Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 12:56:03 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Nhà thơ Phạm Tiến Duật  (Đọc 16639 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
thanhlong
Thành viên
*
Bài viết: 199



« vào lúc: 05 Tháng Mười Hai, 2007, 02:20:34 pm »

ANH DUẬT ƠI, ANH ĐẸP LẮM! (05/12/2007 10:54) 

 Nhà thơ Phạm Tiến Duật sinh ở huyện Thanh Ba – Phú Thọ. Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam, Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, nguyên Phó Trưởng ban Đối ngoại Hội Nhà văn VN. Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật năm 2001.
    Những tập thơ chính: Vầng trăng quầng lửa (thơ, 1970), nổi tiếng nhất với tác phẩm "Bài thơ về tiểu đội xe không kính" ; Thơ một chặng đường (thơ, 1971) ;Ở hai đầu núi (thơ, 1981) ; Vầng trăng và những quầng lửa (thơ, 1983) ; Thơ một chặng đường (tập tuyển, 1994) ; Nhóm lửa (thơ, 1996) ; Tiếng bom và tiếng chuông chùa (trường ca, 1997) ... Gần đây nhất là Tuyển tập Phạm Tiến Duật (2007)
    Sau một thời gian lâm bệnh nặng, ông đã ra đi vào sáng ngày 4.12.2007 tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108. BBT Tạp chí Văn nghệ Quân đội xin gửi lời chia buồn sâu sắc tới gia đình nhà thơ Phạm Tiến Duật và dưới đây, trân trọng giới thiệu bài viết của nhà văn Nguyễn Khắc Phục về ông.

        ANH DUẬT ƠI, ANH ĐẸP LẮM!

            NGUYỄN KHẮC PHỤC

   
Anh Duật ơi, anh chẳng đi đâu cả. Anh chỉ chuyển vị trí đóng quân như chính anh đã từng nhắn tin cho đồng đội bằng bài thơ “Cô bộ đội ấy đã đi rồi”:

Cô bộ đội ấy đã đi rồi
Chuyển đơn vị vào vùng rừng trong ấy
Em gái đi, các anh ở lại
Biết đến bao giờ mới được gặp nhau…

   
Nếu nước mắt có trào ra trên mặt tôi thì chỉ vì “biết đến bao giờ mình mới được gặp nhau”, chứ không phải là sự tàn khốc của thời gian và định mệnh chia lìa nổi chúng ta. Sáng nay, lúc tôi vào Viện 108, điện tâm đồ chạy ì ạch rồi tắt dần để cuối cùng chỉ còn lại một nét ngang lạnh buốt, trái tim anh ngừng đập nhưng thơ ca của anh, bản thông điệp bất diệt của anh gửi lại thì mãi mãi màu hồng như chính anh nhắn gửi.

    Tôi muốn gửi bản thông điệp màu hồng cho tất cả dương gian.

    Một bạn đọc trẻ Sài Gòn ngay khi nghe tin trái tim anh dừng lại ở thời khắc 8 giờ 49 phút sáng nay, đã nhắn cho tôi qua mạng: Chú ơi, nhà thơ Phạm Tiến Duật đã bắt đầu giấc bình yên trên cái cõi các Nàng Thơ bay lượn múa hát bên suối trong, cỏ xanh, hoa thơm ngát, bác Duật trẻ nhất trong những vị tân khách dự bữa tiệc ấy với những Nguyễn Du, Ta-go, Đoàn Thị Điểm, Hồ Xuân Hương, An-na A-khơ-ma-tô-va và Tố Hữu đang quây quần bên nhau…

    Vâng, tôi tin là anh chỉ “chuyển đơn vị vào vùng rừng trong ấy”, vì anh còn nhắn tôi thế này:

Bao nhiêu bạn bè thân thiết
Xa nhau như xa nhau hôm nay
Thôi em đừng bẻ đốt ngón tay
Nước mắt dễ lây mà rừng thì lặng quá…


    Tôi vừa là em anh về tuổi đời, vừa là em anh trong nghề nghiệp, nhưng anh nâng tôi lên làm đồng đội của anh. Tôi hãnh diện vì thế hệ mình có những nghệ sĩ như anh. Tôi biết ơn anh vì điều đó, lẽ ra tôi phải viết hoa chữ Anh, nhưng tôi biết là anh chỉ muốn tôi gọi anh là anh, anh Duật. Anh đẹp vì thế. Tôi trở nên đẹp vì tôi được anh cho tôi làm đồng đội.

    Phải, xa nhau như đồng đội xa nhau hôm nay… chẳng phải lần đầu, và càng chẳng phải lần cuối cho những cuộc xa nhau của những đồng đội, đồng nghiệp, đồng nhân…, nhưng ý nghĩa cuộc sống và vẻ đẹp của Tổ Quốc, Nhân Dân và Thơ Ca thì tươi non mãi mãi như anh từng hớn hở reo vui:

Trong chiến tranh một ước ao sôi nổi
Là Nhân Dân đoàn tụ muôn đời…
                                                                                                                Ai bảo đó là khẩu hiệu ta cũng chả bận lòng, chỉ biết ta nâng niu, tự hào vì những năm tháng ấy không phải để hoài cổ mà để tiến lên, để hy vọng, để tập hợp, tin cậy và để được yêu thương hơn, mãnh liệt hơn cái ý nghĩa cuộc sống và những cuộc vượt lên…

    Vì vậy mà tôi không khóc nữa, tôi ngắm mãi chân dung anh mặc áo trấn thủ năm 1970 giữa chiến trường. Lòng tôi rộn ràng và rực rỡ lên từ ánh mắt anh nhìn…

    Anh Duật ơi, anh đẹp lắm…

Ngõ Dã Tượng,
đêm 4 tháng 12 năm 2007.
N.K.P

(Nguồn Trannhuong.com)

« Sửa lần cuối: 05 Tháng Mười Hai, 2007, 02:23:16 pm gửi bởi thanhlong » Logged

Đừng hỏi Tổ quốc đã làm gì cho ta mà phải hỏi ta đã làm gì cho Tổ quốc hôm nay
thanhlong
Thành viên
*
Bài viết: 199



« Trả lời #1 vào lúc: 05 Tháng Mười Hai, 2007, 02:30:43 pm »

Bài thơ về tiểu đội xe không kính
Tác giả: Phạm Tiến Duật

Không có kính không phải vì xe không có kính
Bom giật, bom rung kính vỡ đi rồi
Ung dung buồng lái ta ngồi,
Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng.

Nhìn thấy gío vào xoa mắt đắng
Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim
Thấy sao trời và đột ngột cánh chim
Như sa, như ùa vào buồng lái

Không có kính, ừ thì có bụi,
Bụi phun tóc trắng như người già
Chưa cần rửa, phì phèo châm điếu thuốc
Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha.

Không có kính, ừ thì ướt áo
Mưa tuôn, mưa xối như ngòai trời
Chưa cần thay, lái trăm cây số nữa
Mưa ngừng, gió lùa khô mau thôi.

Những chiếc xe từ trong bom rơi
Ðã về đây họp thành tiểu đội
Gặp bè bạn suốt dọc đường đi tới
Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi.

Bếp Hòang Cầm ta dựng giữa trời
Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy
Võng mắc chông chênh đường xe chạy
Lại đi, lại đi trời xanh thêm.

Không có kính, rồi xe không có đèn,
Không có mui xe, thùng xe có xước,
Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước:
Chỉ cần trong xe có một trái tim.

Nguồn: http://annonymous.online.fr/machuong/
Logged

Đừng hỏi Tổ quốc đã làm gì cho ta mà phải hỏi ta đã làm gì cho Tổ quốc hôm nay
thanhlong
Thành viên
*
Bài viết: 199



« Trả lời #2 vào lúc: 05 Tháng Mười Hai, 2007, 02:34:42 pm »

Trường Sơn đông, Trường Sơn tây

Cùng mắc võng trên rừng Trường Sơn
Hai đứa ở hai đầu xa thẳm
Ðường ra trận mùa này đẹp lắm
Trường Sơn Ðông nhớ Trường Sơn Tây.

Một dãy núi mà hai màu mây
Nơi nắng nơi mưa, khí trời cũng khác
Như anh với em, như Nam với Bắc
Như Ðông với Tây một dải rừng liền.

Trường Sơn tây anh đi, thương em
Bên ấy mưa nhiều, con đường gánh gạo
Muỗi bay rừng già cho dài tay áo
Rau hết rồi, em có lấy măng không.

Em thương anh bên tây mùa đông
Bướm khe cạn nước bay lèn đá
Biết lòng Anh say miền đất lạ
Chắc em lo đường chắn bom thù

Anh lên xe, trời đổ cơn mưa
Cái gạt nước xua tan nỗi nhớ
Em xuống núi nắng về rực rỡ
Cái nhành cây gạt nỗi riêng tư.

Ðông sang tây không phải đường như
Ðường chuyển đạn và đường chuyển gạo
Ðông Trường Sơn, cô gái "ba sẵng sàng" xanh áo
Tây Trường Sơn bộ đội áo màu xanh.

Từ nơi em gửi đến nơi anh
Những đoàn quân, trùng trùng ra trận
Như tình yêu nối lời vô tận
Ðông Trường Sơn, nối tây Trường Sơn.
Logged

Đừng hỏi Tổ quốc đã làm gì cho ta mà phải hỏi ta đã làm gì cho Tổ quốc hôm nay
altus
Moderator
*
Bài viết: 1782



« Trả lời #3 vào lúc: 06 Tháng Mười Hai, 2007, 12:39:49 am »

Vòng trắng

Phạm Tiến Duật

Khói bom lên trời thành một cái vòng đen
Trên mặt đất lại sinh bao vòng trắng
Tôi với bạn tôi đi trong im lặng
Cái im lặng bình thường đêm sau chiến tranh.

Có mất mát nào lớn bằng cái chết
Khăn tang vòng tròn như một số không
Nhưng bạn ơi, ở bên trong vòng trắng
Là cái đầu bốc lửa ở bên trong.


1974
Logged
motthoang_hn02
Thành viên
*
Bài viết: 230



« Trả lời #4 vào lúc: 06 Tháng Mười Hai, 2007, 10:02:02 am »

Gửi bác Phạm Tiến Duật !

Con không tin rằng bác đi nhanh thế, vẫn còn nguyên " Tiểu đội xe không kính ", cũng những ngày này năm ngoái con còn đứng cạnh bác, con bảo : Nhất định sẽ có ngày con xin được ngồi nghe bác kể về tiểu sử của bài thơ ấy. Bảo bác : Uh nếu rảnh con cứ lên 51 Trần Hưng Đạo, bác làm văn phòng trên đấy !

Hẹn hò rồi hò hẹn, có lần mang báo lên cho bác rồi con phải vội đi ngay.Con nhớ lắm đêm thơ rằm tháng Riêng năm ngoái, bên chú Trần Đăng Khoa, bên nhà văn Lê Lựu, cả bác Hữu Thỉnh, con thấy bác rạng ngời trong bộ veston đứng trên sân khấu phát biểu.Thỉnh thoảng còn nghe bác Lê Lựu kể với mấy anh chị iem với giọng rất thân tình : " Đêm qua 3h thằng Duật còn alô gọi bảo anh đi uống rượu với em ". Con chỉ cười bởi Thi với Tửu đâu còn xa lạ với cánh nhà thơ, nhà văn nữa...........

Sáng nay nghe tin mà con như chết lặng đi, thấy tim mình nhói đau. Thế là lại có thêm 2 nhà thớ của lính ra đi mãi mãi. Con nói nhỏ với bác nhé : Bác Chính Hữu cũng mới qua đời sau bác vài giờ thôi ạ ! Ôi " Đồng chí " Bác còn trẻ mà, con hay đùa : Có phải bác đang ở cái tuổi tái xuân dữ dội? Bất chợt lại nhớ đến nữ thi sĩ Xuân Quỳnh với " Sóng "

Dữ dội và dịu êm
Ồn ào và lặng lẽ
Sông không hiểu nổi mình
Sóng tìm ra tận bể
[/color][/b]

Thật đúng là chẳng thể hiểu, đời người sao mong manh thế?Giờ đây khi đang ngồi viết cho bác những dòng này thì tất cả kỷ niệm ấy lại ùa về chiếm lấy khoảng trống trong tâm hồn con.Tuy không nhiều lắm, nhưng con nhớ rất rõ, nó êm đềm & lắng sâu tận trong tim con.Dù sao đi nữa thì tình cảm con dành cho bác vẫn không thay đổi, nó còn mãi theo quỹ đạo của thời gian.Để 1 lần bất chợt nhìn thấy " Tiểu đội xe không kính " là còn lại nhớ về ngày ấy............

Con sẽ còn gặp lại bác phải không ạ?[/color]
Logged

Ngang tàng & bướng bỉnh trước những vấp ngã của cuộc đời, vẫn chưa hết những đam mê nông nổi !
motthoang_hn02
Thành viên
*
Bài viết: 230



« Trả lời #5 vào lúc: 06 Tháng Mười Hai, 2007, 07:29:12 pm »

http://vanchuong.vnweblogs.com/post/3646/32896/tin/tam-biet-nha-tho-pham-tien-duat.html

Logged

Ngang tàng & bướng bỉnh trước những vấp ngã của cuộc đời, vẫn chưa hết những đam mê nông nổi !
motthoang_hn02
Thành viên
*
Bài viết: 230



« Trả lời #6 vào lúc: 07 Tháng Mười Hai, 2007, 09:17:30 am »

THƠ ĐEO TANG TRẮNG

Viếng nhà thơ Phạm Tiến Duật

Những trái nhót mùa đông đeo tang trắng
Tôi nhớ ngọn Lửa đèn (*) hình trái nhót trong đêm
Những “trái nhót như ngọn đèn tín hiệu”
Trỏ lối nhà thơ về Cõi Thiêng…

Anh đi thật không còn nghe điện thoại
Quán bia hơi bỏ trống chỗ anh ngồi
Những buổi họp Hội Đồng anh xung phong kiểm phiếu
Hòm phiếu là cái mũ da của tôi.

Ừ, thế đó mà bao người vào Hội
Mà bao người thành Bảng nhãn, Trạng nguyên
Có người đậu người rơi anh cứ ngồi tiếc mãi
Ôi giá mà hạ phiếu có người thêm!

Anh cứ thế kẻ yêu và người giận
Thương vợ con mà sống dựa tình nhân
Thơ cũng vậy, thơ anh làm người thuộc
Lúc buồn đau đơn độc với căn phòng…

Anh đã khóc bao lần thơ Vòng trắng (*)
Vòng trắng rợn người tròn một số không
Giờ những bài thơ đeo tang anh đó
Ngọn Lửa đèn chống gậy giữa đám đông

Tôi đến sau những bài thơ của anh
Và tôi thấy rừng thơ đeo tang trắng
Tôi không khóc mà thấy dòng lệ đắng
Lệ thơ anh chảy vào khóe mắt tôi….

4.12.2007
NGUYỄN TRỌNG TẠO
(*) Tên bài thơ của Phạm Tiến Duật 
Logged

Ngang tàng & bướng bỉnh trước những vấp ngã của cuộc đời, vẫn chưa hết những đam mê nông nổi !
hoacuc
Thành viên
*
Bài viết: 1597



« Trả lời #7 vào lúc: 14 Tháng Năm, 2008, 05:39:20 am »

BINH BA LÀ ANH BINH NHÌ


Nhà văn Hồ Phương khi làm báo tờ Quân Tiên Phong những năm 1949-1950 tỏ ra rất tài hoa. Ông vừa là nhà văn, nhà báo lại vừa có thể làm thơ, vẽ tranh. Tranh ông thiên về khắc họa chân dung những người lính “áo nâu” hồn nhiên và ngộ nghĩnh, bộ đội ta thích lắm.

 Ông thường ký tên dưới những bức tranh đó là HOP, tức là chữ Hồ Phương rút gọn… Những năm sau này, khi làm tờ Văn nghệ quân đội, ngoài bút danh Hồ Phương ra, ông còn ký bằng các bút danh khác như P.V, Tê Hoa. Một dạo ký là Binh Ba. Có người hỏi, tại sao tướng lại ký là Binh Ba? Ông cười bảo: “Binh Ba tức là bạn, là anh của Binh Nhất, Binh Nhì. Là bạn, là anh em của nhau viết về nhau thoải mái hơn và có thể anh em lính trẻ cũng dễ đọc hơn”. Quả nhiên những bài viết ngắn, giàu chất hóm hỉnh của Binh Ba đã gây được sự chú ý, tò mò của tuổi trẻ các đơn vị. Ấy thường là những mẩu chuyện vui, nhưng giàu chất thông tuệ.
 
Nguồn: Tạp chí Văn nghệ quân đội
Logged

Hãy làm cho từng ngày bạn sống trở nên có ý nghĩa. Hãy nâng niu từng phút giây bạn có.
linh_chi
Thành viên

Bài viết: 0


« Trả lời #8 vào lúc: 22 Tháng Tư, 2009, 02:37:55 pm »

1.   Huy Thục
Cuối tháng 9/1969, sau ngày Bác Hồ mất, Huy Thục xin trở lại Bắc Quảng Trị. Những đêm ra mặt trận trên con đường mang tên Bác, anh gặp từng đoàn, từng đoàn thanh niên Nam tiến. Họ là những công nhân Nhà máy Cơ khí Trần Hưng Đạo, Duyên Hải; là những nông dân trên cánh đồng quê hương “5 tấn”; là những thanh niên mới tốt nghiệp đại học và cả một số giáo viên các Trường đại học Tổng hợp, Sư phạm, Bách khoa… ở nhiều địa phương, địa bàn hoạt động khác nhau nhưng ai nấy đều chung một khí thế hào hùng “Nhớ Bác Hồ, biến đau thương thành sức mạnh”. Thế là bài Bác đang cùng chúng cháu hành quân của Huy Thục hình thành với những câu đầu tiên:

Đêm nay trên đường hành quân ra mặt trận
Trùng trùng đoàn quân tiến bước theo con đường của Bác
Cả đoàn quân tiến theo Người như thác đổ
Điện Biên năm nào vọng lời Bác giữa chiến hào.

Tiếp đến mùa xuân đại thắng năm 1975, các bạn văn công của Huy Thục lại có mặt trong giải phóng Huế (25/3/1975), giải phóng Đà Nẵng (29/3/1975) và rồi đến 30/4/1975, các anh chị đã có mặt ở Sài Gòn vừa giải phóng. Ở đâu Huy Thục cũng có những sáng tác đầy ấn tượng.
2.   Huy Du
Ông còn có bút danh là Huy Cầm, sinh ngày 01/12/1926, tại Liên Sơn, Bắc Ninh.

Từ nhỏ ông đã chơi đàn violon và thổi sáo trúc những giai điệu dân ca ngọt ngào của vùng Kinh Bắc. Lớn lên ra Hà Nội học, được tiếp xúc với âm nhạc phương Tây, nhưng ông vẫn mang hồn dân tộc.

Năm 1947 đến năm 1949, ông dạy nhạc ở trường Thiếu sinh quân liên khu III. Năm 1949 làm trưởng đoàn Văn công Bộ tư lệnh liên khu III. Năm 1951 làm trưởng đoàn Văn công Sư đoàn 320. Trong giai đoạn này ông đã cho ra đời những ca khúc: Ba Vì năm xưa, Sẽ về Thủ đô, Những gác chuông giáo đường, Tôi yêu hoà bình…

Từ năm 1956 đến 1962, Huy Du học tại Nhạc viện Bắc Kinh. Năm 1962 đến 1977, ông làm việc tại Đoàn ca múa Tổng cục Chính trị và bắt đầu từ đây khả năng sáng tạo của Huy Du nở rộ. Các ca khúc như Tình em (thơ Ngọc Sơn, 1962), Bế Văn Đàn sống mãi (thơ Trinh Đường, 1963), Tôi ca mãi đời anh (1964) đã lan toả sâu rộng trong công chúng.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ của dân tộc, ca khúc của Huy Du ngày càng nhiều và có sức cảm hoá lòng người bởi tính trữ tình mà hào hùng. Nhiều ca khúc mà âm hưởng của nó vẫn vọng mãi đến ngày nay như: Thề bảo vệ Tổ quốc, Anh vẫn hành quân (thơ Trần Hữu Thung), Bạch Long Vĩ đảo quê hương, Có chúng tôi trên hải đảo xa xôi, Chưa hết giặc ta chưa về, Cùng anh tiến quân trên đường dài (thơ Xuân Sách), Nổi lửa lên em (phỏng thơ Giang Nam), Đường chúng ta đi (lời thơ Xuân Sách), Trên đỉnh Trường Sơn ta hát, Đêm Trường Sơn…

Khi đất nước hoàn toàn giải phóng, Huy Du viết: Việt Nam ơi ta bước tiếp, Việt

Nam ơi! Mùa xuân đến rồi, Chiều không em (phỏng thơ Thuỵ Kha), Người mù hát tình ca (phỏng thơ Thế Hùng)…

Ngoài ca khúc, Huy Du còn viết khí nhạc mà nổi bật là tác phẩm Miền

Nam quê hương ta ơi cho violon và piano (1959), âm nhạc cho phim và sân khấu.

Là nhạc sĩ sáng tác nhưng ông vẫn đảm nhận nhiều cương vị công tác như: Trưởng đoàn ca múc Tổng cục Chính trị (1962 - 1977), Tổng thư ký Hội nhạc sĩ Việt Nam khoá III, Đại biểu Quốc hội khoá VII, Phó Chủ nhiệm Uỷ ban văn hoá - giáo dục Quốc hội khoá VIII, Phó Chủ tịch Hội hữu nghị Việt - Trung.

Nhạc sĩ Huy Du đã xuất bản các tập ca khúc: Anh vẫn hành quân (NXB Văn hoá), Đường chúng ta đi (NXB Quân đội nhân dân), Khát vọng mùa xuân (NXB Âm nhạc), Tuyển chọn ca khúc (NXB Âm nhạc và Hội nhạc sĩ Việt Nam); Băng audio - cassette : Người mù hát tình ca (Audio Hồ Gươm), Chiều không em (DIHAVINA và Hội Nhạc sĩ Việt Nam).

Năm 2000, Huy Du được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật cho các tác phẩm: Bế Văn Đàn sống mãi, Đường chúng ta đi, Anh vẫn hành quân, Cùng anh tiến quân trên đường dài, Nổi lửa lên em.( Bài hát được sáng tác thời gian năm 1962, khi nhạc sĩ Huy Du từ Nhạc viện Bắc Kinh)
3.   Doãn Nho
Từ 1962-1964, ông được cử đi hỿc sáng tác tại Nhạc viiện Kiev (Liên Xô cũ). Khi ông trở vỿ nước cũng là lúc cả nước sục sôi không khí lên đưỿng chi viện cho chiến trưỿng miỿn Nam. Doãn Nho đã hòa nhập vào đoàn quân Nam tiến và lần lượt đến các chiến trưỿng ác liệt ở Khu 4, Nam Lào, Quảng Trị...
Thực tế cuộc sống chiến đấu ác liệt và anh dũng này đã giúp cho Doãn Nho có những tác phẩm: Năm anh em trên một chiếc xe tăng - một hành khúc hùng tráng đã trở thành bài hát ưa thích không những của bộ đội xe tăng mà của cả những binh chủng khác. Bài hát Ngưỿi con gái sông La sáng tác năm 1970 với giai điệu ngỿt ngào, da diết, sâu lắng, nhuốm màu bi tráng là một trong những kỷ niệm đẹp trong cuộc đỿi sáng tác của ông.

4.   Hoàng Hà
Khi có thông tin nhanh rằng quân ta sau khi giải phóng liên tục các tỉnh Nam Trung bộ đang tiến đến gần Nha Trang thì nhạc sĩ Hoàng Hà đã viết ca khúc "Chào Nha Trang giải phóng". Bài hát này được lấy làm nhạc hiệu của Đài phát thanh và truyền hình Khánh Hoà.
Đến đêm 26-4-1975 không khí chiến thắng lên đến cao trào cùng với việc tuyên bố trên Đài tiếng nói VN tên gọi: "Chiến dịch Hồ Chí Minh" thì nhạc sĩ đã trào dâng hạnh phúc và xúc cảm. Ngay trong đêm đó, ông đã viết bài Đất nước trọn niềm vui. Viết xong, ông cùng con trai lớn của mình hát say sưa suốt đêm: "Hội toàn thắng náo nức Đất nước/Ta muốn bay lên say ngắm sông núi hiên ngang... Ta muốn ôm hôn mỗi tấc đất quê hương"...

5.   Hoàng Việt
Cách mạng Tháng Tám thành công, ông tham gia quân đội, hoạt động ở chiến trường miền Đông Nam Bộ trong 9 năm kháng chiến. Sau Hiệp định Geneve, Hoàng Việt tập kết ra Bắc.



Năm 1956, ông học tại Trường Âm nhạc Việt Nam. Năm 1958, Hoàng Việt được cử sang học tại Nhạc viện quốc gia Bulgarie. Năm 1968, Hoàng Việt hoàn thành xuất sắc khoá học, ông về nước tình nguyện trở lại chiến trường miền Nam và đã hy sinh trong tư thế người chiến sĩ - nhạc sĩ.



Hoàng Việt là một trong những nhạc sĩ tiêu biểu của lòng yêu nước, yêu quê hương tha thiết. Phẩm giá đó của ông được thể hiện cả ở hành động cuộc sống và tác phẩm. Ông đã từng nói: "Cho đến chết mới hết sáng tác cho đời". Những sáng tác cho đời của Hoàng Việt là những giai điệu trong sáng vang vọng tận bây giờ. Với bản Giao hưởng số 1 Quê hương, Hoàng Việt là một trong những nhạc sĩ đầu tiên đặt nền móng cho âm nhạc giao hưởng nước ta, và bản giao hưởng Quê hương đứng ở vị trí khởi đầu của một thể loại âm nhạc trong nền âm nhạc cách mạng Việt Nam: âm nhạc giao hưởng. Tác phẩm này được Dàn nhạc Giao hưởng Bulgarie biểu diễn và thu thanh. Dàn nhạc giao hưởng Việt Nam cũng đã biểu diễn nhiều lần giao hưởng này. Ông đã viết những bài ca bất hủ, gắn liền với hai cuộc kháng chiến trường kỳ và anh dũng của dân tộc. Ông hy sinh ngày 31 tháng 12 năm 1967 tại chiến trường Nam Bộ.



Vì những đóng góp xứng đáng của ông với sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, Hoàng Việt đã được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh. Các tác phẩm: - Khí nhạc: Giao hưởng số 1 Quê hương, Giao hưởng số 2 Cửu Long (chưa hoàn thành). - Thanh nhạc: nhạc kịch Bông sen (viết cùng Nguyễn Vũ và Huỳnh Minh Siêng). - Ca khúc: Biệt đô thành, Tiếng còi trong sương đêm, Sở Thượng Giang, Lá xanh, Lên ngàn, Mùa lúa chín, Nhạc rừng, Tình ca, Đêm trăng qua đất Kiến Tường... Đã xuất bản: Giao hưởng Quê hương, Hội Nhạc sĩ Việt Nam (bản in roneo). Tuyển chọn ca khúc Hoàng Việt (Nhà xuất bản âm nhạc và Hội Nhạc sĩ Việt Nam), Album Hoàng Việt (DIHAVINA, 1995).

 
6.   Độc tấu sáo
7.    Đơn ca Về Pác Pó ST: Phan Nhân
8.   Đêm TS nhớ Bác ST: Trần Trung
9.   Văn An
chuyện của Thiếu tướng Phan Văn Xoàn người có nhiều năm công tác tại Cục Cảnh vệ (Bộ Công an): Lần đầu tiên đ/c được bảo về Bác đi công tác nước ngoài - thăm Ấn Độ. Trời rét, Bác vẫn dặn anh em cảnh vệ mang theo dép cao su để “sang bên đó Bác đi cho tiện, hơn nữa cũng quen dùng”. Khi lên máy bay, Bác đi giầy vải cho ấm. Nhân lúc đó, mọi người bàn nhau đem giấu dép cao su, vì nghĩ đơn giản, ra nước ngoài, Bác phải đi giày lễ tân cho sang trọng. Nhưng khi máy bay sắp hạ cánh, Bác liền hỏi dép cao su. Mọi người muốn đặt Bác vào sự đã rồi, nên thưa “dép để dưới bụng máy bay!”. Bác phê bình, “các chú làm vậy là không được!”. Khi máy bay dừng hẳn trên sân, Bác yêu cầu lấy bằng được dép cao su để đi.
Họ nghẹn ngào bày tỏ: “Nghe tiếng đã lâu, hôm nay mới thấy tận mắt, đúng là Chủ tịch Hồ Chí Minh giản dị, thân thương quá!”.


10.   Hoàng Hiệp
Hoàng Hiệp có bút danh là Lưu Nguyễn, sinh ngày 01/10/1931 tại An Giang. Hiện đang cư trú tại thành phố Hồ Chí Minh.

Những ngày tháng Tám năm 1945, Hoàng Hiệp tham gia Cách mạng. Là hạt nhân văn nghệ của đoàn Tuyên truyền lưu động Long Xuyên, sau đó Hoàng Hiệp chuyển về đoàn văn công và phân hội Văn nghệ Long Châu Hà.

Năm 1954, Hoàng Hiệp tập kết ra Bắc học khoá sáng tác đầu tiên của Trường âm nhạc Việt Nam (nay là Nhạc viện Hà Nội). Năm 1956, ông viết Câu hò bên Bến Hiền Lương (lời Hoàng Hiệp và Đằng Giao). Năm 1960, ông làm biên tập viên ở Nhà xuất bản Âm nhạc. Năm 1965, ông viết bài Cô gái vót chông (phỏng thơ Môlôyclavi), tiếp đến là bài Soi đường cho ta đi đánh giặc. Năm 1966, ông viết bài Ngọn đèn đứng gác (thơ Chính Hữu). Năm 1968, bài Đất quê ta mênh mông (thơ Dương Hương Ly).

Nhìn chung đề tài về chiến đấu và xây dựng chủ nghĩa xã hội đã được Hoàng Hiệp khai thác từ nhiều khía cạnh. Âm nhạc của ông mạnh mẽ, sôi nổi nhưng lại trữ tình, sâu lắng. Năm 1969, Hoàng Hiệp chuyển công tác sang Nhà xuất bản Giải phóng. Năm này, ông viết Ơi nhà máy của ta. Năm 1970, có Hát trên đồng 10 tấn, Năm 1971, bài Tiếng hát từ thượng nguồn, liên khúc Những bài hát của người chiến sỹ lái xe (thơ Phạm Tiến Duật) gồm 4 bài: Nghe hò đêm bốc vác, Qua cầu Tuỳ Cốc, Trường Sơn đồng - Trường Sơn tây, Tiểu đội xe không kính. Năm 1972, ông viết bài Lá đỏ (thơ Nguyễn Đình Thi).

Sau năm 1975, Hoàng Hiệp về công tác tại Nhà xuất bản Âm nhạc thành phố Hồ Chí Minh, sau chuyển sang Hội âm nhạc thành phố và một thời gian làm Tổng thư ký Hội.

Sống trong cảnh đất nước thanh bình, tính trữ tình trong ca khúc của ông như có dịp được tuôn trào. Nhiều bài hát ở giai đoạn này đã được phổ biến rộng rãi và được công chúng đón nhận nồng nhiệt như: Về đất Mũi, Con đường có lá me bay, Sao anh không kể, Em vẫn đợi anh về (thơ Lê Giang), Khi anh nhìn em (thơ Lê Thị Kim), Mùa chim én bay, Thơ tình của người lính biển (thơ Trần Đăng Khoa), Viếng Lăng Bác (thơ Viễn Phương), Nhớ về Hà Nội…

Nhìn chung ca khúc của Hoàng Hiệp mang đậm âm hưởng dân gian các vùng miền, dễ nhớ, dễ xúc động. Ông cũng là nhạc sĩ thành công trong việc phổ nhạc cho thơ. Ngoài sáng tác ca khúc, Hoàng Hiệp còn viết nhạc cho sân khấu kịch nói như: Người ven đô, Màu giấy mới, Xa thành phố yêu dấu, nhạc cho các vở cải lương Thái hậu Dương Vân Nga, Tiền và Nghĩa; viết nhạc cho phim truyện và phim tài liệu: Cánh đồng mơ ước, Bản nhạc người tù, Mùa gió chướng, Nơi gặp gỡ của tình yêu, Biệt động Sài Gòn…

Hoàng Hiệp còn là tác giả, dịch giả cuốn nhạc lý cơ bản của Spasspbine, và nhiều sách giáo khoa âm nhạc. Ông có nhiều tuyển tập ca khúc, album audio đã xuất bản. Bằng sự cống hiến hết mình cho nghệ thuật, nhạc sĩ Hoàng Hiệp đã được nhận nhiều giải thưởng lớn.

Năm 2000, Hoàng Hiệp được nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật cho các tác phẩm: Câu hò bên Bến Hiền Lương, Cô gái vót chông, Ngọn đèn đứng gác, Trường Sơn đông - Trường Sơn tây, Viếng Lăng Bác, Nhớ về Hà Nội.
 
Logged
Trang: 1   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM