UyenNhi05
Cựu chiến binh

Bài viết: 2589
Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.
|
 |
« Trả lời #40 vào lúc: 24 Tháng Năm, 2009, 01:16:28 pm » |
|
Bài văn thề kết thúc: “Nếu cả hai bên đều do lòng thành cả thì Trời, Đất thần linh đều phù hộ cho để bản thân mình mạnh khoẻ, trong nhà mình vinh thịnh, cùng hưởng lộc vị đều được bình yên”. Tại hội thề đã ấn định hai điều: - Bọn Vương Thông được một thời gian khoảng hai mươi ngày để sửa soạn lên đường và tới ngày 29 tháng 12 năm 1427 ( tức 12 tháng 12 năm Đinh Mùi) sẽ chính thức rút quân về nước. - Các lãnh tụ nghĩa quân sẽ cho người sang triều đình nhà Minh dâng biếu cầu phong. Ngày 29 tháng 1 2 năm 1427 hơn mười vạn quân Minh bắt đầu lên đường về nước. Quân đi đường thuỷ do đô đốc Phương Chính, thái giám Mã Kỳ lệnh, quân bộ do đô đốc Mã Anh lĩnh, quan trấn đi theo do Chinh nam tướng quân Trần Tuấn chỉ huy. Mọi người đều đến dinh Bồ Đề, lạy tạ mà về. Phương Chính vừa cảm ơn vừa xấu hổ đến chảy nước mắt. Tổng binh Vương Thông đi sau, cùng Bình Định vương nói chuyện từ biệt suốt đêm. Vua sai đưa trầu rượu, cờ thêu, trướng vẽ, các lễ vật tiễn chân rất hậu. Vua Minh sai người phong Trần Cảo làm An Nam quốc vương, bãi quân nam chinh, trả lại đất An Nam. Theo lệnh Bình Định vương, Nguyễn Trãi công bố Bình Ngô đại cáo: “ Một khi mặc giáp nước yên ngay, sự nghiệp vẻ vang khôn sánh kịp Bốn biển thanh bình, dân hưởng mãi, lệnh truyền đổi mới sớm ban ra Bá cáo thiên hạ ai nấy tỏ tường”. NGOẠI GIAO CỦA LÊ LỢI – NGUYỄN TRÃI Phần này chỉ nói về ngoại giao của Lê Lợi - Nguyễn Trái trong kháng chiến chống Minh. Từ khi được gặp Lê Lợi tại Lỗi Giang, Nguyễn Trãi đã được Lê Lợi trọng dụng như một quân sư tâm đầu ý hợp. Như Lê Thánh Tông đã viết, ông đã được phân công “bên trong thì giúp việc trù hoạch mưu lược ở nơi màn trướng, bên ngoài thì thảo văn từ chiêu dụ các thành” (Lê Thánh Tông - Quỳnh uyển cửu ca). Đánh giá tài ngoại giao của Nguyễn Trãi, Lê Quý Đôn nói: “Viết văn thảo hịch tài giỏi hơn hết mọi thời đại”. Đánh giá “Quân trung từ mệnh tập”, Phan Huy Chú viết: “Quân trung từ mệnh tập có sức mạnh của mười vạn quân”. Nói ngoại giao Lê Lợi - Nguyễn Trãi là nói thực chất vấn đề. Thế Đại Việt đánh Trung Quốc là thế chống xâm lược của nước cực lớn. Tư tưởng chiến lược của ta là: “ Lâý đại nghĩa thắng hung tàn Lấy chí nhân thay cường bạo Lấy yếu chống mạnh, thường đánh bật ngờ Lấy ít địch nhiều, hay dùng mai phục”. (Nguyễn Trãi - Bình Ngô đại cáo”. với những hình thức tác chiến thích hợp, những chiến thuật linh hoạt, kết hợp quân sự, chính trị ngoại giao, địch vận.
|
|
|
|
|
Logged
|
"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
|
|
|
UyenNhi05
Cựu chiến binh

Bài viết: 2589
Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.
|
 |
« Trả lời #41 vào lúc: 26 Tháng Năm, 2009, 12:30:58 am » |
|
Trong bài tựa ức Trai thi tập Ngô Thế Vinh cho biết trong Bình Ngô sách, Nguyễn Trãi chỉ chú trọng vấn đề “đánh vào lòng người 1. Đánh vào lòng người có nghĩa đối nội là dựa vào lòng dân, động viên toàn dân, đoàn kết các dân tộc, đối ngoại là tác động vào tinh thần binh sĩ địch, đưa chúng đến chỗ chán nản, phản chiến nhằm mục đích như Nguyễn Trãi đã viết trong Bình Ngô đại cáo:
“Ta mưu đánh vào lòng người, không chiến mà cũng thắng”.
Dùng ngoại giao, thuyết khách, gián điệp, phao tin, binh vận, địch vận, chiến tranh tâm lý đều là đánh vào lòng người nhưng nói chung văn không thể thay được đánh thành. Theo quan niệm của Nguyễn Trãi, đánh vào lòng người là hình thức tác chiến để hạ thành, là đánh thành “không chiến mà thắng”.
Tôn Tử đã nói: “người đánh trăm trận thắng cả trăm chưa thể kể là người tài giỏi nhất, không đánh mà buộc địch phải đầu hàng mới là người giỏi nhất”. Nguyễn Trãi muốn làm như thế và lịch sử đã chứng minh ông làm được như thế.
Ở thời Nguyễn Trài có ba yếu tố thuận lợi để thực hiện được “ đánh vào lòng người :
- Cuộc xâm chiếm của nhà Minh là phi chính nghĩa, cuộc kháng chiến của dân tộc là chính nghĩa.
- Quân của các triều đại khác của Trung Quốc đánh ta - Nam Hán, Tống, Nguyên, Thanh sau này- đều là những đội quân viễn chinh đánh xong rồi rút. Còn quân Minh chiếm nước ta là quân chiếm đóng do đó ta có thể đánh, tuyên truyền vận động được.
- Trong tình thế suy yếu, bị uy hiếp từ Bắc và Tây Nam Trung Quốc, lại bị thua ở Đại Việt, vua Minh Thành Tổ, Minh Nhân Tông buộc phải giảng hoà với Lê Lợi trong lúc Lê Lợi cũng muốn giảng hoà, để buộc Minh rút quân.
Khi được tin viện binh của Liễu Thăng sắp sang, nhiều tướng lĩnh yêu cầu Lê Lợi cho đánh gấp thành Đông Quan, Lê Lợi đã gạt ý kiến đó và giải thích: “Đành thành là hạ sách; ta đánh vào thành vững, hàng tháng hàng năm không hạ nổi (làm cho) quân ta sức kiệt khí nản, yếu viện binh của giặc lại đến thì trước mặt, sau lưng đều bị giặc đánh, đó là con đường nguy. Sao bằng nuôi dưỡng sức quân, giữ lấy nhuệ khí để đợi viện binh của giặc. Viên binh bị phá thì thành tất phải hàng. Làm một việc mà được cả hai, đó mới là kế vạn toàn vậy!” 2.
Mạnh như quân Mông Cổ của Hốt Tất Liệt mà cũng mất năm năm mới hạ được thành Tương Dương. Sáng suốt thay cao kiến của Lê Lợi! Khi tiến về giải phóng Nghệ An, nghĩa quân vấp phải thành Trà Lộng, lỵ sở của châu Trà Lộng... Khi đó Lê Lợi chấp nhận làm tri châu Trà Lộng sau khi khước từ chức tri phủ Thanh Hoá, khiến tổng binh Trần Trí rất phấn khởi bèn hạ lệnh cho Cẩm Bành, tri châu Trà Lộng, ngừng chiến đấu để nhường chỗ cho Lê Lợi, do đó nghĩa quân không mất một mũi tên mà chiếm được thành Trà Lộng, mở được đường tiến vào Nghệ An.
Việc buộc được 10 vạn quân của Vương Thông bỏ thành Đông Quan là một thành tựu rực rỡ có một không hai của chủ trương kết hợp quân sự, ngoại giao, chính trì, địch vận. Một loạt thành khác như Thanh Hoá, Nghệ An, Bình Than, Tân Bình, Thuận Hoá... đều đã mở thành ra hàng để được về nước .
Một điểm mạnh nữa của nghĩa quân là “vừa đánh vừa đàm”. Lý Thường Kiệt đã phải trải qua trận đánh Khâm Châu, Liêm Châu, Ung Châu và các trận trước khi quân Quách Quỳ bị giam chân ở phòng tuyến Như Nguyệt mới mở được cục diện “vừa đánh, vừa đàm” với quân Tống để đi đến chấm dứt chiến tranh.
______________________ 1. Phan Huy Lê - Phan Đại Doãn - Khởi nghĩa Lam Sơn, Sđd. 2. Ngô Sỹ Liên – Đại Việt sử ký toàn thư- NXB Khoa học Xã hội 1972
|
|
|
|
|
Logged
|
"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
|
|
|
UyenNhi05
Cựu chiến binh

Bài viết: 2589
Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.
|
 |
« Trả lời #42 vào lúc: 26 Tháng Năm, 2009, 12:32:54 am » |
|
Thời nay ta phải đợi thắng chiến tranh đặc biệt, đánh bại bước đầu chiến tranh cục bộ ở miền Nam, chiến tranh phá hoại ở miền Bác, thắng lợi Tết Mậu Thân mới mở được cục diện “vừa đánh vừa đàm” với Mỹ. Nhưng với cuộc kháng chiến chống Minh, tình hình lại khác. Ngay khi mới dựng cờ khởi nghĩa, giữa nghĩa quân Lam Sơn và quân chiếm đóng Minh vẫn có trao đổi thư từ, phái viên.
Sáng kiến gửi thư cho các tướng Minh từ Tổng binh đến các tướng trấn giữ các thành là một hình thức đối ngoại gián tiếp qua thư từ trao đổi. Hình thức này được duy trì đến hết chiến tranh và cuối cùng phát triển đến mức đàm phán trực tiếp tại Đông Quan và trao đổi con tin khi bàn về giải pháp và kế hoạch rút quân.
Nếu ban đầu, thư của ta chủ yếu là nêu nhân nghĩa, thế tất bại của nhà Minh, thế tất thắng của ta thì khi chiến tranh ngày càng phát triển lợi cho ta thì thơ của ta tác động trực tiếp tính thần chiến đấu của quân Minh, trước hết là Vương Thông để xúc tiến việc rút quân Minh.
“Vừa đánh vừa đàm” nói chung phản ánh tình hình chiến trường, đàm không thể giành được cái chưa giành được trên chiến trường. Nhưng trong tình thế suy yếu toàn cục của nhà Minh thời Minh Thành Tổ và Minh Nhân Tông, việc chiếm đóng Đại Việt thành một gánh nặng bỏ thì thương vương thì tội nghĩa quân Lam Sơn vẫn có lúc dùng “đàm” giành được thắng lợi trong lúc khốn quẫn về quân sự.
Đó là khi mới dựng cờ khởi nghĩa Lê Lợi phải rút ba lần về Chí Linh, bị bao vây, tuyệt đường lương thực, với bức thư cầu hoà gửi Sơn Thọ, Mã Kỳ, đã trở lại được Lam Sơn để chỉnh đốn binh mã, chuẩn bị giải phóng Nghệ An, Thanh Hoá. Việc trở lại Lam Sơn có ý nghĩa chiến lược to lớn.
Từ sau khi ta tiêu diệt 15 vạn viện binh của Liễu Thăng và Mộc Thanh, thế quân sự của ta mạnh hẳn lên, thế ta trong “vừa đánh vừa đàm” càng mạnh, và rõ ràng quân sự phục vụ ngoại giao, “đánh” phục vụ “đàm” . Vương Thông bị giam trong thành Đông Quan cùng với 10 vạn quân, không còn hy vọng trông chờ viện binh mới từ Trung Quốc sang. Khi đó Vương Thông có hai nỗi lo: muốn rút mà không có mệnh vua, muốn giảng hoà với Bình Định Vương nhưng sợ không toàn mệnh. Hai nỗi lo đó đều có cơ sở cả
Làm tổng binh lĩnh hơn mười vạn quân mà tự tiện rút về nước không đợi lệnh vua thì sao tránh khỏi tội chết. Câu chuyện ở Trung Quốc người ta giết hàng binh có nhiều, ít nhất Vương Thông cũng biết chuyện trận Trường Bình, trận lớn nhất thời Chiến quốc, tướng Bạch Khởi của Tần Thuỷ Hoàng đã hạ lệnh giết trong một đêm 40 vạn quân Triệu đã hàng quân Tần, hay ít nhất chuyện Tử Anh, vua nước Tần, thua trận đã ra hàng Hạng Vũ mà vẫn bị Hạng Vũ giết.
Nếu Vương Thông ra hàng Bình Định Vương, thì liệu tính mạng y và hơn mười vạn quân có được an toàn không. Lê Lợi, Nguyễn Trài hiểu tâm trạng đó của Vương Thông, Nguyễn Trãi gửi thơ cho Vương Thông giải thích cho y yên lòng. Về điều lo thứ nhất, Nguyễn Trãi nhắc câu nói trong binh thư Trung Quốc: “Đại tướng ở ngoài cõi, mệnh vua có thể không tuân theo”.
Về điều lo thứ hai, người ta biết lập trường nhân đạo của Lê Lợi đối với kẻ địch đến hàng: “Nếu chỉ cốt hả giận trong một chốc lát để mang tiếng muôn đời là giết kẻ đầu hàng, thì sao bằng để cho hàng ức vạn con người được toàn mạng, dập tắt được chiến tranh cho hậu thế, sử xanh ghi chép, nghìn thời lưu thơm” 1.
Nguyễn Trãi viết:
“Không có lòng thành thực thì trăm lo vạn nghĩ, phòng giữ cẩn thận đến đâu cũng có những việc xảy ra ngoài ý nghĩ của mình . . . Ta có thể rút quân và voi ngựa về Thanh Đàm, dìm thuyền xuống sông Xương Giang. Nhưng nếu lòng ta không thành thì quân và voi ngựa đã rút đi lại có thể lại tiến ngay được, thuyền dìm xuống sông cũng lại nổi ngay lên được. Huống chi trên dọc đường đi chỗ nào mà chẳng đáng ngờ. Như vậy có lo nghĩ lắm cũng chỉ là nhọc lòng, mệt sức, không ích chi”.
_____________________________ 1. Hoàng Lê hoàng các di cảo - Nguyễn Lương Bích trích trong Nguyễn Trãi đánh giặc cứu nước, NXB Quân đội Nhân dân - Hà Nội - 1973.
|
|
|
|
|
Logged
|
"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
|
|
|
UyenNhi05
Cựu chiến binh

Bài viết: 2589
Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.
|
 |
« Trả lời #43 vào lúc: 26 Tháng Năm, 2009, 12:40:43 am » |
|
Tiếp được thư này, Vương Thông cho bọn Sơn Thọ Mã Kỳ sang dinh Bồ Đề làm “con tin”. Trước đó để giải nỗi nghi ngờ cho Vương Thông, Lê Lợi đã cử thái tử Tư Tề vào thành Đông Quan.
Một yếu tố nữa đảm bảo thắng lợi cho nghĩa quân là theo sát tình hình, nắm bắt thời cơ.
Trong quân sự, việc nắm bắt thời cơ là một bảo dám cho thắng lợi. Trong ngoại giao cung vậy, có hành động đúng thời cơ mới chắc thành công. Trong một bức thư gửi Vương Thông, Nguyễn Trãi viết:
“Thời cơ không nên bỏ lỡ” và ông nói rõ: “Người dùng binh giỏi ở chỗ biết rõ thời thế mà thôi. Được thời thế thì mất biến thành còn, nhỏ hoá ra lớn, mất thời thế thì mạnh hoá ra yếu, yếu lại thành nguy, sự thay đổi ấy chỉ trong khoảng trở bàn tay” .
Trong một cuộc chiến tranh tổng lực kết hợp chặt chẽ cả các mặt quân sự, chính trị, ngoại giao thì thời cơ rất quan trọng, mỗi sự kiện có thế tạo một thời cơ thuận lợi. Thời cơ là tình hình Trung Quốc có biến, là một trận thua của địch, một thay đổi chính sách của địch, là một sự thức tỉnh của dân Đại Việt là thế thắng của nghĩa quân...
Thời Lý, Lý Thường Kiệt biết rõ nước Liêu, nước Hạ đang tiến đánh nhà Tống, biết chính sách cải cách của Vương An Thạch bị dân oán nên dám đem quân vào đất Tống, đánh Khâm Châu, Liêm Châu, Ung Châu. Làm sao Lê Lợi, Nguyễn Trãi không biết tình thế Trung Quốc đang bị người Oa-ra, Thái Đát đánh ờ phía Bắc đến nỗi vua Minh Anh Tông bị bắt, và nông dân nổi loạn khắp nơi?
Nguyễn Trãi luôn luôn bám sát tình hình. nhà Minh và quân Minh và bao giờ cũng lắm bắt đúng thời cơ. Khi Minh chủ trương lôi kéo các lãnh tụ nghĩa quân, Lê Lợi đã đưa thư cầu hoà để trở lại Lam Sơn củng cố binh mã tích trữ lương thực, chuẩn bị mở rộng địa bàn.
Khi lực lượng ta đã mạnh lên, tổng binh Trần Trí còn ảo tưởng giữ được Lê Lợi, nghĩa quân lần lượt giải phóng Nghệ An, Thanh Hoá, Tân Bình, Thuận Hoá. Khi nghĩa quân đã kiểm soát miền Nam từ Thanh, Nghệ vào, dù quân Minh còn giữ một số thành, Lê Lợi mang đại quân ra Bắc giải phóng Đông Quan và các lộ chung quanh.
Khi viện binh của Liễu Thăng, Mộc Thạnh bị đánh tan, ta đẩy mạnh cục diện “vừa đánh vừa đàm”, lấy thế quân sự uy hiếp địch, lấy thế ngoại giao dồn ép Vương Thông.
Trong bài Phú núi Chí Linh, Nguyễn Trài đã nói rõ chủ trương:
“Bởi biệt người biết mình, hay yếu hay mạnh đợi thời chờ dịp”.
Có thể khẳng định trong cuộc chiến chống Minh từ khi :
"Lương cạn mấy tuần Quân không một lữ”
Đến khi :
‘Xã tắc đã được yên Non sông do đó đổi đời”.
Lê Lợi, Nguyễn Trai luôn luôn nắm bắt đúng thời cơ, biến mất thành còn, chuyển yếu thành mạnh, rửa nỗi nhục ngàn thu.
Chính sách đối với thiên triều:
Chịu ảnh hưởng của nền văn hoá Trung Quốc, Đại Việt cũng chấp nhận rằng Hoàng đế là thiên tử, thay trời trị dân, cầu phong và nộp cống, nhưng Đại Việt chỉ hiểu đó là nghĩa nước nhỏ đối với nước lớn, Đại Việt vẫn có chủ quyền.
Nhà Lý khẳng định:
“Nam quốc sơn hà Nam đế cư”
Và đó là lẽ trời:
“Tiệt nhiên định phận tại thiên thư”.
Thiên tử trị dân là thay trời thì vua-. nước Nam làm chủ nước Nam cũng là theo trời. Nhà Trần bị nhà Nguyên đánh ba lần, lần nào Trần cũng thắng và cho đến khi chết, Hốt Tất Liệt không bắt được vua Trần sang chầu. Các vua Đại Việt giữ độc lập chủ quyền nhưng biết coi trọng sự hoà hiếu giữa hai nước.
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 26 Tháng Năm, 2009, 06:37:20 am gửi bởi UyenNhi05 »
|
Logged
|
"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
|
|
|
UyenNhi05
Cựu chiến binh

Bài viết: 2589
Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.
|
 |
« Trả lời #44 vào lúc: 27 Tháng Năm, 2009, 11:31:04 pm » |
|
Đối với nhà Minh, nhà Lê vẫn kiên trì chính sách ngoại giao cổ truyền. xuất phát từ lịch sử và trình độ văn hiến, Lê Lợi - Nguyễn Trãi khẳng định Đại Việt và Trung Quốc đều là hai nước có chủ quyền:
“Trải Triệu, Đinh, Lý, Trần nối đời dựng nước Cùng Hán, Đường, Tông, Nguyên đều chủ một phương”. (Nguyễn Trãi - Bình Ngô đại cáo)
Cuộc kháng chiến mười năm xác định rõ ràng mục tiêu:
“Chỉ cần vẹn đất, cột sao an minh”
Nghĩa là bảo đảm toàn vẹn lãnh thổ, giữ được an ninh.
“Sửa hoà hiếu cho hai nước Tắt muôn đời chiến tranh”.
Nghĩa là hai nước khôi phục quân hệ hoà hiếu, mãi mãi hoà bình.
“Nghĩ vì kế lâu dài của Nhà nước Tha kẻ hàng mười vạn sĩ binh”.
Nghĩa là tha mười vạn binh sĩ Minh vì quan hệ lâu dài của hai nước. (Nguyễn Trãi - Phú núi Chí Linh)
Nguyện vọng sâu sắc của nhân dân Đại Việt là:
“Nhật nguyệt đã mờ mà lại sáng Để mở nền thái bình muôn thuở”.
Khi Trần Cảo dâng biểu tiến cống và tâu trình tạ lỗi Trần Cảo đã viết:
“Dâng biểu xưng thần chức phiên bang từ nay xin kính giữ; kính trời thờ nước lớn, lòng nước nhỏ xin hết tiết chân thành” . Ý kiến đó là của Trần Cảo nhưng cũng là của Lê Lợi, Nguyễn Trãi, là chính sách ngoại giao cổ truyền của nước Đại Việt đối với Trung Hoa.
Chính sách đó có thể tóm tắt như sau:
- Kiên trì giữ vững hoà hiếu giữa hai nước, tôn trọng lẫn nhau trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau.
- Nếu cây muốn lặng, gió chẳng đừng, Trung Quốc xâm phạm độc lập, chủ quyền của ta, thì ta phải kiên quyết chống lại để bảo vệ độc lập, chủ quyền, khôi phục lại hoà hiếu. .
- Trong mọi trường hợp, nhất là sau khi đánh thắng Trung Quốc, luôn luôn nhớ “vuốt mặt phải nể mũi” .
Các vua Trần chấp nhận tình hình quan hệ Đại Việt - Nguyên Mông ngày càng căng thẳng trong ba mươi năm, cái mà các nhà ngoại giao ngày nay gọi là “một nền hoà bình tồi” cho đến khi không còn đường nào khác là chấp nhận đụng đầu bằng vũ khí.
Ba văn kiện lịch sử:
Văn kiện lịch sử của nước Đại Việt còn lại không nhiều, có thể nói là rất ít. Ta còn Chiếu dời đô của Lý Công Uẩn, bài thơ ở ngã ba Xà của Lý Thường Kiệt, hịch kêu gọi tướng sĩ của Trần Hưng Đạo, Chiếu lên ngôi của Quang Trung.
Sau vụ thảm án Vườn Vải, thơ văn của Nguyễn Trãi bị thất lạc, chỉ nhờ có lệnh của vua Lê Thánh Tông năm 1467 tức là 25 năm sau ngày ông mất, và công lao sưu tầm của Trần Khắc Kiệm và nhiều nhà nho khác, ngày nay chúng ta còn được khá nhiều tác phẩm của Nguyễn Trãi trong đó có ba tác phẩm lịch sử của ông: Bình Ngô đại cáo, Quân trung từ mệnh tập, Bài văn thề (cùng với Vương Thông).
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 27 Tháng Năm, 2009, 11:37:00 pm gửi bởi UyenNhi05 »
|
Logged
|
"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
|
|
|
UyenNhi05
Cựu chiến binh

Bài viết: 2589
Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.
|
 |
« Trả lời #45 vào lúc: 27 Tháng Năm, 2009, 11:37:45 pm » |
|
Bình Ngô đại cáo:
Đây là một bản báo cáo với toàn dân về thắng lợi hoàn toàn của cuộc kháng chiến chống quân Minh, một bản tổng kết cuộc kháng chiến từ khi I!dựng gậy làm cờ” cho đến khi “bốn biển lặng yên”.
Bản bố cáo đã nêu rõ âm mưu xâm lược của nhà Minh, vạch trần tội ác của chúng, nhưng nhờ lòng yêu nước của nhân dân, tinh thần quyết chiến của binh sĩ một dạ cha con, lấy yếu chống mạnh, lấy ít địch nhiều đã đánh những trận như “sấm vang chớp giật, như trúc chẻ tro bay” khiến các tướng Minh đã vượt biên mà còn hồn kinh phách lạc, đã về nước mà còn ngực đập chân rung, do đó “một gươm đại định tạo thành công nghiệp vô song” .
Nhưng bản bố cáo không phải chỉ nói với quốc dân mà còn hướng tới cả Yên Kinh để nói với triều đình Minh. Này các ngài nước Minh, nước Đại Việt là một nước văn hiến, không phải là man di Nhung Địch, bờ cõi sông núi hai nước đã khác, mỗi bên làm chủ một phương. Các người đã chiếm nước ta, tàn sát bóc lột dân ta, trời đất không dung tha. Nhân dân ta nổi lên lo rửa nhục cũ, khôi phục đất xưa, sửa hoà hiếu cho hai nước, tắt muôn đời chiến tranh.
Đó là bản tuyên ngôn chính sách của Đại Việt đối với thiên triều: luôn luôn mong muốn sống hoà mục với Trung Quốc, nhưng kiên quyết chiến đấu bảo vệ độc lập, chủ quyền. Với lòng yêu nước thương dân, với tâm hồn “trong sáng như sao Khuê” (Lê Thánh Tông), với một ngòi bút có một không hai , ông đã viết bản Bình Ngô đại cáo thành một “thiên cổ hùng văn” làm nức lòng người Việt Nam mọi thời đại.
Quân trung từ mệnh tập:
Ở phương Tây, thường các nhà chính trị, ngoại giao để lại các hồi ký, thư từ đối ngoại, thậm chí có nhà ngoại giao viết cả một cuốn ‘sách về nghệ thuật, thủ tục, thủ đoạn ngoại giao như Machiavel viết cuốn sách Quân Vương có tiếng vang rất lớn ở Châu âu. Nhưng ở Đại Việt việc đó rất hiếm, may mà chúng ta còn giữ được cuốn Quân trung từ mệnh tập của Nguyễn Trài.
Đây là cuốn tập hợp gần 60 bức thư của Nguyễn Trài gửi cho các tướng lĩnh Minh từ tổng binh đến các tướng chỉ huy quân chiếm đóng ở các trấn. Có thể chưa phải đã sưu tầm được đủ các thư của ông vì ông Trần Văn Giáp còn tìm thêm được 22 bức. Trong 76 bức, có một số bài của triều đình ta, phần còn lại là thư gửi các tướng lĩnh Minh. Điều đáng tiếc là không sưu tầm được những phúc thư của tướng Minh.
Tuy vậy cái chúng ta còn giữ được trong tay cũng đã cho ta biết một mặt riêng biệt của Nguyễn Trái và một thể loại của ngoại giao Đại Việt Điều đầu tiên cần nói là chủ trương gửi thư cho địch là một. sáng tạo của Nguyễn Trái. Thực tế đây là một hình thức đối thoại giữa hai bên. Ta chủ động gửi thư, chủ động chọn người nhận thơ, chủ động nêu nội dung thư.
Thật khác với một cuộc đối thoại ngày nay: nào là phải có sự thoả thuận của hai bên về mọi vấn đề: cấp bậc người gặp, nội dung đối thoại, ngày và địa điểm gặp nhau... Giữa ta và Mỹ, về cuộc đối thoại ở Pari tháng 5 năm 1968, riêng việc trao đổi về địa điểm gặp nhau cũng mất một tháng. Cuộc hội nghị bốn bên ở Pari tháng 1 năm 1969 cũng mất hai tháng về kiểu bàn hội nghị. Đằng này Nguyễn Trái thấy cần gửi cho Sơn Thọ, Mã Kỳ, Phương Chính, Lương Nhứ Hốt, hay Vương Thông, Liễu Thăng, thì cứ gửi; nếu có kẻ nào trả lại thư thì lại gửi tiếp.
Ta gửi thư cho các tướng Minh buộc họ phải trao đổi về những vấn đề ta nêu, mà Nguyễn Trái thì nêu đủ vấn đề: nỗi lầm than của dân, quan hệ giữa hai nước, vấn đề nhân nghĩa, những điều phải thua của quân Minh v.v... Ta nêu vấn đề để buộc các tướng Minh phải trả lời, nhưng quan trọng hơn nữa là để buộc chúng phải suy nghĩ đến tương lai cuộc chiếm đóng, vận mệnh của chúng.
Càng về sau cuộc kháng chiến càng thắng lợi, ngay cả 15 vạn viện binh cũng bị đánh tan, các thư nhằm chủ yếu hai đối tượng: tổng binh Vương Thông để thôi thúc, thuyết phục y đầu hàng và các tướng còn giữ các thành lẻ. Bây giờ là đi vào vấn đề giảng hoà là làm yên lòng Vương Thông, là việc tổ chức rút quân an toàn.
Đánh giá “Quân trung từ mệnh tập” có sức mạnh của mười vạn quân, đánh bật được 10 vạn quân Minh ra khỏi thành Đông Quan là hoàn toàn đúng. Tập sách đó muôn đời sau vẫn là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam, là mẫu mực cho nền ngoại giao Việt Nam.
|
|
|
|
|
Logged
|
"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
|
|
|
UyenNhi05
Cựu chiến binh

Bài viết: 2589
Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.
|
 |
« Trả lời #46 vào lúc: 27 Tháng Năm, 2009, 11:40:58 pm » |
|
Bài văn hội thề:Đây là bài văn mà Vương Thông và các tướng lĩnh của mình cùng Lê Lợi và bộ tham mưu của nghĩa quân cùng thề tại hội thề ở phía Nam thành Đông Quan. Ngày xưa, chưa có luật quốc tế, các quốc gia ký kết với nhau vấn đề gì đều dùng hình thức thề trước các thần để chính thức hoá sự cam kết. Ở Trung Quốc, thời Xuân thu Chiến quốc chư hầu cũng tổ chức các hội thề để kết ước. Ở nước ta tục thề cũng phổ biến như ở Trung Quốc; trước khi dựng cờ khởi nghĩa , năm 1416 Lê Lợi đã tập hợp 14 người thân cận nhất tổ chức hội thề tại Lũng Nhai (Thanh Hoá) để cùng nhau cứu nước. Sau các cuộc thương lượng về giảng hoà và rút quân Minh Lê Lợi và Vương Thông thoả thuận hai bên cùng thề trước các Hoàng thiên, Hậu thổ và các thần linh sẽ nghiêm chỉnh thực hiện các điều đã cam kết, đó là điều dễ hiểu vì một lời cam kết trước thần linh còn ràng buộc mạnh hơn, chặt hơn luật pháp quốc tế ngày nay. Nguyễn Trái còn đặt điều kiện thề trước, bàn việc rút sau, chứng tỏ ông muốn cột chặt Vương Thông trước khi thoả thuận cuối cùng về các việc liên quan tới rút quân Minh. Bài văn thề đã được hai bên thoả thuận. Đây là lần đầu tiên thiên triều ký với ta một hiệp ước đình chiến, vì đây sự thật là một hiệp ước: có nêu lên người dự hội thề tức là những người đã thật ‘sự tham gia hội thề, nêu mục đích sự thoả thuận và lời cam kết của tất cả người tham gia hội thề, có vấn đề rút quân, ngày rút quân, và việc khôi phục hoà hiếu giữa Đại Việt và Minh. Vương Thông trước đây lo sợ phía nghĩa quân không giữ lời cam kết, nay chứng kiến chính Bình Định vương và tham mưu của ông cũng thề trước Hoàng thiên, Hậu thổ và các thần linh thì càng yên lòng rút quân. Trước đây thời nhà Lý, quân Tống thua phải giảng hoà với Lý Thường Kiệt nhưng nguyên soái Quách Quỳ không ký kết gì với ta và lén lút rút quân về nước . Đối với Vương Thông và toàn bộ tướng lĩnh của y bài văn thề là một hiệp ước thiêng liêng, một biện pháp để rút ra khỏi bãi lầy Đại Việt. Đối với ta, bài văn thề là văn kiện pháp lý xác nhận chiến thắng vĩ đại của dân tộc Việt Nam và một cam kết của nhà Minh tôn trọng bờ cõi nước Đại Việt cho đến hết đời nhà Minh. ĐẠI THANH MƯU CHIẾM ĐẠI VIỆT Tiếp theo nhà Minh, nhà Thanh, triều đại do người Mãn Châu (tức Nữ Chân) dựng lên, chiếm chính quyền từ 1544 đến Cách mạng Tân Hợi (1911). Họ đã khôi phục nông nghiệp, phát triến công nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp, nhưng họ phải chống lại các cuộc nổi dậy ở ven Biển Đông Nam, cuộc đấu tranh ở Tây Nam của nông dân. Về sau, không chịu nổi sự thống trị của người Mãn Châu, người Hồi ở Thanh Hải, Cam Túc, người Hán ở Tứ Xuyên, Hồ Bắc, Thiểm Tây và nhiều tỉnh khác, người Mèo ở Quý Châu và Tây Hồ Nam, người Tây Tạng, người Duy Ngô Nhĩ, người Mông Cổ nổi lên chống nhà Thanh. Giữa thế kỷ XIX, Thanh phát động cuộc chiến tranh thuốc phiện, tiếp đó các nước phương Tây cũng theo nhau nhảy vào Trung Quốc, nhà Thanh phải lùi dần, nhân nhượng các nước đế quốc. Tuy phải chống lại các cuộc nổi dậy của các dân tộc khắp nơi, nhà Thanh vẫn cất quân đi đánh các nước khác ở Tây vực và Tây Nam Trung Quốc. Đại Việt, sau thời kỳ phát triển rực rỡ ở thế kỷ XIV, XV đi vào thời kỳ suy yếu từ đầu thế kỷ XVI và tiếp tục suy yếu ở thế kỷ XVIII. Sự suy yếu bắt đầu xuất hiện rõ rệt từ đầu thế kỷ XVI chủ yếu do sự phát triển của những mâu thuẫn xã hội tiềm tàng trong chế độ nhà Lê. Tầng lớp thống trị sống xa hoa, truỵ lạc. Cả bọn quan lại ngày càng hủ hại, ruỗng nát. Trong khi đó, nhân dân, nhất là nông dân, phải chịu sưu cao, thuế nặng, lại gặp nhiều lũ lụt, hạn hán. Các cuộc khởi nghĩa của nông dân nổ ra khắp nơi.
|
|
|
|
|
Logged
|
"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
|
|
|
UyenNhi05
Cựu chiến binh

Bài viết: 2589
Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.
|
 |
« Trả lời #47 vào lúc: 27 Tháng Năm, 2009, 11:51:02 pm » |
|
Ở Hưng Hoá là cuộc khởi nghĩa Trần Tuấn (năm 1511) tập hợp hàng vạn người và có lần đã tiến xuống Từ Liêm (Hà Nội). Ở Sơn Tây - Vĩnh Phú là cuộc khởi nghĩa của Phùng Chương lấy dãy Tam Đảo làm căn cứ. Ở Nghệ An có các cuộc khởi nghĩa của Lê Hy, Trịnh Hưng, Lê Minh Triệt (năm 1512).
Lớn nhất là cuộc khởi nghĩa của Trần Cao ở Đông Triều; hoạt động trên một phạm vi rộng, đã ba lần tiến về Thăng Long, một lần chiếm được kinh thành, buộc vua quan phải bỏ kinh thành và chạy về Thanh Hoá. Nhưng tất cả các cuộc khởi nghĩa đều bị thất bại.
Nghiêm trọng nhất là sự tranh giành quyền lực giữa các phe phái, các dòng họ có thế lực. Năm 1527, Mạc Đăng Dung cướp được chính quyền, dựng lên triều Mạc kéo dài đến đời Mạc Kính Vũ (1638- 1677) .
Nguyễn Kim, một viên tướng của triều Lê, tập hợp các lực lượng chống Mạc, thành lập một chính quyền riêng mang danh nghĩa là triều Lê trung hưng, chiếm giữ vùng Thanh Hoá, Nghệ An, thực chất là một chính quyền của họ Trịnh, còn vua Lê chỉ giữ vai trò bung xung.
Như thế là đất nước bị chia làm hai: chính quyền họ Mạc thống trị vùng phía Bắc, gọi là Bắc triều, chính quyền họ Trịnh thống trị vùng Thanh Nghệ trở vào, gọi là Nam triều. Sau khi bị thua, phải bỏ Thăng Long, nhà Mạc lên cố thủ Cao Bằng.
Sau khi Nguyễn Kim chết con rể là Trịnh Kiểm lên thay, cuộc nội chiến vẫn tiếp tục nhưng mâu thuẫn nảy sinh giữa họ Trịnh và họ Nguyễn. Nguyễn Hoàng, con trai Nguyễn Kim, phải vận động đi miền Nam, về danh nghĩa là trấn thủ Quảng Nam (năm 1570) nhưng thực chất là để xây dựng chính quyền riêng của họ Nguyễn.
Đất nước từ đây chia ba, phần do họ Trịnh kiểm soát, phần do họ Nguyễn kiểm soát, phần do nhà Mạc còn chiếm giữ. Khi nhà Mạc bị tiêu diệt, hình thành thế Trịnh, Nguyễn phân tranh với hai xứ Đàng Ngoài và Đàng Trong, với sông Gianh làm giới tuyến.
Hai xứ Đàng Ngoài và Đàng Trong phát triển không đồng đều. Xứ Đàng Ngoài giải quyết xong vấn đề cát cứ của họ Mạc, khôi phục được nông nghiệp, phát triển ngoại thương được một thời gian nhưng tình hình kinh tế - xã hội lại sa sút, đời sống nhân dân càng khó khăn, phong trào nông dân bùng nổ mạnh mẽ.
Ở Sơn Nam có Hoàng Công Chất có lúc tiến lên vùng Hưng Hoá được các dân tộc Thái, Mường ủng hộ, do đó kiểm soát cả vùng núi Tây Bắc Nổi lên từ vùng Đồ Sơn (Hải Phòng), Nguyễn Hữu Cầu huy động hàng chục vạn nông dân kiểm soát vùng Hải Phòng, mở rộng hoạt động ra Kinh Bắc, Thanh Hoá, đâu đâu cũng nổi danh Quận He.
Nguyễn Danh Phương mà nhân dân thường gọi là Quận Hẻo, chiếm cử vùng núi Tam Đảo làm căn cứ, trong hơn mười năm hoạt động khắp vùng Sơn Tây, Thái Nguyên, Tuyên Quang. Lê Duy Mật, một tôn thất nhà Lê, thất bại trong một ý đồ đảo chính để lật đổ chính quyền Trịnh, xây dựng một căn cứ kiên cố để mưu tính khôi phục triều Lê, hoạt động ở miền núi Thanh-Nghệ và Sơn Tây.
So với xứ Đàng Ngoài, xứ Đàng Trong phát triển hơn, mở rộng đất đai về phía Nam, dùng cả lưu dân người Việt và cả các cựu thần nhà Minh (Dương Ngân Dịch, Trần Thượng Xuyên) ở vùng Biên Hoà - Mỹ Tho, Mạc Cửu (ở vùng Hà Tiên), để khai phá đồng bằng sông Con Long, phát triển nền kinh tế hàng hoá, tăng cường quan hệ với nước ngoài.
Trong hai trăm năm, hai miền Nam, Bắc đánh nhau liên miên. Nhưng tình hình phân tranh vẫn không thay đổi. Cuối thế kỷ XVIII phong trào nông dân chống chúa Nguyễn nổi lên mạnh mẽ. Năm 1773 nghĩa quân Tây Sơn do Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ, Nguyễn Huệ lãnh đạo hạ thành Quy Nhơn rồi thừa thắng tiến ra Quảng Ngãi rồi giải phóng Phú Yên.
Cuối năm 1773 khu vực giải phóng đã được mở rộng từ Quảng Nam đến Bình Thuận. Chính quyền họ Nguyễn đứng trước nguy cơ bị đánh đó hoàn toàn.
|
|
|
|
|
Logged
|
"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
|
|
|
UyenNhi05
Cựu chiến binh

Bài viết: 2589
Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.
|
 |
« Trả lời #48 vào lúc: 27 Tháng Năm, 2009, 11:51:32 pm » |
|
Năm 1774, lợi dụng sự suy yếu của họ Nguyễn, miền Bắc chủ trương tiến công Đàng Trong. Ba vạn quân Trịnh vượt sông Gianh đánh và chiếm được thành Phú Xuân. Đầu năm 1775, quân Trịnh bắt đầu tiến vào vùng kiểm soát của quân Tây Sơn, trong lúc đó quân Nguyễn cũng đang chuẩn bị chiếm lại vùng đất từ Bình Thuận đến Phú Yên.
Trong tình thế bị uy hiếp cả trước và sau lưng, lãnh tụ Tây Sơn đề ra chủ trương tạm thời hoà hoãn với quân Trịnh để tập trung lực lượng tiêu diệt quân Nguyễn. Tạm yên ở phía Bắc, quân Tây Sơn quyết định đánh vào khu vực cuối cùng của quân Nguyễn ở Gia Định.
Quân Tây Sơn năm lần tiến công Gia Định, cả năm lần quân Nguyễn đều bị thất bại, chúa Nguyễn ánh phải chạy ra biển, lúc ở Côn Đảo, lúc ở Phú Quốc và cuối cùng chạy sang Xiêm cầu viện, nhưng quân Xiêm cũng bị quân Tây Sơn tiêu diệt.
Chính quyền chúa Nguyễn hoàn toàn sụp đổ. Ba anh em Tây Sơn làm chủ xứ Đàng Trong, Nguyễn Nhạc xưng là Thái đức Hoàng đế và giữ vùng Bình Định - Phú Yên, Nguyễn Lữ thống trị vùng Nam từ Phú Yên vào trong, còn Nguyễn Huệ được phong là Bắc Bình Vương và giữ vùng Phú Xuân - Quảng Nam.
Tình hình Bắc Hà lúc này rất rối ren. Trịnh Khải không kiểm soát được tình hình. Vua Lê Hiển Tông trị vì đã 47 năm, thực tế không còn quyền quyết định gì; Nguyễn Hữu Chỉnh khi đó ở dưới trướng Nguyễn Huệ, tâu với Bắc Bình Vương là thời thế rất thuận lợi, nên giương cờ diệt Trịnh phù Lê ra chiếm lấy Bắc Hà.
Lời tâu đó hợp với ý của Bắc Bình Vương. Bắc Bình Vương cho tiến quân ra Bắc lần đầu tiên, truyền hịch đi khắp Bắc Hà nêu cao đại nghĩa diệt Trịnh phù Lê. Tháng 6 năm Bính Ngọ (1786) Bắc Bình Vương kéo quân vào thành Thăng Long. Chúa Trịnh Khải bị dân bắt trong khi chạy trốn và cuối cùng nhảy xuống sông tự tử. Chế độ chúa Trịnh chấm dứt.
Lê Hiển Tông thiết đại triều đón Nguyễn Huệ và phong Nguyễn Huệ làm nguyên soái và gả con gái là Ngọc Hân công chúa cho Nguyễn Huệ. Sốt ruột về chiến công của Nguyễn Huệ, Nguyễn Nhạc ra Bắc rồi cùng Nguyễn Huệ kéo về Nam, bỏ Nguyễn Hữu Chỉnh ở lại. Nhưng Chỉnh cố đuổi theo anh em Nguyễn Huệ đến Nghệ An.
Huệ ôn tồn bảo Chỉnh ở lại Nghệ An giúp tướng Nguyễn Văn Duệ đóng giữ Nghệ An, Huệ lại giao Vũ Văn Nhậm, con rể của Nguyễn Nhạc, đóng ở Đông Hải và dặn ngầm Nhậm theo dõi Chỉnh vì Chỉnh là con người tráo trở.
Chỉnh mưu chiếm lấy Nghệ An, rồi lại theo lời của vua Lê Chiêu Thống lúc này đã kế vị tiên đế Lê Hiển Tông, đem binh từ Nghệ An ra Thăng Long hộ vệ nhà vua. Sợ rằng Nguyễn Huệ không tin mình, Nguyễn Duệ liên kết với Nguyễn Viên và Nguyễn Hữu Chỉnh để chống Nguyễn Huệ.
Vũ Văn Nhậm phi báo cho Nguyễn Huệ. Huệ chỉ thị cho Nhậm mang quân ra chiếm Nghệ An. Duệ thấy động giao bộ hạ giữ Nghệ An và trốn về với Nguyễn Nhạc vì Duệ là tướng cũ của Nhạc. Nhưng Nhậm vẫn lấy được Nghệ An. Theo lệnh của Nguyễn Huệ, Nhậm kéo quân ra Bắc, Chỉnh ra sức chống đỡ nhưng thất bại hết trận này đến trận khác. Nhậm kéo quân vào Thăng Long, cho người truy kích Chỉnh, bắt được Chỉnh.
Chỉnh bày ra kế hoạch cử một phái bộ do đồng bình chương sự Trần Công Sán cầm đầu vào Phú Xuân trao thư của Lê Chiêu Thống xin đòi lại đất Nghệ An. Nguyễn Huệ nổi giận không nghe, không nỡ giết Sán vì muốn dụ dỗ Sán đi theo Tây Sơn, Sán kiên quyết không nghe. Sau Huệ giao cho độ đốc Vũ Văn Nguyệt hạ thủ ngoài biển.
Nguyễn Huệ ra lệnh cho Vũ Văn Nhậm kéo quân ra Bắc diệt Nguyễn Hữu Chỉnh. Chỉnh vừa đánh tan được các lực lượng chống Lê phù Trịnh, lực lượng chống Nguyễn Hữu Chỉnh, tự cho đủ sức chống lại quân Vũ Văn Nhậm, nên thu gom binh lực cố chặn quân Nhậm, nhưng Chỉnh thua hết trận này đến trận khác, không ngăn được quân Nhậm. Nhậm chiếm được thành Thăng Long. Vua Lê Chiêu Thống và hoàng gia chạy trốn. Chỉnh cũng chạy trốn nhưng bị quân Nhậm bắt được đem về giết.
|
|
|
|
|
Logged
|
"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
|
|
|
UyenNhi05
Cựu chiến binh

Bài viết: 2589
Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.
|
 |
« Trả lời #49 vào lúc: 31 Tháng Năm, 2009, 11:17:41 pm » |
|
Kêu lắm lại càng tan xác lắm . Thế nào cũng một tiếng mà thôi. (Thơ Nguyễn Hữu Chỉnh)
Giết được Nguyễn Hữu Chỉnh, Vũ Văn Nhậm đã lập được một kỳ công. Vốn nghi ngờ Nhậm, Nguyễn Huệ càng nghi ngờ Nhậm, thậm chí sợ Nhậm vì Nhậm là con rể Nguyễn Nhạc. Đồng liêu Ngô Văn Sở ghen tức với Nhậm, thêu dệt thêm tội trạng của Nhậm để báo với Nguyễn Huệ. Bắc Bình Vương tức tốc kéo quân ra Bắc, đây là chuyến ra Bắc thứ hai của Nguyễn Huệ.
Chuyến này ông đã làm hai việc. Một là sai người giết Vũ Văn Nhậm và cử đại tư mã Ngô Văn Sở lên nắm quyền binh thay Nhậm. Hai là cải tổ bộ máy quân sự, chính trị của triều Lê: cử Sùng nhượng công Lê Duy Cẩn, con thứ tư của vua Lê Hiển Tông, làm Giám quốc giữ việc thờ cúng nhà Lê, bổ nhiệm một số quan của nhà Lê vào những chức vụ quan trọng như trấn thủ Kinh Bắc, Sơn Tây, Hải Dương, thượng thư Bộ Lại, Bộ Hộ, Bộ Lễ, Bộ Hình. Cũng trong dịp này, Bắc Bình Vương cử Ngô Thì Nhậm làm Lại bộ tả thị lang, Phan Huy Ích làm thị trung ngự sử. . .
Trước khi trở về Nam, Bắc Bình Vương họp các quan lại và tuyên bố giao cho các quan mọi việc quân quốc, cai quản 11 trấn trong toàn hạt và dặn dò mọi người hợp tác với nhau mà làm việc. Vương nhấn mạnh Ngô Thì Nhậm là tân quan nhưng được Vương coi là khách.
Khi Vũ Văn Nhậm giết Nguyễn Hữu Chỉnh, vua Lê Chiêu Thống bỏ Thăng Long chạy trốn sang Kinh Bắc rồi Chí Linh, Hiệp Sơn, Chân Định. Khi Ngô Văn Sở thay Vũ Văn Nhậm, lại tiếp tục truy kích vua Lê, vua Lê lại tiếp tục chạy, thậm chí lênh đênh ra biển rồi vào Thanh Hoá rồi lại chạy vòng về núi Phượng Nhỡn. Vua Lê Chiêu Thống đã tả cảnh long đong đó trong bài thơ gửi Trần Danh Án:
Xã tắc ngửa nghiêng, lòng nghẽn thắt Giang hồ lây lất cảnh long đong!
Thái hậu và nguyên tử nhà Lê cùng bọn thị thần Lê Quýnh chạy lên Cao Bằng dựa vào đốc đồng Nguyễn Huy Túc .
Vua Lê Chiêu Thống cử Lê Duy Đản và Trần Danh án sang cầu viện nhà Thanh, hy vọng cuối cùng để hưng phục .
Như chúng ta biết, từ 1428 đến 1787, phong kiến Trung Quốc không hề đụng chạm đến Đại Việt và quan hệ hai nước nói chung là bình thường, trừ những sự kiện biên giới vẫn thường xảy ra. Nhưng điều đó không có nghĩa là họ đã từ bỏ mưu đồ xâm chiếm Đại Việt Khi phản đối việc cất quân đánh Đại Việt, tuần phủ Quảng Tây Tôn Vĩnh Thanh đã nói :
“Một phen ra tay đánh đổ được cái triều đình lớn ba trăm năm thì lực lượng ấy tưởng không phải yếu. Huống chi nước ta hàng hai trăm năm thái bình vô sự, dân không quen việc binh; một sớm giong ruổi vào nơi viêm chướng, chưa chắc đã đánh được mà được cũng chẳng thấy vinh gì. Muôn một rủi ro thì thiệt hại lắm... Cái gương của Hoàng Phúc, Trương Phụ ở hồi Vĩnh Lạc (1403-1424), Tuyên Đức (1426-1428) nào đã mờ đâu? “.
Lời nói đó phản ánh dư luận của dân Trung Quốc là không dám gây chiến tranh với Đại Việt. Nhưng các phái viên của Lê Chiêu Thống, Lê Duy Đản và Trần Danh Án đã tới Long Châu và gặp được các quan chức Quảng Tây. Nhóm Trần Danh Án, Lê Quýnh và Thái hậu cũng đến phủ Thái Bình.
Từ hai phía họ kêu cứu vua Thanh. Tổng đốc Lưỡng Quảng Tôn Sĩ Nghị dâng biểu tâu cầu viện của Lê Chiêu Thống. Vua Càn Long chỉ thị cho Tôn Sĩ Nghị: nếu Tây Sơn chỉ chiếm một phần Thăng Long, chỗ khác vẫn thuộc vua Lê thì cứ đón Tự Tôn về rồi thiên triều sẽ khuôn xếp; nếu Tây Sơn đã chiếm cứ hết đất đai thì phải tập hợp binh mã tiến sang đánh 1.
___________________________ 1. Dông hoa toàn lục, trích dẫn trong Hoa Bằng - Quang Trung anh hùng dân tộc - Sđd.
|
|
|
|
|
Logged
|
"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
|
|
|
|