|
linh_chi
Thành viên
Bài viết: 0
|
 |
« Trả lời #8 vào lúc: 22 Tháng Tư, 2009, 02:37:55 pm » |
|
1. Huy Thục Cuối tháng 9/1969, sau ngày Bác Hồ mất, Huy Thục xin trở lại Bắc Quảng Trị. Những đêm ra mặt trận trên con đường mang tên Bác, anh gặp từng đoàn, từng đoàn thanh niên Nam tiến. Họ là những công nhân Nhà máy Cơ khí Trần Hưng Đạo, Duyên Hải; là những nông dân trên cánh đồng quê hương “5 tấn”; là những thanh niên mới tốt nghiệp đại học và cả một số giáo viên các Trường đại học Tổng hợp, Sư phạm, Bách khoa… ở nhiều địa phương, địa bàn hoạt động khác nhau nhưng ai nấy đều chung một khí thế hào hùng “Nhớ Bác Hồ, biến đau thương thành sức mạnh”. Thế là bài Bác đang cùng chúng cháu hành quân của Huy Thục hình thành với những câu đầu tiên:
Đêm nay trên đường hành quân ra mặt trận Trùng trùng đoàn quân tiến bước theo con đường của Bác Cả đoàn quân tiến theo Người như thác đổ Điện Biên năm nào vọng lời Bác giữa chiến hào.
Tiếp đến mùa xuân đại thắng năm 1975, các bạn văn công của Huy Thục lại có mặt trong giải phóng Huế (25/3/1975), giải phóng Đà Nẵng (29/3/1975) và rồi đến 30/4/1975, các anh chị đã có mặt ở Sài Gòn vừa giải phóng. Ở đâu Huy Thục cũng có những sáng tác đầy ấn tượng. 2. Huy Du Ông còn có bút danh là Huy Cầm, sinh ngày 01/12/1926, tại Liên Sơn, Bắc Ninh.
Từ nhỏ ông đã chơi đàn violon và thổi sáo trúc những giai điệu dân ca ngọt ngào của vùng Kinh Bắc. Lớn lên ra Hà Nội học, được tiếp xúc với âm nhạc phương Tây, nhưng ông vẫn mang hồn dân tộc.
Năm 1947 đến năm 1949, ông dạy nhạc ở trường Thiếu sinh quân liên khu III. Năm 1949 làm trưởng đoàn Văn công Bộ tư lệnh liên khu III. Năm 1951 làm trưởng đoàn Văn công Sư đoàn 320. Trong giai đoạn này ông đã cho ra đời những ca khúc: Ba Vì năm xưa, Sẽ về Thủ đô, Những gác chuông giáo đường, Tôi yêu hoà bình…
Từ năm 1956 đến 1962, Huy Du học tại Nhạc viện Bắc Kinh. Năm 1962 đến 1977, ông làm việc tại Đoàn ca múa Tổng cục Chính trị và bắt đầu từ đây khả năng sáng tạo của Huy Du nở rộ. Các ca khúc như Tình em (thơ Ngọc Sơn, 1962), Bế Văn Đàn sống mãi (thơ Trinh Đường, 1963), Tôi ca mãi đời anh (1964) đã lan toả sâu rộng trong công chúng.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ của dân tộc, ca khúc của Huy Du ngày càng nhiều và có sức cảm hoá lòng người bởi tính trữ tình mà hào hùng. Nhiều ca khúc mà âm hưởng của nó vẫn vọng mãi đến ngày nay như: Thề bảo vệ Tổ quốc, Anh vẫn hành quân (thơ Trần Hữu Thung), Bạch Long Vĩ đảo quê hương, Có chúng tôi trên hải đảo xa xôi, Chưa hết giặc ta chưa về, Cùng anh tiến quân trên đường dài (thơ Xuân Sách), Nổi lửa lên em (phỏng thơ Giang Nam), Đường chúng ta đi (lời thơ Xuân Sách), Trên đỉnh Trường Sơn ta hát, Đêm Trường Sơn…
Khi đất nước hoàn toàn giải phóng, Huy Du viết: Việt Nam ơi ta bước tiếp, Việt
Nam ơi! Mùa xuân đến rồi, Chiều không em (phỏng thơ Thuỵ Kha), Người mù hát tình ca (phỏng thơ Thế Hùng)…
Ngoài ca khúc, Huy Du còn viết khí nhạc mà nổi bật là tác phẩm Miền
Nam quê hương ta ơi cho violon và piano (1959), âm nhạc cho phim và sân khấu.
Là nhạc sĩ sáng tác nhưng ông vẫn đảm nhận nhiều cương vị công tác như: Trưởng đoàn ca múc Tổng cục Chính trị (1962 - 1977), Tổng thư ký Hội nhạc sĩ Việt Nam khoá III, Đại biểu Quốc hội khoá VII, Phó Chủ nhiệm Uỷ ban văn hoá - giáo dục Quốc hội khoá VIII, Phó Chủ tịch Hội hữu nghị Việt - Trung.
Nhạc sĩ Huy Du đã xuất bản các tập ca khúc: Anh vẫn hành quân (NXB Văn hoá), Đường chúng ta đi (NXB Quân đội nhân dân), Khát vọng mùa xuân (NXB Âm nhạc), Tuyển chọn ca khúc (NXB Âm nhạc và Hội nhạc sĩ Việt Nam); Băng audio - cassette : Người mù hát tình ca (Audio Hồ Gươm), Chiều không em (DIHAVINA và Hội Nhạc sĩ Việt Nam).
Năm 2000, Huy Du được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật cho các tác phẩm: Bế Văn Đàn sống mãi, Đường chúng ta đi, Anh vẫn hành quân, Cùng anh tiến quân trên đường dài, Nổi lửa lên em.( Bài hát được sáng tác thời gian năm 1962, khi nhạc sĩ Huy Du từ Nhạc viện Bắc Kinh) 3. Doãn Nho Từ 1962-1964, ông được cử đi hỿc sáng tác tại Nhạc viiện Kiev (Liên Xô cũ). Khi ông trở vỿ nước cũng là lúc cả nước sục sôi không khí lên đưỿng chi viện cho chiến trưỿng miỿn Nam. Doãn Nho đã hòa nhập vào đoàn quân Nam tiến và lần lượt đến các chiến trưỿng ác liệt ở Khu 4, Nam Lào, Quảng Trị... Thực tế cuộc sống chiến đấu ác liệt và anh dũng này đã giúp cho Doãn Nho có những tác phẩm: Năm anh em trên một chiếc xe tăng - một hành khúc hùng tráng đã trở thành bài hát ưa thích không những của bộ đội xe tăng mà của cả những binh chủng khác. Bài hát Ngưỿi con gái sông La sáng tác năm 1970 với giai điệu ngỿt ngào, da diết, sâu lắng, nhuốm màu bi tráng là một trong những kỷ niệm đẹp trong cuộc đỿi sáng tác của ông.
4. Hoàng Hà Khi có thông tin nhanh rằng quân ta sau khi giải phóng liên tục các tỉnh Nam Trung bộ đang tiến đến gần Nha Trang thì nhạc sĩ Hoàng Hà đã viết ca khúc "Chào Nha Trang giải phóng". Bài hát này được lấy làm nhạc hiệu của Đài phát thanh và truyền hình Khánh Hoà. Đến đêm 26-4-1975 không khí chiến thắng lên đến cao trào cùng với việc tuyên bố trên Đài tiếng nói VN tên gọi: "Chiến dịch Hồ Chí Minh" thì nhạc sĩ đã trào dâng hạnh phúc và xúc cảm. Ngay trong đêm đó, ông đã viết bài Đất nước trọn niềm vui. Viết xong, ông cùng con trai lớn của mình hát say sưa suốt đêm: "Hội toàn thắng náo nức Đất nước/Ta muốn bay lên say ngắm sông núi hiên ngang... Ta muốn ôm hôn mỗi tấc đất quê hương"...
5. Hoàng Việt Cách mạng Tháng Tám thành công, ông tham gia quân đội, hoạt động ở chiến trường miền Đông Nam Bộ trong 9 năm kháng chiến. Sau Hiệp định Geneve, Hoàng Việt tập kết ra Bắc.
Năm 1956, ông học tại Trường Âm nhạc Việt Nam. Năm 1958, Hoàng Việt được cử sang học tại Nhạc viện quốc gia Bulgarie. Năm 1968, Hoàng Việt hoàn thành xuất sắc khoá học, ông về nước tình nguyện trở lại chiến trường miền Nam và đã hy sinh trong tư thế người chiến sĩ - nhạc sĩ.
Hoàng Việt là một trong những nhạc sĩ tiêu biểu của lòng yêu nước, yêu quê hương tha thiết. Phẩm giá đó của ông được thể hiện cả ở hành động cuộc sống và tác phẩm. Ông đã từng nói: "Cho đến chết mới hết sáng tác cho đời". Những sáng tác cho đời của Hoàng Việt là những giai điệu trong sáng vang vọng tận bây giờ. Với bản Giao hưởng số 1 Quê hương, Hoàng Việt là một trong những nhạc sĩ đầu tiên đặt nền móng cho âm nhạc giao hưởng nước ta, và bản giao hưởng Quê hương đứng ở vị trí khởi đầu của một thể loại âm nhạc trong nền âm nhạc cách mạng Việt Nam: âm nhạc giao hưởng. Tác phẩm này được Dàn nhạc Giao hưởng Bulgarie biểu diễn và thu thanh. Dàn nhạc giao hưởng Việt Nam cũng đã biểu diễn nhiều lần giao hưởng này. Ông đã viết những bài ca bất hủ, gắn liền với hai cuộc kháng chiến trường kỳ và anh dũng của dân tộc. Ông hy sinh ngày 31 tháng 12 năm 1967 tại chiến trường Nam Bộ.
Vì những đóng góp xứng đáng của ông với sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, Hoàng Việt đã được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh. Các tác phẩm: - Khí nhạc: Giao hưởng số 1 Quê hương, Giao hưởng số 2 Cửu Long (chưa hoàn thành). - Thanh nhạc: nhạc kịch Bông sen (viết cùng Nguyễn Vũ và Huỳnh Minh Siêng). - Ca khúc: Biệt đô thành, Tiếng còi trong sương đêm, Sở Thượng Giang, Lá xanh, Lên ngàn, Mùa lúa chín, Nhạc rừng, Tình ca, Đêm trăng qua đất Kiến Tường... Đã xuất bản: Giao hưởng Quê hương, Hội Nhạc sĩ Việt Nam (bản in roneo). Tuyển chọn ca khúc Hoàng Việt (Nhà xuất bản âm nhạc và Hội Nhạc sĩ Việt Nam), Album Hoàng Việt (DIHAVINA, 1995).
6. Độc tấu sáo 7. Đơn ca Về Pác Pó ST: Phan Nhân 8. Đêm TS nhớ Bác ST: Trần Trung 9. Văn An chuyện của Thiếu tướng Phan Văn Xoàn người có nhiều năm công tác tại Cục Cảnh vệ (Bộ Công an): Lần đầu tiên đ/c được bảo về Bác đi công tác nước ngoài - thăm Ấn Độ. Trời rét, Bác vẫn dặn anh em cảnh vệ mang theo dép cao su để “sang bên đó Bác đi cho tiện, hơn nữa cũng quen dùng”. Khi lên máy bay, Bác đi giầy vải cho ấm. Nhân lúc đó, mọi người bàn nhau đem giấu dép cao su, vì nghĩ đơn giản, ra nước ngoài, Bác phải đi giày lễ tân cho sang trọng. Nhưng khi máy bay sắp hạ cánh, Bác liền hỏi dép cao su. Mọi người muốn đặt Bác vào sự đã rồi, nên thưa “dép để dưới bụng máy bay!”. Bác phê bình, “các chú làm vậy là không được!”. Khi máy bay dừng hẳn trên sân, Bác yêu cầu lấy bằng được dép cao su để đi. Họ nghẹn ngào bày tỏ: “Nghe tiếng đã lâu, hôm nay mới thấy tận mắt, đúng là Chủ tịch Hồ Chí Minh giản dị, thân thương quá!”.
10. Hoàng Hiệp Hoàng Hiệp có bút danh là Lưu Nguyễn, sinh ngày 01/10/1931 tại An Giang. Hiện đang cư trú tại thành phố Hồ Chí Minh.
Những ngày tháng Tám năm 1945, Hoàng Hiệp tham gia Cách mạng. Là hạt nhân văn nghệ của đoàn Tuyên truyền lưu động Long Xuyên, sau đó Hoàng Hiệp chuyển về đoàn văn công và phân hội Văn nghệ Long Châu Hà.
Năm 1954, Hoàng Hiệp tập kết ra Bắc học khoá sáng tác đầu tiên của Trường âm nhạc Việt Nam (nay là Nhạc viện Hà Nội). Năm 1956, ông viết Câu hò bên Bến Hiền Lương (lời Hoàng Hiệp và Đằng Giao). Năm 1960, ông làm biên tập viên ở Nhà xuất bản Âm nhạc. Năm 1965, ông viết bài Cô gái vót chông (phỏng thơ Môlôyclavi), tiếp đến là bài Soi đường cho ta đi đánh giặc. Năm 1966, ông viết bài Ngọn đèn đứng gác (thơ Chính Hữu). Năm 1968, bài Đất quê ta mênh mông (thơ Dương Hương Ly).
Nhìn chung đề tài về chiến đấu và xây dựng chủ nghĩa xã hội đã được Hoàng Hiệp khai thác từ nhiều khía cạnh. Âm nhạc của ông mạnh mẽ, sôi nổi nhưng lại trữ tình, sâu lắng. Năm 1969, Hoàng Hiệp chuyển công tác sang Nhà xuất bản Giải phóng. Năm này, ông viết Ơi nhà máy của ta. Năm 1970, có Hát trên đồng 10 tấn, Năm 1971, bài Tiếng hát từ thượng nguồn, liên khúc Những bài hát của người chiến sỹ lái xe (thơ Phạm Tiến Duật) gồm 4 bài: Nghe hò đêm bốc vác, Qua cầu Tuỳ Cốc, Trường Sơn đồng - Trường Sơn tây, Tiểu đội xe không kính. Năm 1972, ông viết bài Lá đỏ (thơ Nguyễn Đình Thi).
Sau năm 1975, Hoàng Hiệp về công tác tại Nhà xuất bản Âm nhạc thành phố Hồ Chí Minh, sau chuyển sang Hội âm nhạc thành phố và một thời gian làm Tổng thư ký Hội.
Sống trong cảnh đất nước thanh bình, tính trữ tình trong ca khúc của ông như có dịp được tuôn trào. Nhiều bài hát ở giai đoạn này đã được phổ biến rộng rãi và được công chúng đón nhận nồng nhiệt như: Về đất Mũi, Con đường có lá me bay, Sao anh không kể, Em vẫn đợi anh về (thơ Lê Giang), Khi anh nhìn em (thơ Lê Thị Kim), Mùa chim én bay, Thơ tình của người lính biển (thơ Trần Đăng Khoa), Viếng Lăng Bác (thơ Viễn Phương), Nhớ về Hà Nội…
Nhìn chung ca khúc của Hoàng Hiệp mang đậm âm hưởng dân gian các vùng miền, dễ nhớ, dễ xúc động. Ông cũng là nhạc sĩ thành công trong việc phổ nhạc cho thơ. Ngoài sáng tác ca khúc, Hoàng Hiệp còn viết nhạc cho sân khấu kịch nói như: Người ven đô, Màu giấy mới, Xa thành phố yêu dấu, nhạc cho các vở cải lương Thái hậu Dương Vân Nga, Tiền và Nghĩa; viết nhạc cho phim truyện và phim tài liệu: Cánh đồng mơ ước, Bản nhạc người tù, Mùa gió chướng, Nơi gặp gỡ của tình yêu, Biệt động Sài Gòn…
Hoàng Hiệp còn là tác giả, dịch giả cuốn nhạc lý cơ bản của Spasspbine, và nhiều sách giáo khoa âm nhạc. Ông có nhiều tuyển tập ca khúc, album audio đã xuất bản. Bằng sự cống hiến hết mình cho nghệ thuật, nhạc sĩ Hoàng Hiệp đã được nhận nhiều giải thưởng lớn.
Năm 2000, Hoàng Hiệp được nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật cho các tác phẩm: Câu hò bên Bến Hiền Lương, Cô gái vót chông, Ngọn đèn đứng gác, Trường Sơn đông - Trường Sơn tây, Viếng Lăng Bác, Nhớ về Hà Nội.
|