Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 05:52:40 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Ngoại giao Đại Việt  (Đọc 96407 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #70 vào lúc: 01 Tháng Sáu, 2009, 10:18:29 pm »

Đánh đổ chế độ Trịnh, xoá bỏ triều Lê, năm 1788 Hoàng đế Quang Trung kéo quân ra diệt đội quân viễn chinh của nhà Thanh. Năm 1789 vua Càn Long nhà Thanh phong Quang Trung làm An Nam quốc vương. Năm 1792 Quang Trung mất, con là Quang Toản lên thay cũng được nhà Thanh phong làm An Nam quốc vương.

Sau trận Ngọc Hồi - Đống Đa, quan hệ Việt-Thanh trong suốt thời kỳ trị vì của nhà Tây Sơn là tốt đẹp ta chịu phong của nhà Thanh, nhà Thanh nể trọng Đại Việt, phải dẹp ý đồ phục thù.

Thủ tục sách phong là yêu cầu đầu tiên và chủ yếu của đế chế Trung Hoa trong quan hệ đối ngoại với các Phiên quốc . . . Thủ tục thì nghiêm ngặt nhưng việc thực hiện thủ tục còn tuỳ thuộc so sánh lực lượng giữa Trung Hoa và phiên quốc và tiềm lực và vị thế của bản thân Trung Hoa. Việc sách phong, cầu phong các vua Đại Việt phản ánh rõ tình trạng đó Các vua Đại Việt các triều đại đều lên ngôi rồi mới cầu phong như từ Đinh Tiên Hoàng đến Quang Trung. Các vua triều Trần nhường ngôi nhau, chưa từng cầu phong. Trong những trường hợp đó chính thiêu triều lại phải sách phong.

Khi mới dựng nước, nhà Đinh, nhà Lê cầu phong mà chỉ được phong là Kiểm Hiệu thái sư, Giao Chỉ quận vương lâu rồi mới tiến lên Nam Bình vương. Đến nhà Lý, Anh Tông là vị vua đầu tiên phong làm An Nam quốc vương và lần đầu tiên Trung Quốc nhà Tống gọi nước ta bằng quốc hiệu An Nam.

Cùng đánh bại Trung Quốc, vua Lê Thái Tổ và vua Quang Trung đã được đối xử không giống nhau: Lê Lợi đến khi chết vẫn không được nhà Minh phong làm An Nam quốc vương, còn Quang Trung, ngay sau khi đánh tan 29 vạn quân của Tôn Sỹ Nghị lại được vua Càn Long nhà Thanh phong ngay làm An Nam quốc vương. Suốt thời nhà Mạc các vua chỉ được phong làm An Nam đô thống sứ, nhưng họ vẫn cai quản đất nước, đưa đất nước phát triển những năm đầu.


XIII

VẤN ĐỀ TRIỀU CỐNG.

Đã chịu thiên triều sách phong thì phải triều cống thiên triều. Đó là hai đặc trưng của chính sách đối ngoại của thiên triều đối với nước thần phục. Từ điển Trung Quốc giải thích: bên dưới hiến dâng trên gọi là cống (hạ phụng thượng viết cống) .

Cống là từng thời kỳ nước phiên thuộc dâng biểu thiên triều những sản vật quý, vàng bạc của địa phương. Cần phân biệt Cống với Sính. Cống là quy định theo thoả thuận giữa hai bên, bên phía phiên quốc bắt buộc phải thực hiện, còn sính là tặng phẩm nhân các chuyến đi thăm viếng nhau không có kỳ hạn nhất định. Như theo Đại Việt sử ký toàn thư đi thăm viếng nhà Tống nhà Đinh hai lần, nhà Tiền Lê 7 lần, nhà Lý 17 lần.

Nhưng chịu sách phong rồi không có nghĩa là nước phiên thuộc nhất thiết sẽ cống vì vấn đề này như vấn đề sách phong, nó phụ thuộc tình hình thiên triều và so sánh lực lượng hai bên. Nhiều trường hợp phiên thuộc không chịu cống, thậm chí cứ lên ngôi vua mà không cần hỏi ý kiến thiên triều. Như chúng ta biết, các vua Trần cứ truyền ngôi, lên ngôi mà không đợi mệnh của nhà Nguyên.

Kỳ hạn cống là một năm, ba năm hay sáu năm. Thời Minh quy định mỗi nước một khác, thí dụ Lưu cầu cống hai năm một lần, Việt Nam, Chiêm Thành, Triều Tiên ba năm một lần, Nhật Bản 10 năm một lần. . . Nước ta thường ba năm một lần cống nhưng về sau sáu năm một lần cống nhưng đem hai cống. 

Thời Đinh, Lê, Lý về trước, nước ta thần phục Trung Quốc nhưng chưa định kỳ hạn nộp cống, mãi sau này khi được phong mới định thời hạn nộp cống và đặt dễ bảo sính (thăm viếng nhau), lễ chúc mừng, lễ tạ ơn, lễ báo tang, lễ báo tin thắng trận và mỗi lễ đều có cống phẩm tuy không nhiều như lễ cống. 

Cống phẩm thì tuỳ theo tình hình mỗi nước. Như năm 1455 Xiêm cống cho Trung Quốc 10000 cân hồ tiêu, 10000 cân tô mộc, năm 1458 cống 170000 cân tô mộc, hồ tiêu, giáng hương...
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #71 vào lúc: 02 Tháng Sáu, 2009, 04:47:50 pm »

Để có một khái niệm về số cống phẩm, trước hết xin xem lời phát biểu chính thức của nhà Minh về quan niệm về vấn đề cống:

“Trước kia lễ triều cống phong phú, vật cống nhiều. Nhiều khi nhiều nhưng lấy vật để đo thì trên không đủ cung cấp trong triều đình, dưới không có lợi gì đối với quan dân mà đi lại gian khổ sinh ra kêu ca. Vì vậy để ba năm một lần cống. Đưa đến cống vật là nhỏ, tính mới là đầy, ấy là đại lễ của quốc vương sao vương không biết ý của ta . . .”  (Chiếu vua dụ An Nam quốc vương Trần Thúc Minh, Tạ Ngọc Liễn trích trong Đông Tây dương khảo).

“Trước đây Trẫm ra lệnh cho An Nam ba năm một lần triều cống. Việc cống chỉ để bày tỏ ý tứ mà thôi. Cốt sao tấm lòng nước nhỏ phục vụ nước lớn giữ được lâu bền, chứ đâu phải ở chỗ nhiều lễ vật . “ (Chiếu vua dụ An Nam quốc vương, Tạ Ngọc Liễn trích trong Đông Tây dương khảo, Sđd).  Lời lẽ của các tờ dụ phải chăng, nặng về lễ nghĩa, nhẹ về đòi hỏi.

Nhưng sự thật số lượng cống phẩm nhiều hơn lời dụ nói và có ý nghĩ thực dụng hơn nhiều lễ nghĩa mỹ miều. Dưới đây là một vài dẫn chứng rút từ Lịch triều hiên chương loại chí của Phan Huy Chú:

Năm 1428, sứ bộ Lê Thiếu Dĩnh do Lê Lợi cử sang nhà Minh mang theo một người vàng thế mạng Liễu Thăng, một lư hương bạc, một đôi bình hoa bạc, 300 tấm lụa thổ sản, 14 đôi ngà voi, 20 lọ hương hun áo, 20.000 nén tuyền hương, 24 khối tốc hương.

Năm 1431, sứ bộ Nguyễn Văn Huyên sang Minh tạ ơn được phong và phân giải việc cống vàng hàng năm 50.000 lạng và 3 năm một lấn cống.

Năm 1433 Lê Lợi gửi biểu dâng vua Minh: cống dâng vua gồm 3 phần cho vua, cho thái hậu và thái tử mỗi người một phần không rõ có những gì.

Năm 1542 Mạc Đặng Dung cống nhà Minh: lư hương và bình hoa bằng vàng (nặng 100 lạng), rùa vàng một con (nặng 90 lạng), hạc bạc và đài bạc mỗi thứ một cái (nặng 50 lạng), bình hoa và lư hương bằng bạc hai bộ (nặng 150 lạng), mâm bạc 12 chiếc (nặng 641 lạng), trầm hương 60 cân, tốc hương 148 cân.

Năm 1593 vua sai Đỗ Uông đến Lạng Sơn để đợi lệnh và sai Trịnh Vinh Lộc mang đi hai người bằng vàng và bạc (đều cao một thước hai tấc, nặng 10 cân) cúng mọi đồ cống vật nhưng không được lệnh báo của nhân Minh nên lại trở về Thăng Long.  Năm 1715 chỉ dụ của vua Thanh là những đồ cống như lư hương, bình hoa bằng vàng, bạc và chậu bạc phải đúc thành đĩnh vàng, đĩnh bạc rồi mới cống.

Ngoài cống vật, có khi phải cống thợ giỏi, thày bói , thầy thuốc . . .

Các lễ tạ ơn, lễ mừng ít hơn lễ cống nhưng cũng không thể không có:

- Lễ vật tạ ơn: Lư hương, bình hoa bằng vàng (mỗi thứ một cái nặng 57 lạng 5 đồng cân, chiết can làm 6 đĩnh vàng), hạc bạc và đế bạc đều 1 chiếc nặng 48 lạng 4 đồng cân, chiết can làm 5 đĩnh bạc), lư hương và bình hoa bằng bạc mỗi thứ 1 cái (nặng 50 lạng 4 đồng cân, chiết can làm 5 đĩnh bạc).

Lễ vật mừng: Rùa vàng 1 con (nặng 18 lạng), hạc bạc và đế bạc đều 1 cái (nặng 50 lạng), lư hương và bình hoa bằng bạc mỗi thứ 1 cái (nặng 49 lạng), trầm hương 30 cân, tốc hương 60 cân, quạt sơn 100 chiếc.

- Lễ vật báo tang: Trầm hương 30 cân, tốc hương 70 cân.

- Lễ vật về tâu việc: Cũng như lễ vật mừng, chỉ bớt đi 100 chiếc quạt sơn. *

Thời nào có luật của thời đó. Thời Đại Việt là thời ngoại giao bằng vũ lực, nước lớn khống chế nước nhỏ trong khu vực. Xét quan hệ của Đại Việt với đế chế Trung Hoa, sứ thần Phan Huy Chú đã có những nhận xét tinh tường và sáng suốt:

“Từng xét, đời Đinh đời Lê được sách phong chỉ gọi là quận vương, đến đời Lý mới phong là An Nam quốc vương. Đời Trần thì hạn ba năm một kỳ cống, đến đời Hậu Lê mới định lệ sáu năm cống cả hai kỳ, xem sự thể không giống nhau thấy thế nước mỗi lúc một khác. Bởi vì thanh danh đã rạng rỡ, phong khí ngày một mở mang, văn vật ngày một mới mẻ nên Thượng quốc phải coi trọng, phong cho danh hiệu vẻ vang khác nào như được ngôi bắc thần đoái đến. Còn như khi sứ giả đi lại thì có lễ tiếp đãi, bờ cõi hai nước thì có văn thư biện bạch, đó đều là việc có quan hệ đến quốc thể và lân giao 1.


__________________
1. Phan Huy Chú - Lịch triều hiến chương loại chí - Bang giao chí Sđd. 
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #72 vào lúc: 02 Tháng Sáu, 2009, 05:58:26 pm »

XIV

VẤN ĐỀ BIÊN GIỚI VÀ LÃNH THỔ

Từ xưa tới nay những va chạm về biên giới hay lãnh thổ là chuyện thường xảy ra; chỗ khác nhau là ở chỗ có dẫn tới chiến tranh hay không. Đại Việt và đế chế Trung Hoa là hai nước láng giềng trực tiếp, những vụ việc về biên giới thường xảy ra cũng là tất nhiên. Vấn đề đáng nghiên cứu là tìm ra những đặc điểm và quy luật của những vụ việc đó.

Có nhiều nhân tố đã tác động đến quan hệ Việt-Trung về vấn đề biên giới và lãnh thổ:

1 - Đế chế Trung Hoa luôn luôn thi hành chính sách bành trướng, kiêm tính đối với các nước láng giềng mà họ gọi là phiên quốc. Sau khi thống nhất Trung Quốc, Tần Thuỷ Hoàng cho 50 vạn quân tiến xuống phía Nam, đánh các nước Việt, trong đó có nước Âu Lạc. Cuộc nam chinh của các vương triều Trung Quốc bắt đầu từ đó.

Có thể khẳng định không vương triều Trung Quốc nào không thi hành chính sách bành trướng đối với nước Đại Việt. Lúc mạnh thì họ cho quân sang xâm lược và nhập nước Việt Nam thành quận, huyện của Trung Quốc trong thời Bắc thuộc. Lúc yếu họ yêu sách về cầu phong, triều cống, gây bất ổn định ở biên cương, thậm chí vẫn chủ quan cho quân tiến đánh Đại Việt như nhà Tống bị quân Kim, quân Mông Cổ đánh mà vẫn đưa quân đánh Đại Việt hay nhà Minh đang bị quân Thanh uy hiếp tiêu diệt mà vẫn đánh Đại Việt.

Không kể một nghìn năm đô hộ nước Việt, từ thế kỷ thứ X đến thế kỷ thứ XVIII các triều đại Tống, Nguyên, Minh, Thanh đều đã xâm lược Đại Việt: Nhà Tống hai lần, nhà Nguyên ba lần, nhà Minh, nhà Thanh mỗi vương triều một lần. Tham vọng bành trướng bá quyền của đế chế Trung Hoa là nhận tố địa lý chính trị thường xuyên uy hiếp chủ quyền lãnh thổ, hoặc gây bất ổn định vùng biên cương của Đại Việt dưới nhiều mức độ.

2 - Đặc điểm vùng biên giới Việt Trung về phía Đại Việt là địa bàn của một số dân tộc thiểu số chủ yếu là Nùng, Tày, Thái. ở thời Đại Việt, thậm chí đến khi Pháp mới sang Việt Nam, các dân tộc đó đều do một thổ mục địa phương cai quản.

Các triều đại phong kiến Đại Việt đối xử với họ theo lối ky mi (phụ thuộc một cách lỏng lẻo) và thi hành chính sách tranh thủ đối với các thổ mục (cho quyền cai trị dân địa phương, ban chức tước, tặng phẩm...).  Nếu quán triệt chính sách đó thì không những có thể giữ yên được địa phương mà còn có thể động viên người thiểu số để đánh giặc giữ nước.

Vì sống ở vùng giáp ranh giữa Đại Việt và Trung Hoa, một cường quốc lớn và giàu mạnh gấp hàng chục lần nước Đại Việt nhỏ bé, những dân tộc thiểu số ở vùng biên giới cũng lại chịu sức hấp dẫn và sức ép của đế chế Trung Hoa.

Có thể khẳng định rằng đế chế Trung Hoa ở mọi thời đều tìm cách dụ dỗ, mua chuộc các thổ mục thiểu số. Khi quan hệ của họ với triều đình Thăng Long xấu đi, các thổ mục thiểu số đều tìm chỗ dựa ở Trung Quốc, lấy đất Trung Quốc làm căn cứ địa, và khi đó họ dâng cho Hoàng đế Trung Quốc lãnh địa của họ.

Đời Tống, hai châu Vật Ác, Vật Dương đều thuộc châu Quảng Nguyên của Việt Nam là do họ Nùng cai quản. Năm 1038 Nùng Trí Cao theo cha đánh vua Lý, đến năm 1041 bị quân Lý bắt Vua Lý Nhân Tông tha tội cho, lại cấp đất Quảng Nguyên và vùng chung quanh.

Bảy năm sau Nùng Trí Cao lại làm loạn, năm 1048 chiếm đất Vật Ác của nhà Lý, năm 1050 lại chiếm thêm đất Vật Dương. Sau khí Nùng Trí Cao mất, Nùng Tông Đán dâng nhà Tống đất Vật Ác và một số đất khác (nhà Tống đổi tên là châu Thuận An).  Năm 1064, Nùng Trí Hội theo nhà Tống và dâng đất Vật Dương. (Nhà Tống đổi tên là châu Quì Hoá).  Nhà Lý sáu lần đòi lại nhưng nhà Tống không trả lại .
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #73 vào lúc: 02 Tháng Sáu, 2009, 05:59:28 pm »

Cuối thế kỷ XVIII thổ hào Hoàng Công Chất chống triều đình, sau khi Chất chết, con là Công Tán đầu hàng Trung Quốc, chạy sang Vân Nam, phụ đất và dân 10 châu vào tỉnh Vân Nam. Tỉnh vân Nam đặt làm Lục Mãnh; Mãnh Lại, Mãnh Thích, Mãnh Đinh, Mãnh Thoa, Mãnh Bạn, Mãnh Lộng .

Ngoài các đất bị các thổ hào của ta dâng cho Trung Quốc, còn các đất bị các quan chức Trung Quốc trắng trợn chiếm của ta như thổ quan châu Khai Hoá (Vân Nam) chiếm các động thuộc ba châu Vị Xuyên, Bảo Lạc, Thuỷ Vĩ, mỏ đồng Tụ Long (sau khi vua Thanh trả ta; Pháp lại nhượng cho Thanh khi giải quyết vấn đề biên giới Việt-trung).  Đó là chưa kể những lần quan quân địa phương Trung Quốc tràn sang vùng biên cương của Việt Nam cướp thóc lúa, trâu bò.

Nhưng nói cho công bằng, cũng cần nêu một số lần quân Đại Việt vào sâu lãnh thổ Thanh như: Năm 1466 hơn 1.000 quân Đại Việt ở Lạng Sơn tiến vào Bằng Tường; năm 1480, hơn 600 quân Đại Việt ở Bắc Bình (Cao Bằng ngày nay) lấn đất Trung Quốc đến tận Cám Quả giáp huyện Tư Lăng (Trung Quốc) mở cửa quan. Năm 1547, chúa Trịnh Tráng thấy tình hình nhà Minh đang gặp khó khăn nên có ý muốn lấy tỉnh Quảng Đông, liền sai đem 300 chiến thuyền vượt biên đổ bộ tiến đến Liêm Châu. Nhà Thanh cử đô đốc Mã đối phó. Đô đốc Mã gửi thư cho chúa Trịnh đại ý nói “Từ Sa Châu trở ra ngoài đến Phân Mao - Đồng Trụ là đất của quý quốc cầy cấy chăn nuôi từ lâu, cho về An Nam. Nếu kẻ nào mượn tiếng mà xâm lấn một bước tức thì bắt giải để đem chính pháp, chớ nên nghe lời phao đồn mà sinh lòng khác” 1. Quân ta liền rút.

Trong các sự việc, có nhiều việc nghiêm trọng như lấn chiếm đất đai, thâm nhập vũ trang nhưng tình hình không phát triển thành xung đột lớn là nhờ cả hai bên đều tự kiềm chế (Phía Trung Quốc thì Minh đang suy vong, Thanh mới chiếm được Trung Quốc; phía Đại Việt thì muốn dập tắt chiến tranh).  Nhưng vấn đề biên cương bao giờ cũng nhạy cảm và tiềm ẩn nguy cơ chiến tranh.

Một nhân tố khác có thể coi là ngòi nổ cho mọi cuộc va chạm, tranh lấn, xung đột ở biên giới là giữa hai nước chỉ có vùng biên giới mà không có đường biên giới.

Từ thế kỷ XIX về trước, trên thế giới nói chung chưa có khái niệm đường biên giới, chỉ lấy sự quy thuộc hành chính, một đỉnh núi, một dòng sông hay lưu vực một con sông, đường phân thuỷ của một thuỷ hệ làm biên giới. Một biên giới quan niệm như thế thì không thể rõ ràng được, và tất nhiên sẽ dẫn đến những giải thích, những tranh cãi, tranh lấn không thể kết thúc được nếu hai bên không có thiện chí tình một cách thoả thuận. 

Khi đường biên giới không rõ ràng thì các cuộc tranh chấp biên giới là không tránh khỏi. Nhưng khi biên giới đã được hoạch định rõ ràng, nó vẫn còn bị tác động của chủ nghĩa bành trướng, của những lợi ích ích kỷ hay những tàn dư của những câu chuyện lịch sử.

Người ta chưa quên giữa Chilê và Achentina đã xảy ra nhiều cuộc chiến tranh biên giới trong thế kỷ XIX; sang thế kỷ XX, hai nước đã giải quyết xong vấn đề biên giới và để đánh dấu sự kiện đó họ đã lấy tất cả các khẩu đại bác trên biên giới đúc một bức tượng Chúa khổng lồ đặt lên đỉnh núi Ang-del (Andes) trên bức tượng có khắc lời nguyền của hai bên quyết xây dựng đường biên giới mãi mãi hoà bình.

Mặc dầu lời nguyền long trọng đó dưới chân Chúa, ít lâu sau đó chẳng vẫn nổ ra chiến tranh biên giới giữa hai nước đó sao? Người ơi, hãy cảnh giác với vấn đề biên giới.  Ý thức được trách nhiệm cao cả giữ gìn non sông đất nước, rút kinh nghiệm từ hàng chục lần xâm lấn của các vương triều Trung Quốc, ông cha ta đời này qua đời khác, đã kiên quyết đấu tranh bảo vệ lãnh thổ và chủ quyền. Tiếng thét chống giặc của ông Dóng trong buổi bình minh của đất nước đánh dấu lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc và muôn đời sau còn vang vọng.

Vua Hùng Vương thứ 6 yêu cầu được mai táng trên núi cao để từ đó theo dõi con cháu giữ gìn đất nước.


___________________
1. Phan Huy Chú - Lịch triều hiến chương loại chí - Bang giao chí, sđd.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #74 vào lúc: 02 Tháng Sáu, 2009, 06:00:22 pm »

Vua Lý Nhân Tông, người dã dẹp loạn trong, bắt sống vua Chiêm Thành, trước khi nhắm mắt đã kiểm điểm lại việc bảo vệ giang sơn và hài lòng nói với thái uý Lưu Khánh Đàm: “Nhờ anh linh của tổ tông, được hoàng thiên tin giúp, bốn biển yên lành, biên thuỳ ít biến, đến chết được dự đứng sau các tiên quân là may lắm rồi, sao còn nên thương khóc?”. 

Vua Lê Thánh Tông, người đã cống hiến 38 năm xây dựng nên nước Đại Việt hùng mạnh vang dội khắp Đông Nam Á, đã thề trước vong linh các bậc vua hùng tôi hiền đã dựng nên cơ nghiệp nhà Lê:

Hiếu tông Hồng Đức thừa phi tự
Bát bách Cơ Chu lạc thái bình
.

Dịch:

Đứa cháu hiếu Hồng Đức kế thừa nghiệp lớn
Vui hưởng đời thái bình như nhà Chu dài tám trăm năm
.

Và trong bài thơ (Quỳnh uyển cửu ca) về đạo làm vua, ông đã nêu rõ trách nhiệm “Chế trị bảo bang tư kế thuật” (nghĩa là: suy nghĩ phát huy việc xây dựng sự thịnh trị, giữ gìn đất nước).

Năm 1473 trong tờ sắc dụ gửi Thái bảo Kiến dương bá Lê Cảnh Huy, trấn thủ vùng biên giới giáp Quảng Tây, Lê Thánh Tông đã viết: “Một thước núi một tấc sông của ta không nên vứt bỏ, ngươi nên cố cãi chớ cho họ lấn dần, nếu họ không nghe còn có thể sai quan sang xứ Bắc triều bày tỏ phải trái. Nếu ngươi dám lấy một thước, một tấc đất của Tháí tổ mà đút mồi cho giặc thì tội phải tru di”.

Sau khi lên ngôi Hoàng đế, vua Quang Trung đã hiểu dụ tướng sĩ quyết tiêu diệt quân Thanh:

Đánh cho nó chích luân bất phản
Đánh cho nó phiên giáp bất hoàn
Đánh cho sử trì Nam quốc anh hùng chi hữu chủ
!

Với tinh thần yêu nước như trên, các vương triều nước ta đã luôn luôn đấu tranh ngoại giao với đế chế Trung Hoa khi không phải là thời chiến để bảo vệ lãnh thổ, biên giới, chủ quyền.

Do đánh thắng cuộc xâm lược của tướng Quách Quỳ, nhà Lý đã buộc nhà Tống trả lại ta tất cả bốn châu và một huyện mà Quách Quỳ đã chiếm: Quảng  Nguyên, Tư Lang, Môn, Tô Mậu, Quang Lang, Thuận Châu (có bớt một số đất) . Nhưng còn hai động lớn Vật Ác, Vật Dương mà các thổ mục đã nộp cho nhà Tống (Nùng Tông Đản nộp Vật Ác năm 1057 , Nùng Trí Hội nộp Vật Dương năm l064).

Năm 1083 theo lời mời của Tống, vua Lý Nhân Tông cử Đào Tông Nguyên đến Vĩnh Bình (Trung Quốc) bàn vấn đề đất đai, Đào Tông Nguyên đòi hai châu Vật Dương, Vật Ác, Tống không chịu.  Nguyên bỏ ra về. Ta đem quân tập trung gần châu Vật Dương. Trung Quốc gọi là châu Quy Hoá.

Năm 1084, Lý Nhân Tông cử trạng nguyên Lê Văn Thịnh đến Vĩnh Bình để bàn biên giới hai châu Vật Dương, Vật Ác, Lê Văn Thịnh tranh luận găng nhưng phái viên của Tống lại tâu vua là Văn Thịnh không đòi nữa. Vua Tống Thần Tông cho điều tra lại lời phái viên và cuối cùng gửi chiếu cho vua Lý Nhân Tông nói rõ lấy tám ải làm giới hạn (Canh Liêm, Khâu Cự, Khiếu Nhạc, Thông Khoáng, Canh Nham, Đốn Lị, Đa Nhân, Cân Nam), đất ngoài các ải đó để cho nhà Lý: sáu huyện là Bảo Lạc, Luyện, Miêu, Đinh, Phóng, Cân và hai động Túc, Tang. 

Vấn đề hai động coi như vua Tống Thần Tông đã giải quyết. Sau khi Thần Tông chết, vua Triết Tông lên thay, Thái hoàng thái hậu họ Cao lên nhiếp chính. Nhân có vua mới, Lý Nhân Tông gửi thư sang Tống đề nghị sửa lại chiếu cũ về Vật Dương, Vật Ác, Vua Tống khước từ.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #75 vào lúc: 02 Tháng Sáu, 2009, 06:00:57 pm »

Năm 1086, vua Lý lại nhắc chuyện xin đất. Vua Tống lại bác. Năm 1086, sứ bộ Lê Chung nhân sang mừng Triết Tông lên ngôi, lại nhắc vấn đề đất. Nhà Tống lại bác bỏ. Năm 1087, sứ bộ Lê Chung tới Biện kinh. Tống giáng chức các quan lại ở Quảng Tây đã phân hoạch địa giới không đúng. Và phong Lý Nhân Tông làm Nam bình vương, nhưng vua Lý vẫn không bỏ rơi hai động. Nhân dịp Tống sợ Lý đánh nên cho xây đồn ở các ải giáp Đại Việt. Vua Lý lợi dụng việc này lại cho rằng như thế là đe doạ Đại Việt, nên xin lại hai động. Vua Tống vẫn cự tuyệt. Từ đấy vua Lý thôi không nhắc lại vấn đề hai động Vật Dương, Vật Ác nữa, sau hai lần bị vua Thần Tông bác bỏ, bốn lần bị Cao thái hậu bác bỏ.

Năm l405 nhà Minh sai sứ hỏi đất châu Lộc (Lộc Bình – Lạng Sơn ngày nay) với lý do nó thuộc châu Tự Minh (Quảng Tây). Hồ Quý Ly sai quan hành khiển là Hoàng Hối Khanh làm cắt địa sứ. Hoàng Hối Khanh đem đất Cổ Lâu gồm 59 thôn giao cho nhà Minh, một vùng đất rộng đi phải mất vài ngày đường, với những tên xã Việt Nam. Hồ Quý Ly thấy Hoàng Hối Khanh trao trả nhiều quá, quở mắng Khanh.

Sau khi tiếm ngôi của nhà Lê, năm 1 540 Mạc Đăng Dung đầu hàng nhà Minh “và giao trả lại hai đô Như Tích và Chiêm Lãng và bốn dộng Tê Phù, Kim Lặc, Cổ Sâm, Liễu Cát để thuộc về Khâm Châu” (Nguyên văn lời biểu của Mạc Đăng Dung, theo Bang giao chí của Phan Huy Chú).

Theo Đại Việt sử ký toàn thư, Mạc Đăng Dung đã nộp những đất đó cho nhà Minh khi “đầu hàng”, nhưng không nói rõ những đất đó là của Đại Việt. Các sử liệu Trung Quốc (Minh Sử, Đại Thanh nhất thống chí, Trung ngoại địa dư đồ thuyết tạp thanh...) lại nói đó là những đất của Trung Quốc đã bị nhập vào Đại Việt và nay trả lại Trung Quốc. Như Trung ngoại địa dư đồ thuyên tạp thanh viết: Phủ Hai Đông có 4 huyện, 3 châu: huyện Tân Bình, huyện Hoa Phong, châu Vạn Ninh, châu Vân Đồn, châu Vĩnh An... tiếp giáp với châu Khâm tỉnh Quảng Đông đi vài trăm dặm thì tới núi Phân Mao là nơi chia biên giới Việt Nam - Trung Quốc. Đầu thời Mạc dâng 2 châu Chiêm Lãng, Như Tích và 4 động Cổ Sâm, Kim Lặc, Tư Lãm, Liễu Cát...

Minh sử thì chép: “Châu Khâm... phía Tây có Như Tích, có Phạt Đáo là hai ty tuần kiểm tiếp giáp với biên giới Giao Chỉ. Năm thứ hai niên hiệu Tuyên Đức (l427) thuộc vào An Nam. Năm thứ 21 niên hiệu Gia Tĩnh (1542) lại khôi phục trở về”.

Theo Khâm Châu Chí, Dương phòng tập yếu, Đại nam nhất thống chí, năm 1427 một thổ mục tên là Hoàng Kim Quảng đã đem mười chín thôn và bốn động Liễu Cát, Tư Lãm, La Phủ, Cổ Sâm nguyên thuộc châu Khâm theo về với Lê Lợi, bốn động đó được sát nhập vào châu Vạn Ninh, An Bang, Hoàng Kim Quảng được Lê Lợi phong làm Kinh lược sứ.

Theo Minh Tuyên tông thực lục, năm 1428, một người khác tên là Hoàng Lộc Thụ ở đô Như Tích giúp quân Việt Nam xâm nhập địa phương này. Năm 1434 lại có Hoàng Khoan giúp Việt Nam đánh cướp biên giới ở đô Chiêm Lãng.

Năm 1442, nhà Minh gửi các dụ cho vua Lê Thái Tông, nói Chiêm Lãng, Như Tích là đất của Trung Quốc và đòi trả lại bọn Hoàng Khoan và số dân để châu Khâm cai quản như cũ. (Không nêu bốn động có lẽ vì bốn động đó vốn thuộc hai đô Như Tích, Chiêm Lãng.

Vua Lê cử sang Minh tham tri Đông dạo Nguyễn Lan năm 1444, Ngự sử trung thừa Hà Phủ, Đông tri thẩm hình Viện Dinh Lan năm 1447 để tâu về địa giới châu Khâm. Đại Việt sử ký chỉ nói chung chung thế.nhưng chắc là có bàn vấn đề Hoàng Kim Quảng và đất đai của châu Khâm.

Như vậy, có thể kết luận là Mạc Đăng Dung đã trả Minh đất của hai châu bốn động vốn của Trung Quốc, và đó là một nhân nhượng lớn vì từ 1427 đến 1540 nhà Lê chưa chịu trả nhà Minh. Và sự nhân nhượng đó là để nhà Minh chấp nhận sự đầu hàng của họ Mạc. 
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #76 vào lúc: 02 Tháng Sáu, 2009, 06:02:00 pm »

Ý đồ đầu hàng, trả đất của Mạc Đăng Dung là được phong vương và rảnh tay về phương Bắc để chống lại Lê Trịnh, nhưng nhà Minh đã xoá quốc hiệu Đại Việt và chỉ phong Mạc Đăng Dung làm đô thống sứ còn Lê Trịnh không bị diệt mà còn đẩy họ Mạc lên Cao Bằng, và nhà Thanh đã trục xuất cả họ hàng nhà Mạc về Việt Nam. Nước cờ đầu hàng trả đất Mạc Đăng Dung đã phải trả với cái giá quá đắt. 

Năm 1684, thổ quan huyện Khai Hoá (tỉnh Vân Nam) xâm chiếm các động thuộc ba châu Vị Xuyên, Bảo Lạc, Thuỷ Vĩ (tỉnh Tuyên Hưng). Trịnh Đức Thuận, đốc đồng, đưa thư cho bọn thổ quan, họ không chịu rút lui.

Năm 1698, sứ thần Nguyễn Đăng Đạo nêu vấn đề ba động Ngưu Dương, Hồ Điệp, Phổ Viền thuộc Tuyên Quang. Ba động này đã bị thổ quan tỉnh Vân Nam chiếm. Nghe lời tâu của tuần phủ Vận Nam, vua Khang Hy nhà Thanh khước từ. Nguyễn Đăng Đạo trở về. Chúa Trịnh Bính lại sai gửi thư cho nhà Thanh, Tuần phủ Quảng Tây không cho đi. Từ đó vấn đề ba động mới thôi.

Năm 1728 vua Thanh trả lại ta mỏ đồng Tụ Long. Trước đây thừa sai của ta đi hội khảm với quan chức nhà Thanh do nể ri.ang đã nhận là ta đã chiếm mỏ đồng của Trung Quốc, và hai bên đã cắm mốc, lập cửa quan, ta mất hơn bốn mươi dặm. Nay vua Thanh trả lại, thổ mục Tuyên Quang là Hoàng Văn Phác nhất định không nhận. Quan tỉnh Vân Nam Ngạc Nhĩ Thái ngờ là ta có mưu gì và tâu với vua Thanh lấy binh mã ba tỉnh đến đóng ở Quảng Tây và dò la tin tức.

Vua Thanh lại gửi sắc dụ trả đất ấy cho ta. Binh bộ thị lang Nguyễn Huy Nhuận, tế tửu Nguyễn Công Thái đi hội với viên uỷ sai của nhà Thanh ở Tuyên Quang rồi phân đất định giới, lấy sông Đồ Chú làm biên giới, dựng đá làm mốc.  (Cuối thế kỷ XIX Pháp đã nhượng mỏ này cho Trung Quốc).

Năm 1781, ta gửi thư cho Tổng đốc Vân Nam hỏi về vấn đề mười châu mà bọn Hoàng Công Thư đã nộp cho Trung Quốc. Tổng đốc Vân Nam không nghe, trả lời là biên giới tự nhiên không cần phải vạch lại. Ta lại gửi thư đáp lại nhưng quan chức Trung Quốc trả lại thư. 

Vấn đề tranh chấp biên giới.

Năm 1272, nhà Nguyên cử sứ là Ngột Lương sang dò la và hỏi mốc giới cột đồng trụ. Vua sai viên ngoại lang Lê Kính Phụ đi hội khám. Kính Phụ nói chỗ dựng cột đồng của Mã Viện nay đất đã lấp không còn dấu vết gì.

Năm 1345, nhà Nguyên lại cử sứ thần Vương Sỹ Hanh sang hỏi về cột đồng. Vua sai Phạm Sư Mạnh sang biện bạch.

Năm 1725, vua Dụ Tông cử các bồi tụng hồ Phi Tích, Vũ Công Tê hội khám với viên uỷ sai của nhà Thanh để tra khám địa giới tỉnh Tuyên Quang sau khi Vân Nam xâm lấn hai châu Thuỷ Vĩ và Vỵ Xuyên.

Năm 1726 Hồ Phi Tích gặp viên uỷ sai nhà Thanh là Phan Doãn Mẫn để bàn vấn đề mốc giới.  Doãn Mẫn khẳng định là nước ta đã xâm chiếm, vua Thanh sai dựng cột mốc ở dưới núi Diên Xương (mỏ kẽm).

Vấn đề an ninh biên giới.

Vùng biên giới Việt - Trung xa cả triều đình Trung Quốc và Đại Việt, khách quan mà nói đều là khó kiểm soát, cho nên việc vượt biên giới trái phép, cướp làng xóm, bắt trâu bò, cướp thóc lúa, thậm chí xâm cư lấn canh xảy ra hàng ngày, gây nên tình hình thường xuyên mất ổn định ở biên cương. 

Thường xảy ra nghiêm trọng nhất vấn đề người Hoa xâm phạm biên giới, xâm cư xâm canh, cướp phá làng bản. Phía Việt Nam đã phải nhiều lần bàn giải quyết vấn đề các với quan chức biên giới Trung Quốc, như vụ Triệu Nhân Chinh, tri huyện Long Châu (Quảng Tây) nhiều lần đánh chiếm châu Hạ Tư Lang (Đại Việt), bắt người, cướp trâu ngựa phải kiện đến thiên triều.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #77 vào lúc: 02 Tháng Sáu, 2009, 06:03:13 pm »

Khi làm đốc trấn Lạng Sơn, Ngô Thì Sỹ đã có bài khải về vấn đề người Trung Quốc ở vùng biên cương: .

“Trộm xét: khách buôn người Tàu đến ngụ nước ta, có hạng khai mỏ lấy của, có hạng thuê ruộng cầy cấy có hạng ngồi một nơi mà buôn, có hạng ở lẫn với dân, có hạng lập riêng ra làng xóm dần dần củng cố mà sáu trấn Lạng Sơn, Thái, Tuyên, Hưng, Cao, Quảng càng nhiều. Đại ước số người hiện có gần xấp xỉ dân ta. Thế mà không nộp sưu thuế, không chịu ước thúc, đi ở tự do, láo xược khó chế Tinh tệ bọn khách ở Tống Tinh làm phiền người trên phải xét xử là một chứng nghiệm. Chúng đã ăn hoa lợi trên đất vua thì lẽ nào không phải là dân vua? Thế mà chỉ có đóng thuế khai mỏ cũng theo cách quá nhẹ so với số thuế đong điệu mà dân ta phải chịu, chưa đến một phần mười. Chúng ở nước ta mà không dính líu gì đến nước ta chỉ ngày càng bòn rút, chở tiền bạc ra ngoài. Của cải nước ta, một phần nữa vì chúng mà hao mòn. Còn hạng ở bốn trấn có nhiều người lập trang trại riêng, bán ruộng đất cho dân mà dân sở tại lại làm nô lệ cho chúng. Lại còn hạng giả vờ nói là bị gió bão trôi dạt vào các cửa biển Thanh - Nghệ để bán hàng hoá là chưa kể” 1. 
 
Bức tranh vùng biên cương Đại Việt mà Ngô Thì Sỹ phác hoạ ở thế kỷ XVIII đến sau này vẫn còn là thời sự. 

Vấn đề can thiệp vào nội bộ Việt Nam.

Với uy quyền và tiềm năng của mình, các vương triều Trung Hoa can thiệp vào công việc nội bộ Đại Việt là chuyện thường. Nhà Nguyên từng đã cử một viên darugatri thường trú ở Thăng Long để theo dõi hoạt động của nhà Trần. Vua Trần ở thế phải chấp nhận nhưng tìm mọi cách vô hiệu hoá, tranh thủ darugatri.

Quan hệ Trần - Nguyên từ 1258 đến 1288 rất căng thẳng, và Hốt Tất Liệt tức vua Trần Nhân Tông không chịu vào triều cận. Năm 1281, Hốt Tất Liệt cử chú vua Trần Nhân Tông là Trần Di Ái (Đang thay mặt vua sang chầu Hốt Tất Liệt) làm An Nam quốc vương thay Trần Nhân Tông đồng thời lập cả một bộ máy chính phủ. Hốt Tất Liệt cử Sài Thung và 1.000 quân hộ tống và vua Trần đã cho quân tiêu diệt đội hộ tống này và đón sứ bộ Sài Thung về Thăng Long. Trần Di ái sợ chạy trốn về nước.

Đem quân sang đánh lại bị thua, lập Trần Di Ái làm vua bù nhìn không xong, năm 1286 Hốt Tất Liệt vừa chuẩn bị cuộc xâm lược thứ hai vừa chuẩn bị một chính phủ bù nhìn mới với Trần Ích Tắc làm An Nam quốc vương. Một số quan can vua không nên đánh Đại Việt. Hốt Tất Liệt tạm cho Trần Ích Tắc ở Ngạc Châu và cấp ruộng đất cho tự túc. 

Khi họ Hồ cướp ngôi nhà Trần, nhà Minh ráo riết chuẩn bị xâm lược vũ trang Đại Việt đồng thời lại chuẩn bị con bài chính trị. Khi đó có tên gia nô nhà Trần: Trần Thiêm Bình mạo nhận là con Trần Nghệ Tông xin cầu viện nhà Minh. Nhà Minh cho mười vạn quân tiến vào Đại Việt với lý do là đưa “Trần vương” về nước. Nhưng tướng Minh bị đánh ở Chi Lăng bèn đổi giọng nói là đem quân giải nộp Thiêm Bình cho ta. Thiêm Bình bị xử tội, còn quân Minh cứ tiến vào xâm lược Đại Việt dưới danh nghĩa “Phù Trần diệt Hồ”.

Khi Hoàng đế Quang Trung tiến quân ra Bắc, vua Lê Chiêu Thống cho người mang thư sang Trung Quốc yêu cầu đem quân cứu viện. Vua Thanh lợi dụng cơ hội này đưa quân xâm chiếm Đại Việt.  Vua Lê Chiêu Thống được phong làm An Nam quốc vương nhưng thực tế chỉ là một vua bù nhìn. Một phần Bắc Hà kể cả kinh thành .Thăng Long bị hai mươi chín vạn quân Thanh chiếm đóng. Với trận thắng Ngọc Hồi - Đống Đa, Quang Trung đã quét sạch quân Thanh ra khỏi bờ cõi, giữ vững độc lập chủ quyền.

Lịch sử chín trăm năm của nước Đại Việt đã được đánh dấu bằng những chiến công oanh liệt của các nhà Ngô, Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê để đánh đuối xâm lược, bảo vệ giang sơn. Nhưng khi bờ cõi không bị xâm phạm thì kiên trì các biện pháp ngoại giao: cử sứ thần đi biện bạch, gửi biểu phản đối, họp hội nghị biên giới, hai bên đi thực địa hội khám.


_______________________
1. Trần Thị Băng Tâm - Ngô Thì Sĩ Nhà xuất bản Khoa học Xã hội- Hà Nội.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #78 vào lúc: 02 Tháng Sáu, 2009, 06:05:17 pm »

Rõ nét nhất là thời Lê, sau khi Đại Việt đánh thắng cuộc viễn chinh của nhà Minh, chiến tranh giữa hai nước đã chấm dứt nhưng những sự kiện biên giới vẫn cứ xảy ra, có những chuyện nghiêm trọng như quân nhà Lê vào đất Trung Quốc, quân nhà Minh vào đất Đại Việt nhưng cả hai bên đều không muốn chiến tranh xảy lại nên đều dùng con đường trực tiếp bàn bạc, trao đổi sứ thần, có việc giải quyết được, có việc không giải quyết được nhờ đó mà hoà bình duy trì được hơn ba trăm năm đến hết thời Minh và một phần thời Thanh. Nhìn từ một góc độ khác, thấy khi Trung Quốc suy yếu hay khi Đại Việt mạnh thường xảy ra va chạm biên giới.

Nhìn lại lịch sử nghìn năm giữa nước Đại Việt và đế chế Trung Hoa người ta thấy những nét chung với quan hệ của các nước khác ở nơi khác với nhau, nhưng cũng có những nét đặc trưng riêng biệt của quan hệ Việt - Trung. Quan hệ Đại Việt-trung Hoa bao gồm hai mặt:

Quan hệ giữa hai nước láng giềng trực tiếp.

Quan hệ giữa một nước nhỏ với một đế chế luôn luôn tự coi là trung tâm thiên hạ.

Các nhà lãnh đạo Đại Việt đã sớm hiểu đặc điểm của ngoại giao Đại Việt - Trung Hoa, và cũng phân biệt vấn đề “đạo giao lân” (quan hệ giữa các nước láng giềng) và việc “thông hiểu với Trung Hoa”. Thể hiện tinh thần đó, sử thần Phan Huy Chú đã viết:

“Trong việc trị nước, hoà hiếu với nước láng giềng là việc lớn, mà những khi ứng thù lại rất quan hệ, không thể xem thường, cho nên nghĩa tu hiếu (sửa việc giao hiếu), chép ở kinh Xuân thu, “đạo giao lân” chép ở Hiền truyện (sách Mạnh Tử), chính là đem lòng tin thực mà kết giao, người có quyền trị  nước phải nên cẩn thận.

“Nước Việt ta có cả cõi đất phía Nam mà thông hiếu với Trung Hoa, tuy nuôi dân dựng nước có quy mô riêng, nhưng ở trong thì xưng để mà đối ngoại thì xưng vương, vẫn chịu phong hiệu, xét lý thế thực phải như thế. Cho nên lễ sách phong, lễ cống sính, việc bang giao các đời đều xem là quan trọng” 1. 

Ông cha ta chấp nhận cùng tồn tại hoà bình với đế chế Trung Hoa với điều kiện đế chế Trung Hoa công nhận quyền làm chủ của ta, và Đại Việt nhận phong hiệu và nộp cống với Trung Hoa.

Khi đế chế Trung Hoa mang quân xâm lược nước ta, nhấn dân ta kiên quyết chống lại để bảo vệ sơn hà xã tắc, giữ vững quyền làm chủ. Nếu chỉ tính từ nhà Đinh đến nhà Tây Sơn, các vương triều Trung Quốc đã tiến hành tám cuộc chiến tranh xâm lược nước ta. Nhân dân ta đã anh dũng chống lại dù kẻ địch dùng tới năm mươi vạn quân, hàng trăm chiến thuyền, và cuộc nào cũng giành thắng lợi hoàn toàn, bảo vệ Tổ Quốc, chủ quyền lãnh thổ.

Có cuộc bằng tiêu diệt, có cuộc bằng thương lượng. Lý Thường Kiệt đã đề ra chủ trương vừa đánh vừa đàm. Trong chiến tranh, ông cha ta đã kết hợp tác chiến và ngoại giao. Ông cha ta đã để lại cho đời sau những kinh nghiệm vô giá: kết hợp quân sự và ngoại giao, tạo cục diện vừa đánh vừa đàm, dùng thương lượng kết thúc chiến tranh.


Phần thứ hai

NGOẠI GIAO ĐẠI VIỆT VỚI CÁC NƯỚC ĐÔNG DƯƠNG

Từ thời Lý, Trần, Đại Việt đã có quan hệ thương mại với các nước Đông Nam á. Từ thế kỷ XVI, XVII các nước Nhật Bản, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Hà Lan đã đến Đại Việt buôn bán và lập thương điếm tại Phố Hiến, Hội An. Nhưng Đại Việt vẫn chỉ có quan hệ với các nước trong khu vực: Chiêm Thành, Chân Lạp, Ai Lao, Xiêm.

Đại Việt rất coi trọng chính sách đối với các nước láng giềng Đông Dương. Quan hệ với các nước ‘ Đông Dương không thể đặt ngang với quan hệ với Trung Quốc nhưng cũng rất quan trọng vì nó là yếu tố bảo đảm độc lập, chủ quyền, an ninh và phát triển. Sử thần Phan Huy Chú, theo tình thế đó, đã nói đến “Đạo giao lân”. Đối với Đại Việt, trong các láng giếng quan trọng nhất là Chiêm Thành.


________________________
1. Phan Huy Chú - Lịch triều hiến chương loại chí - Bang giao chí, sđd.
« Sửa lần cuối: 02 Tháng Sáu, 2009, 06:20:30 pm gửi bởi UyenNhi05 » Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #79 vào lúc: 02 Tháng Sáu, 2009, 07:09:22 pm »

XV

QUAN HỆ VỚI CHIÊM THÀNH

Dân tộc Chăm hiện nay là một trong những thành viên của cộng đồng dân tộc Việt Nam. Về nhân chủng học, họ thuộc giống Anh-điêng nhưng cũng có phần giống Mông Cổ. Về ngôn ngữ họ được xếp vào nhóm Malayô-polymêđiêng cùng với một số dân tộc Tây Nguyên như Ra đê, Giarai, Raglai, Châu Ro... Dân số người Chăm hiện nay hai phần năm ở Bình Thuận, Ninh Thuận theo đạo Bàlamôn, một phần ba ở Tây Ninh, Châu Đốc theo đạo Hồi.

Hầu hết các dân tộc anh em trong cộng đồng dân tộc Việt Nam vốn đã có mặt rất sớm trên đất nước Việt Nam ngày nay.

Trên dải đồng bằng ven biển miền Trung, các nhà khảo cổ đã tìm thấy trong một số di chỉ dấu vết của một nền văn hoá vật chất đặc trưng gọi chung là văn hoá Sa Huỳnh (Nghĩa Bình) có niên đại khoảng từ giữa thiên niên kỷ I trước Công nguyên đến đầu Công nguyên.

Với trình độ Sa Huỳnh, nhóm cư dân ven biển miền Trung đã bước vào thời kỳ hình thành xã hội có giai cấp và Nhà nước. Bấy giờ trên địa bàn văn hoá Sạ Huỳnh có hai bộ lạc sinh sống - bộ lạc Cau và bộ lạc Dừa - Bộ lạc Cau (chữ Phạn trong bi ký là Kramuka vamala) cư trú trên vùng Phú Khánh Thuận Hải ngày nay; Bộ lạc Dừa cơ trú trên vùng Quảng Nam - Nghĩa Bình ngày nay.

Theo tám bia cổ chữ phạn tìm thấy ở làng Võ Cạnh (nay là xã Vinh Trung, Thành phố Nha Trang) dựng vào khoảng cuối thế kỷ thứ II, bộ lạc ở phía Nam đèo Cù Mông đã lập một tiểu quốc khoảng đầu Công nguyên. Tiểu quốc này theo bi ký có tên là Phan Ran (tên Chăm cổ) hay Panduranga (theo chữ Phạn) và gồm hai xứ: xứ Nam, Ran Ran (nay là đất Phan Rang - Phan Thiết, và xứ Bắc Kauthara (Lưỡi hái) nay là đất Nha Trang , Phú Yên .

Khi nhà Hán đô hộ Việt Nam, họ chia Việt Nam thành hai quận Giao Chỉ, Cửu Chân, và lập thêm quận Nhật Nam (Từ Đèo Ngang đến Quảng Nam), mà đất cực Nam là huyện Tượng Lâm (Quảng Nam - Nghĩa Bình ngày nay) là địa bàn của bộ tộc Dừa. 

Cũng như nhân dân Giao Chỉ, Cửu Chân, nhân dân Tượng Lâm, Nhật Nam trong thế kỷ thứ II liên tiếp nổi dậy bất chấp sự đàn áp của bọn thống trị Hán. Cuối thế kỷ thứ II, sau một cuộc khởi nghĩa mới, nhân dân Tượng Lâm đã giành được quyền tự chủ và lập nước. Lãnh đạo cuộc khởi nghĩa tên là Khu Liên.

Quốc gia mới lập của nhân dân Tượng Lâm (bộ tộc Dừa) trong một thời gian dài được thư tịch cổ Trung Quốc gọi là Lâm ấp. Tân Đường thư của Trung Quốc (thế kỷ thứ VIII) nói Lâm Ấp đổi là Hoàn Vương, sau lại bỏ tên Hoàn Vương và gọi là Chiêm Thành .

Các bia Chăm vào cuối thế kỷ thứ VI lần đầu tiên nói đất nước tên là Chăm pa. Khu Liên lên làm vua. Cuối thế kỷ thứ IV đến đầu thế kỷ thứ V, vua kế tiếp là Phạm Phật (Bhadravar man I. Qua các bi ký, thời vua này, phân bố trên địa bàn rộng từ Quảng Nam tới Khánh Hoà. Do đó có thể Nam Chăm và Bắc Chăm đã được thống nhất với nhau.  Một tấm bia tìm thấy ở Mỹ Sơn cho biết gia hệ một triều vua mà các nhà sử học gọi là vương triều Gannaraja tồn tại từ thế kỷ VI đến thế kỷ VIII.  Vương triều này định đô tại Sinhapura nay là Trà Kiệu, tỉnh Quảng Nam).

Ngoài kinh đô, nơi thờ thần linh thiêng, còn có một khu đền khác ở Mỹ Sơn cách kinh đô khoảng hai mươi ki-lô-mét. Lãnh thố cũng được mở rộng ra khu vực từ Đèo Ngang đến đèo Hải Vân, nhưng ưu thế nghiêng về miền Bắc Chăm. Nhưng về sau xuất hiện vương triều Panduranga lúc này trung tâm của quốc gia chuyển về Nam. Vương triều này đặt kinh đô tại vùng Nha Trang ngày nay và xây dựng tại đây một ngôi đền tượng trưng cho quyền lực của vua (Ngôi đền này sau bị người Java phá huỷ và được xây dựng lại cuối thế kỷ thứ VIII).

Đời vương triều này, vua Harivarman I cai quản toàn bộ Chiêm Thành, không chịu nộp cống cho vua Trung Quốc và đem quân đi đánh Chân Lạp, ba lần tấn công phủ An Nam khi đó nhà Đường đô hộ. Vương triều đã tồn tại từ thế kỷ thứ VIII đến thế kỷ thứ IX thì bị một vương triều khác thay thế, vương triều Indrapura (Đồng Dương) khi Po Nagar bị mờ nhạt, ưu thế lại thuộc về Bắc chiêm Thành.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM