Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 12:31:55 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Ngoại giao Đại Việt  (Đọc 96377 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #80 vào lúc: 02 Tháng Sáu, 2009, 07:10:04 pm »

Kinh đô lại chuyển từ Po Nagar về kinh đô mới Indrapura (làng Đồng Dương, Quảng Nam hiện nay). Từ lúc này thư tịch Trung Quốc bỏ tên Hoàn Vương và gọi tên nước là Chiêm Thành (Chăm pa).  Vương triều này gồm chín vua và phát triển đạo Phật. Vương triều này trị vì trong tình hình quốc tế có những biến chuyển quan trọng: năm 938 người Việt Nam đánh đổ được chính quyền đô hộ Trung Quốc và giành được độc lập; Vương quốc Chân Lạp khôi phục được sau khi đánh đuổi được người Java và cũng trở thành một quốc gia hùng mạnh và tiến đánh Chiêm Thành đến tận thủ đô miền Nam.  Vương triều Indrapura chấm dứt khoảng năm 982.

Từ thế kỷ thứ XI đến thế kỷ XV, lịch sử Chiêm Thành được đánh dấu bằng những sự kiện cực kỳ quan trọng liên quan tới vận mệnh của Chiêm Thành :

- Năm 1068, vua Chăm tiến đánh Đại Việt, vua Lý Thánh Tông phản ứng lại; đem quân đánh đến kinh đô Viajaya và bắt được vua Rudravarman III, buộc vua này phải nhượng ba châu Địa Lý, Ma Linh và Bố Chính.

- Năm 1177, vua Chăm Jaya Indravarman II đưa quân ngược sông Mêkông, đánh úp kinh thành Angkor, tàn phá hoàn toàn thành phố. Năm 1181 vua Chân Lạp Jayavarman VII giải phóng được Chân Lạp.

- Năm 1190 vua Chăm Jaya Indravarman Ong Vatuv lại tấn công Chân Lạp, nhưng vua Chân Lạp Jayavarman VII lợi dụng cơ hội này, đánh lại và tiến ra Chiêm Thành, chiếm kinh thành, bắt vua Chăm giải về Chân Lạp và đưa một ông hoàng Chăm anh em rể của Jayavarman VII lên làm vua.  Nhưng năm 1203, một ông hoàng Chân Lạp đuổi dược ông vua này và trị vì Chiêm Thành từ đó đến 1220.

- Năm 1226, ngôi vua Chiêm Thành lại thuộc về ông Hoàng Angcaraja Turaiviraja là cháu của vua Chân Lạp Harivarman I và đã được nuôi tại triều đình Chân Lạp. Từ 1203 đến 1220, Chiêm Thành đã trở thành lãnh địa của Campuchia. Từ 1226 cuộc chiến tranh một trăm năm giữa Chiêm Thành và Chân Lạp chấm dứt.

- Năm 1282, nhà Nguyên (Trung Quốc) đưa quân sang đánh Chiêm Thành, chiếm được kinh thành nhưng vua Chiêm Thành rút được lên núi, quân Nguyên không đánh đuổi được. Nhà Nguyên cho quân tiếp viện, nhưng số quân này đào ngũ nhiều. Nhà Nguyên lại phải thêm quân nhưng qua đường Đại Việt, nhưng Đại Việt không chịu vì khi đó Đại Việt và Chiêm Thành liên minh với nhau. Quân Nguyên lại thua to ở Đại Việt. Chiêm Thành đỡ được cuộc tiến công của quân Nguyên nhưng vẫn cử sứ sang Nguyên cầu hoà.

Giữ lời hứa khi đi thăm Chiêm Thành, vua Trân Nhân Tông năm 1305 gả con gái là Huyền Trân công chúa cho vua Chiêm Thành Chế Mân (Sinhavarman III), vua Chế Mân cắt hai châu Ô (sau đổi là Thuận Châu), châu Lý (sau đổi là Hoá Châu). 

Thuận Châu là huyện Thuận Xương thuộc quận Triệu Phong, Quảng Trị, Châu Hoá gồm hai huyện tỉnh Thừa Thiên và hai huyện tỉnh Quảng Nam.  Trần Khắc Chung đã đón được công chúa về nước khi Chế Mân chết. Từ đây nhiều lần người Chăm cất quân nhằm chiếm lại châu Ô, châu Lý. Nhưng đều thất bại .

Chế Bồng Nga lên ngôi năm 1360. Năm 1371 tiến quân ra Đại Việt đúng lúc Dương Nhật Lễ tiếm ngôi vua, vào Thăng Long chiếm các đền đài và phá huỷ cả cung điện. Triều đình phải chạy về Đông Ngàn.

Năm 1377 vua Duệ Tông thân chỉ huy quân đổ bộ ở hải cảng Vijaya (Thị Nại), nhưng bị quân của Chế Bồng Nga giết, quân Đại Việt thua chạy.  Nhân dịp này Chế Bồng Nga tiến quân ra Thăng Long lần thứ hai, thu được nhiều chiến lợi phẩm rồi rút về nước.

Năm 1380 Chế Bồng Nga lại đưa quân tiến ra Thăng Long, nhưng bị chặn ở Thanh Hoá. Bỏ đường biển, Chế Bồng Nga tiến quân theo đường núi và bất thần xuất hiện ở Thăng Long. Nhà vua lại rút về Đông Ngàn. Chế Bồng Nga ở lại Thăng Long từ tháng 6 đến tháng 12 năm đó.

Năm 1396, Chế Bồng Nga lại tiến ra Thăng Long. Lúc đang đứng trên thuyền chỉ huy, thì bị một loạt súng hoa mai bắn chết. Mất chủ tướng quân Chăm tháo chạy tán loạn .
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #81 vào lúc: 02 Tháng Sáu, 2009, 07:10:46 pm »

Năm 1468 và 1469 vua Chiêm Thành Trà Toàn tấn công Thuận Hoá với 100.000 người và một đội kỵ binh hùng mạnh. Năm 1471, vua Lê Thánh Tông thân chinh đem quân đi đánh Chiêm Thành với 150.000 quân bộ và một hạm đội mạnh với 100.000 thuỷ quân. Vua Lê Thánh Tông thân chỉ huy trận đánh kinh đô Chà Bàn (Vijaya), chiếm được thành, bắt sống được vua Trà Toàn, giết 60.000 quân Chăm, bắt 30.000 tù binh. Một tướng của Trà Toàn là Bồ Trì Trì chạy về Phan Rang ngày nay, chiếm giữ một phần năm đất đai của Chiêm Thành và xưng vua, sau này có cho người sang xưng thần tiến cống nhà Lê.

Vua Lê Thánh Tông lập hai nước Hoa Anh (có lẽ là Phú Yên), Nam Bàn (sau này là Thuỷ Xà và Hoả Xà) có lẽ là vùng Buôn Mê Thuộc và Kông Tum ngày nay. Như vậy nước Chiêm Thành bị chia cắt làm ba nước.

Từ đây lãnh thổ Chiêm Thành ngày càng thu hẹp và cuối cùng bị sáp nhập vào nước Việt Nam.  Nước Chiêm Thành lập quốc khoảng thế kỷ thứ VI và phát triển thành một Vương quốc hùng mạnh, có nền văn hoá rực rỡ trong khi nước Đại Việt còn dưới sự đô hộ của Trung Quốc.

Cựu Đường thư (sách của Trung Quốc) ghi rằng Chiêm Thành đã ba lần đánh phủ An Nam, năm 831, năm 862 và năm 865. Năm 968 Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi Hoàng đế, và bị giết hại năm 979. Ngô Nhật Khánh, con rể vua, chạy sang Chiêm Thành xin giúp lấy lại ngôi vua.  Vua Chiêm Thành Paramecvarman cho hơn một nghìn chiếc thuyền của thuỷ quân Chiêm Thành tiến ra Đại Cồ Việt, nhưng gần đến Hoa Lư thì bị bão, cả hạm đội bị đắm, Ngô Nhật Khánh bị chết đuối, chỉ có vua Chiêm Thành thoát chết về được nước. Đây là lần đầu tiên một vua Chăm đem quân đánh nước Đại Cồ Việt độc lập có chủ quyền.

Ngược lại vua Lê Đại Hành sau khi đăng quang đã cử Tư Mục và Ngô Tử Canh đi sứ sang Chiêm Thành, nhưng vua Chăm Paravecvarman đã bắt giữ sứ giả Việt. Vua Lê Đại Hành nổi giận cất quân đánh thẳng vào kinh đô Indrapura, chém vua Paravecvarman (Phê Mi Thuế) tại trận, bắt được nhiều tù binh, san phẳng thành trì.  Quan hệ giữa Chiêm Thành và Đai Cồ Việt đã bắt đầu như thế: một bên muốn thông hiếu, một bên lại gây chiến, báo hiệu một tương lai hoà mục bất trắc.

Thời Lý, năm 1011 Chiêm Thành dâng sư tử.  Năm 1020 Khai Thiên Vương Phật Mã và Đào Thạc Phụ đem quân theo đường biển đánh trại Bố Chính, chém tướng Chăm, quân Chiêm chết quá nửa. Năm 1043, sau khi được nhà Tống phong vương, vua Chiêm Thành Sịmhavarman đem quân cướp ven biển Đại Việt, bị quân ta đánh lui.

Năm 1043 vua Lý Thái Tông giận Chiêm Thành không cử sứ sang Đại Việt quyết định đánh Chiêm Thành. Năm 1044 vua thân chinh chỉ huy quân đi đánh Chiêm Thành.  Quân Lý chém được vua Chiêm Thành là Sạ Đẩu, chiếm thành Phật Thệ (Vijaya, nay là Quy Nhơn). Trên đường về tới Lý Nhân (Phủ Lý hiện nay), nhà vua cho gọi Mị ê, cung phi của Sạ Đẩu, sang hầu thuyền vua, nhưng Mị Ê nhảy xuống sông tuẫn tiết.  Vua khen là trinh tiết và cho lập đền thờ.

Năm 1055 Chiêm Thành sang cống. Năm 1065 , 1066 tiếp tục cống. Năm 1069, vua Lý Thánh Tông thân đem quân đi đánh Chiêm Thành, kéo quân đến kinh thành Chiêm Thành bắt được vua Chiêm Thành là Chế Củ (Rudravarman III) đưa về Thăng Long. Chế Củ được tha về nước sau khi chịu nhượng cho Đại Việt ba châu Địa Lý, Ma Linh và Bố Chánh (nay là vùng Quảng Bình và Quảng Trị).

Năm 1112 đời Lý Nhân Tông, Chiêm Thành cống voi trắng * Năm 1118, vua Chiêm Thành cử sứ sang Thăng Long; nhân dịp này vua Lý mời sứ đi dự hội Thiên Phật để khánh thành chùa Thắng Nghiêm thánh thọ.

Năm 1120 Chiêm Thành sang cống. Năm 1130, 1135 Chiêm Thành sang cống. Năm 1152, người nước Chiêm Thành cầu viện, vua Lý Anh Tông cử thượng chế Lý Mông đem 5.000 người ở Thanh Hoá, Nghệ An sang Chiêm Thành để lập Vamcaraja làm vua.  Nhưng Vamcaraja và Mông bị vua Jaya Harivarman I đánh bại, cả Lý Mông và Vamcara.ja đều chết. 

Năm 1154, vua Chế Bi-la-bút (Jaya Harivarman I) dâng con gái cho vua Lý Anh Tông, vua nhận.  Năm 1170 vua Chăm Jaya Indrravarman cử sứ sang thông hiếu với Đại Việt sau đó năm 1177 tiến đánh Chân Lạp, đốt phá kinh thành Angkor.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #82 vào lúc: 02 Tháng Sáu, 2009, 07:11:20 pm »

Năm 1181 vua Chân Lạp Jayavarman VII giải phóng được Chân Lạp và chuẩn bị đánh trả đũa Chiêm Thành. Việc vua Chăm Jaya Indravarman ông Vatuvv lại đánh Chân Lạp một lần nữa là cơ hội để vua Chân Lạp Jayavarman VII cho quân đi đánh Chiêm Thành. Quân Chân Lạp chiếm được kinh thành Vijaya (Bình Định), bắt vua Jaya Indravarman giải về Chân Lạp và lập một ông hoàng Khơ Me làm vua Chiêm Thành, nhưng ít lâu sau ông vua này bị dân chúng nổi lên đánh đuổi về Chân Lạp và đưa một ông hoàng Chăm lên thay.

Năm 1203 ông hoàng Chân Lạp Ong Dhanapatigrama đánh đuổi được vua Vidyananda mà năm 1199 vua Lý Cao Tông đã phong vương. Vua Vidyanandana sang Đại Việt cầu cứu với trên hai trăm chiếc thuyền chiến.  Sự xuất hiện một hạm đội chiến thuyền làm cho Đại Việt nghi ngờ và định trừ khử nhưng kế hoạch bị lộ quân Nghệ An bị đánh tan vỡ. Từ năm 1203, như trên đã nói, Chiêm Thành trở thành lãnh địa của Chân Lạp cho đến 1220.

Từ 1225 nhà Trần thay thế nhà Lý.

Tại Chiêm Thành, năm 1220 kết thúc cuộc chiến tranh một trăm năm (1170- 1220) với Chân Lạp và cũng là kết thúc sự thống trị của Chân Lạp (1203-1220) trên đất Chiêm Thành. Quan hệ Đại Việt - Chăm trong thời gian này nói chung là không có vấn đề lớn .

Từ năm 1258 đến 1288, Đại Việt phải đối phó với âm mưu chinh phục của Nguyên - Mông trong cuộc đấu tranh ngoại giao ( 1258 đến 1 284) và ba cuộc xâm lược (1258, 1285, 1288) Chiêm Thành đồng thời cũng phải chống cuộc xâm lược của Nguyên - Mông (1283- 1285).

Nhà Nguyên muốn mượn đường Đại Việt để đi đánh Chiêm Thành đồng thời xâm chiếm luôn Đại Việt nhưng các vua Trần kiên quyết phản đối buộc quân Nguyên phải đi đường biển, mặt khác Đại Việt lại giúp quân Chiêm Thành chống lại quân Nguyên.

Có thể nói trong thời gian này đã có sự liên minh thật sự giữa Đại Việt và Chiêm Thành: Đại Việt chặn con đường bộ đi tới Chiêm Thành, Chiêm Thành cầm chân quân Nguyên không cho phối hợp với quân Nguyên đang xâm chiếm Đại Việt.

Quan hệ Đại Việt - Chăm tuy thưa thớt nhưng vẫn hữu nghị. Năm 1239 vua Trần Nhân Tông nhường ngôi cho con (vua Anh Tông) và làm Thượng hoàng. Năm 1301, nhân có sứ Chiêm Thành sang cống, Thượng hoàng đi thăm Chiêm Thành và lưu lại triều đình Chiêm Thành chín tháng.

Thượng hoàng hứa gả công chúa Huyền Trân cho vua Simvaharman III (sử ta gọi là Chế Mân). Trong triều nhiều ý kiến cho là không nên, nhưng Thượng hoàng vẫn giữ lời hứa và năm 1306 Huyền Trân công chúa đi Chiêm Thành. Sính lễ cầu hôn bao gồm việc dâng hai châu Ô, châu Lý (ở Bắc đèo Hải Vân). Đây là lần thứ hai cắt đất cho Đại Việt. Năm 1307 quan hành khiển Đoàn Nhữ Hài được cử cai trị hai châu này, và đổi tên hai châu.

Vua Chế Chỉ (lên thay vua Simhavarman năm 1307) thần phục nhà vua Trần Anh Tông nhưng vẫn muốn lấy lại hai châu Ô, châu Lý. Sau một cuộc kháng cự trong quân đội Chăm, Chế Chỉ bị bắt giải về Thăng Long và mất tại hành cung Gia Lâm và hoả táng theo tục lệ Chăm. Con Chế Chỉ là Chế Dà bà A Niêm (Chế Năng) được đưa lên thay.

Chế Năng cũng mưu lấy lại hai châu ô, châu Lý, năm 1318 xua quân đi tái chiếm hai châu nhưng bị quân Phạm Ngũ Lão đánh bại phải trốn sang Java. Triều đình nhà Trần đưa một tướng Chăm tên là Chế A Nan lên thay. Nhưng ý vẫn tính lấy lại hai châu.  Huệ Túc vương Đại Niên năm 1326 đi dẹp không được Khi Chế A Nan chết, con rể là tể tướng Trà Hoà cướp ngôi vua.

Năm 1346 con Chế A Nan là thái tử Chế Mổ trốn sang Đại Việt cầu viện. Vua Trần Dụ Tông cho quân sang Chiêm Thành. Đoàn quân Đại Việt không gặp được đoàn thuyền tiếp lương phải quay về Đại Việt. Chế Mổ cũng phải quay trở lại Đại Việt mất ở đó ít lâu sau. Nhân việc kéo quân về này, Trà Hoà đêm quân đánh hai châu Ô châu Lý nhưng bị thất bại.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #83 vào lúc: 02 Tháng Sáu, 2009, 07:11:49 pm »

Trà Hoà mất năm 1360, Chế Bồng Nga lên thay. Từ đây đến 1390, Chế Bồng Nga liên tục tiến công Đại Việt và ba lần kéo quân vào Thăng Long, lần thứ ba lưu lại Thăng Long mấy tháng liền, quân Đại Việt không đánh lại được.

Năm 1367, vua Duệ Tông thân mang mười hai vạn quân kéo vào cửa biển Thị Nại, chuẩn bị kéo quân vào thành Chà Bàn.  Đại tướng Đỗ Lễ can vua, vua không nghe chê Đỗ Lễ là đàn bà và ra lệnh lấy áo đàn bà mặc cho Đỗ Lễ. Vua thúc quân vào thành bị quân Chế Bồng Nga phục kích xông ra đánh. Vua và các đại tướng đều chết tại trận, quân ta tan vỡ.

Năm 1390 Chế Bồng Nga lại đem quân ra Đại Việt, đang chỉ huy đoàn chiến thuyền về Thăng Long thì bị đạn của ta chết tại trận. Quân Chiêm Thành mất đại tướng chỉ huy phải tháo chạy về nước. La Khải lên làm vua và mất năm 1401, Ba Địch Lai (Vrasu Tndravarmadeva) lên thay.

Hồ Quý Ly, sau khi lập triều Hồ, chuẩn bị 150.000 quân để đi đánh Chiêm Thành. Năm 1402 đi đánh Chiêm Thành. Vua Chiêm mới lên ngôi nên cử một hoàng thúc điều đình vời Hồ Quý Ly rút quân và Chiêm Thành chịu nhượng Indrapura cho Đại Việt sau nhân nhượng thêm cả miền Amaravati (tức Quảng Nam ngày nay). Đây là lần mất đất thứ ba của Chiêm Thành.

Hồ Quý Ly chuẩn bị một đạo quân mới 200.000 người với ý định đánh đến kinh thành Vijaya (Quy Nhơn), nhưng ý đồ đó không thực hiện được do quân Minh tiến vào Đại Việt.  Vùng đất Chiêm Thành mới nhượng được chia làm bốn châu Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa và việc cai trị giao cho một người con lưu vong của Chế Bồng Nga là Chế Ma Nô Đà Nan.

Năm 1434 vua Chiêm Thành tìm cách thu hồi hai châu, nhưng sau vài trận đụng độ nhỏ lại giảng hoà với Đại Việt.

Năm 1444, 1445 vua Maha Vijaya (Ma Ha Bi Cái) cho quân cướp phá Hoá Châu. Năm 1446 Đại Việt đánh chiếm thành Vijaya (Quy Nhơn) rồi rút, bắt vua Maha Vijaya và đoàn cung phi, Vua Maha Vijaya được trao lại tước vương nhưng phải ở lại Đại Việt. Dân chúng tôn Maha Quý tai lên làm vua nhưng vị vua này lại bị em là Maha Quý Đô phế truất và bắt giam năm 1449. Maha Quý Đô bị giết năm 1458. Maha Trà Nguyệt lên thay sau nhường ngôi cho em là Trà Toàn.

Năm 1468 rồi 1469 vua Trà Toàn, với hơn 100.000 quân và một đoàn kỵ binh hùng mạnh, tấn công Hoá Châu. Năm 1470-1471 vua Lê Thánh Tông, từ hai hướng thuỷ bộ, đã đánh dữ dội vào kinh thành Vijaya, bắt được Trà Toàn, chia nước Chiêm Thành làm ba tiểu quốc, đưa biên giới Đại Việt đến núi Thạch Bi.

Nước Văn Lang đã được lập nên trước nước Chiêm Thành nhưng sau đó đã bị đế chế Trung Hoa đô hộ trong nghìn năm. Nước Chiêm Thành đã ra đời khoảng thế kỷ thứ VI trong lúc Việt Nam còn bị nhà Đường thống trị. Khi đó cả hai nước Việt Nam và Chiêm Thành đều là những nước nhỏ, Việt Nam chỉ đến vùng Đèo Ngang, Chiêm Thành từ vùng Phan Rang đến vùng Đèo Ngang. Cả hai nước đều muốn mở rộng lãnh thổ của mình.

Hai nhà nghiên cứu người Chăm Dorohiêm và Dohamide, trong cuốn Dân tộc Chăm lược sử, đã cho rằng ý đồ xâm chiếm những cánh đồng màu mỡ của miền Nam Đại việt đã mang lại hậu quả ngược lại là người Việt đã lấy đó làm cớ xâm chiếm lãnh thổ từ Đèo Ngang trở vào.

Lịch sử quan hệ giữa Đại Việt và Chiêm Thành là từ đời Đinh đến hết đời Lê, trong khoảng sáu thế kỷ. Đây là thời kỳ các quốc gia bất kể lớn nhỏ quan hệ với nhau bằng ngoại giao vũ lực, lớn nuối bé, mạnh đánh yếu. Khi nhà Tống đánh Đại Việt, Mông Cổ tiêu diệt Vương quốc Tây Hạ rộng hơn 600.000 km2. Chiêm Thành đánh Đại Việt, Đại Việt đánh Chiêm Thành cũng như Chiêm Thành, Chân Lạp đánh nhau, thôn tính nhau.

Vấn đề thắng hay bại, còn hay mất tuỳ thuộc tiềm lực và bản lĩnh của mỗi nước, mỗi dân tộc. Công pháp quốc tế ngày nay đã loại bỏ việc sử dụng vũ lực trong quan hệ giữa các quốc gia và đặt hoà bình và an ninh trên cơ sở những nguyên tắc khá dứt khoát. Mặc dầu vậy chủ quyền của nhiều nước vẫn bị xâm phạm, chiến tranh cục bộ vẫn còn xảy ra.

Vấn đề tồn vong của Chiêm Thành đã trở thành một vấn đề lịch sử như lịch sử của bao quốc gia khác, của bao đế quốc đã bị diệt vong. Vấn đề hiện nay là nhân dân Chăm phát huy tài năng của mình trong cộng đồng dân tộc Việt Nam, cùng nhau xây dựng nước Việt Nam phồn vinh.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #84 vào lúc: 02 Tháng Sáu, 2009, 07:27:23 pm »

XVI

QUAN HỆ VỚI LÀO

Nước Lào là một nước thuộc bán đảo Đông Dương, Bắc giáp Trung Quốc, Tây giáp Mianma và Thái Lan, Nam giáp Campuchia, Đông giáp Việt Nam. Diện tích 136. 800 km2, dân số 4.581.218 người (đến năm l995).

Hệ thống núi phía Tây Bắc kéo dài sang Mianma, Thái Lan. Hệ thống núi phía Đông là dãy Trường Sơn từ tỉnh Hùa Phăn đến tỉnh Savanakhẹt.  Dãy núi phía Bắc nối liền với các mạch núi phía Tây Bắc của Việt Nam.

Sông Mê Lông chảy qua Lào từ Bắc xuống Nam, cùng với các chi lưu của nó, hợp thành một hệ thống chuyển tải và giao lưu văn hoá giữa các tộc người từ Bắc xuống Nam, từ Đông sang Tây và ngược lại. Con sông dài thứ hai của Lào là sông Nậm U (448 km).

Nước Lào có hai cao nguyên lớn. Cao nguyên Mường Thuôn (Xiêng Khoảng), rộng khoảng 200.000 ha, cao trung bình 1200 mét. Cao nguyên đất đỏ bazan Bôlôven rộng 1.000.000 Ha, cao từ 800 đến 1400 mét. Có bốn đồng bằng tương đối rộng: Viêng Chăn, Khăm Muộn, Savannakhet và Champasak. Không có biển.

Có khoảng hơn bốn chục tộc thuộc các nhóm ngôn ngữ khác nhau: nhóm nói tiếng Lào - Thay, nhóm nói tiếng Môn-khơme, nhóm nói tiếng Mông-Dao, nhóm nói tiếng Tạng Miến, nhóm nói tiếng Việt Mường.

Người Lào được chia thành ba khối:

- Khối Lào Lùm (ở vùng thấp) thường trùng với nhóm nói tiếng Lào-Thay.

- Khối Lào Thơng (ở giữa vùng lưng chừng núi) thường trùng với nhóm các dân tộc nói tiếng Môn-Khơme.

- Khối Lào Xủng (ở trên núi), thường trùng với các tộc nói tiếng Mông-dao và Tạng Miến.

Nhân dân Lào theo đạo Phật Tiểu Thừa (Theravada) truyền từ Campuchia.

Mãi đến đầu thế kỷ XIV (1357), người Lào mới thống nhất được các thế lực cát cứ, lần đầu tiên hình thành một nước Lào thống nhất. Trước đó, trong hơn một nghìn năm các cơ dân Lào đã bước vào ngưỡng cửa của xã hội có giai cấp và đã tồn tại những tổ chức Nhà nước sơ khai, gọi là Mường cổ.

Tiêu biểu nhất là ba mường: Mường Xi- Khôttaboong từ Trung Lào trở xuống Mường Xoa lúc đầu là hai mường Xiềng Đông, Xiềng Thoáng, sau đổi lại là Mường Xoa. Thế kỷ thứ VIII, Khúnlo chiếm Mường Xoa và đổi thành Mường Lào-Lạn xang.

Từ thế kỷ XI- XII hầu hết các Mường, kể cả các Mường lớn Mường Xoa, Mường Xikhôttaboong, Mường Phin đều lệ thuộc Vương quốc Campuchia. Pha Ngậm cùng với cha sang trốn tránh ở Vương quốc Campuchia. Ong được vua Campuchia giúp đỡ lại gả con gái cho. Cuối thế kỷ XIV, Vương quốc Ayuthia thôn tính được Vương quốc Thái của Sukhôthay và đang mưu tính xâm chiếm Vương quốc Campuchia, Vương quốc Pagan (Mianma) bị quân Mông Cổ đánh đổ, nước Mianma chia làm nhiều tiểu quốc.

Trong tình hình thuận lợi đó, Pha Ngậm, với sự giúp đỡ của Campuchia, dẫn một đạo quân một vạn người về nước. Đạo quân đó nhanh chóng chiếm được một loạt tiểu quốc, Mường Thuôn, tiến lên Phongsalỳ rồi chiếm Mường Xoa. Các quan tôn ông lên làm vua, lúc đó là năm 1353.  Năm sau ông mang quân đi đánh Lạn Na, một Vương quốc Thái ở phía Bắc Thái Lan. Năm 1356 ông chiếm Viêng Chăn rồi tiến sang kinh đô Ayuthia buộc vua Ayuthia phải thừa nhận nước Lạn Xang (nước Triệu Voi) có quyền đối với lãnh thổ phía Tây sông Mênam.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #85 vào lúc: 02 Tháng Sáu, 2009, 07:29:36 pm »

Trở lại Viếng Chăn trở thành kinh đô, Pha Ngậm bắt tay xây dựng một chính quyền tập trung, chia đất nước thành các mường, cử người đứng đầu các mường. Ông cũng coi trọng việc xây dựng một đội quân mạnh, mời một đoàn 20 nhà sư Khơ-me sang giảng đạo Phật do đó đưa đạo Phật (tiểu thừa) trở thành quốc giáo của Lạn Xang, góp phần củng cố thống nhất đất nước.

Pha Ngậm mất năm 1373, con ông là Un Lươn lên kế vị. Un Lươn được gọi là Phanh Xảm Xen Thay (thủ lĩnh của 30 vạn người Thay Lào) tiếp tục củng cố nước Lạn Xang theo đường lối của Pha Ngậm. Con Un Lươn là Lạn Khăm Đứng lên thay và trị vì 11 năm. Sau khi Lạn Khăm Đứng mất, triều đình Lạn Xang bước vào một giai đoạn cực kỳ rối ren.

Trong khoảng 30 năm từ 1428 đến 1456, Nang Ma ha Thêvi, một người trong hoàng tộc, đã lập mưu sát hại 8 vua, đến mức là trong hai năm hai nhà sư phải đứng ra giải quyết công việc triều chính. Sau khi thi hành bản án tử hình đối với bà ta khi bà ta 95 tuổi triều đình đón con vua Xảm Xen Thay là Thao Vangburi về làm vua.

Sang thế kỷ XVI, dưới triều vua Phôthixàrarát kiêm vua Xiềng Mai (Thái Lan), Phật giáo và vương quyền được đồng nhất, một đặc điểm nữa là Lạn Xang đánh lui được hai cuộc xâm lược của Vương quốc Ayuthia, ba cuộc xâm lược của quân Ava (Mianma). Mặc dầu năm 1574 kinh thành Viếng Chán bị chiếm, nước Lạn Xang trở thành thuộc quốc của Ava, hàng năm phải triều cống 10 con voi và 12 cân vàng.

Nhưng tình hình Ava ngày càng khó khăn, nhất là sau cuộc chiến tranh với Ayuthia năm 1590. Ava phải thả lãnh tụ nghĩa quân Lào là Hoàng thân Nômuông lên làm vua và từ bỏ chế độ thần phục triều đình Ava. Đất nước Lạn Xang bước vào thời kỳ toàn thịnh về cả kinh tế, văn hoá, nghệ thuật, luật pháp.

Nhưng đến thế kỷ XVII Lạn Xang rơi vào tình trạng chia cắt, phía Bắc là tiểu quốc Luôngphabăng, phía dưới là tiểu quốc Viếng Chăn (năm 1707). Ít lâu sau Champassak cũng tự tách thành một tiểu quốc. Cuối thế kỷ XVIII một người trong triều đình Viếng Chăn vì bất hoà với vua Xilibunnha San chạy sang Xiêm, vua Viếng Chăn cho quân đuổi đánh, viên quan đó chạy sâu vào đất Xiêm và xin cầu cứu vua Xiêm.

Vua Xiêm Phìa Tăcxin lợi dụng cơ hội này đưa quân sang đánh Lạn Xang. Trước tiên quân Xiêm đánh Champassak, vua Champassak bị bắt và đầu hàng Bangkok. Họ tiến đánh Viếng Chăn, quân Viếng Chăn không chống lại được, đến 1779 Viếng Chăn thất thủ, hầu hết hoàng tộc và triều đình Viếng Chăn bị bắt. Hoảng sợ, vua Luôngphabăng xin hàng Xiêm. Như vậy đến năm 1779 toàn bộ Vương quốc Lạn Xang đã bị Xiêm đô hộ.

Sau khi quân Xiêm đã rút về nước, vua Viếng Chăn Xilibunnha Xan trở về kinh đô và một năm sau thì chết. Người Xiêm năm 1781 đưa người con của Xilibunnhaxan là Nănthaxến về làm vua. Năm 1795 Nănthaxến chết, Inthavông lên thay và cử Anuvông làm phó vương. Năm 1804 Inthavông chết, Anuvông lên thay tại Viếng Chăn. 

Ý đồ của Anuvông là xây dựng Viếng Chăn vững mạnh và phồn vinh, lật đổ ách đô hộ của Xiêm, giành lại độc lập hoàn toàn cho Lạn Xang.  Đại Việt và Ai Lao là hai nước láng giềng, có chung hàng nghìn ki-lô-mét biên giới. Dãy núi Phu Xam Xầu ở Đông Bắc Lào được nối liền với dải Trường Sơn với hàng chục ngọn núi cao từ 1000 đến hơn 2000 mét và một vài đèo thấp ngăn cách hai nước, do đó việc qua lại của dân chúng hai bên bị hạn chế rất nhiều đồng thời việc giao lưu văn hoá và trao đổi mậu dịch cũng bị hạn chế nhiều . .

Quan hệ Đại Việt - Ai Lao bị hai yếu tố tác động tới:

- Cho đến đầu thế kỷ XIV, Ai Lao chưa hình thành một quốc gia thống nhất và trong hơn một nghìn năm chỉ có những hình thức Nhà nước sơ khai tổ chức việc cai trị trong từng vùng lớn nhỏ tuỳ theo tiềm lực của người thủ lĩnh, những tổ chức mà người ta gọi là Mường Cổ. Trong khi đó Đại Việt đã là một quốc gia có Chính phủ tập trung.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #86 vào lúc: 02 Tháng Sáu, 2009, 09:33:35 pm »

Một mường dù lớn như ba mường Mường Xoa, Mường Thuôn, Mường Xikhốttaboong không thể đánh được Đại Việt khi đó đã lần lượt tiêu diệt hàng chục vạn quân Tống, Nguyên, Minh, Thanh, cũng không thể chống lại được Đại Việt, cho nên các mường đó chỉ có thể là thuộc quốc của Đại Việt, chịu thần phục và nộp cống cho Đại Việt, hoặc phối hợp với các tù trưởng ở biên giới Đại Việt chống lại triều đình Thượng Long.

Chẳng hạn khi nước Lạn Xạng bị nước Xiêm đô hộ, châu Mường Xiêng Khoảng là châu Xúm Phu thần phục triều đình Tây Sơn mà không theo châu Mường Viếng Chăn nữa. Đến đầu đời nhà Nguyễn, các mường giáp Đại Việt đã đem nhiều đất nội thuộc vào Đại Việt do đó mới có các châu Trấn Biên, Trấn Ninh theo chế độ ky mi.

- Nước Lạn Xạng thành lập rất lâu sau với Đại Việt do đó thời kỳ tiền Lạn Xạng chỉ có quan hệ với từng Mường. Từ khi Nhà nước Lạn Xạng được thành lập giữa Đại Việt và Lạn Xạng mới có quan hệ Nhà nước, nghĩa là từ thế kỷ XIV về sau.

Nhìn chung Đại Việt ít quan hệ với các Mường.  Có chuyện Thượng hoàng Trần Minh Tông đem quân đi đánh một tù trưởng Ai Lao nhưng khi Thượng hoàng đến nơi thì tù trưởng đó chạy trốn.  Thượng hoàng rút quân về và sai Nguyễn Trung Ngạn làm bài văn ghi lấy sự việc này và cho khắc vào vách đá. Bài văn bia này cho ta biết quan niệm của vua Trần đối với các Mường ở Ai Lao:

“Vua thứ sáu của triều nhà Trần nước Việt là Chương Nghiêu Văn triết Thái thượng hoàng đế vâng mệnh trời, cả bờ cõi trong ngoài đều thần phục. Chỉ có nước Ai Lao nhỏ bé kia còn ngạnh trở sự giáo hoá của nhà vua.

Cuối mùa thu năm Ất Hợi vua thân dốc sáu đạo binh để tuần miền Tây.  Thế tử nước Chiêm Thành, nước Chân Lạp, nước Xiêm cùng các man tù thuộc Quý, Cầm, Xa, Lặc, các man mới theo về Lâm Bôn, Thanxa, các miền đều đem phương vật tranh nhau đón rước.

Duy có tên nghịch Bổng còn giữ mê muội, sợ tội lỗi chưa chịu đến chầu. Cuối mùa đông vua đóng quân tại Cự Đồn ở Mật Châu (Mật Châu thời Trần là miền thượng lưu sông Lam Nghệ An - TG) bèn sai các tướng cùng quân man di tiến vào nước nó. Nghịch Bổng theo chiều gió chạy trốn, bèn xuống chiếu rút quân.

Bấy giờ là năm Khai Hựu thứ bảy (1335) Ất Hợi, mùa đông ngày tháng mười hai nhuận. Khắc đá”. 

Bia này hiện còn ở núi Thành Nam, xã Trầm Hương, huyện Con Cuộng tỉnh Nghệ An.

Năm 1421 , Bình định vương Lê Lợi đánh tổng binh nhà Minh là Trần Trí ở sách Ba Lãm bị Ai Lao đem ba vạn quân và 100 con voi phao tin là đến phối hợp với Bình định vương để rồi đánh úp dinh của vua, vua không phòng bị nên bị thiệt hại. Bình định vương thân đốc quân đánh trả, diệt hơn 1 vạn tên, bắt được 14 con voi và thừa thắng đuổi quân Ai Lao suốt năm ngày đêm, đến tận sào huyệt của địch. 

Năm 1441 vua Lê Thái Tông đi đánh bọn phiến loạn Nghiễm ở châu Thuận Mỗi (sau này là Thuận Châu), bắt sống được tướng Ai Lao là Đạo Mông và vợ con ở Đông La (tức là Mường La, nay là Sơn La), bắt được hai con Nghiễm, Nghiễm ra hàng. 

Cuối thế kỷ XV, người Ai Lao cướp châu Lang Chánh, quấy phủ An Tây, quấy rối nhiều địa phương khác, lấn dần bờ cõi. Năm 1479, vua Lê Thánh Tông thân mang 18 vạn quân đi đánh Ai Lao, Bòn Man, Lão Qua. Chiếm thành Lão Qua (tức Luôngphabăng), vua Lào chạy trốn. Vua tiếp tục tiến, chiếm đất đến sông Trường Sa (có lẽ là sông Mêkông, biên giới giữa Ai Lao và Mianma). 

Từ khi nước Lạn Xạng được độc lập và thống nhất, các Mường Lào đều quy phục Chính phủ Trung ương Viếng Chăn. Chính sách ngoại giao do Pha Ngủm hoạch định. Thời kỳ này, hai bên Đại Việt và Lạn Xạng thoả thuận với nhau về biên giới phía Đông và phía Bắc của Lạn Xạng.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #87 vào lúc: 02 Tháng Sáu, 2009, 09:34:20 pm »

Sau thời kỳ Pha Ngủm và Xảm Xên Thay, từ năm 1428 đến 1456, Lạn Xạng rơi vào tình trạng hỗn loạn, thậm chí có lúc không có vua. Từ đầu thế kỷ XV đến hết thế kỷ XVI Lạn Xạng hết bị Ayuthia xâm lược hai lần lại bị Ava (Mianma) xâm lược ba lần, chiếm kinh đô Viếng Chăn và đưa một người thân Ava lên làm vua.

Đến năm 1 592 người Lào mới giành lại được độc lập, chấm dứt sự lệ thuộc Ava. Lạn Xạng bước vào thời kỳ toàn thịnh trong thế kỷ XVII Thời gian này vua Xulinhavongxa đặt quan hệ hữu nghị với các nước láng giềng trong đó có Đại Việt với Xiêm, vua đã thoả thuận với vua Ayuthia làm một ngôi tháp hữu nghị trên biên giới tại Mường Dàn Xài. Với Đại Việt người ta cũng giải quyết một số vấn đề về biên giới.

Từ thế kỷ XVIII, Lạn Xạng bước vào thời kỳ suy yếu rồi bị chia cắt làm ba tiểu Vương quốc phụ thuộc Xiêm. Cho tới năm 1779, Lạn Xạng hoàn toàn nằm dưới sự đô hộ của Xiêm.

Trong thời kỳ Lạn Xạng bị Xiêm đô hộ, nhiều sự kiện quốc tế ở Đông Nam Á đã xảy ra và tác động mạnh mẽ đến Xiêm và Lạn Xạng.

Nước Xiêm liên tiếp bị Mianma đánh. 5 vạn quân Xiêm và 300 chiến thuyền của Xiêm bị đánh tan tác ở Rạch Gầm - Xoài Mút. Trong nước Lạn Xạng, tuy có một chính quyền tay sai ở Viếng Chăn, một số Mường ở vùng biên giới Lào - Việt không chịu theo mệnh lệnh của chính quyền Viếng Chăn. 

Chính quyền thân Xiêm ở Viếng Chăn đem quân đánh Xiêng Khoảng, bắt châu Mường Xiêng Khoảng đưa về Viếng Chăn. Việc đó làm cho quan hệ với Đại Việt trở nên căng thẳng. Lúc này tại Đại Việt nhà Tây Sơn đã làm chủ xứ Đàng Trong, Nguyễn Huệ đã đánh đổ chế độ Lê - Trịnh, lên ngôi Hoàng đế và đánh tan 29 vạn quân Thanh.

Vua Quang Trung muốn thông hiểu với Lạn Xạng nên năm 1791 đã cử một phái bộ đến Viếng Chăn. Vua Viếng Chăn là châu Nanthaxến, vốn là người thân Xiêm, đã bắt sứ giả và giải sang Bangkok. Vua Quang Trung bèn phái đốc trấn Nghệ An Trần Quang Diệu và đô đốc Bùi Thị Xuân mang ba vạn quân đi đánh Lạn Xạng.

Đại quân của Trần Quang Diệu đã hạ được Trấn Ninh, Trình Cao, Quỳ Hợp rồi tiến thẳng tới Viếng Chăn. Vua Nanthaxến không chống lại được, phải bỏ chạy sang Bangkok. 

Quân của Trần Quang Diệu truy kích đến bờ sông Mê Nam Khoáng. Quân Xiêm ở bên kia sông không dám qua sông sang cứu quân của Viếng Chăn. Quân của Trần Quang Diệu dừng ở bên này sông rồi trở về Nghệ An.

Vua Nanthaxến được quân Xiêm đưa về Viếng Chăn. Chậu Mường Luôngphabăng tố giác với Xiêm là châu Mường Viếng Chăn quan hệ với Tây Sơn dù chưa biết thực hư thế nào, vua Xiêm sai bắt chậu Nanthaxến về Xiêm, hai năm sau Nanthaxến chết. 

Dưới thời Tây Sơn, quan hệ Đại Việt - Lạn Xạng đến đây là xong một giai đoạn, nhưng do vị trí Lạn Xạng là một nước đệm giữa Xiêm và Đại Việt và do ý đồ bành trướng của Xiêm, quan hệ giữa hai nước trở nên căng thẳng và Lạn Xạng trở thành một địa bàn tranh giành ảnh hưởng giữa hai nước ở thế kỷ XVIII.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #88 vào lúc: 02 Tháng Sáu, 2009, 10:04:57 pm »

XVI

QUAN HỆ VỚI CHÂN LẠP

Nước chân Lạp đã hình thành từ thế kỷ VI, nước Phù Nam đã bị Chân Lạp thôn tính sau đó. Lịch sử hai nước đó gắn bó với nhau mật thiết, vì vậy trước hết cần giới thiệu tóm tắt sự hình thành của nước Phù Nam.

Từ Phù Nam và Chân Lạp đều là những từ người Trung Quốc dùng trong thư tịch cổ. Sử nhà Lương (năm 502-556), cho biết:

“Về vị trí, nước Phù Nam ở phía Nam quận Nhật Nam, trong một vịnh lớn ở phía Tây biển. Nước cách Nhật Nam chừng 7000 lý và cách Lâm Ấp hơn 3000 lý về phía Tây Nam. Đô thành cách biển 500 lý Một con sông lớn từ Tây Bắc chảy về phía Đông và đổ ra biển. Nước rộng hơn 3000 lý. Đất thấp và bằng phẳng. Khí hậu và phong tục đại để giống Lâm ấp” 1.

Nhật Nam là một trong chín quận hợp thành khu vực Nam Việt của Triệu Đà (bao gồm cả nước Âu Lạc) theo sự phân chia của nhà Hán, từ Đèo Ngang trở vào Nam đến khoảng Quảng Nam - Đà Nẵng.  Lâm Ấp là huyện Tượng Lâm, huyện xa nhất về phía Nam trong các đất chiếm đóng của nhà Hán bao gồm miền Bắc của Chiêm Thành từ Quảng Nam - Đà Năng đến Nghĩa Bình ngày nay.

Các cuộc khai quật khảo cổ cho biết có lẽ Phù Nam là một tập hợp các tiểu quốc thuộc các tộc người khác nhau, có trình độ phát triển kinh tế - xã hội khác nhau. Những cuộc khảo sát đã phát hiện nhiều cổ vật và dấu vết một thành thị - hải cảng trên địa điểm Ba Thê - Óc Eo (Vọng Thê, huyện Thoại Sơn tỉnh An Giang) bắt đầu hoạt động từ thế kỷ I – II.

Phát hiện này và các bi ký cho thấy có thể đoán định sự tồn tại của một quốc gia cổ trên miền Tây sông Hậu (An Giang - Kiên Giang). Tên gọi của nước này là Naravara, (nước Chí Tôn) và cư dân của nó là người Malayô-pôlymêdiêng hay người Chăm 2. 

Nhiều người cho rằng tiểu quốc Phù Nam cũng tức là Via-dha-pu-ra nằm ở địa phận tỉnh Prây-veng (Campuchia) ngày nay. Phù Nam đã trải qua một vương triều gồm mười ba đời vua. Đến đời vua cuối cùng Ru-dra-vac-man Phù Nam đã chinh phục được Naravara, cuối thế kỷ VI. Phù Nam, theo thư tịch cổ, bị một nước ở phía Bắc đánh bại và bị xâm chiếm (từ cuối thế kỷ VI đến giữa thế kỷ VII). Phù Nam đến đây bị tiêu vong. Nước ở phía Bắc đó chính là Vương quốc Campuchia.

Địa bàn cư trú của người Khơme chủ yếu ở ven trung lưu sông Mêkông (từ Pắc Xế đến Cro-chiê) và lưu vực sông Sê-mun (ở Cò Rát - Thái Lan). Trung tâm điểm của bộ lạc Khơme có lẽ ở địa điểm Vạt-Phu (tỉnh Champassak - Lào) gần nơi hội tụ của sông Sê-mun với sông Mêkông. Trình độ phát triển của họ không thua kém các thị tộc khác ở thời kỳ thế kỷ thứ V thứ VI...

Theo bia cổ, có hai ông vua đầu tiên trị vì vào khoảng nửa đầu thế kỷ thứ VI. Ông vua tiếp theo tên là Bhavavarman được coi là người đã chính thức lập vương triều mới và xác lập quốc gia Khơme miền Bắc hay Vương quốc Campuchia mà ban đầu ông gọi bằng chính tên ông, nước Bhava (Bhavapura) và được sử liệu Trung Quốc gọi là Chân Lạp. Chính Vương quốc Bhavapura đã chinh phục nước Phù Nam buộc vua nước này phải chạy sang nước Chí Tôn, tiếp đó đánh Naravara, buộc hai vua Phù Nam và Naravara phải chạy ra vùng hải đảo.

Trong lúc một bộ phận người Khơme tiếp tục ở lại ở miền Nam dãy Đăngrêk và thác Khổng của sông Mêkông, trên bờ Bắc Biển Hồ và trung lưu sông Mêkông, bộ phận khác của người Khơme từ sông Sê-mun tiến xuống phía Nam, do đó hình thành bộ phận Khơme phía Nam trên lãnh thổ của Vương quốc Phù Nam. . . Phần lớn trong số họ dừng lại ở gần Kongpong Thom. Tại vùng này, vua Isanavarman đã lập kinh đô mới của Vương quốc gọi là Isanapura.


______________________________
1. Dịch theo P.Pelliot - Le Fou Nan, Hà Nội 1903.
2. Lương Ninh: Nước Chí Tôn, Một quốc gia cổ miền Tây sông Hậu - Khảo cổ học số 1/1981.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #89 vào lúc: 02 Tháng Sáu, 2009, 10:05:34 pm »

Vương quốc Campuchia đặt quan hệ ngoại giao với Trung Quốc và nhất là với nước Chiêm Thành. Nhà vua cử sứ thần sang Chiêm Thành thông hiếu, lại gả con gái cho một ông hoàng Chăm.

Sau khi vua Iayavacman qua đời, vợ ông là hoàng hậu Jayadevi lên cầm quyền (681 - 713) nhưng bị một người tên là Puskaraksa truất quyền và tự lập làm vua. Ông này dời đô ra gần sông Mêkông trên địa điểm Sam bô (Sambaur) ngày nay và đặt tên là Sambhupura. Sau đó, đất nước rơi vào tình trạng phân liệt: bộ phận miền Bắc lập thành nước riêng trên lưu vực sông Sê mun (tức là bộ phận Khơme gốc) tách khỏi bộ phận miền Nam hình thành với sự gia tăng thành phần người Khơme. Đây là sự chia thành Thuỷ Chân Lạp và Lục Chân Lập.

Năm 774 nước Kalinga tấn công Chân Lạp, tiến tới kinh đô miền Nam, giết vua và cướp của cải. Họ dừng tại đó mà không tiến lên phía Bắc. Sự thống trị của người Java chấm dứt năm 802. Nhờ lực lượng chiến đấu của một ông hoàng bị bắt và trốn về được. Ông hoàng này lên ngôi vua với vương hiệu là Jayavacman II sáng lập ra vương triều chính thống thứ hai của Chân Lạp.

Sau khi ổn định tình hình, đập tan các lực lượng cát cứ, ông tập trung cố gắng xây dựng Vương quốc, tích cực phát triển Ấn Độ giáo, coi vua là người đứng đầu giáo hội . Mặt khác ông tổ chức bộ máy cai trị, và lo chọn địa điểm đóng đô và xây dựng kinh đô. Cuối cùng ông quyết định lập đô ở núi Kulen, phía Bắc Xiêm Riệt và đặt tên là Mahendra (thành phố của thần vĩ đại).

Đời vua thứ tư cháu nội ông là Yasovarman I (889-900) dời đô về núi Bakheng và đặt tên là Yasodharapura hay Angko. Angko trở thành quốc đô từ đây đến giữa thế kỷ XV và tượng trưng cho thời kỳ lịch sử, thời kỳ Jayavarman II, người sáng lập ra vương triều.

Năm 944 Rajendravarman II lên ngôi vua, thừa kế cả dòng cha (Bắc) và dòng mẹ (Nam), được cai trị cả miền Nam và miền Bắc, mở đầu một giai đoạn mới cả hai dòng họ lại được thống nhất. Trong khi tên nước đã được xác định là Kambuja (con cháu Kambu, thuỷ tổ của người Khơme).

Nói là thống nhất nhưng trong quan hệ thân tộc có lúc vẫn có vấn đề tranh giành như năm 1002 Jayaviravarman lên ngôi ở Angko thì một ông hoàng khác lại tự lập làm vua ở Sê mun làm vua ở cả hai miền . Năm 1010 một ông đàng lên ngôi ở Angkor thì một ông hoàng khác lập chính quyền ở Sê mun rồi đem quân về Anơkor chiếm ngôi, xưng là vua Jayavarman VI (1082- 1102).

Vương triều III do vua Rajendravarman lập ra là một giai đoạn thống nhất và phát triển của Vương quốc Chân Lạp. Vương triều này gồm mười bốn đời vua nối tiếp nhau từ 944 đến 1177, nhưng vương triều II cũng là vương triều mở đầu những cuộc chiến tranh xâm lược. Vua Rajendravarman I vừa lên ngôi thì đi đánh Chiêm Thành. Suryavarman I thì chinh phục vùng trung lưu và hạ lưu sông Mênam để củng cố quyền lực trên cao nguyên Corạt. . . Harsaravarman III, được gọi là “ông vua chinh phục” (1066- 1080) đánh nước Chiêm Thành trong thời gian 1145- 1149, có thời gian đưa một hoàng thân Chân Lạp lên làm vua Chiêm Thành.

Các vua Chân Lạp trong thời gian này đã mở đầu cho cuộc “chiến tranh một trăm năm” giữa Chiêm Thành và Chân Lạp đã khiến một số nhà sử học gọi Vương quốc Chân Lạp là “đế quốc Angkor”. Để tăng uy thế của mình, các vua của vương triều này còn ra sức xây dựng Angkor Vạt (Angkor II) và nhiều đền tháp quy mô khác.

Năm 1165 một người nào đó tự xưng là Tribhuvnadi-tyavarman cướp ngôi vua, tình hình chính trị Chân Lạp không ổn định. Năm 1177 vua Chiêm Thành đem quân tấn công Chân Lạp, kinh đô Angkor bị đốt phá và cướp. Quân Chiêm Thành ở lại đô hộ Chân Lạp một thời gian. Năm 1177 Tribhuvarman bị giết trong cuộc chiến đấu với quân Chiêm Thành. Nhân dịp này một hoàng tử đứng ra lãnh đạo cuộc chiến tranh, đánh thắng hạm đội Chiêm Thành và lên ngôi vua với hiệu là Jayavarman VII ( 1181 - 1201) .

Jayavarman VII năm 1190 lại cho quân đi đánh Chiêm Thành, Chiêm Thành bị thua và bị chiếm đóng lại. Ông đưa quân thu phục lại vùng trung và hạ lưu sông Mênam và tiến đến gần Viêngchăn, mở rộng quyền lực đến biên giới Mianma. Vương quốc( Chân Lạp chưa bao giờ bành trướng lãnh thổ rộng lớn và hùng mạnh như dưới thời Jayavarman VII.  Ông xây dựng lại kinh đô ở Angkor Thom rộng lớn hơn kinh đô cũ.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM