Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 04 Tháng Mười Một, 2026, 03:38:56 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Ngoại giao Đại Việt  (Đọc 96467 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #20 vào lúc: 21 Tháng Năm, 2009, 12:05:34 am »

Quan hệ Lý - Tống trở nên hoà hảo.

Bình luận kết quả chính sách ngoại giao của nhà Lý với nhà Tống, sử gia Ngô Sỹ Liên đã viết:

“Việc biên giới nhà Lý được nhà Tống trả lại đất rất nhiều, bởi vì trước thì có cái oai thắng trận, người Trung Châu hoảng sợ, để làm cho nhà Tống phải phục, sau thì sứ thần bàn bạc lời lẽ thung dung, càng thêm khéo léo, cho nên cần gì được nấy, làm cho lời tranh biện của người Trung Quốc phải khuất, mà thế lực Nam Giao được mạnh. Xét đó cũng có thể biết thế cường thịnh của thời bấy giờ” . 

Trong cuộc chiến đấu quân sự, chính trị, ngoại giao với nhà Tống, nhà Lý đã giành được những thắng lợi vẻ vang đồng thời để lại cho hậu thế những bài học có giá trị muôn đời.

Từ năm 1009 đến khi Lý Nhân Tông mất (1127 ) trong 118 năm và suốt triều đại Lý, nguyên tắc giữ vững độc lập, tự chủ luôn luôn là đường lối cơ bản và đầu tiên của Nhà nước, nhờ đó đánh bại được nhà Tống, thu phục được Chiêm Thành, đánh tan được quân Chân Lạp. Trong bang giao ta giữ thể diện cho nhà Tống, nhà Tống kiêng nể ta, dân Tống (vùng biên giới) khiếp sợ ta, khiến uy danh của nước Đại Việt non trẻ vang lừng trong khu vực. Thậm chí vua nhà Tống phải nói quân Tống phải học tập Việt Nam: “Nước An Nam có cách hành quân rất tài, phải đem (cách ấy) dạy cho các tướng ở biên giới phía Tây và bắt họ phải tập luyện theo kiểu đó”  (Việc này còn chép đầy đủ trong sử nhà Tống”. (Lê Quý Đôn - Quần thư khảo biện).

Trong tấm lòng yêu nước của vua tôi nhà Lý nổi bật tinh thần giữ từng thước đất của Tổ Quốc. Bằng quân sự ta đã giữ đất nước sạch bóng quân thù. Bằng ngoại giao ta đã thu hồi hết các đất bị quân Quách Quì chiếm đóng. Đối với hai châu Vật Dương, Vật Ác, vua Lý đã sáu lần đòi lại đều bị khước từ.

Khi sắp băng, vua Lý Nhân Tông hài lòng nhận thấy “bốn biển yên lành, biên thuỳ ít biến” là đương nhiên. Một nhà ngoại giao Mỹ đã nhận xét đường biên giới Việt - Trung đã cơ bản hình thành từ một nghìn năm trước, tức là từ đời Lý.

Lý Thường Kiệt chống Tống bằng một cuộc chiến tranh toàn diện quân sự, ngoại giao, chính trị, kể cả địch vận. Thiên tài của ông là đã táo bạo phá kế hoạch chuẩn bị chiến tranh của Tống ngay trên đất Tống, ghìm chân quân Tống trên phòng tuyến Như Nguyệt để “dùng biện sĩ bàn hoà” với tướng Tống Quách Quì khiến y biết ta sẽ thương lượng rồi mà vẫn phải bí mật rút quân về nước, không đợi lệnh vua.

Chính Lý Thường Kiệt đã lần đầu tiên trong lịch sử nước ta đưa ra kiểu “vừa đánh vừa đàm” để kết thúc chiến tranh bằng thương lượng.  Đem quân đánh vào nội địa Tống là kiểu chiến tranh phòng ngừa (guerre préventive) mà các nước lớn thời cận đại thường hay dùng. Nhưng đối với nước Đại Việt, một nước nhỏ mới thoát khỏi nghìn năm Bắc thuộc, đánh như thế có thể có nhiều hậu quả nghiêm trọng, có thể bị lôi kéo vào một cuộc chiến tranh lâu dài với Tống, hoặc bị Chiêm Thành hay Chân Lạp lấn công ở phía Nam, thậm chí có thể có biến trong nội bộ Đại Việt.

Nhưng ở đây Lý Thường Kiệt nắm chắc được dân, lại biết rằng Tống đang bị Liêu, Hạ tấn công đến mức phải cắt 700 dặm đất cho họ, nộp cống cho họ, sau này bị Kim chiếm nửa nước, dân chúng phản đối “tân pháp” của tể tướng Vương An Thạch. Nếu ta đánh nhanh thắng nhanh thì Tống không thể trở tay kịp.

Yếu tố quyết định là hiểu ta hiểu địch. Như Tôn Tử đã nói: “Biết mình biết địch trăm trận không nguy, không biết địch chỉ biết mình thì cô thể thắng, có thể thua, không biết địch cũng không biết mình thì hễ đánh là thua” .
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #21 vào lúc: 21 Tháng Năm, 2009, 09:07:31 pm »

HÒA HOÃN VỚI MÔNG CỔ


Về địa lý, người Mông Cổ sống trên vùng thảo nguyên châu Á, phía Bắc đến hồ Bai Can, thượng lưu sông I-ê-ni-sê-i và sông Iéc-ti-sơ, phía Nam qua sa mạc Gô Bi đến gần Trường Thành. Họ là những bộ lạc chăn nuôi du mục. Tacta là tên một bộ lạc Mông Cổ nhưng thường được dùng để chỉ chung người Mông Cổ; Trung Quốc gọi là người Thái Đát.  Đời Trần ta theo Trung Quốc gọi người Mông Cổ là Thái Đát vì thế binh sĩ của ta mới khắc vào tay hai chữ Sát Thát (nghĩa là giết người Mông Cổ) . 

Dưới chế độ công xã nguyên thuỷ, các bãi chăn nuôi và đàn súc vật là tài sản của thị tộc Mông Cổ; Khi công xã nguyên thuỷ tan rã, các đàn súc vật trở thành tài sản của các gia đình cá thể trong khi các bãi chăn nuôi vẫn là tài sản của thị tộc. Nhưng dần dần các quý tộc chiếm đoạt các bãi chăn nuôi và đất đai, những người trực tiếp sản xuất lệ thuộc vào đất trở thành tầng lớp lệ thuộc. Giữa thế kỷ XII, thủ lĩnh các bộ lạc tranh cướp bãi chăn nuôi, đất săn bắn của nhau, đó cũng là quá trình hình thành quốc gia thống nhất Mông Cổ.

Từ năm 1204 đến 1205 , Tamôjin (Thiết Mộc Chân) đã chinh phục được hầu hết các bộ lạc. Năm 1206 đại hội quý tộc suy tôn ông làm Gengis khan nghĩa là hãn mạnh nhất (Gengis khan ta dịch là Thành Cát Tư Hãn). Sự kiện này đánh dấu sự ra đời của Nhà nước Mông Cổ.

Thành Cát Tư Hãn phong làm quý tộc những người có công giúp ông ta. Hành chính được tổ chức với đơn vị nhỏ nhất là thập hộ. Tổ chức này đồng thời cũng là tổ chức quân sự; con trai từ 15 tuổi phải tham gia quân đội.

Ngoài các đội quân của các quý tộc Thành Cát Tư Hãn còn tổ chức một đội quân tiên phong gồm 1000 dũng sĩ và một đội cận vệ trung thành với Thành Cát Tư Hãn. Cũng thành lập một cơ quan tư pháp và ban hành một bộ luật để bảo vệ nền thống trị của giai cấp quí tộc.

Sau khi thành lập Nhà nước Mông Cổ, Thành Cát Tư Hãn tiến hành những cuộc chinh phục các nước ở châu á, châu âu. Năm 1209 Mông Cổ đánh Tây Hạ, Tây Hạ phải xin hoà.

Từ 1211 đến 1214, Mông Cổ đánh nước Kim (Bắc Trung Quốc). Ngay trong trận đầu Mông Cổ đã đánh tan 30 vạn quân Kim rồi tiến sâu vào nội địa Kim, giết sạch, cướp sạch, đốt sạch. Năm 1214 vây Trung Đô (Bắc Kinh), Kim phải xin hoà và gả công chúa cho Thành Cát Tư Hãn. Vua Kim dời đô xuống Biện Lương (Khai Phong), Thành Cát Tư Hãn lại tấn công Kim một lần nữa, chiếm được Trung Đô, thiêu huỷ thành phố này rồi để lại một viên tướng để chiếm đóng đất đai.

Về phía Tây, Thành Cát Tơ Hãn năm 1218 cho quân chiếm nước Tây Liêu. Sau khi chiếm được Tây Liêu, Mông Cổ giáp liền với Khơ-resmơ (Khom). Khorezm là một đế quốc rộng lớn và giàu có. Năm 1219, Thành Cát Tư Hãn đem 20 vạn quân đánh Khorezm, đốt trụi thành Bu-ha-ra, rồi chiếm lĩnh thành Sa-mac-can, như vậy đã chiếm phần lớn đất đai của Khorezm. Vùng Hô-ra-xan, mảnh đất cuối cùng của Khorezm, cũng bị  mất nốt, và Khorezm diệt vong.

Năm 1221 quân Mông Cổ tràn vào Azecbaidan, xâm nhập Grudia rồi vượt núi Cápca tiến lên phía Bắc, chiếm thành Crưm và Thành phố Su-tắc, đánh bại 8 vạn liên quân Nga.

Năm 1226 Thành Cát Tư Hãn lại tấn công Tây Hạ, vua Tây Hạ xin hàng. Ngày 25 tháng 8 năm 1227 Thành Cát Tư Hãn chết.

Trong vòng mấy chục năm, Thành Cát Tư Hãn đã dựng nên một đế quốc rộng lớn: Bắc đến hồ Bai can, Nam đến Hoàng Hà, Đông đến sông Tùng Hoa, Tây đến biển Caspien. Đất đai gồm Nam Xi-bia, Bắc Trung Quốc, Trung á và một phần ngoại Capca.

Khi còn sống Thành Cát Tơ Hãn đã chia đế quốc cho 4 con trai :

- Con trưởng Jô-si được vùng từ sông Lếctisơ về phía Tây.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #22 vào lúc: 21 Tháng Năm, 2009, 09:08:18 pm »

- Con thứ hai Sagatai được vùng đất cũ của Liêu (Tân Cương và một phần Trung Á ngày nay).

- Con thứ ba Ogođay được miền Tây Mông Cổ. 

- Con út Tôlui được kế thừa đất của cha là từ lưu vực sông Ônôn về phía Đông.

Năm 1229 Ôgođay được bầu là Đại Hãn.

Dưới thời Ôgôday, Mông Cổ tiếp tục các cuộc chiến tranh chinh phục.

Năm 1230 lại đem quân đánh nước Kim. Liên minh Tống-Mông bao vây quân Kim, vua Kim tự tử, nước Kim diệt vong.

Năm 1231 - 1232, Mông Cổ hai lần xâm lược Cao Ly .

Năm 1236, 15 vạn quân Mông Cổ kéo sang phía Tây, chiếm các công quốc Nga, chiếm và tàn phá thành Kiev. Sau đó một cánh quân Mông Cổ tiến đánh Ba Lan rồi về Môravi họp với cánh quân ở Hunggari. Cánh quân này đã chiếm được Hunggari, làm chấn động châu Âu .

Năm 1242 Ba-tu rút về vùng sông Vonga, lập hãn Quốc Kim trướng.  Năm 1251 ôgôđay chết, năm 1251 Mông ca (con Tolui) làm đại hãn.

Năm 1253 Mông ca cử em là Hulagu tấn công vùng Tây Á. Năm 1265 chiếm được Bagdad, định đánh sang Xy ri, Ai Cập nhưng phải dừng lại. Hốt Tất Liệt (Koubilai) diệt nước Đại Lý năm 1253, lên ngôi Hoàng đế năm 1271, diệt Nam Tống năm 1276.

Như vậy đế quốc Mông Cổ từ nay rộng từ Thái Bình Dương đến Hắc Hải. Hốt Tất Liệt hai lần xâm lược Cao Ly, hai lần đánh Mông Cổ, ba lần đánh Đại Việt, một lần đánh Java.

Lược sử sự hình thành đế quốc Mông Cổ nhằm cho thấy Mông Cổ là đối tượng cực kỳ hung bạo, cực kỳ ngoan cường của triều Trần trong cuộc đấu tranh quân sự, ngoại giao để bảo vệ Tổ Quốc. 

Năm 1234, phối hợp với quân Nam Tống, Mông Cổ diệt nước Kim và không chịu trả vùng phía Nam sông Hoàng Hà cho Nam Tống lại tập trung quân bắt đầu tấn công Nam Tống. Băng qua đồng cỏ Thanh Hải, chiếm lấy Thổ Phồn (Tuyếc) và Đại Lý, tạo thành hình thế bao vây Nam Tống.

Khi tiến vào Hồ Nam và Tứ Xuyên, quân dân Nam Tống chống cự rất quyết liệt. Mông Ca bị tử trận. Quân Mông Cổ đánh thành Tương Dương, cửa lớn vào trung du, Trường Giang, mất năm năm mới hạ được thành.  Do cái chết của Mông Ca, Hốt Tất Liệt phải tạm ngừng cuộc chinh phục Nam Tống để kéo quân về phía Bắc tranh ngôi hãn. Trong cuộc huynh đệ tương tàn, Hốt Tất Liệt thắng, năm 1271 đổi xưng là Hoàng đế, tên nước là Nguyên.

Năm 1274, khi tình hình đã ổn định, Hốt Tất Liệt lại đem đại quân đánh Tống. Năm 1276 triều đình Nam Tống đầu hàng. Năm 1279 quân Nguyên đánh chiếm Quảng Đông, tiêu diệt đạo quân cuối cùng của Nam Tống, thống nhất Trung Quốc.

Trong kế hoạch đánh Tống, dự tính chiếm Đại Việt để từ đó đánh tập hậu Nam Tống từ phía Nam, ví thể sau khi chiếm được Đại Ly, Ngột Lương Hợp Thai (Uryangkhadai) được lệnh đánh thẳng vào Đại Việt để từ đó đánh vào Ung Châu, Quế Lâm (Quảng Tây) rồi tiến lên gặp cánh quân Châu Ngạc (Vũ Xương).

Ngột Lương Hợp Thai dẫn 3 vạn quân tiến theo sông Hồng. Quân ta chặn quân địch ở Bình Lệ Nguyên sau rút về Phù Lỗ lập phòng tuyến ở bờ Nam sông Cà Lồ, sau đó rút về Thăng Long. Trước thế của quân địch vua Trần Thái Tông ra lệnh rút triều đình về vùng Thiên Mạc (Khoái Châu) quân dân rút khỏi thành Thăng Long.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #23 vào lúc: 21 Tháng Năm, 2009, 09:12:06 pm »

Thái sư Trần Thủ Độ khẳng định với vua: “Đầu tôi chưa rơi xuống đất xin bệ hạ đừng lo” . Quân địch vào được thành Thăng Long không có người, không có lương thực.  Ngày 29 tháng 1 năm 1258, quân ta do vua Trần Thái Tông tổng chỉ huy tấn công mãnh liệt vào quân giặc ở Đông Bộ Đầu (bến sông Hồng phía trên cầu Long Biên), buộc địch phải rút khỏi Thăng Long sau 9 ngày chiếm giữ.

Trên đường rút lui, quân địch lại bị lực lượng địa phương do Hà Bổng chặn đánh, chúng bị tổn thất nặng nề; số quân sống sót chỉ khoảng 5.000 tên. Cuộc xâm lược lần thứ nhất của Mông Cổ đã thất bại thảm hại (1258).  Vua tôi nhà Trần thắng cuộc xâm lược thứ nhất của quân Mông Cổ nhưng thế của Mông Cổ là thế của một đế quốc đã chinh phục hàng trăm nước, có một đội quân có thể nói là bách chiến bách thắng, nhưng khi đó Mông Cổ chưa chinh phục được Nam Tống, cũng chưa đổi quốc hiệu là Nguyên, do đó chưa dám tỏ thái độ quyết liệt với Đại Việt.

Vua Trần không chịu khuất phục, Mông Cổ còn tiếp tục cử sứ sang Nam Tống. Nuốt hận trong lòng, Ngột Lương Hợp Thai hai lần cử sứ sang dụ vua Trần Thái Tông nhưng vua đã trói hai sứ đuổi về. Nhưng sau cuộc xâm lược lần thứ nhất, vua Trần biết tình thế là phải sẵn sàng đương đầu với nhà Nguyên do đó phải kéo dài hoà hoãn càng lâu càng tốt để chuẩn bị tinh thần, vật chất và lực lượng để đánh thắng cuộc đọ sức sắp tới.

Ngay sau khi đánh đuổi được Ngột Lương Hợp Thai, vua Trần Thái Tông cử ngay một sứ bộ do tướng Lê Phụ Trần làm chánh sứ, Chu Bắc Lãm phó sứ với nhiệm vụ chủ yếu là hoà giải với Mông Cổ. Khi đó, Mông Cổ chưa diệt được nhà Tống, hãn Mông Cổ còn phải đóng quân tại Thiểm Tây, ở phía Tây Trung Quốc.

Sứ bộ phải lên Thiểm Tây gặp Mông Ca. Hai bên thoả thuận giữ quan hệ bình thường. Đại Việt chịu xưng thần, hai năm cống một lần, Mông Cổ đồng ý quan hệ cứ theo lệ cũ, các tướng biên giới của Mông Cổ không được xâm phạm biên giới của Đại Việt.

Năm 1261, Hốt Tất Liệt sai Lê bộ Lang Trung Mạnh Giáp sung chức An Nam tuyên dụ sứ, Lễ bộ Viên Ngoại lang Lý Văn Tuấn làm phó sứ giả: “Tuyên dụ quan lại, sĩ thứ nước khanh, phàm y quan, điển lệ và phong tục, việc gì cũng theo cựu lệ bản quốc, không nên thay đổi; huống chi gan dày nước Cao Ly sai sứ thần qua, ta đã ban lời chiếu chỉ, đều y như vậy. Trừ ra các biên tướng tại các xứ Vân Nam cấm không được tiện quyền dấy binh, lấn cướp bờ cõi, làm rối loạn nhân dân” 1. 

Như vậy Mông Cổ công nhận Đại Việt là một nước và cam kết tôn trọng biên giới lãnh thổ của nước ta. Vua Trần sai Thông Thị đại phu Trần Phụng Công, Chủ vệ kỳ bộ Nguyễn Thâm, Viên ngoại lang Nguyễn Diễn mang thư sang Nguyên để thông hiếu.  Nhà Nguyên phong vua Trần làm An Nam quốc vương.

Năm 1267, vua Nguyên lại gửi chiếu cho vua Trần: ‘Phàm những nước đã quy phục với Trung Quốc thì vua phải thân hành đến chầu, cho con em ở tại Trung Quốc làm tin, biên nạp dân số, cung ứng quân dịch, nạp thuế khoá, còn đặt quan đại-lỗ-hoa xích (darugatri) cai trị . . . . Khanh lo làm tròn mấy khoản đó thì trẫm còn nói gì nữa, nếu chưa làm được trẫm cũng không trách, khanh cứ lo làm tròn bổn phận”.

Năm 1275, vua Nguyên lại cử sứ thần Hợp Sát Nhi Hãi Nha (Khasakhaya) sang dụ vua Trần thực hiện sáu điều: “ . Sáu điều nói trên, năm trước đã có lời dụ cho khanh biết rồi, thế mà quy phục đã hơn 15 năm, khanh chưa từng tới thiên triều một lần nào và các điều quy định đến nay vẫn chưa thi hành” 2. 

Được tin Nguyên tích cực thăm dò đường biên giới , năm 1275, vua Trần Thánh Tông cử Lê Khắc Phục và Lê Tuý Kim sang cống đồng thời lại yêu cầu miễn sáu điểm.

Từ 1258 đến 1285, còn một số vấn đề khác như đòi lái buôn Hồi Hột, hỏi cột đồng Mã Viện, nhưng chủ yếu quan hệ giữa hai nước là vấn đề sáu điểm, Đại Việt không chịu, Nguyên cố đòi.


_________________________
1. Trích chiếu văn của Nguyên Thế Tổ Hốt Tất Liệt gửi vua Trần Thái Tông (Lê Tắc, An Nam chí lược, Bản dịch của Viện Đại học Huế-1961.
2. Lời chiếu của Hốt Tất Liệt - Lê Tắc - An Nam Chí lược, Sđd.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #24 vào lúc: 21 Tháng Năm, 2009, 09:15:29 pm »

Về việc vua Trần sang chầu triều đình Nguyên.

Trong lịch sử nước ta đến thời Trần và cho đến sau này, không hề có một vị vua nào sang chầu vua Trung Quốc. Đời Trần là một đời thịnh trị và ít nhất cũng đã đánh bại cuộc xâm lược đầu tiên của quân Mông Cổ.

Khi Mông Cổ chưa diệt được Nam Tống, Mông Cổ đã hai ba lần cử Nur ud Din sang dụ vua Trần Thái Tông sang chầu, vua Trần Thái Tông kiên quyết nhưng khéo léo khước từ. Khi Mông Cổ đã diệt Nam Tống, kiểm soát toàn bộ Trung Quốc, nhà Nguyên càng trở nên gay gắt về vấn đề sáu yêu cầu; Các vua Trần đưa đủ các lý lẽ để từ chối không sang chầu: sức khoẻ, tuổi tác, có tang...

Trong tờ chiếu gửi vua Trần, Hốt Tất Liệt đã phàn nàn từ hơn mười lăm năm vua Trần có cống nhưng không một lần nào tới triều kiến Hoàng đế Nguyên. Thậm chí ông quay ra cài lý vời vua Trần: “Lại nói: có kẻ thù là nước Chiêm Thành quấy rối nên không thể trợ binh.  Vả khanh cùng nước Chiêm Thành là bạn láng giềng đã lâu, không phải mới từ ngày nay. Còn như nói: vì đường xa không thể vào chầu 1. Thế thì bọn Lê Khắc Phục làm sao mà tới được?”

Năm 1281, khi tình hình quan hệ hết sức căng thẳng và để kéo dài thêm thời gian chuẩn bị kháng chiến, vua Trần Nhân Tông cho chú họ là Trần Di Ái thay vua sang Nguyên cùng với Lê Tuấn, Lê Mục đi theo sứ Nguyên là Sài Thung. Hốt Tất Liệt tất nhiên không hài lòng và lại tính một âm mưu mới:

“Ta sai sứ qua triệu thì mượn cớ không đến chầu, nay lại thác ốm không đi, thật có ý trái mệnh lệnh của ta, chỉ cho thúc phụ là Trần Di Ái vào bái yết. Ta liền muốn đem quân qua đánh. Nhưng vì khanh đã chịu làm tôi và cống hiến từ lâu, nên không muốn giết oan tính mạng nhân dân để dạy,  bảo một người vô tội như khanh. Khanh đã xưng bệnh không chầu thì cho khanh nghỉ mà thuốc thang điều dưỡng, nên ta đã lập thúc phụ khanh Trần Di Ái thay khanh làm An Nam quốc vương để cai trị dân khanh” 2.

Hốt Tất Liệt sắp xếp bộ máy cai trị: Lê Mục làm hàn lâm học sĩ, Lê Tuấn làm thượng thư: về phía Mông Cổ thì đặt An Nam tuyên uý ty, Buyan Tê mua làm An Nam tuyên uý sứ đô nguyên soái, Sài Thung và Khu Giẻ làm phó, cho một nghìn quân hộ tống Trần Di Ái về Đại Việt. Nhưng quân Trần đã đánh tan số quân này, Trần Di Ái sợ chạy trốn về nước. Vua Trần cho đón bọn Sài Thung về Thăng Long.  Ý đồ của Hốt Tất Liệt là gạt bỏ vua Trần, dựng một ông vua bù nhìn để thực hiện chính sách đô hộ của nhà Nguyên.

Cho đến khi chết, Hốt Tất Liệt không được một vua nào của nhà Trần sang triều yết và cũng không có con em nào của vua Trần sang Trung Quốc làm con tin.

Về việc kê khai dân số, quân dịch.

Theo tục lệ của Trung Quốc, các chư hầu đền phải khai số dân, nộp bản đồ. Chính Hốt Tất Liệt đã giải thích ý nghĩa việc kê khai dân số, quân dịch:

 “ Như dân số trong nước chưa có ngạch tịch nhất định, thì thuế khoá và quân dịch, châm chước làm sao cho được? Nếu dân của khanh số ít mà bắt lính quá nhiều, sức e không đủ, nếu nay biên số dân của khanh là muốn tuỳ theo nhiều hay ít, để định số lính và số thuế; số quân mà ta sẽ phái đi cũng không cho đóng tại nơi xa khác, chỉ cho theo lính thú Vân Nam để trợ lực với nhau mà thôi” 3.

Vấn đề không phải là kê khai dân số, quân dịch nhiều hay ít mà là một nước có chủ quyền có phải kê khai dân số hay không kê khai. Hốt Tất Liệt giải thích cách gì vẫn là buộc Đại Việt phải nộp người Việt Nam đi theo lính thú của Mông Cổ ở Vân Nam. 

Ngay từ cuộc gặp Mông Ca, tại Thiểm Tây, sứ thần của ta đã nhận ba năm cống một lần và ta vẫn giữ lời cam kết đó, ngoài ra ta không hề nhận kê khai dân số, quân dịch. Ngay trong vấn đề cống, ta không phải nộp bất cứ cái gì vua Nguyên đòi, thí dụ ta đã khước từ cung cấp thợ giỏi, thày thuốc v.v... 


__________________________
1. Trích lời chiếu của Hốt Tất Liệt gửi vua Trần năm 1278 - Lê Tắc - An Năm chi lược, Sđd.
2. Trích lời chiếu năm 1281 của Hốt Tất Liệt gửi Trần Nhân Tông - Lê Tắc An Nam chí lược, Sđd.
3. Lời chiếu của Hốt Tất Liệt năm 1275 - Lê Tắc - An Nam chí lược Sđd. 
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #25 vào lúc: 21 Tháng Năm, 2009, 09:17:35 pm »

Năm 1283 nhà Nguyên còn sai Triệu Chữ sang đòi ta cung cấp binh lương và cho mượn đường để quân Nguyên đi đánh Chiêm Thành. Đây là một âm mưu thâm độc: nếu ta đồng ý ngay nước ta đã bị xâm lược trước khi Chiêm Thành bị xâm lược, nghĩa là mượn cớ đánh Chiêm Thành để chiếm cả Đại Việt và Chiêm Thành, nếu khước từ thì là thêm một cớ để Nguyên đánh ta.

Không những ta đã không nhận cung cấp binh lương cho quân Nguyên mà còn giúp Chiêm Thành thuyền để chống Nguyên. Sự khước từ của nhà Trần, một hành động khôn ngoan và dũng cảm, buộc đội quân viễn chinh của Hốt Tất Liệt xưa nay quen rong ruổi trên những vùng đất mênh mông phải theo đường biển chiếm đánh Chiêm Thành. 

Về vấn đề khai dân số, quân dịch vua Trần đã tỏ nước Đại Việt là một quốc gia có chủ quyền, có trách nhiệm với hoà bình và an ninh trong khu vực. 

Về việc đặt quan đạt-lỗ-hoa-xích (Darugatri).
 
Mỗi khi Mông Cổ chiếm được nước nào họ đều đặt tại đó một quan chức gọi là darugatri (ta phiên âm theo Trung Quốc là Đạt lỗ hoa xích) để giám sát công việc tại đó; Năm 1231, khi vua Cao Ly xin giảng hoà với Mông Cổ đã phải chịu cống nhiều lễ vật và để Mông Cổ đặt tới 72 darugatri để giám sát công việc của Cao Ly.

Đại Việt thông hiếu với nhà Nguyên, nhận nộp cống ba năm một lần, nhưng không phải là nước đã bị Mông Cổ chiếm đóng. Tuy vậy tháng 10 năm 1262 Hốt Tất Liệt gửi chiếu cho vua Trần nêu rõ các cống vật là gì đồng thời nói rõ:

“Ta vẫn cử Nur ud Din làm darugatri đeo hổ phù đi lại trong nước An Nam” . Ý của Hốt Tất Liệt là biến Đại Việt thành một thuộc quốc của đế quốc Mông Cổ. Vua Trần giảm bớt số phương vật cống, khước từ cống nho sĩ, thày thuốc, người giỏi âm dương bói toán, các loại thợ, nhưng cũng phải tạm nhận Nur ud Din làm darugatri vì y đã cùng đến với sứ bộ Mông Cổ.

Trong quan niệm của ta, ta coi Darugatri cũng chỉ là một sứ thần. Tuy nhận đấy, ta tìm mọi cách cản trở công việc của y, tìm cách mua chuộc y, thực tế là vô hiệu hoá y. Trong chiếu gửi vua Trần năm 1267, Hốt Tất Liệt đã phải phàn nàn ra mặt:

“Mỗi lúc tâu lên, khanh thường có lời nói thân mật như trong một nhà. Nay nghe Nur ud Din ở bên ấy, có nhiều sự thường bị chống bằng cấm đoán, không cho được hội đàm, quả như thế thì có phải lễ nghĩa thân mật trong một nhà đâu. Nghĩa vua tôi cũng như tình phụ tử, có lẽ gì mà tôi phản vua, con mà phản lại cha sao? Nếu trẫm không nói ra, thì đãi khanh không có sự thành thật, khanh nên nghĩ lại cho chín chắn để tròn sự giao hảo trước sau như một” 1.

Tháng 12 năm 1263, Nur ud Din về nước. Tháng 3 năm 1267 ta cử sứ sang Trung Quốc xin cho y được làm darugatri dài hạn. Vua Mông Cổ lúc đầu đồng ý với đề nghị để Nur ud Din làm nhiệm vụ dài hạn nhưng sau lại đổi ý kiến và cử một viên quan Mông Cổ khác thay Nur ud Din. Không nói ra, ta cũng có thể hiểu ý tứ của hai bên trong việc này.

Về việc chống thái độ hống hách của các sứ thần Mông Cổ.

Quan hệ giữa hai nước ngày càng căng thẳng, nhưng việc trao đổi sứ thần cũng tăng theo. Sứ thần Mông Cổ và nhà Nguyên càng ngày càng hống hách, nhất là sau khi Mông Cổ đã diệt được nhà Nam Tống, ..làm chủ toàn bộ lãnh thổ Trung Quốc. Ta tiếp họ theo đúng lễ tân, trọng thị họ là đại diện quốc gia nhưng không thể dung thứ những thái độ khinh miệt ta.

Năm 1278, vua Trần Thánh Tông nhường ngôi cho con là thái tử Khâm (tức Trần Nhân Tông), vua Nguyên cho là không “xin mệnh” bèn cử Lễ bộ thượng thư Sài Thung đi cùng ba vị đại thần khác sang trách hỏi. Họ không đi theo con đường cũ qua Thiện Xiên (tức Côn Minh) mà đi thẳng từ Giang Lăng sang Ung Châu rồi vào Việt Nam.

Vua Trần kiên quyết phản đối và đòi họ đi theo đường cũ, nhưng họ không chịu. Triều đình phải nhân nhượng. Vua sai thái uý Trần Quang Khải tiếp, coi y ngang chức thừa tướng, không đón tiếp là “vương nhân”.


____________________
1. Trích Chiếu của Hốt Tất Liệt gửi vua Trần Thái Tông - Lê Tắc - An Nam chí lược, Sđd.
« Sửa lần cuối: 21 Tháng Năm, 2009, 09:20:51 pm gửi bởi UyenNhi05 » Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #26 vào lúc: 21 Tháng Năm, 2009, 09:19:37 pm »

Vua lại sai bầy tiệc tại hành lang, Sài Thung không chịu đến dự, ta phải đặt tiệc ở điện Tập Hiền. Vua Trần vẫn khước từ sang chầu, cũng không cử ai sang làm con tin cả. Sài Thung bực mình bỏ ra về. Năm 1281 y lại đi cùng bọn phản quốc Trần Di Ái về Đại Việt nhưng kế hoạch dựng Trần Di Ái làm vua bù nhìn đã bị thất bại thảm hại. Trong không khí căng thẳng đó thái uý vẫn làm thơ tiễn Sài Thung:

Vị thẩm hà thời trùng đổ diện 
An cần ác thủ tự thê lương.


Dịch:

Không biết đến bao giờ lại được gặp mặt ân cần nắm tay nhau kể chuyện hàn huyên.

Lần sứ thần Trương Đỉnh Trân mang chiếu thư phong vương cho vua Trần Thái Tông, khi nhận chiếu vua Trần chỉ đứng chắp tay mà không lạy với lý do là ngã ngựa đau chân. Tiếp Trương cũng chỉ theo lẽ đại thần, không phải là tiếp “vương nhân”.  Vua Trần giải thích rằng chính thiên tử đã nói mọi điển lễ “giữ y cựu lệ”.

Quan hệ Đại Việt - Đại Nguyên căng thẳng cao độ Tháng 4 năm 1279 các cận thần xin Hốt Tất Liệt đem quân đánh Đại Việt, nhưng Hốt Tất Liệt còn mưu tính nước bài Trần Di Ái. Nhưng các chuyến công cán của Sài Thung liên tiếp bị thất bại… Nguyên càng tích cực chuẩn bị cuộc xâm lược Đại Việt lần thứ hai.

Đại Việt cũng biết là không thể kéo dài hơn thời kỳ hoà hoãn nên cũng ráo riết chuẩn bị cuộc kháng chiến chống cuộc xâm lược thứ hai của nhà Nguyên. Ngay trong tình hình hoà bình như ngàn cần treo sợi tóc vua Trần vẫn tiếp tục tìm kế hoãn binh.

Tháng 7 năm 1284 cử Trung đại phu Trần Khiêm Phú sang hành tỉnh Kinh Bố xin hoãn binh. Cũng trong tháng 8, vua Trần sai Trung Đại phu Nguyễn Đạo Học đem phương vật sang cống nhà Nguyên. Thoát Hoan, con trai Hốt Tất Liệt, sai sứ đi cùng Nguyễn Đạo Học sang Đại Việt đưa thư yêu cầu vua Trần lên đón Thoát Hoan đang trên đường đi đánh Chiêm Thành.

Khi đó quân Nguyên đã xuất phát. Trần Thánh Tông vẫn sai sứ Nguyễn Đức Dư, Nguyễn Văn Hàn sang gặp Thoát Hoan. Nhà Nguyên giữ Nguyễn Văn Hàn lại và cử một tướng đi cùng Nguyễn Đức Dư mang thư gửi vua Trần với lời lừa bịp: “Sở dĩ dấy quân là vì Chiêm Thành, không vì An Nam” .

Tất cả các cố gắng của vua Trần để hoãn binh đều thất bại. Ngày 27 tháng 1 năm 1285 nhà Nguyên cho quân tiến vào Đại Việt. Thời kỳ hoà hoãn Nguyên - Trần đến đây chấm dứt.

Một phần tư thế kỷ hoà hoãn giữa nước Đại Việt nhỏ xíu và đế quốc Mông Cổ mênh mông, từ Âu sang Á, giữa các vua Trần và Hốt Tất Liệt, cháu của Thành Cát Tư Hãn, là điều phi thường.

Hốt Tất Liệt không những thừa kế đế quốc của Thành Cát Tư Hãn mà còn sáp nhập thêm toàn bộ nước Trung Hoa cũng rộng mênh mông. Ông còn là người thừa kế của Thành Cát Tư Hãn mà nguyện vọng trọn đời là: “thiết lập khắp nơi sự tĩnh lặng của một nghĩa trang, huỷ bỏ tất cả các đô thị trong vũ trụ, để khắp nơi trải dài những cánh thảo nguyên vô tận, nơi ngựa tới ăn cỏ, nơi người Mông Cổ đến dựng những lều êm ả, nơi các phụ nữ Mông Cổ cho những đứa con khoẻ và vui vẻ những bầu sữa căng lồng ngựa” 1.

Trung thành với tư tưởng của ông nội, Hốt Tất Liệt tiếp tục các cuộc chiến tranh xâm lược hòng làm chúa tể thế giới, chém giết không ghê tay, tiêu diệt kẻ nào chống lại trật tự Mông Cổ.  Mặc dầu vậy trong suốt 25 năm; Hốt Tất Liệt được các vua Trần xưng thần, ba năm cống một lần nhưng không bắt được các vua Trần thực hiện sáu điều yêu cầu không bắt được các vua Trần vào chầu, không mượn được đất Đại Việt để đi đánh Chiêm Thành, bực mình gọi vua Trần là “kẻ vô tri”, đưa một người trong hoàng tộc Trần lên làm vua bù nhìn không xong để cuối cùng phải hai lần xuất quân đánh Đại Việt nhưng cũng vẫn bị thất bại. 

Một nguyên nhân đánh thắng hai cuộc xâm lược của nhà Nguyên là biết kéo dài hoà hoãn được 25 năm để chuẩn bị tinh thần cho nhân dân Đại Việt, chuẩn bị binh mã, lương thực, tàu thuyền cho cuộc đọ sức. Trong hai mươi nhăm năm đó quan hệ giữa hai nước ngày càng xấu đi nhưng vẫn chưa phải là chiến tranh. Thế mời biết một nền hoà bình tồi còn hơn chiến tranh.


_________________________
1. Vassili Yam - Gellfis-khan - NXB Matxcơva 1967.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #27 vào lúc: 22 Tháng Năm, 2009, 09:11:35 pm »

VI

ĐÁNH THẮNG CUỘC XÂM LƯỢC THỨ HAI VÀ THỨ BA CỦA NHÀ NGUYÊN


Đánh thắng cuộc xâm lược thứ hai của nhà Nguyên.

Cuộc hoà hoãn hai mươi nhăm năm, đúng ra là cuộc hoãn binh, giữa Đại Việt và Nguyên Mông cũng là thời gian cả hai bên tích cực chuẩn bị cuộc dụng đầu sắp tới.

Đối với Đại Việt một ngày đẩy lùi thêm chiến tranh là một ngày hoàn thiện việc chuẩn bị kháng chiến, một ngày củng cố thêm lực lượng về mọi mặt. Vấn đề ưu tiên là chỉnh đốn binh mã, chuẩn bị kế hoạch, bố trí lực lượng.

Vào thời Lý, Trần, Đại Việt là một nước nhỏ, dân số không đông. Quân của Nhà nước gồm có quân triều đình, và quân các địa phương. Ngoài ra còn có lực lượng dân binh, lực lượng dân chúng vũ trang.

Trong Lịch Triều hiến chương loại chí, Phan Huy Chú cho rằng. “Số quân buổi đầu mỗi loại quân là 12.400 người. Các quân cấm vệ và các lộ đại ước không đầy 10 vạn” 1.

So với 50 vạn quân Nguyên Mông thì lực lượng của ta quá yếu. Do đó vấn đề tinh thần của quân đội và trình độ tác chiến của họ là vấn đề quyết định.

Vua Trần đã giải quyết vấn đề quân số bằng chủ trương tiếp tục chính sách “ngụ binh ư nông” của nhà Lý; nghĩa là đặt tất cả trai tráng trong quân ngũ (quân thường trực hoặc quân dự bị) và quân lính chia phiên về sản xuất.

Trần Quốc Tuấn có bài hịch gửi tướng sĩ đồng thời soạn cho họ quyển “Binh thư yếu lược ‘ Bài hịch, với nội dung sâu sắc và lời văn thống thiết, kêu gọi lòng yêu nước của tướng sĩ, cổ vũ tinh thần quyết chiến quyết thắng của họ. Tác động của bài hịch là binh sĩ tự ý thích vào tay hai chữ “Sát Thái” (giết giặc Mông Cổ).

Cuốn “Binh thư yếu lược” là phổ cập những kiến thức về đường lối kháng chiến, chiến lược, chiến thuật nhằm nâng cao trình độ và hiệu quả chiến đấu của tướng sĩ. 

Tháng 12 năm 1282, sau khi được tin báo quân Nguyên đòi mượn đường đánh Chiêm Thành, vua Trần triệu tập hội nghị vương hầu bách quan ở Bình Than (chỗ hợp lưu của hai sông Thái Bình và sông Kinh Thầy) nhằm mục đích “bàn kế đánh phòng” và “chia quân giữ nơi hiểm yếu”. Sử nói vắn tắt thế thôi, nhưng ta cũng có thể hiểu đây là một cuộc họp rất quan trọng để bàn kế hoạch chống cuộc xâm lược thứ hai của quân Nguyên.

Đầu năm 1285, Thượng hoàng Thánh Tông triệu tập phụ lão trong cả nước về Thăng Long dự tiệc ở điện Diên Hồng để hỏi kế đánh giặc. Trả lời câu hỏi của Thượng hoàng là nên đánh hay không nên đánh, các cụ đồng thanh hô: “Đánh!” .

Có thể khẳng định rằng việc chuẩn bị kháng chiến về các mặt quân sự, chính trị, tinh thần thế là rất tốt .

Về phía Mông Cổ trong 25 năm hoà hoãn , họ phải mất hơn mười năm lo diệt Nam Tống, tuy vậy việc chuẩn bị đánh Đại Việt không kém phần khẩn trương; bản thân việc xâm lược Chiêm Thành thật ra cũng là một bộ phận đánh Đại Việt bằng hai gọng kìm.

Tháng 4 năm 1279, khu mật viện Nguyên xin Hốt Tất Liệt cho quân đi đánh Đại Việt. Nhưng y mới diệt xong Nam Tống, còn phải lo ổn định tình hình Trung Quốc nên còn tính ép thêm vua Trần về ngoại giao.

Y ra lệnh sứ Đại Việt là Trịnh Đình Toán rồi sai Sài Thung và binh bộ thượng thư Lương Tằng sang Đại Việt truyền đạt lệnh của Hốt Tất Liệt: “Nếu quả thật không tự vào ra mắt được thì lấy vàng thay thân, hai hạt châu thay mắt, thêm vào đó lấy hiền sĩ, phương kỷ, con trai, con gái, thợ thuyền, mỗi loại hai người để thay cho sĩ nhân. Nếu không thì hãy tự sửa thành trì mà đợi xét xử” .

Lời đe doạ không làm vua Trần nao núng, Hốt Tất Liệt bèn tính kế khác: cách chức vua Trần, phong Trần Di Ái làm An Nam quốc vương và cho 1.000 quân hộ tống về nước. Hốt Tất Liệt hy vọng phương án này tốt hơn là gây một cuộc chiến tranh mới. Nhưng đội quân hộ tống bị quân Trần đánh tan, Trần Di Ái trốn về nước, kế hoạch này thất bại.


________________________
1. Phan Huy Chú - Lịch triều hiến chương loại chí lập III NXB Khoa học Xã hội Hà Nội 1992.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #28 vào lúc: 22 Tháng Năm, 2009, 09:12:31 pm »

Năm 1283, Hốt Tất Liệt tính kế đánh Chiêm Thành trước rồi quay ra đánh Đại Việt. Nhưng đạo quân Toa Đô bị sa lầy ở Chiêm Thành phải rút. Hốt Tất Liệt đổi kế hoạch, tính đánh Đại Việt trước rồi đánh Chiêm Thành sau.  Từ 1279 Hốt Tất Liệt đã ra lệnh đóng chiến thuyền.  Binh lực chuẩn bị đánh Đại Việt rất lớn: riêng số quân từ biên giới phía Bắc cũng đã là 50 vạn, trong đó có 7 nghìn quân Hán, 8 nghìn quân Tân phụ (tức là quân Nam Trung Quốc). Số lương thực huy động cũng rất lớn.

Hốt Tất Liệt phong con trai Thoát Hoan làm Trấn Nam vương, tổng chỉ huy đạo quân viễn chinh này, với Aric Khuya làm phó tướng. Ngoài ra còn có nhiều tướng khác đã đánh thắng Nam Tống.  Để tạo thành hai gọng kìm tấn công lìa mặt của Đại Việt Thoát Hoan ra lệnh cho Toa Đô tiến ra Bắc, đánh vào mặt Nam của Đại Việt.

Toàn bộ quân Thoát Hoan tiến vào Đại Việt bằng ba mũi. Mũi thứ nhất, mũi chủ công do chính Thoát Hoan chỉ huy, từ Quảng Tây tiến xuống Thăng Long. Mũi thứ hai do Nasir ud Din chỉ huy tiến vào Đại Việt theo sông Chầy. Mũi thứ ba do Toa Đô chỉ huy từ Chiêm Thành đánh vào Nghệ An, Thanh Hoá rồi tiến ra Thăng Long.

Quân địch đông, thế chúng lại mạnh. Tuy có bị quân ta chặn đánh, hai cánh quân phía Đông và phía Tây của địch đã nhanh chóng đến được Lộc Bình, Sơn Động, Chi Lăng. Thoát Hoan đưa thư dụ Trần Quốc Tuấn ra đón Trấn Nam vương. Tất nhiên không có chuyện đó.

Quân Nguyên chia làm sáu mũi tiến đánh Nội Bàng (phía bắc Chủ, Bắc Giang).  Lúc đầu Trần Quốc Tuấn đưa quân ra quyết cản đường tiến của quân Thoát Hoan nhưng trước thế tiến ồ ạt của chúng, Trần Quốc Tuấn quyết định rút về Vạn Kiếp (nay thuộc huyện Chí Linh, Hải phòng).

Nghe tin quân ta không ngăn được giặc, vua Trần Thánh Tông tức tốc ra Hải Đông gặp Trần Quốc Tuấn để hỏi tình hình. Chính trong cuộc gặp này Trần Quốc Tuấn đã tâu với vua: “Trước hết chém đầu thần rồi hãy hàng giặc. Đầu thần còn, xã tắc vẫn còn” .

Đến gần Vạn Kiếp, Thoát Hoan thấy quân Đại Việt tập trung đông liền dừng lại và cho đóng chiến thuyền giao tướng Ô Mã Nhi (Omar) thống lĩnh, trên đường tiến quân, Ô Mã Nhi nhặt được thư của vua Trần gửi cho Thoát Hoan và phó tướng Aric khuya nói:

“Chiếu trước nói là “lệnh cho quân ta không vào nước người” thế mà nay lấy cớ nước Chiêm Thành đã thần phục lại phản, đem đại quân qua nước tôi, tàn hại trăm họ, đó là việc làm của thái tử sai lầm chứ không phải nước tôi sai lầm, xin đừng làm khác với chiếu trước, rút lui đại quân”…

Aric khuya giao cho Nguyễn Vân Hàn, sứ ta đã bị nhà Nguyên giữ, một bức thơ dụ dỗ vua Trần ra lệnh rút quân, mở đường, khuyên bảo trăm họ ai nấy cứ làm ăn sinh sống, quân ta đi qua không mảy may xâm phạm. Thế tử (tức vua Trần - TG) hãy ra đón Trấn Nam vương cùng bàn việc quân, nếu không đại quân sẽ dừng lại An Nam, mở phủ”.

Sau một trận ác chiến trên phòng tuyến sông Bình Than, ta giết được một viên tướng Mông Cổ và mặc dầu được vua Trần tiếp viện hơn một nghìn chiến thuyền, Trần Quốc Tuấn vẫn thấy ta chưa đủ sức cản bước tiến của quân Nguyên và quyết định rút khỏi Vạn Kiếp, Phả Lại, Bình Than và cho quân rút về Thăng Long theo đường sông Đống.

Thoát Hoan, Aric Khuya và Ô Mã Nhi tiến về Gia Lâm và Đông Bộ Đầu (Bến ngang phố Hàng Than, Hà Nội hiện nay) rồi dừng lại ở đó. Đích thân vua Trần chỉ huy trận này. Ngày 17 tháng 2 vua Trần cử Khắc Chung sang trại ô Mã Nhi đưa thư vờ cầu hoà để điều tra tình hình địch.

Ô Mã Nhi hỏi:

- Tại sao vua Trần đã sai lính khắc chữ “Sát Thái ‘ vào tay?

Đỗ Khắc Chung trả lời:

- Chó nhà cắn người không phải là chủ nó, vì lòng trung phẫn mà họ thích vào, quốc vương không biết việc đó.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #29 vào lúc: 22 Tháng Năm, 2009, 09:13:17 pm »

Lại hỏi :

- Đại quân từ xa đến, nước ngươi tại sao không quay đầu đến tương kiến, lại còn chống mệnh. Bọ ngựa dám chống xe, liệu sẽ thế nào?

Đáp:

- Hiền tướng không thi hành chính sách của Hàn Tín bình nước Yên, đóng quân ở đầu biên giới, trước hết đưa thư nếu không thông hiểu thì mới có lỗi. Nay lại bức bách nước tôi, người ta nói thú cùng thì chống lại, chim cùng thì mổ lại, huống chi là người .

Ô Mã Nhi nói:

- Đại quân mượn đường để đánh Chiêm Thành, quốc vương nên đến hội kiến thì trong nước vẫn được yên ổn, một chút gì cũng không phạm đến.  Nếu cứ mê muội thì chỉ trong chốc lát, núi sông sẽ thành đất bằng.

Đỗ Khắc Chung ngủ đêm trong trại Mông Cổ, sáng^hôm sau mới về. Sau khi Đỗ Khắc Chung đi rồi, Ô Mã Nhi nói:

- Người này ở vào thế bị uy hiếp mà lời lẽ tự nhiên, không hạ chủ là Chích, không nịnh ta là Nghiêu, chỉ nói: “Chó nhà cắn người”, giỏi ứng đối, có thể nói là không nhục mệnh vua. Nước này có những người như thế, chưa dễ chiếm được.

Ngày 18 tháng 2 năm 1285 , quân ta giao chiến với quân Mông Cổ trên bờ sông Hồng. Trận này nhằm bảo vệ vua và hoàng gia rút khỏi Thăng Long.  Quân Nguyên tiến vào một thành không người với mấy tờ chiếu của vua Nguyên bị xé rách. Thọát Hoan mở tiệc khao quân trong thành rồi rút sang đóng bên kia sông.

Trong khi vua Trần và Hưng Đạo Vương rút khỏi Thăng Long thì Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật đóng quân tại trại Thu Vật (huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái ngày nay). Sau khi giao chiến với quân Nguyên từ Vân Nam xuống, Trần Nhật Duật lui về bến Bạch Hạc (Việt Trì) rồi rút về nơi vua đóng quân.

Bấy giờ Thượng hoàng Thánh Tông và vua Nhân Tông cùng triều đình và đại quân đã theo sông Hồng hướng về phủ Thiên Trường. Thoát Hoan đợi cánh quân Toa Đô từ Chiêm Thành ra, đồng thời cho quân truy kích quân Trần, quân ta vừa rút vừa chiến đấu để ngăn cản bước tiến của quân Nguyên. 

Chính trong một trận đánh ở bãi Đa Mạc (tức bãi Mạn Trù ở Khoái Châu) , Bảo Nghĩa vương Trần Bình Trọng chiến đấu rất dũng cảm đã bị giặc bắt và đã trả lời sự dụ dỗ của giặc bằng câu nói nổi tiếng:

“Ta thà làm ma nước Nam chứ không thèm làm vương đất Bắc”.

Để chặn quân Nguyên ở Thanh Hoá, Nghệ An, vua Trần và Hưng Đạo vương đã bố trí một lực lượng lớn ở đây, nay lại cử thêm Chiêu văn vương Trần Nhật Quật, Chiêu Minh vương Trần Quang Khải. Nhưng quân địch từ Nam tiến ra đánh Nghệ An, quân ta không cản nổi.

Chúng tiến ra Thanh Hoá và do sự phản bội của một hoàng thân nhà Trần, chúng đã nhanh chóng chiếm được Thanh Hoá. Trước đó Hưng Đạo vương và Phạm Ngũ Lão đã đem hơn một nghìn chiến thuyền tiến lên đóng ở Vạn Kiếp với ý định tấn công vào phía bắc của quân Nguyên, phối hợp với quân ta từ Thiên Trường lên, đồng thời chặn đường rút của giặc.

Vua Trần cho quân từ Thiên Trường ngược sông Hồng, nhưng đến sông Đại Hoàng (khúc sông chảy qua huyện Lý Nhân, Hà Nam) gặp địch lại phải rút lui. Trong tình thế khó khăn, vua Trần sai Trần Dương gặp Thoát Hoan để cầu hoà, và gả công chúa An Tư con út của Thánh Tông cho Thoát Hoan nhưng Thoát Hoan bắt giam Trần Dương và cho đòi vua Trần thân đến gặp y nhưng vua Trần từ chối.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM