà Tống cử sứ đem thư sang phong Lê Đại Hành làm Giao Chỉ quận vương.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #13 vào lúc: 20 Tháng Năm, 2009, 09:50:05 pm »

Năm 996 nhà Tống sai sứ mang chiếu thư và đai ngọc ban cho vua.

Năm 997 nhà Tống phong vua làm Nam Bình vương. .

Những năm cuối thế kỷ X, quân ta ở địa phương thường sang quấy nhiễu đất Tống như có lần hơn 100 chiến thuyền của ta đánh trấn Như Hồng thuộc Khâm Châu, hay 5.000 hương binh châu Tô Mộc của ta đánh vào Ung Châu; nhưng phải rút về. Ngược lại có lần thổ mục Triều Dương làm loạn rồi trốn sang đất Tống, được quan địa phương của Tống che giấu.  Nhà Tống có hỏi phía Đại Cồ Việt nhưng không dám làm to chuyện, thậm chí giao lại cho ta số gia nhân của thổ mục Triều Dương. Phía ta cũng giao cho phía Tống số cướp biển ta bắt được.

Khi sứ Tống Lý Nhược Tuyết hỏi vua về vấn đề quân ta đánh Như Hồng, vua trả lời: “Việc cướp trấn Như Hồng là bọn giặc biển ở cõi ngoài, Hoàng đế có biết đó không phải là quân của Giao Châu không? Nếu Giao Châu có làm thì đầu tiên đánh vào Phiên Nhung rồi đánh Mân Việt (tức là Quảng Châu và Phúc Kiến - tác giả) há chỉ có trấn Như Hồng mà thôi ư?”. Nói xong vua cúi đầu tạ lỗi.

Sứ giả Ngô Sỹ Liên chê Lê Đại Hành về chính sách đối nội nhưng võ công của vua thì hết lời khen ngợi: “Vua đánh đâu được đấy, chém vua Chiêm Thành để rửa cái sỉ nhục phiên di bắt giữ sứ thần, phá tan quân Triệu Tống để bẻ cái mưu vua tôi ăn chắc, có thể gọi là bực anh hùng nhất đời vậy” .  Câu trả lời của Lê Đại Hành không phải chỉ nói lên cái khí phách anh hùng của ông mà còn nói lên hùng khí của dân tộc Việt Nam.

Sau khi Long Việt lên ngôi thay Lê Đại Hành được ba ngày thì bị em là Long Đĩnh giết. Long Đĩnh lên làm vua, nhưng trong hoàng tộc nhiều người nổi lên chống lại; Long Đĩnh dẹp yên cả. Từ khi Long Đình lên làm vua, nhà Tống vẫn đòi hữu nghị với Việt Nam. Đi sứ về, Hành quân vương là Minh Đề thấy trong nước có loạn nên trú lại ở Quảng Châu, quan địa phương không cấp giấy quán khoán cho về. Nhưng vua Tống xuống chiếu cho riêng 50 vạn quan tiền, 150 hộc thóc và tiếp tục cấp quán khoán.

Lúc này bọn quan lại ở Quảng Châu muốn nhân dịp Việt Nam có loạn xin vua Tống cho đi đánh Việt Nam. Nhưng vua Tống gạt đi. Khi vua Tống cho Minh Đề về nước, Thiệu Việt nhân dịp này lại dâng bản đồ đánh nước Việt, vua Tống lại gạt đi và cử Thiệu Việt mang thư sang bảo anh em Long Đĩnh nên khuyên bảo nhau, nếu không vua Tống sẽ hỏi tội.

Năm 1007 nhà Tống phong vua làm Giao Chỉ quận vương và ban ấn cho. Và đồng ý cho Long Đĩnh áo giáp mũ trụ trang sức bằng vàng.

Năm 1009 Long Đĩnh chết .

Được sự ủng hộ của triều đình, Lý Công Uẩn tự lập làm vua, đặt niên hiệu là Thuận Thiên, lập ra triều nhà Lý; Sau khi lên làm vua, việc đầu tiên của vua là dời đô về Thăng Long (Hà Nội) năm 1010 mà mục đích là “đóng nơi trung tâm, mưu toan nghiệp lớn tính kế lâu dài cho con cháu đời sau”, “chỗ ấy là nơi hơn cả, thật là chỗ hội họp của bốn phương, là nơi đô thành bậc nhất của đế vương muôn đời”. 

Lý Thái Tổ và các vua kế nghiệp đã ra sức phát triển toàn diện quốc gia phong kiến độc lập. Năm 1054 đổi tên nước là Đại Việt. Xây dựng chế độ trung ương tập quyền, lần đầu tiên trong lịch sử nước ta ban hành bộ Hình thư, một bộ luật thành văn, ta đẩy mạnh tổ chức quân đội, ban hành chính sách đối với các dân tộc thiểu số để củng cố khối đoàn kết toàn dân, phát triển kinh tế nông nghiệp, coi trọng khẩn hoang ruộng đất và thuỷ lợi (đắp đê Cư Xá) phát triển các nghề thủ công (dệt, gốm, sứ.) tiếp tục phát triển giao thông và buôn bán; đặt quan hệ thương mại với nước ngoài, mở mang văn hoá (dựng Văn Miếu, mở Quốc Tử Giám, mở khoa thi để chọn nhân tài. ..).

Do những thành tựu đạt được về nông nghiệp, công nghiệp, thương nghiệp, văn hoá, Đại Việt thời Lý trở thành một quốc gia mạnh trong khu vực, địa vị đối với các nước chung quanh được nâng cao, nhà Tống phải kiêng nể, quan hệ với Chiêm Thành, Chân Lạp được thiết lập.

Nhà Tống thật ra phải kiêng nể ta từ sau khi bị Lê Đại Hành đánh bại, có lúc xử nhũn với ta nhưng khi đó họ bị Kim, Tây Hạ đánh bại, thậm chí phải cắt đất nộp cống, xưng “thần” với nhà Kim, thế phải như thế nhưng họ chưa từ bỏ tơ tưởng bành trướng .
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #14 vào lúc: 20 Tháng Năm, 2009, 09:57:17 pm »

Sau khi quân Kim rút về Bắc, một số quan lại tôn Triệu Cẩm, em vua Khâm Tông, lên làm vua ở tỉnh Hà Nam lấy hiệu là Cao Tông, lịch sử gọi là nhà Nam Tống. Trước đây vua Khâm Tông đã phải thân hành sang trại Kim dâng biểu xin hàng, xưng “thần”, tạ tội và xin hiến một vùng đất rộng lớn ở phía Nam sông Hoàng Hà, quân Kim đòi phải nộp 10 triệu nén vàng, 20 triệu nén bạc, 10 triệu tấm lụa, 1.500 thiếu nữ.

Lúc quân Kim tiến xuống phía Nam, vua Cao Tông còn hèn không kém, sai sứ sang triều đình vua Kim xin bỏ danh hiệu Hoàng đế và xin làm kẻ bầy tôi của Kim. Trong thư gửi tướng viễn chinh của Kim, vua Cao Tông còn hạ mình hơn nữa: “Từ xưa khi nước nhà gặp lúc nguy vong, chẳng qua chỉ cố giữ và chạy mà thôi. Nay nếu giữ thì không có người, nếu chạy thì không có đất, đó là vì rất sợ hãi, duy chỉ mong ngài rủ lòng thương mà tha cho. Trước đây đã liên tiếp dâng thư, xin bỏ hiệu cũ giữa trời đất này đều là đất nước của Đại Kim, hết sức tôn quý, không có ai hơn”. Ôi còn đâu lời thiên tử:

“Khắp dưới gầm trời không đâu không là đâu của vua
Tất cả trên mặt đất không ai không là tôi của vua
”.

Tuy bị Kim rồi Tây Hạ đánh thua liên tiếp, Bắc Tống vẫn lập các căn cứ quân sự ở vùng biên giới để chuẩn bị thời cơ đánh Đại Việt; Thực hiện chiến lược, “Tiên phát chế nhân”, Lý Thường Kiệt chủ trương không đợi quân Tống đến mà đem quân ra trước để chặn mũi nhọn của giặc bằng tập kích sang đất Tống, đánh vào hệ thống căn cứ xâm lược của chúng.

Cuối năm 1075, thái uý Lý Thường Kiệt trực tiếp chỉ huy 10 vạn quân tiến vào đất Trung Quốc theo hai đường thuỷ bộ. Cánh quân thuỷ đổ bộ lên Khâm Châu, Liêm Châu rồi phối hợp với cánh quân bộ từ biên giới tiến vào thành hai gọng kìm bao vây Ung Châu (Nam Ninh ngày nay). Sau 42 ngày công phá rất dũng cảm và mưu trí, ngày 1 tháng 3 năm 1076 quân ta chiếm được thành Ung Châu.

Trên dọc đường hành quân, quân ta rải truyền đơn kể tội xâm lược của nhà Tống và tội ác của tể tướng Vương An Thạch, kết hợp quân sự vời địch vận. Quân ta phá thành trì, tiêu huỷ các kho lương thực, và lấp sông để ngăn chặn vận chuyển của địch. Mục tiêu của cuộc tập kích táo bạo đã hoàn thành thắng lợi.  Tháng 4 năm 1076 quân ta nhanh chóng rút về nước.

Nhà Tống biết quân Việt Nam đánh vào Trung Quốc và chiếm được hệ thống căn cứ hậu cần của họ nhưng không cho quân ứng cứu vì họ sợ một cuộc đụng đầu với quân của Lý Thường Kiệt nhưng lại mưu toan đánh thẳng vào miền Bắc nước ta nhằm buộc Lý Thường Kiệt phải rút quân về nước.  Với chiến công ở Ung Châu, Đại Việt đã đẩy nhà Tống vào thế bị động và tạo điều kiện thuận lợi để đánh bại cuộc xâm lược sắp tới của họ nhằm trả đũa ta.

Cuộc tập kích táo bạo của Lý Thường Kiệt vào đất Trung Quốc và thắng lợi Ung Châu có thể coi là giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến chống cuộc xâm lược của nhà Tống.


IV

DÙNG BIỆN SĨ BÀN HOÀ

Trong 167 năm trị vì, Bắc Tống có ba lần đối đầu với Đại Việt:

Khi Lê Đại Hành mới lên ngôi Hoàng đế, so sánh lực lượng thì Tống hơn ta nhiều. Bên ta sau khi Đinh Tiên Hoàng mất, nội bộ triều đình lục đục, các quan đại thần chống đối nhau đi đến chỗ dấy quân đánh lẫn nhau, đất nước mới được giải phóng, chế độ chính trị mới bắt đầu xây dựng. Bên Bắc Tống nguy cơ của các bộ tộc phía Tây và phía Bắc chưa bộc lộ. Bắc Tống lần lượt tiêu diệt các nước Kinh Nam, Thục, Nam Hán, Nam Đường, Ngô Việt, Bắc Hán, thống nhất Trung Quốc.

Mặc dầu Lê Đại Hành tỏ ra kính trọng thiên triều, Bắc Tống hống hách đòi Lê Đại Hành đầu hàng và cử bọn Lưu Trừng, Hầu Nhân Bảo đưa quân sang đánh Đại Việt, lúc này Bắc Tống hoàn toàn chủ động, nhưng thua vẫn hoàn thua. 
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #15 vào lúc: 20 Tháng Năm, 2009, 09:58:07 pm »

Khi Lý Thường Kiệt đem quân thuỷ bộ đánh Khâm Châu, Liêm Châu rồi bao vây thành Ung Châu, tình thế Bắc Tống rất bị động. Điều không ngờ nhất là Đại Việt dám đem quân đánh Tống ngay trên đất Trung Quốc. Về đối sách, Bắc Tống sẽ lính sao? ứng cứu Ung Châu ư? Họ lại sợ quân Lý đánh sang Quảng Châu. Đánh thẳng vào Thăng Long để buộc Lý Thường Kiệt rút quân về ư? Mà đánh vào Thăng Long có chắc thắng không hay lại thua? 

Thất bại của Tống ở Ung Châu là thất bại của công việc chuẩn bị đánh Đại Việt trước khi các căn cứ hậu cần của nó, trước hết là căn cứ Ung Châu, bị Lý Thường Kiệt huỷ diệt. Tống Thần Tông bị đặt trước không phải một thất bại quân sự mà một vấn đề tinh thần, lý luận, chính trì, có tha thứ cho kẻ xúc phạm đến thiên triều không? Chính hậu duệ của vua Tống Thần Tông có người xưng “thần” với vua nước Kim, có người xin vua Kim cho từ bỏ danh hiệu “Hoàng đế”. Nhưng đang ở thời hống hách, Tống Thần Tông đâu có chịu thế, và ông ta mưu tính một sự phục thù thật sự, một sự phục thù mà ông phải là kẻ chiến thắng. Trong vai trò đạo diễn cuộc phục thù, ông hoàn toàn chủ động.

Người đời sau khen Tống Thần Tông đã vạch kế hoạch một cách rất thận trọng, rất tỉ mỉ.

Khi thành Ung Châu bị bao vây, ông cùng tể tướng Vương An Thạch chủ trương ngăn ngừa quân Lý đánh sang phía Đông và phía Bắc (tức là không cho triển khai vào đất Trung Quốc), đồng thời sửa soạn quân đánh thẳng vào Đại Việt để giải vây cho Ung Châu. Nhưng Ung Châu lại mất, rồi quân Lý cũng rút về nước. Vương An Thạch thay đổi chiến lược chinh phục Đại Cồ Việt và sáp nhập vào Tống.  Trước khi tư lệnh Quách Quì lên đường ra trận, Tống Thần Tông còn dặn: “ Sau khi bình được Giao Châu, sẽ đặt châu huyện như ở nội địa” .

Phương châm chiến đấu là đánh nhanh thắng nhanh.

Kế hoạch bao gồm cả việc tăng cường mặt biển, mặt Tây Nam vì Tống còn đề phòng Đại Việt đánh cả từ mặt biển vào và có thể liên minh cả với Nam Chiếu (vùng Vân Nam). Còn về phía Tây và Tây Bắc việc đề phòng Liêu, Hạ là tất nhiên rồi.  Quân huy động là 10 vạn người, một vạn ngựa, chủ yếu là quân của tướng Quách Quì, nguyên soái của cuộc viễn chinh, với Triệu Tiết làm phó. Vua Tống còn tính dùng cả thuỷ binh để đánh tập hậu quân Lý.

Ngay từ khi thành lập đội quân viễn chinh đã có những mâu thuẫn nội bộ sâu sắc. Trước hết là mâu thuẫn giữa Quách Quì và Triệu Tiết. Lúc đầu vua Tống đã quyết định cử Triệu Tiết làm nguyên soái, Quách Quì làm phó. Nhưng sau đó Triệu Tiết lại cử Quách Quì làm nguyên soái, do đó tự mình hạ xuống làm phó. Sự bất đồng giữa hai người tiếp tục theo họ ra chiến trường, làm cho họ không thể thoả thuận với nhau về mọi vấn đề.

Còn một vấn đề khá nghiêm trọng hơn là việc các vị trọng thần không tán thành việc cử quân đi đánh Đại Việt ngay hoặc không tán thành cử nguyên soái của đội quân viễn chinh. Có nhiều người phát biểu ý kiến, nhưng đặc biệt là có hai tờ tâu một của Triệu Bồ Chi, một của Trương Phương Bình.

Triệu Bồ Chí nêu năm lẽ xuất quân chắc thắng và năm lẽ xuất quân có thể không thành công nhưng vẫn góp ý kiến về cách đánh, Trương Phương Bình hiến chín điều về tương lai, nêu nhiều ý kiến xác đáng và cho rằng việc cất quân đi đánh Đại Việt trải qua nhiều nguy hiểm, nên cho bàn rộng rãi.  Nhưng Tống Thần Tông vẫn quyết định thực hiện kế hoạch chinh phục Đại Việt của mình. 

Sau khi thắng Ung Châu, Lý Thường Kiệt rút ngay quân về nước và lo ngay việc chuẩn bị kháng chiến chống Tống vì ông biết Tống thế nào cũng đánh nước ta để phục thù. Theo tin tình báo, ông nắm được kế hoạch chuẩn bị xâm lược của nhà Tống bao gồm cả việc thuyết phục Chiêm Thành phối hợp cùng đánh Đại Việt. 

Ông tự mình đi kinh lý vùng biên giới phía Nam giáp với Chiêm Thành, sai vẽ bản đồ và tăng cường lực lượng biên phòng để ngăn chặn sự tiến công của quân Chiêm Thành khi quân Tống xâm lược nước ta.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #16 vào lúc: 20 Tháng Năm, 2009, 10:19:14 pm »

Diễn biến sau này của cuộc xâm lược chứng tỏ tầm nhìn và sự bố trí của ông là đúng vì Chiêm Thành có đưa quân lấn biên giới Việt Nam nhưng không dám gây chuyện gì. Điều đó cũng có nghĩa là ta đã đánh thắng một phần kế hoạch chiến lược của Tống.


Về việc đối đầu với đại quân của Tống, Lý Thường Kiệt biết rõ rằng Quách Quì huy động cả bộ binh và kỵ binh, một lực lượng thuỷ quân không lớn lắm. Lực lượng địch mạnh hơn lực lượng ta; kỵ binh của nó lại lợi hại vì đây là lực lượng thiện chiến, đã từng ngăn chặn được quân Tây Hạ, bản thân Quách Quì nổi tiếng cũng là nhờ đã đẩy lùi được quân Tây Hạ.

Kỵ binh không phát huy được ưu thế trên chiến trường rừng núi hay sình lầy, nhưng trên chiến trường đồng bằng nó có thể áp đảo dễ dàng bộ binh địch. Nùng Trí Cao thua Địch Thanh cũng là vì không có kỵ binh để chọi với kỵ binh địch. Chính vì câu chuyện đó mà Quách Quì quyết đem kỵ binh của mình đi đánh Đại Việt.

Thiên tài của Lý Thường Kiệt biết lấy sông Cầu làm phòng tuyến thiên nhiên. Đi từ biển vào, con đường gần nhất là theo sông Bạch Đằng. Đi từ Ung Châu vào, dù quá Lạng Sơn hay đường rừng thì đều phải qua sông Cầu mà chỗ gần nhất từ sông Cầu vào Thăng Long là ngã ba sông Cầu - sông Cà Lồ thường gọi là Ngã Ba Xà.

Lý Thường Kiệt cho đắp một phòng tuyến dài từ chân núi Tam Đảo đến chân núi Nham Biền.  Trên bờ Nam đắp một con đê dài cao như tường thành, trên đê cắm tre làm dậu dày đến mấy tầng.  Quân địch qua sông phải có thuyền, qua được sông lại vướng bức thành và bị quân ta chặn đánh. Thực tế sẽ chứng minh phòng tuyến đó rất lợi hại. 

Ngày 8 tháng 1 năm 1077 , quân Quách Quì vượt biên giới tiến vào Lạng Sơn. Biết trước đây tướng Tống Hầu Nhân Bảo bị chết ở Chi Lăng, Quách Quì lần này không đi qua Chi Lăng nữa và cho quân tiến theo đường tắt nên đến bờ sông Cầu tương đối nhanh. Đến bờ sông Cầu là đụng đầu vào bức tường thành của Lý Thường Kiệt. Quách Quì cho làm cầu phao và phái một đội quân tiên phong vượt sông sang bờ Nam, nhưng bị quân Lý đánh đại bại. 

Quách Quì rút quân về bờ Bắc và hy vọng thuỷ quân sẽ đến, nhưng thuỷ quân bị quân Lý chặn giữ ở vùng cửa biển không vào được. Ông ta lại cho đóng những bè rất lớn có thể chở được 500 người, nhưng quân Tống sang lại phải rút về. Trong hàng tháng trời quân hai bên nhìn nhau qua sông. Quân Tống thiếu lương thực, bị đuối nhiều, tinh thần sa sút.  Quách Quì phải hạ lệnh: “Ai bàn đánh sẽ bị chém”.  Quân ta giữ vững bến đò Như Nguyệt, có lần vượt sông sang Khao Túc bị thất bại phải rút về bờ Nam.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #17 vào lúc: 20 Tháng Năm, 2009, 10:25:25 pm »

Để động viên quân ta, Lý Thường Kiệt cho người giả làm thần nhân đang đêm đọc thơ mắng giặc và báo trước chúng sẽ thua, tự đền thờ Trương Hát ở bờ Nam:

Nam quốc son hà Nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.


Sông núi nước Nam, vua Nam coi
Rành rành định phận ở sách trời
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm
Bay sẽ tan tành chết sạch toi.


Đây là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước ta. Tác dụng của nó là: “Quân ta đều phấn khởi, Quân Tống sợ táng đảm, không đánh đã tan”. (Lý Tế Xuyên - Việt điện u linh)

Quách Quì ở thế tiến thoái lưỡng nan, tiến thì không tiến được, đóng mãi trên bờ sông Cầu thì mùa nóng sắp tời, binh sĩ không chịu nổi lam sơn chướng khí, rút quân về nước lại chưa có chiếu của vua, Lý Thường Kiệt cũng thấy quân mình đã mỏi mệt, cầm cự mãi trên bờ sông Cầu cũng không phải là thượng sách.

Theo bia chùa Linh Xứng (làng Ngọ Xá, huyện Hà Trung, Thanh Hoá), ông quyết định “dùng biện sĩ để bàn hoà. Không nhọc tướng ta, khỏi tốn máu mủ mà bảo an được tông miếu”. Giảng hoà là chấm dứt chiến sự, quân Tống rút về nước, ta thu hồi lại các vùng đã bị chúng chiếm đóng. Dùng biện sĩ bàn.hoà là kết hợp ngọai giao với quân sự, lùi được giặc mà không phải đánh.

Ông sai sứ sang doanh của Quách Quì nói: “Xin hạ chiếu rút đại binh về, thì sẽ lập tức sai sứ sang tạ tội và tu cống”.  Ông lại bằng lòng nhượng đất cho Tống. Sứ giả nhận với Quách Quì rằng “Chỗ nào quân Tống đã chiếm tức là đất Tống” . Ông lại bào chữa cho vua Lý đổ lỗi việc đánh Ung Châu cho người Tống là Từ Bá Tường xui giục.

Tình hình đội quân viễn chinh là khốn đốn. Chính các tướng Tống cũng bàn rằng: “Lương ăn của chính đạo quân ta đã cạn . Lúc ra đi quân có 10 vạn, dân phu có 20 vạn. Vì nóng nực và lam chướng quân phu đã chết mất quá nửa rồi. Còn non nửa, cũng đều ốm” .

Quách Quì kết luận rằng: “Ta không đạp đổ được sào huyệt giặc, bắt được Càn Đức, để báo mệnh triều đình. Thôi ta đành liều một thân ta, chịu tội với triều đình, đó là bởi trời: để mong cứu hơn mười vạn nhân mạng” (Lý Đào - Tục tư trị thông giám trường biên).

Lý Thường Kiệt đã chọn đúng thời cơ để đưa ra một sáng kiến hoà bình phải chăng với một nội dung hấp dẫn:

- Chấm dứt can qua giữa hai nước, Tống rút quân về nước.

- Đại Việt xin chịu tội và chịu cống.

- Đất nào quân Tống đã chiếm là đất Tống.

Về phía Đại Việt, cái được là hoà bình, không còn quân Tống mà không phải tiếp tục chiến tranh.

Chủ trương “dùng biện sĩ bàn hoà” đã đạt mục đích vì nó đã giải quyết đúng lúc và thoả đáng quyền lợi của hai bên. Giải pháp của Lý Thường Kiệt là cái sau này người ta tổng kết là: “Trong thương lượng để đạt cái mình muốn phải cho đối phương cái họ cần”, tất nhiên trong trường hợp lực lượng hai bên ngang nhau.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #18 vào lúc: 20 Tháng Năm, 2009, 10:32:04 pm »

Như người sắp chết đuối vớ được phao, Quách Quì chấp nhận ngay đề nghị và nhận rút quân. Ông ta đã hẹn ngày rút quân nhưng lại sợ quân ta đuổi đánh nên hạ lệnh rút ngay lập tức; Quân Tống hốt hoảng rút, đạp xéo nhau mà đi.

Lý Thường Kiệt mong muốn chúng rút càng nhanh càng tốt, nên cũng không đuổi đánh.  Cuộc chiến tranh Lý -Tống kéo dài 15 tháng và đã gây cho Tống những thiệt hại nặng nề. Theo Tục tư trị thông giám trường biên, thiệt hại của Tống là:

- Quân trở về 23.400 (lúc đi 10 vạn).

- Ngựa trở về 3.174 (lúc đi 10.000 con).

- Phí tổn 5.190.000 lạng vàng.

Vua Tống Thần Tông không bằng lòng, nhưng các quan khuyên, vua thấy nên khoan việc đánh trở lại Tể tướng Ngô Sung, người thay thế Vương An Thạch và là người trước sau chủ hoà, thay mặt quần thần dâng biểu mừng vua “đã dẹp yên An Nam, và đã lấy được Quảng Nguyên” .

Quân của Quách Quì không chiếm được toàn bộ lãnh thổ nước ta nhưng cũng đã chiếm được các châu miền núi: Quang Lang, Môn, Tô Mậu, Tư Lang, Quảng Nguyên. Quân Tống rút đến đâu quân ta chiếm tới đó, do đó đã thu hồi các châu Quang Lang, Môn, Tô Mậu, Tư Lang... Thật ra ta đã đánh úp lấy lại châu Quang Lang, còn châu Quảng Nguyên, Tống cố giữ lấy vì nghe nói châu đó nhiều vàng. Nhà Tống đổi tên Quảng Nguyên ra Thuận Châu và sáp nhập vào Ung Châu.

Sau khi chiến tranh Lý - Tống kết thúc, hai nước còn phải giải quyết hai vấn đề:

- Vấn đề đất đai Tống còn giữ.

- Vấn đề tù binh và dân phu của Tống bị bắt. 

Về vấn đề đất, ngoài châu Quảng Nguyên, còn có hai châu Vật Ác đã bị thổ ty Nùng Tôn Đảng nộp cho Tống năm 1057, và Vật Dương đã bị thổ Ty Nùng Trí Huệ nộp cho Tống năm 1064. Vật Dương nay là Sóc Giang, Bảo Lạc tỉnh Cao Bằng, Vật Ác gần Vật Dương.

Tháng 10 năm 1077 , vua Lý cử Đào Tông Nguyên mang biểu dâng vua Tống, Triệu Tiết, viên quan cai trị Quế Chậu, không chịu nhận biểu vì biểu có phạm miếu huý. Đào Tông Nguyên trở về. Đầu năm sau, vua Lý lại sai Đào Tông Nguyên mang theo năm con voi để cống và tờ biểu của vua Lý xin lại các đất Quảng Nguyên và Quang Lang (sự thật ta đã thu hồi châu Quang Lang, nay nêu lại để tỏ vấn đề đất là quan trọng).

Đến lúc này triều đình Tống đã thấy giữ Quảng Nguyên cũng chẳng có lợi gì, cũng có ý muốn trả nhưng còn đợi thời cơ để khỏi mất thể diện. - Đào Tông Nguyên hứa sẽ trả những người đã bị bắt ở ba châu Khâm, Liêm, Ung.

Thần Tông lại đòi phải phạt những kẻ cầm đầu gây việc chiến tranh (ý muốn nói trừng trị Lý Thường Kiệt. Không có tài liệu nào nêu trả lời của vua Lý, nhưng ta cũng đoán chác rằng vua Lý không đáp ứng yêu cầu) .  Vua Tống phải hứa trả lại châu Quảng Nguyên nhưng lại lần lữa. Lý Thường Kiệt xui dân châu cướp phá, người dân Lưỡng Quảng hoang mang đến mức vua Tống phải tăng thêm quân cho Ung Châu để yên lòng dân.

Cuối năm 1079, ty kinh lược Quảng Tây báo cáo vua Tống là Đại Việt đã trao trả 221 người bị bắt.  Tuy chưa đến con số 1 .000 người, vua hạ lệnh “Hãy nhận tù nhân và bỏ Thuận Châu” (tức Quảng Nguyên). Chiếu của vua Tống chỉ nói có châu Quảng Nguyên nhưng thực tế Tống trả hết bốn châu (Quảng Nguyên, Tư Lang, Môn, Tô Mậu) và một huyện (Quang Lang). Tống cũng dời dân của các huyện đó vào đất Tống.

Đời Tống có hai câu thơ chế giễu vua Tống:

Nhân tham Giao Chỉ tượng
Khước thất Quảng Nguyên kim.


Nghĩa là:

Vì tham voi Giao Chỉ
Nên mất vàng Quảng Nguyên.

« Sửa lần cuối: 20 Tháng Năm, 2009, 11:53:42 pm gửi bởi UyenNhi05 » Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #19 vào lúc: 20 Tháng Năm, 2009, 11:58:31 pm »

Những tồn tại của cuộc chiến tranh đến đây coi như đã giải quyết xong và quan hệ giữa hai nước đi vào giai đoạn bình thường, thân thiện.

Vua Lý tiếp tục giao hiếu với vua Tống. Năm 1081, một phái bộ được cử sang Tống. Phái bộ này gồm 156 người để cống phương vật đồng thời xin kinh Đại tạng, do Lương Dung Luật và Nguyễn Văn Bội lãnh đạo. Quan địa phương lại làm khó dễ. Vua Lý gửi biểu cho vua Tống đề nghị giáng chỉ cho phép theo lệ cũ mà vào kinh. Quan địa phương ngăn cản và lấy cớ phái bộ đi thừa 56 người. Vua Tống ra lệnh cho cả 156 người vào kinh. Vua Tống còn hạ chiếu cho ty kinh lược Quảng Tây từ nay nếu có chiếu của vua gửi vua Lý thì giao cho Đại Việt ở biên giới.

Biết Tống đang phải đánh nhau ở phía Bắc với Tây Hạ, và đối phó với các cuộc nổi dậy của nông dân Mèo ở ngay Quảng Tây, do đó vua Tống không muốn làm găng với Đại Việt. Vua Lý lưu tính đòi lại hai châu Vật Ác và Vật Dương. Năm 1082 vua Lý cử một phái bộ mang biểu của vua Lý và 50 sừng tê 50 ngà voi, lời biểu viết: “Thủ lĩnh động Cát Dán thuộc Quảng Nguyên là Nùng Dũng, cùng dân động đã làm loạn và chạy vào Ung Châu. Tôi đã viết thư nhiều lần vào đòi. Nhưng Ung Châu không chịu trả”.

Vua Tống trả lời: “Tụi Nùng Dũng nguyên không phải người Giao Chỉ quản. Chúng theo ta khi Giao Chỉ chưa hàng. Vậy chúng là dân ta. Không lẽ gì ta lại trả chúng”. Ty an phủ Quảng hãy còn đòi trả thêm các quan lại, và dân bị bắt. Sứ ta trả lời không có thêm nữa. Viên quan coi Quế Châu là Hùng Bản sai sứ sang trách vua Lý đã tha tội tại sao vẫn đòi Vật Ác, Vật Dương, nhưng lại xin Tống Thần Tông trả cho Lý tám động đất hoang, rồi hẹn vua Lý cử người đến Vĩnh Bình bàn vấn đề biên giới. .

Hùng Bản cử đô tuần kiểm tả giang là Thành Trạc đến Vĩnh Bình. Vua Lý phái Đào Tông Nguyên đến hội nghị.

Sứ ta đòi lại hai châu Vật Ác, Vật Dương, phía Tống chỉ muốn trả một dải đất phía Nam dãy núi Hoả Diễm. Đào Tông Nguyên vẫn giữ thái độ găng, cuối cùng đề nghị: “Đất thuộc Quảng Nguyên này chỉ là đất nhỏ khó lòng mà bàn chia. Tôi muốn tự làm bài tấu để rồi triều đình định bằng lòng hay không” . Hùng Bản không bằng lòng với đề nghị đó, vua Tống cũng không bằng lòng. Đào Tông Nguyên bỏ hội nghị ra về.

Vua Lý tập trung quân dọc biên giới, gần châu Vật Dương, nhưng không có ý cắt đứt thương lượng, nên cử trạng nguyên Lê Văn Thịnh và phó sứ Nguyên Bồi đến Vĩnh Bình. Phía Tống cử kinh lược Thành Trạc làm trưởng đoàn đến Vĩnh Bình. Hội nghị họp tháng 7 năm 1084.

Lê Văn Thịnh vạch rõ rằng hai châu Vật Dương Vật Ác đã bị các tù trưởng lấy trộm đem nộp Tống.

Phía Tống nói: Những đất mà quân nhà vua đã đánh lấy thì đáng trả cho Giao Chỉ. Còn những đất mà các người coi giữ lại mang nộp để theo ta thì khó trả lại.

- Đất thì có chủ - Lê Văn Thịnh đáp - Các viên coi giữ mang nộp và trốn đi thì đất ấy thành vật ăn trộm của chủ. Sự chủ giao cho mà tự lấy trộm đã không tha thứ được mà trộm của hay tàng trữ thì pháp luật cũng không cho phép. Huống chi nay chúng lại đem đất trộm đang để làm như bẩn sổ sách của nhà vua (Tục tư trị Thông giám trường biên của Lý Đào) .

Lê Văn Thịnh vẫn giữ ý kiến đòi Vật Ác, Vật Dương, nhưng Thành Trạc lại tâu vua Tống rằng Lê Văn Thịnh đồng ý nhận dải đất phía Nam hai châu đó Vua Tống có yêu cầu so sánh lại quan điểm của hai người, nhưng vì đường xa, thư từ đến chậm, cuối cùng vua Tống Thần Tông sắc cho vua Lý: “Về hai động Vật Dương, Vật Ác. Trẫm đã giáng chỉ lấy tám ải sau này làm giới hạn: Canh Liệm, Khâu Cự, Khiếu Nhạc, Thông Khoảng, Canh Nham, Đón Lị, Đa Nham và Câu Nam. Đất ngoài các ải ấy có sáu huyện là Bảo Lạc, Luyện, Miêu, Đinh, Phóng, Can và hai động là Túc, Tang. Các đất ấy đều cho khanh chủ lĩnh”. Như vậy hai động Vật Dương, Vật Ác vẫn bị Tống giữ.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM