Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 03:26:03 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Cương vực lãnh thổ Việt Nam qua các thời kỳ  (Đọc 77088 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
dongadoan
Administrator
*
Bài viết: 7256


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #10 vào lúc: 23 Tháng Bảy, 2009, 07:41:08 pm »

  Cuối năm 979, Đinh Bộ Lĩnh và con trai là Đinh Liễn bị ám hại. Đinh Toàn mới sáu tuổi lên ngôi vua. Nhân cơ hội này, nhà Tống đã sai Hầu Nhân Bảo, Tôn Toàn Hưng, Lưu Trừng đem hơn ba vạn quân thuỷ, bộ sang đánh Đại Cồ Việt. Để tổ chức cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, triều đình nhà Đinh quyết định đưa Thập đạo tướng quân Lê Hoàn lên ngôi vua thay cho Đinh Toàn. Lê Hoàn đã lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Tống thắng lợi, tiếp tục củng cố nền độc lập của đất nước.

   Từ những năm 70, nước Chăm Pa ở phía Nam nước Đại Cồ Việt đã cố ý lấn chiếm. Năm 980, sau khi lên ngôi vua, Lê Hoàn sai sứ sang giao hảo với Chăm Pa để vỗ yên cương vực phía Nam, tập trung lực lượng chống giặc ngoại xâm ở cương vực phía Bắc. Vua Chăm Pa đã bắt giữ các sứ thần của Đại Cồ Việt. Năm 982, sau khi đánh tan quân xâm lược của nhà Tống, Lê Hoàn quyết định cầm quân đi đánh Chăm Pa. Quân Chăm Pa thua to. Vua Chăm Pa bị tử trận. Lê Hoàn sai quân phá hết thành trì của Chăm Pa rồi rút quân về nước. Quan hệ Đại Cồ Việt – Chăm Pa tạm hoà hoãn trong một thời gian.

   Lên ngôi vua, Lê Hoàn xưng là Lê Đại Hành (sử gọi là nhà Tiền Lê), vẫn giữ tên nước là Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư, đổi mười “Đạo” thời Đinh thành mười “Lộ”, phủ, châu (tương đương đơn vị hành chính cấp tỉnh ngày nay). Căn cứ vào địa danh chép trong hai đời nhà Đinh và nhà Tiến Lê và theo chú thích của Viện Sử học khi xuất bản bản dịch Đại Việt Sử Kí Toàn Thư năm 1972, người ta tìm được các địa danh thời Tiền Lê ngày nay là:

  - Thuộc Ninh Bình (Hoa Lư, Cổ Lãm, Đàm Gia Loan);

  - Thuộc Thanh Hoá (Vũ Lũng, Hà Đông, Cử Long, Châu Ái, Chi Long, Đinh Sơn);

  - Thuộc Nghệ An (kênh Đa Cái);

  - Thuộc Hà Tĩnh (Hạch Hà, Hoàn Đường, Kỳ La, cửa biển Nam Giới);

  - Thuộc Quảng Bình (Đại Lý);

  - Thuộc Nam Định (cửa Đại Ác, sông Đại Hoàng);

  - Thuộc Thái Bình (Bố Hải Khẩu);

  - Thuộc Hưng Yên (Châu Đằng, trại Phù Lan, Mại Liên);

  - Thuộc Hải Dương (Nam Sách Giang, phủ Đái);

  - Thuộc Quảng Ninh (Trấn Triều Dương, châu Tô Mậu, Bạch Đằng);

  - Thuộc Bắc Ninh (Tiên Du, Siêu Loại);

  - Thuộc Bắc Giang (Bắc Giang, An Châu);

  - Thuộc Lạng Sơn (Lạng Châu, Chi Lăng);

  - Thuộc Hà Nội (Tây Phù Liệt);

  - Thuộc Hà Tây (Đường Lâm, Đỗ Động Giang);

  - Thuộc Phú Thọ (Châu Phong, Tam Đái);

  - Thuộc Tuyên Quang (Vị Long, Đô Lương);

  - Thuộc Hà Giang (Vị Long).

   Như vậy, cương vực, lãnh thổ nước Đại Cồ Việt thời nhà Đinh - Tiền Lê đã bao trùm lên hầu hết các tỉnh miền Bắc Việt Nam ngày nay, từ Quảng Bình trở ra cho đến Quảng Ninh, Lạng Sơn, Hà Giang. Tuy nhiên, ở thời Tiến Lê, biên giới phía Tây vẫn chưa được định hình. Cương vực phía Nam giáp Chăm Pa ở khu vực Đèo Ngang. Phía Bắc và Đông Bắc giáp đất Tống, phía Tây Bắc gần với Đại Lý (tức Nam Chiếu ở vùng Vân Nam) đều chưa ổn định. Đất đai lãnh thổ không có thay đổi gì so với thời Đinh.

   Năm 1005, Lê Đại Hành chết, con là Long Việt nối ngôi cha, xưng là Lê Trung Tông, nhưng chỉ được ba ngày thì bị em là Long Đĩnh giết cướp ngôi vua. Long Đĩnh bị bệnh trĩ, không ngồi được, phải nằm để hội chầu nên sử gọi là vua “Ngoạ triều”. Năm 1009, Lê Long Đĩnh chết, triều đình suy tôn Lý Công Uẩn lên ngôi vua. Triều đại nhà Tiền Lê chấm dứt, mở ra một trều đại mới - triều đại nhà Lý.
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
lonesome
Moderator
*
Bài viết: 1244


« Trả lời #11 vào lúc: 26 Tháng Bảy, 2009, 10:55:20 pm »

Hì, đã để ở đây thì ai có tư liệu cứ đưa, việc gì phải hỏi?  Grin

Tư liệu của lonesome có nguồn online không?

Đây có 1 bài này bác: http://www.quansuvn.net/index.php?topic=6831.0
Logged
lonesome
Moderator
*
Bài viết: 1244


« Trả lời #12 vào lúc: 10 Tháng Tám, 2009, 01:37:25 am »

  Giới thiệu một số lược đồ về cương vực lãnh thổ Việt Nam qua các thời kỳ. Ảnh và tài liệu lược trích từ cuốn "Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng" của NXB CAND.

....
  Theo bộ ĐVSKTT - bộ chính sử đầu tiên của nước ta thì nước Văn Lang "Đông giáp Nam Hải, Tây giáp Ba Thục, Bắc giáp hồ Động Đình, Nam giáp nước Hồ Tôn". Nam Hải tức Biển Đông; Ba Thục là một quốc gia cổ có lãnh thổ nay là vùng Tứ Xuyên, Trung Quốc; hồ Động Đình ở tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc; Hồ Tôn là một quốc gia cổ của người Chăm có lãnh thổ tương ứng với vùng từ quảng Bình đến Bình Thuận của Việt Nam ngày nay.


Bác có bao giờ nghi ngờ chuyện tại sao lãnh thổ 15 bộ của nước Văn Lang dù ghi theo tài liệu nào cũng chỉ gói gọn trong vùng đồng bằng BB và (có thể là) 1 phần Nam của Lưỡng Quảng - so ra quá nhỏ hẹp so với câu  "Đông giáp Nam Hải, Tây giáp Ba Thục, Bắc giáp hồ Động Đình, Nam giáp nước Hồ Tôn" không?
Logged
dongadoan
Administrator
*
Bài viết: 7256


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #13 vào lúc: 10 Tháng Tám, 2009, 05:26:15 am »

Không, lý do: Anh rất dốt cổ sử, đặc biệt là tối cổ như thời Văn Lang, Âu Lạc Embarrassed
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
lonesome
Moderator
*
Bài viết: 1244


« Trả lời #14 vào lúc: 10 Tháng Tám, 2009, 12:04:38 pm »

Không, lý do: Anh rất dốt cổ sử, đặc biệt là tối cổ như thời Văn Lang, Âu Lạc Embarrassed

Bác ngó coi cái thời viết ra những câu ấy là thời nào, cương vực lúc đó đến đâu  Grin
Logged
tiencong
Thành viên
*
Bài viết: 16


« Trả lời #15 vào lúc: 16 Tháng Tám, 2009, 08:33:07 pm »

Cái bản đồ bác lấy ở đâu ra vậy. Tôi đã xem sách của Đào Duy Anh và nhiều nhà lịch sử chuyên về cổ sử, không ai đề cập hay có bất cứ bản đồ nào vẽ ranh giới Âu Lạc ra tận Quảng Châu cả, nhìn bàn đồ của bác hóa ra Hongkong thuộc âu lạc à. Theo tôi biết đaih giới Âu Lạc chỉ quanh vùng đồng bằng sông Hồng và trung du Bắc Bộ, có thể đến Cao bằng.
Cái lý thuyết về một nước Văn Lang của Hùng vương đến tận hồ Động Dình (tỉnh Hồ Nam, TQ, là quê của Mao Trạch Đông) chỉ có giá trị truyền thuyết, không có giá trị lịch sử đâu. Các bác nên xem sách của Đào Duy Anh:
Đất nước Việt nam qua các đời  online ở http://www.songhuong.com.vn/main.php?cid=40,44&id=15&case=2&left=40,18
Theo tôi tham khảo các bản đồ lịch sử Việt Nam, ranh giới xa nhất về phía bắc của Việt Nam là tới các sông Tây Giang, Quảng Tây vào thời họ Khúc. Hợp Phố, Quảng Châu vẫn thuộc Giao Chỉ hay Giao Châu cho đến đời Tam Quốc. Có thể nước Văn Lang bao gồm cả Hợp Phố.
Thêm nữa không có chuyện Thục phán đánh quân Tần đâu, huyền thoại như chuyện Hùng vương đánh giặc Ân-Thương vậy.
Logged
dongadoan
Administrator
*
Bài viết: 7256


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #16 vào lúc: 16 Tháng Tám, 2009, 08:36:11 pm »

Cái bản đồ bác lấy ở đâu ra vậy.
------------------------------
 Bạn đã đọc bài đầu của tôi chưa mà hỏi vậy? Grin
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
dongadoan
Administrator
*
Bài viết: 7256


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #17 vào lúc: 21 Tháng Tám, 2009, 02:41:06 pm »

b, Nước Đại Việt thời Lý (1010 - 1225):

   Lý Công Uẩn lên ngôi vua, xưng là Lý Thái Tổ, vẫn lấy tên nước là Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư, chia đặt mười “Lộ”, phủ, châu thời Tiền Lê thành hai mươi bốn “Lộ”. Năm 1010, Lý Thái Tổ dời đô về thành đại La, đặt tên kinh đô là Thăng Long. Năm 1054, đặt quốc hiệu mới là Đại Việt. Căn cứ Đại Việt Sử Kí Toàn Thư, người ta biết được một số địa danh thời Lý ngày nay như sau:

 - Thuộc Nam Định (lộ Thiên Trường, lộ Hoàng Giang);

 - Thuộc Hà Tây (lộ Quốc Oai, châu Cổ Lãm, châu Thượng Oai);

 - Thuộc Quảng Ninh (lộ Hải Đông);

 - Thuộc Thái Bình (lộ Kiến Xương, lộ Long Hưng);

 - Thuộc Hải Dương (lộ Hồng);

 - Thuộc Bắc Ninh (lộ Bắc Giang, phủ Thiên Đức);

 - Thuộc Ninh Bình (lộ Trường Yên, phủ Thiên Trường);

 - Thuộc Thanh Hoá (lộ Thanh Hoá);

 - Thuộc Nghệ An (lộ Diễn Châu, phủ Nghệ An);

 - Thuộc Hà Tĩnh (châu Hoàn Đường);

 - Thuộc Quảng Bình (châu Bố Chính, Đại Lý);

 - Thuộc Quảng Trị (châu Ma Linh);

 - Thuộc Hà Nội (phủ Ứng Thiên);

 - Thuộc Thái Nguyên (phủ Phú Lương, châu Tư Nông, châu Tuyên Hoá);

 - Thuộc Cao Bằng (châu Quảng Nguyên, Thông Nông, Tư Lang, Thảng Po, Định Biên);

 - Thuộc Lạng Sơn (châu Lang, Vạn Nhai, Thất Nguyên);

 - Thuộc Bắc Cạn (châu Tượng Nguyên, Hạ Nông, Cảm Hoá);

 - Thuộc Yên Bái (châu Định Nguyên, Trệ Nguyên);

 - Thuộc Phú Thọ (châu Chân Đăng);

 - Thuộc các tỉnh Tây Bắc (trấn Đà Giang).

   Nhà Lý đã có những cố gắng bước đầu để quản lý cương vực đất nước, nhưng biên giới Đại Việt lúc bấy giờ vẫn chưa rõ ràng và ổn định. Đầu thời Lý, vùng biển tiếp giáp Chiêm Thành (Chăm Pa) được tổ chức thành trại Định Phiên; dọc sông Mê Công là vùng đất thuộc quốc của Chân Lạp , vùng rừng núi phía Đông sông Mê Công vẫn còn là lãnh địa tự do của nhiều bộ tộc ít người; ở phía Tây và Tây Bắc không xác định được ranh giới với Nam Chiếu. Phải đến cuối thời Lý, biên giới Đại Việt giáp đất Tống ở phía Bắc và Đông Bắc mới tương đối ổn định. Thêm vào đó, nhà Lý luôn phải tiến hành cuộc đấu tranh để chống lại các hành động xâm lấn, quấy rối của các láng giềng. Năm 1164, nhà Tống đã buộc phải thừa nhận Đại Việt là một quốc gia riêng và kể từ đây người Trung Quốc gọi nước ta là An Nam quốc.

Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
dongadoan
Administrator
*
Bài viết: 7256


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #18 vào lúc: 21 Tháng Tám, 2009, 02:41:47 pm »

   Đầu thời Lý, có nước Nam Chiếu ở tiếp giáp đất Tây Bắc của Đại Việt. Lợi dụng địa thế xa xôi hiểm trở, người Nam Chiếu kích động thủ lĩnh châu Vị Long là Hà Trắc Tuấn nổi loạn chống lại triều Lý. Nam Chiếu còn đem hai mươi vạn quân chiếm đất để tiếp ứng cho Hà Trắc Tuấn. Châu mục Quảng Nguyên là Hoàng An Vinh không chống nổi giặc, sai quân cấp báo triều đình. Năm 1014, Dực Thánh Vương được lệnh đem quân lên biên giới, cùng thổ binh đánh tan quân Nam Chiếu, thu phục lại đất Ngũ Hoa. Năm 1015, quân triều đình dẹp được loạn, bắt Hà Trắc Tuấn đem về kinh chém đầu.
 
   Tại cương giới giáp đất Tống, nhà Lý luôn phải đối phó với những âm mưu thủ đoạn xâm lấn của người Tống. Nhà Tống thường mua chuộc các thổ tù của Đại Việt để chiếm đất đai, xúi giục dân Tống ven biên tràn sang quấy phá Đại Việt: Năm 1022, quan nhà Tống ở biên hạt Khâm Châu (Quảng Đông) liên tục xúi giục dân tràn qua biên giới lấn đất và cướp bóc của dân Đại Việt, nhà Lý phải điều động một lực lượng lớn quân đội, cùng thổ binh ở biên giới truy đuổi người Tống tới tận Khâm Châu lỵ, tình hình mới yên; trên đoạn biên giới giữa Ung Châu của nhà Tống giáp đất Lạng Châu, Thái Nguyên, năm 1023, thủ lĩnh châu Thất Khê là Lý Tự bị nhà Tống mua chuộc, định đem đất ấy sáp nhập vào đất Tống, phò mã Thân Thừa Quý đem quân biên hạt Lạng Châu tiến vào đất Tống bắt được Lý Tự mặc dù bọn quan lại Ung Châu cố tình che chở v.v…

   Khi vương triều Lý bắt đầu thành lập, Chiêm Thành có sai sứ sang cống (năm 1011), nhưng đến năm 1020, Lý Thái Tổ đã sai con là Khai Thiên Vương và tướng Đào Thục Phụ vào đánh Bố Chánh. Năm 1044, Lý Thái Tông đem quân tiến vào kinh đô của Chiêm Thành là Chà Bàn (Bình Định ngày nay) giết vua Chiêm là Xạ Đẩu. Bị thất bại nặng nề, Chiêm Thành bề ngoài phải thần phục, cống nạp nhà Lý, nhưng bên trong luôn tìm cơ hội đánh lại nhà Lý để báo thù. Từ những năm 1050, vua Chiêm Thành là Chế Củ thường khiêu khích Đại Việt, ra sức chuẩn bị về quân sự để chờ thời cơ đánh Đại Việt. Từ năm 1065, được nhà Tống ủng hộ, Chế Củ cắt đứt hẳn quan hệ với Đại Việt. Năm 1068, Chiêm Thành đưa quân xâm lấn biên giới, vượt biển vào cướp phá Nghệ An. Để dẹp nguy phương Nam, phòng hoạ phương Bắc, vua Lý Thánh Tông quyết định đánh Chiêm Thành. Năm 1069, vua Thánh Tông hạ chiếu thân chinh cầm quân đánh Chiêm Thành, bắt sống vua Chế Củ. Chế Củ phải cắt cho nhà Lý ba châu Bố Chính, Đại Lý, Ma Linh (Quảng Bình và bắc Quảng Trị) để được tha về.

   Đến cuối thế kỉ XII, biên thuỳ và bờ biển của Đại Việt phía nam  giáp Chiêm Thành , phía Tây Nam (đoạn tây Nghệ An, Quảng Bình ngày nay) giáp Chân Lạp. Thời kỳ này, Chiêm Thành và Chân Lạp thường cấu kết với nhau liên tục xâm lấn và cướp phá vùng biên Đại Việt, nhất là trong các năm 1126, 1132, 1137, 1150, 1203, 1216. Có năm, quân Chiêm Thành và Chân Lạp tấn công Đại Việt tới hai, ba lần. Tất cả các cuộc xâm chiếm cướp phá của Chiêm Thành và Chân Lạp đều bị quân của triều đình, thổ biên và nhân dân địa phương vùng biên Đại Việt đẩy lùi. Song các cuộc chiến đó cũng gây không ít thiệt hại cho nhân dân Đại Việt. Điển hình là tháng 3 năm 1203, một viên tướng Chiêm Thành là Bố Trì đem một số quân đến xin cư trú ở cửa biển Cơ La (cửa Nhượng, Hà Tĩnh) với lý do bị chủ đánh đuổi. Do cả tin, mất cảnh giác, tri châu Nghệ An là Đỗ Thanh và châu mục Phạm Diên đã bị Bố Trì đánh úp rồi giết chết, sau đó Bố Trì tàn phá, cướp bóc nhân dân ven biển và rút về Chiêm Thành an toàn.
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
dongadoan
Administrator
*
Bài viết: 7256


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #19 vào lúc: 21 Tháng Tám, 2009, 02:45:10 pm »

   Nhà Lý giữ đất không chỉ bằng sức mạnh quân sự, mà còn bằng chính sách ngoại giao. Nổi bật nhất trong lịch sử bang giao thời Lý là cuộc đấu tranh đòi vùng đất Quảng Nguyên (thuộc Cao Bằng ngày nay) ở ven biên giới bị nhà Tống bao chiếm từ sau khi Tống bị bại trận ở sông Như Nguyệt. Năm 1078, một năm sau khi đánh bại cuộc xâm lược của nhà Tống, nhà Lý đã cử một sứ bộ do Đào Nguyễn Tông dẫn đầu sang biếu vua Tống ba thớt voi với chủ trương đòi lại đất Quảng Nguyên, Bảo Lạc bị nhà Tống chiếm. Với chủ trương hoà hiếu và kiên trì, cuộc đàm phán đã đạt được thoả thuận: Nhà Lý trao trả tù binh cho Tống và Tống trả lại đất Quảng Nguyên cho Đại Việt vào năm 1079; năm 1084, Thị lang binh bộ Lê Văn Thịnh dẫn đầu một sứ bộ sang trại Vĩnh Bình (Ung Châu) để cùng nhà Tống tranh biện về vùng đất phía Tây Bắc Quảng Nguyên. Lê Văn Thịnh đã buộc nhà Tống trả lại cho Đại Việt vùng đất sáu huyện, ba động phía Tây Bắc Quảng Nguyên và định 8 cửa ải làm giới hạn phân chia lãnh thổ hai nước. Về các cuộc bang giao đòi đất giành được thắng lợi của Đại Việt, nhà sử học Phan Huy Chú bình luận: “Việc biên giới ở đời Lý được nhà Tống trả lại đất rất nhiều. Bởi vì trước có oai thắng trận, đủ làm cho nhà Tống phải phục. Sau khi sứ thần bàn bạc, lời lẽ thung dung càng thêm khéo léo, cho nên cần gì được nấy, làm cho lời tranh biện của người Trung Quốc phải khuất và thế lực của Nam giao được mạnh. Xem đó cũng có thể biết qua thế cường thịnh của thời bấy giờ.”

   Các sử liệu trên đây cho thấy cương vực lãnh thổ Đại Việt thời Lý đã bao trùm lên toàn bộ miền Bắc Việt Nam ngày nay, từ các tỉnh biên giới Việt Nam – Trung Quốc đến tỉnh Quảng Trị. Ngoài ra trên biển, tất cả các hải đảo ven bờ bao gồm hàng nghìn hòn đảo trên vịnh Hạ Long đã đặt dưới sự kiểm soát của vương triều nhà Lý. Năm 1172, vua Lý Anh Tông đã đi kinh lược, kiểm tra các hải đảo ven biển từ Quảng Ninh đến Quảng Trị ngày nay và cho vẽ bản đồ, ghi chép phong vật. Và như vậy, triều Lý đã giữ vững cương giới phía Bắc, mở rộng cương vực về phía Nam đến tỉnh Quảng Trị và kiểm soát toàn bộ hải đảo ngoài khơi vịnh Bắc Bộ ngày nay.

   Năm 1028, Lý Thái Tổ mất, thái tử Lý Phật Mã lên ngôi vua, xưng là Lý Thái Tông. Năm 1054, Lý Thái Tông mất, Lý Nhật Tôn lên ngôi vua, xưng là Lý Thánh Tông, đổi tên nước là Đại Việt. Năm 1072, Lý Thánh Tông mất, Lý Càn Đức lên ngôi vua, xưng là Lý Nhân Tông. Năm 1127, Lý Nhân Tông mất, Lý Dương Hoán lên ngôi vua, xưng là Lý Thần Tông. Năm 1138, Lý Thần Tông mất, Lý Thiên Tộ lên ngôi vua, xưng là Lý Anh Tông. Năm 1175, Lý Anh Tông mất, Lý Long Cán (tên khác là Lý Long Trát) lên ngôi vua, xưng là Lý Cao Tông. Năm 1210, Lý Cao Tông mất, Lý Hạo Sảm lên ngôi vua, xưng là Lý Huệ Tông. Năm 1224, Lý Huệ Tông truyền ngôi vua cho công chúa Chiêu Thánh, hiệu là Lý Chiêu Hoàng, rồi đi tu. Năm 1225, Lý Chiêu Hoàng trao ngôi vua cho chồng là Trần Cảnh. Vương triều Lý đến đây chấm dứt sau 216 năm cầm quyền, mở ra một trang lịch sử mới của dân tộc Việt Nam - triều đại nhà Trần.

Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
Trang: « 1 2 3 4 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM