Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 01:58:48 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Truyện ngắn - Lê Văn Thảo  (Đọc 22186 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #10 vào lúc: 29 Tháng Bảy, 2009, 12:26:17 am »

Đêm Tháp Mười (tiếp)

Nhưng chuyện giặc giã đâu phải mình bắn nó hoài mà không gặp rủi ro. Nhưng lần tôi bị nó bắn trọng thương tưởng không sống được. Lần đó tôi nhớ rõ lắm. Trước đó một ngày tức là ngày 17 tháng 7, ngày Bác Hồ kêu đồng bào miền Nam mình biểu phải đánh mạnh đó. Giữa mùa sa mưa đột nhiên sáng hôm sau trời bỗng tạnh ráo, cả bầu trời không gợn một chút mây đen, sen nở đầy đồng, chim chóc bay đi ăn từng đàn như tiết mùa xuân vậy. Tôi dòm trời dòm nước rồi nói với vợ tôi : "Trời như vầy là tụi xuồng bay thế nào cũng thả đi kiếm ăn đây, tôi phải ra ngoài "chủ động" trước mới được. Có gì hai mẹ con cứ bình tĩnh nhảy lặn". Nói rồi tôi xách súng chống xuồng ra đi. Quả nhiên một chút sau chúng nó lên tới. Hôm nay chúng đi có đội hình đàng hoàng, cứ hai chiếc trước một chiếc sau. Tôi cùng du kích ém kỹ trong các bụi đế cao. Thoáng một cái một chiếc lướt ngang qua đầu tôi, thằng Mỹ ngồi trên dòm xuống vẻ mặt coi thiệt xấc láo. Tôi nói thầm trong bụng : "Được, mày cứ bay riễu dương oai một hồi đi, nhưng hễ nổ súng là tao phải nổ trước mày". Tôi nói với mình như vậy, mà cũng để tự dặn mình như vậy. Tôi nghiệm qua bao nhiêu lần rồi, đối với thằng giặc là phải nổ súng trước vào đầu nó mới được.

Nhưng hôm đó trời xui đất khiến thế nào mà tôi chậm tay chậm chân vậy, có lẽ do chiếc xuồng, cũng có lẽ do tôi lo nghĩ đến vợ con tôi ở nhà. Nó đã bay tới, tôi thấy rõ cả thằng Mỹ với chiếc đồng hồ trên tay mà tôi chưa kịp gương súng lên. Nó "rẹt" liền một loạt đại liên tôi nghe nóng bỏng cánh tay trái, người chao đi suýt rớt xuống nước. Tôi biết mình bị thương rồi, tay phải liền chụp lấy khẩu súng. Tôi bình tĩnh nói thầm trong bụng : "Phải rời xuồng thiệt lẹ, và phải bắn trước khi vòng thứ hai nó đến". Tôi xé áo băng thiệt kỹ vết thương, nhận chìm chiếc xuồng rồi lội đi cách đó một khoảng xa. Vết thương tôi chảy máu nhiều, tôi cẩn thận cứ đôi ba bước quay lại khỏa nước cho tan dấu máu. Tôi ngồi lại trong một bụi dế thưa cho chúng khỏi nghi bẻ một nhánh tràm cắm làm nạng để có thể bắn một tay. Lúc đó tôi lại nghĩ tới vợ con tôi nữa. Nhưng tôi chỉ nghĩ là tôi có thương vợ con tôi thì phải chiến đấu tới cùng nên tôi chẳng ân hận gì. Một chút sau vòng thứ hai nó đến. Cái giống bay lẹ như tên bắn, bay xắn xả lại chỗ tôi, cái đầu tròn lớn mau lên như cái bọt nước trồi lên mặt nước vậy. Tôi bình tĩnh "yếu lĩnh", và đúng khoảng cách vừa phải tôi nổ liền một phát. Nó sà tới, tôi trông thấy thằng Mỹ ngồi ở cửa chợt nghẻo đầu, tay rời khẩu đại liên. Tôi biết chỉ bắn trúng thằng Mỹ thôi, không trúng máy móc nên nó không rớt.

Nó bắt đầu phát hiện được tôi, cả ba chiếc vòng trở lại. Anh em trong đội du kích nghe tôi nổ súng đã chuẩn bị sẵn sàng, tôi nghe tiếng "cúc cúc" ám hiệu chạy từ đầu này tới đầu nọ. Bắt đầu một cuộc chiến đấu ác liệt đây.

Chuyện chiến đấu trên đồng nước thì chắc anh Hai biết rồi. Mình với nó phải đương mặt nhau mà đánh, đọ gan nhau mà ăn thua, nên không được hở một giây, không được mất bình tĩnh, không được để bom đạn của nó làm mình rối trí. Anh em du kích chúng tôi ở rải rác không nhìn thấy nhau chỉ hợp đồng nhau bằng tiếng súng nên sự chiến đấu gan dạ của từng người càng cần thiết lắm.

Vết thương của tôi càng lúc chảy máu nhiều, trời lại nắng chang chang nên tôi khát nước như xé họng. Tôi cố cắn răng không uống một giọt nước nào, chỉ thỉnh thoảng liếm vài giọt mồ hôi cho đỡ khát thôi. Có lúc tôi xỉu đi. Tôi mơ màng thấy vợ con tôi hiện lên trước mặt, hình ảnh vợ tôi nước mắt như mưa hôm nào đưa tôi ra chợ đi lính dân vệ và đứa con gầy yếu xanh xao trước khi chết như dao cắt lòng tôi. Rồi tôi lại thấy đang bị treo dưới bụng trực thăng người dở sống dở chết, đau đớn khổ nhục trăm bề.

Cùng lúc đó (cũng y như lần tôi bị treo dưới bụng trực thăng), nỗi đau đớn khiến tôi thấy căm thù chúng sôi sục, tôi cựa quậy dữ dội chống trả với cơn mê như ma quỷ đang rình bắt hồn tôi, cuối cùng tôi choàng tỉnh dậy. Ba chiếc chúng nó đang xắn xả lao tới còn cách tôi không tới hai tầm đất. Tôi tỉnh hẳn, hụp xuống nước cho nòng súng chếch lên. Tôi chọn ngay chiếc chính giữa và để mắt ngay vào đường ngắm. Lẹ như một tia chớp bóng đen nó áng hết đầu ruồi. Nhưng tôi còn lẹ hơn nữa, tôi nín thở, lẫy cò khi bóng đen nó chưa qua khỏi. Khẩu súng chỉ giật nhẹ một cái, tôi biết mình đã bắn trúng. Một bựng lửa bừng lên trước mặt tôi, cùng lúc với chân trái tôi đau xé, nặng như có ai trì phía dưới. Tôi chép miệng: "Vậy mà nó cũng còn kịp bắn, cái giòng thiệt độc hại hết sức". Nhưng tôi lại nghĩ : "Mình cũng không lỗ, mình đã bắn cháy nó một chiếc rồi". Tôi rướn mình lên, nhìn tận mắt chiếc xuồng bay gãy cánh chúc đầu xuống nước rồi mới chịu long đi. Tôi chỉ dùng một tay một chân mà long, hít hít mùi xăng cháy để quên cơn khát.
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #11 vào lúc: 29 Tháng Bảy, 2009, 12:26:53 am »

Đêm Tháp Mười (tiếp)

Cứ như vậy tôi chiến đấu cho tới trưa, rồi xế chiều. Tôi không nhớ đã bắn cháy chúng bao nhiêu chiếc nữa, và chúng bắn trúng tôi thêm bao nhiêu vết nữa. Mỗi lần bắn cháy nó tôi đều rướn lên dòm thiệt kỹ, và mỗi lần bị thương tôi lại bẻ thêm một nhánh tràm làm nạng, đợi nó đến thật gần mới nổ súng. Với khoảng cách như vậy tôi khó có thể bắn trật, trừ khi tôi mất bình tĩnh. Nhưng tôi vẫn bình tĩnh lắm, cho đến chiếc cuối cùng tôi bắn cháy nó, mọi động tác tôi đều rập khuôn như lúc đầu vậy.

Tôi cũng nhớ rõ ràng là tôi không hề uống một hớp nước. Tôi biết bị thương nặng như vậy mà uống nước thì dễ chết lắm, có lần một trái rốc két nổ nước tạt vô miệng tôi, tôi phun liền trở ra. Tôi nói hoài trong dạ : "Mình không thể chết lúc này được, mình phải sống cho đến lúc nó bỏ chạy". Cuối cùng chúng đã bỏ chạy, còn tôi thì được anh em khiêng về.

Đó chưa phải là trận chiến đấu gay go nhứt của tôi đâu, sau này tôi còn dự nhiều trận gay go ác liệt hơn nhiều. Nhưng tôi nhớ rất rõ như vậy là vì lần đầu tiên tôi đã để cho nó bắn trước. Sau này không khi nào tôi có sai sót như vậy cả.

Sau này mỗi lần xách súng ra đi tôi đều nói với vợ tôi: "Hôm nay tôi quyết phải nổ trước nó. Hễ ở nhà nghe súng nổ là cứ cầm chắc tôi bắn rớt một chiếc nghen !". Mỗi lần như vậy con tôi đều bập bẹ nói với tôi : "Ba bắn cháy nó thì nó hết bắn mình, hén ba". Tôi nghe con tôi nói vậy đủ thấy hả hê rồi. Tôi chiến đấu vì mọi người, mà cũng vì con tôi, chẳng phải là tôi được đền đáp rồi đó sao? Anh nghĩ coi phải không, cách mạng đã cứu sống con tôi, và tôi cũng góp phần vô đó.

Nói tới đó người đàn ông vội cúi xuống thổi bếp lửa : tôi nhìn thấy một giọt nước mắt long lanh trên mi mắt anh. Nhưng mặt anh thì rạng rỡ hẳn lên, nên tôi nghĩ đó chỉ là những giọt nước mắt vui mà thôi. Anh im lặng một hồi lâu chừng để nén cảm động, rồi nói với tôi lời cuối cùng :

- Đó, bao nhiêu năm nay chúng tôi chiến đấu như vậy. Vỏ quýt dầy có móng tay nhọn, chúng bày ra cách đánh nào dù độc hại đến mấy cuối cùng chúng tôi cũng trị được. Từ các loại trực thăng, xuồng bay... rồi không biết tới đây còn xuất hiện loại gì nữa. Loại gì cũng vậy, miễn là mình một lòng tin tưởng ở cách mạng một lòng chiến đấu là được. Tôi nói hoài với vợ tôi : "Mình cứ yên lòng nuôi con. Việc cách mạng có khác chi mùa màng, hễ có gieo thì có hái. Đó, cứ nghiệm riêng lời tôi thì biết, nội việc tôi không muốn chết đời cũng trả ơn". Tôi nói vậy có lẽ vợ tôi không hiểu. Nhưng cần gì, vợ tôi cứ nghiệm riêng đời mình mà coi, cuộc đời trước kia của vợ tôi nào cơ cực kém chi tôi...

Anh nói như vậy hơi mỉm cười ra vẻ đắc ý lắm rồi đứng dậy với lấy cây dầm gác trên mái nhà, vén mùng nói với vợ :

- Thôi mình chuẩn bị đưa anh Hai đi thì vừa. Trời đã khuya rồi, đi không kịp sáng "ló đuôi" thì mệt.

Nói rồi anh cúi xuống nhìn con đăm đăm, vẻ mặt biểu lộ lòng hân hoan trìu mến. Rồi anh quay lại, hé tấm phên chờ tôi bước ra.

Bên ngoài trời đã hết mưa, lạnh như cắt da. Đêm yên tĩnh, chỉ có tiếng gió thổi và tiếng sóng vỗ nhịp nhàng. Chị đàn bà đi sau tôi, đứng lại đưa mắt nhìn bao quát trời nước, không biết để tìm hướng hay để ước lượng khoảng đường mà mình sẽ vượt qua. Sau đó chị rẽ xuống bến tháo sợi dây xích cột xuồng. Chiếc xuồng đang nhồi sóng lắc lư, như háo hức muốn được lướt đi.

Tôi còn chần chừ phía sau, lấy cớ đốt điếu thuốc. Bỗng tôi nghe sau tấm phên, giọng người đàn ông nói đả đớt với đứa con :

- ... Ráng nghe con, ráng chịu khổ với cha. Chẳng qua là do cái khó khăn chung. ầu ơ, ầu ơ, cha chẳng được như ông nội, ông cố, cha chỉ có cột chân con vô gốc cột. ầu ơ, cha buộc chân con vô gốc cột...

Tôi vội quay trở lại nhìn qua khe cửa. Người đàn ông khom lưng, cái lưng gù che một khoảng tối, đang dùng cái khăn buộc chân đứa con vô gốc cột. Anh buộc một cách hấp tấp, vụng về, miệng mỉm cười hát ầu ơ mà mồ hôi thì chảy lăn trên trán. Đứa con ngước nhìn anh, không hiểu cha nó đang làm điều gì kỳ cục vậy.

... Chị đàn bà chống xuồng đưa tôi đi, xuồng vạch một đường sáng dài trên đồng nước. Đêm Tháp Mười thật là mênh mông. Gió thổi mơn man trên mặt cỏ, mặt nước gợn sóng lấp lánh, côn trùng chim muông lên giọng nỉ non, âm thanh trầm buồn lan đi trên mặt nước. Những đám sen, đám bông súng nở trắng, những chiếc lá nghiêng một nửa khẽ rung rinh dưới gió.

Từ chân trời mờ mịt những ngôi sao nhấp nháy, nhấp nháy rồi rụng xuống nước.

Chị đàn bà càng lúc càng tỏ ra nhanh nhẹn. Mỗi lần chị nhún cây sào, xuồng lướt tới như bay lên khỏi mặt nước. Môi chị mím lại. Mắt chị long lanh ánh lên vẻ vui tươi, trẻ trung. Cả người chị như đang hướng về phía trước.

Còn tôi thì lại nghĩ về phía sau. Mỗi cơn gió thổi tới tôi nghe như vẳng lại có tiếng khóc của đứa trẻ. Không, nó không khóc đâu - trong thâm tâm tôi có tiếng cãi lại - nó đang cười đó chớ, nó đã hiểu vì sao cha nó cột chân nó vô gốc cột. "- Để chút nữa cha cháu chống xuồng vũ khí đi - Tôi nói thầm với nó như vậy - Để ngày mai có tin thắng trận, và để có ngày máy bay thôi không còn ném bom trên đồng nước này nữa".

Để khuây khỏa tôi đưa mắt nhìn ra xa, như đang mong ngóng cái gì mà tôi không hề biết.

Và kia, bình minh đã lên rồi ! Đêm tối trên đồng nước bị đẩy lùi mau chóng, bình minh rạng lên thật là đẹp đẽ. Từ chân trời mờ mịt bỗng hiện những vệt mây đâm ngang màu hồng, màu da cam. Rồi mặt trời hiện lên chói lọi, những tia sáng như những sợi chỉ bạc rối tung trong không gian. Chim chóc từ trong những lùm bụi vỗ cánh bay đi, ríu rít gọi nhau. Mặt nước sáng như gương, những gợn sóng như những con rắn bạc nhảy múa tung tăng. Nước trong vắt soi bóng những bụi cỏ, những lá sen đung đưa trên mặt đất nứt nẻ. Gió thoảng mùi bông tràm, bông sen, mùi cỏ khô, mùi sình ải. Tôi có cảm giác giác quan mình trở nên tinh tế hơn, tôi nhận ra được cả mùi hăng ngai ngái của những ổ chim vừa mới nở hoặc những chồi non vừa nhú lên khỏi mặt nước hả hê hít thở làn không khí mát lạnh của đồng nội. Chỉ một phút sau cả không gian đã trắng lòa, mặt nước soi bóng những đám mây trắng trôi lững lờ, nhẹ nhàng tinh khiết như những đám bông.

Tiếng người đàn bà vang lên bên tai tôi như tiếng nước reo :

- Thôi tới rồi. Chúc anh đi đường may mắn nghen.

- Dạ, xin cám ơn chị.

Chị cười, quay nhìn đồng nước đang tràn ngập dưới ánh nắng :

- Chuyện chút đỉnh có chi mà cảm ơn anh.

Phải, chỉ là chuyện chút đỉnh - tôi nghĩ thầm, mắt vẫn không rời cánh đồng - còn chuyện kia, chuyện đứa nhỏ với cái chân buộc vào gốc cột thì tôi biết, chị biết, chồng chị biết, nhưng chúng tôi đều giữ kín trong lòng. Nó sẽ mãi mãi bí mật, lặng lẽ như bao chuyện hằng bao nhiêu năm nay trên đồng nước này vậy...

8 - 1969
« Sửa lần cuối: 29 Tháng Bảy, 2009, 12:29:49 am gửi bởi Midaxudavo » Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #12 vào lúc: 29 Tháng Bảy, 2009, 12:28:40 am »

Đồng chí

Ba Tuấn đi về, vui vẻ nói với bác Bảy, người nấu cơm của đại đội :

- Trưa nay bác cho tôi ăn cơm sớm nghen bác Bảy, tôi đi có việc.

Nói rồi Ba Tuấn về lán, căng võng nằm một cách thỏa thích. Mấy hôm rày Ba Tuấn đang chạo rạo trong một niềm vui hơi khác thường : anh vừa nghe đồng chí tham mưu trưởng tiểu đoàn mới đổi về (thay cho đồng chí tham mưu trưởng cũ vừa hy sinh) vốn là người đồng hương của anh. Anh xa quê đã lâu rồi, bây giờ mọi kỷ niệm về những người cùng quê đều khiến anh bồi hồi.

Bác Bảy đang chuẩn bị nấu cơm dưới bếp, tiếng soong nồi khua rổn rảng Ba Tuấn nghe như một điệu nhạc vui. Anh vui vẻ nói vọng xuống :

- Hôm nay bác cho ăn gì đó, bác Bảy ?

- Lại rau "tàu bay" thôi.

- Bác có biết đồng chí Thanh Quang, tham mưu trưởng tiểu đoàn mới đổi về không ?

- Phải đồng chí người cao rỏng rảnh, râu quai nón...

- Dà, nó cao lắm, hơn tôi tới một đầu. Người đồng hương của tôi đó nghe bác Bảy, cũng ở Cẩm Sơn. Hôm nay tôi định lên trên đó gặp nó, nếu quả đúng như vậy thì hai chúng tôi là bạn thân nhau lắm. Nhà hai đứa ở khít nhau, suốt ngày đi đâu cũng có đôi có cặp... Đây nè, cái thẹo...

Bác Bảy gật gù, đáp theo giọng của bác :

- ờ, cuộc đời kháng chiến rày đây mai đó, lâu lâu gặp người đồng hương cũng vui...

- Dà... Lần đó tôi leo bắt ổ chim tuột tay té từ trên cao năm sáu thước xuống, nó đứng dưới kêu thét lên rồi cứ thế chạy ào tới đưa tay ra đỡ. Tôi bị té dập đầu, còn nó thì bị gãy xương ống tay, phải bó thuốc gần năm trời mới hết... Cho tới lớn lên rồi hai đứa đi bộ đội cũng đi một lượt. Vì yêu cầu mỗi đứa phải đi mỗi nơi, đến nay ngót mười năm rồi chúng tôi không gặp nhau...

- ờ, bạn bè tâm giao còn hơn người cật ruột... Bác Bảy kết luận như vậy, rồi bỏ đi xuống suối rửa rau.

Ba Tuấn nằm lại lắc võng, ngẫm nghĩ.

Đến lúc ăn cơm - bác Bảy dọn cẩn thận phần Ba Tuấn một mâm đầy thức ăn chỉ nấu bằng rau "tàu bay" - Ba Tuấn lại được dịp thổ lộ :

- Tôi xa quê ngót mười năm rồi bác Bảy à. Làng xóm chỉ còn nhớ lờ mờ, bà con thân thuộc thì có người nhớ người quên. Nhiều đêm tôi nằm không ngủ được, những mong gặp được người đồng hương cho dù có họ hàng hay không cũng được, để được dịp ôn lại những kỉ niệm cũ. Được vậy thì chắc lòng nhớ thương cũng khuây khỏa đôi chút. Chắc bác chưa được qua Cẩm Sơn lần nào hả bác Bảy ? Nhưng bác cũng có nghe nói tới chớ ? Làng ở cặp bờ sông Cửu Long, đẹp lắm bác Bảy à. Dân tình chí thú mần ăn nên nhà cửa khang trang từ đầu làng tới cuối xóm đâu đâu cũng thấy cây trái vườn tược sum suê. Còn nói về việc cách mạng thì không kém nơi nào. Đêm đồng khởi đùng một cái du kích từ các lùm các bụi xách súng chạy ra đánh sập bót, diệt hết tề điệp... Cho nên, tôi gẫm mình làm cách mạng...

- ờ.

Bác Bảy chỉ ừ hử cho qua chuyện. Có lẽ tâm trí bác Bảy cũng mong được dịp trở về quê hương của bác, cái xứ đất đai chắc cũng tốt lành, và việc cách mạng thì hẳn không thua nơi nào.

- Tôi gẫm mình làm cách mạng vì cái chung mà cũng vì cái riêng bác Bảy à. Năm xã tôi được giải phóng tôi mừng vô số kể, ra đi mà trong bụng cũng yên tâm phần nào. Từ đó đến nay ngót mười năm không khi nào được dịp là tôi không hỏi thăm về làng xóm quê hương tôi : Việc đánh giặc ra sao, mần ăn thế nào, bà con ai còn ai mất... Những chuyện thường tình vậy mà khiến tôi bận tâm hết sức. Hễ nghe đâu có người đồng hương dù xa mấy tôi cũng lặn lội tìm tới. Tôi nghĩ bụng chẳng bỏ công đâu cả : trước là hỏi thăm tin tức, sau cũng là được dịp hãnh diện với những người chung quanh rằng làng mình có người đi cách mạng... Chà, cái thằng Quang bây giờ nó thế nào ? Không biết nó còn nhớ tôi không ? Bác thấy nó thế nào ? Đầu đã có sợi bạc rồi à ? ờ thì tôi đây cũng vậy. Hai đứa cùng một tuổi mà. Tôi nghe nó công tác được tiến bộ dữ lắm, vậy bây giờ đã là cán bộ tiểu đoàn rồi. Sao nghe tôi ở đây mà nó không tìm tới à ? Chắc là nó không biết, nếu biết đời nào nó không chạy bổ xuống... Lúc nãy tôi nói với bác đời sống làng tôi được khá giả là nói vậy thôi, chứ tính chung cũng cơ cực dữ lắm. Bác nghĩ coi còn tụi nó thì làm sao mà không cơ cực. Đi khắp làng khắp xóm thấy cảnh áo còn bâu, quần còn lưng cứ nhan nhản. Nên hôm chia tay chúng tôi có nói với nhau : "Mình nghèo nên theo cách mạng phải cho chí cốt, làm sao khỏi xấu hổ với làng xóm quê hương". Kìa, bác có nghe tôi nói không, bác Bảy ?
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #13 vào lúc: 29 Tháng Bảy, 2009, 12:29:03 am »

Đồng chí (tiếp)

Bác Bảy đã bỏ đi từ hồi nào. Ba Tuấn nghe tiếng bác khua nồi soong loảng xoảng dưới mé suối.
Ba Tuấn và mau miếng cơm cuối cùng, vào lán sắp xếp ba lô, đi liền. Trời buổi trưa nắng đẹp, óng ánh trên khu rừng nứa. Gió thổi lá nứa khua lao xao. Ba Tuấn nghe tâm hồn mát mẻ, sảng khoái. Anh rạo rực nghĩ đến trận đánh sắp tới, nghĩ đến người bạn mà anh sẽ gặp. Trận đánh sắp tới sẽ ra sao đây ? Người bạn sau mười năm xa cách bây giờ như thế nào đây ?
Ba Tuấn càng đi mau bước. Hết khu rừng nứa, Ba Tuấn còn phải đi hơn tiếng đồng hồ nữa mới tới tiểu đoàn bộ. Đi suốt mấy tiếng đồng hồ không nghỉ, lúc đó Ba Tuấn mới thấy mệt lả.
Anh tiểu đoàn trưởng nhìn thấy Ba Tuấn từ xa đi tới, thở hổn hển, mặt đầm đìa mồ hôi, vội chạy ra đón hỏi :
- Có chuyện gì không anh Ba ?
- À... Không...
- Mọi việc chuẩn bị đều tốt chớ ?
- Dạ, tốt.
- Vậy mà coi anh... Thôi vô đây uống trà... à, xin giới thiệu đồng chí tham mưu trưởng mới...
Ba Tuấn tưởng tim mình sắp rớt ra khỏi lồng ngực. Anh cúi gầm vờ lau mồ hôi. Chà, thằng Quang Cao giò, thằng Quang bạn chăn trâu của anh ngày xưa giờ đang đứng trước mặt anh đây sao ?
Hồi lâu, vẫn không dám ngước lên, anh lắp bắp nói :
- Ả, Thanh Quang phải không ? Quang Cao...
Anh chưa kịp nói tiếng "giò" thì chợt ngừng lại, anh linh cảm thấy có cái gì khác lạ, ngoài ý muốn của anh : y như rằng đây không phải là thằng Quang ngày xưa ...
Anh ngửng lên :
- Đồng chí ... ở Cẩm Sơn ?
- Dạ.
- Sáu Quang phải không ?
- Dạ, phải.
- Tôi cũng ở Cẩm Sơn, tôi là Ba Tuấn đây... Tuấn Rỗ đây...
- Tuấn à ? Chà, nhiều Tuấn... Nhưng sao tôi lại không biết cà ? à, nhưng Cẩm Sơn nào ? Rạch Giá hay Cần Thơ?
Anh tiểu đoàn trưởng nãy giờ đang ngạc nhiên hết nhìn người này tới nhìn người nọ, bỗng vỗ "đét" một cái, cười lớn:
- Thôi rồi... Cùng tên làng Cẩm Sơn nhưng cha ở Rạch Giá, cha ở Cần Thơ phải không ? Té ra thằng cha Ba Tuấn hớt hơ hớt hải lên đây là để tìm đồng hương. Vậy mà làm như đang rượt giặc không bằng. Thôi không phải đồng hương thì là đồng chí, ở đây uống bậy miếng trà, chuyện vãn chơi một chút rồi về... Nhưng trời tối rồi... Lại sắp mưa...
« Sửa lần cuối: 29 Tháng Bảy, 2009, 05:14:03 am gửi bởi Midaxudavo » Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #14 vào lúc: 29 Tháng Bảy, 2009, 12:30:56 am »

Đồng chí (tiếp)

Anh tham mưu trưởng nhìn anh, ái ngại nói :

- Hay anh ngủ lại, sáng về sớm... chỗ tôi cũng còn trống...

Rồi lại tặc lưỡi nói thêm :

- Năm nào tôi cũng gặp một trường hợp y như anh vậy. Nước mình nhỏ, đất hẹp nên tên làng tên xã cứ trùng nhau...

Ba Tuấn ngước nhìn ra ngoài trời mưa, lòng chợt buồn se. Bao nhiêu điều anh lục soạn từ trong ký ức xa xôi định được dịp này tuôn ra với người bạn, bây giờ đành chôn vùi trở lại. Anh thở dài nói trống không :

- ờ, thôi ngủ lại vậy. Chỗ anh còn trống hả ?

Nói xong anh với tay bưng cốc trà uống tợp một cái, hối hả đứng dậy. Thanh Quang đi trước dẫn đường, nghe Ba Tuấn lẩm nhẩm toàn chuyện công tác, nào là "rào đơn, rào kép", "xung kích một, xung kích hai". Chắc là cốt che dấu nổi thất vọng !

Mưa bắt đầu nhễu hột khi hai người vô tới lán. Thanh Quang nói :

- Anh đưa võng tôi giăng... Lán này của đồng chí tham mưu trưởng trước đây. ảnh hy sinh trong trường hợp nào vậy ?

- Một đại đội bị bao, ảnh dẫn một trung đội đánh cắt vào chính giữa...

- Lại cũng trường hợp đó... Anh Quang bạn cũ anh đó, anh có biết bây giờ ở đâu không ?

- Không, chỉ biết nó đi bộ đội...

Hai người đã lên võng nằm. Bên ngoài mưa lắc rắc, nhễu lộp độp trên mái ni lông. Trăng ửng trong mây, tỏa ánh sáng đùng đục xuống khu rừng nứa. Những thân nứa thẳng, mọc xiêng, trong đêm trở nên rực rỡ dưới ánh trăng.

Hồi lâu, Thanh Quang cựa mình, hỏi nữa :

- Anh xa quê đã lâu rồi hả anh Ba ?

- Thì cũng từ năm đó, năm đồng khởi...

- Nhưng chắc anh thỉnh thoảng còn nhận được tin - Thanh Quang bỗng tặc lưỡi, nói - Còn tôi thì không, ngót mười năm nay chẳng biết tin gì về làng xóm quê hương hết. Chà, quê tôi... Làng Cẩm Sơn quê tôi cũng ở bên bờ sông Cửu Long, chắc cũng giống như làng anh... Giờ tôi cũng tâm trạng như anh, trên đường kháng chiến những mong gặp được người đồng hương...

- Dà.

Ba Tuấn trùm kín chăn lại. Anh không còn thấy hứng thú gì nữa, chỉ thấy mỏi mệt, buồn ngủ. Bên ngoài thỉnh thoảng những tia chớp lóe lên, soi rõ những lá nứa ướt nhẩy, trong cơn mơ màng anh nhìn thấy như những lưỡi lê nhọn hoắt.

Chợt anh lại nghe có tiếng hỏi :

- Từ đó đến nay, anh đã đi chiến đấu những đâu ?

- Cùng hết. Bình Giã, Đồng Xoài tới Sông Bé, Nhà Đỏ Bông Trang, Tết Mậu Thân thì chạy về Sài Gòn...

- Anh cũng có dự trận Nhà Đỏ hả ? Anh đi cánh nào?

- Mũi đánh đầu cầu.

- Chết cha !

- Gì ?

- à không... Tôi cũng dự trận đó, cũng vô mũi đầu cầu. Vậy không chừng mình đã gặp nhau.
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #15 vào lúc: 29 Tháng Bảy, 2009, 12:31:43 am »

Đồng chí (tiếp)

Ba Tuấn thấy Thanh Quang thức dậy bật quẹt đốt một điếu thuốc vẻ thảng thốt... Lửa chỉ ánh lên một chút, nhưng Ba Tuấn cũng kịp quan sát người bạn mới : người cao rỏng rảnh, tay chân dài và chắc nịch, vai rộng, một bên vai phải bị lệch đi. Thốt nhiên Ba Tuấn hơi giật mình : Có phải chính cái vai lệch này không ? Chi tiết đó như một tia chớp dẫn nhanh trí nhớ Ba Tuấn về trận đánh xưa cũ. Năm đó Ba Tuấn là trung đội trưởng. Nổ súng rồi Ba Tuấn dẫn trung đội chạy lẹ vào. Dưới làn đạn như mưa các anh phải nhảy qua liên tiếp ba bốn hàng rào, ba bốn hố sâu. Có vài người té xuống hố. Nhưng người té cũng không kêu, người qua được rồi cũng không nghĩ đến việc trở lại rước. Ai cũng nghĩ đến chuyện phải nổ súng trước mắt. Tới một bờ tường, Ba Tuấn mới sực nhớ mình không mang theo dây. Anh đưa tay với, thấy còn hụt cả một tầm tay. Anh hô : "Trung đội leo lên vai tôi nhảy qua bên kia. Đồng chí trung đội phó qua trước chỉ huy chiến đấu". Trung đội qua hết Ba Tuấn ngó dáo dác thì thấy một bóng đen vừa nhô ra khỏi đường hào. Đây có lẽ là một cánh khác. Ba Tuấn không kịp hỏi gì cả, thét : "Ai đó ? Lại đây". Một người ôm khẩu AK chạy tới, Ba Tuấn xô anh ta vào bờ tường, nhảy lên vai. Chân phải Ba Tuấn đặt lên vai phải anh chiến sĩ chân trái co lên định nhún người nhảy qua bờ tường, thì bỗng nghe có tiếng gì như tiếng "rắc" khẽ dưới chân. Tiếp theo là một tiếng "ối" đau đớn, rồi cả hai cùng té lăn xuống đất. Ba Tuấn lồm cồm quơ súng ngồi dậy, chưa kịp hiểu gì thì đã thấy anh chiến sĩ đứng dậy trở lại quỳ dưới bờ tường. Anh ta quay lại quát, nét mặt biểu lộ sự đau đớn và tức giận đến tột độ : - "Muốn qua tường hả ? Sao không nói trước... Bước qua vai trái, vai phải tôi bị thương... " Ba Tuấn vụt hiểu hết. Nhưng cũng như trường hợp những đồng chí rớt xuống hố hồi nãy, anh không kịp nói một lời nào nữa. Anh co chân trái bước lên, nhảy qua tường, nổ súng...
Chuyện là như vậy. Phải, chính cái vai lệch đó, chính đồng chí này đây. Ba Tuấn đã tỉnh ngủ hẳn. Anh thức dậy đốt đèn lên, và dưới con mắt ngạc nhiên của Thanh Quang, anh chậm rãi hỏi :
- Anh Thanh Quang, anh còn nhớ rõ trận đánh năm đó không ?
- Nhớ chớ. Trận đánh đó tôi có nhiều kỷ niệm lắm...
- Anh có nhớ Trung đội đã đánh qua bờ tường không?
- À...
- Anh biết ai đã bước nhằm lên vai bị thương của anh không ?
Thanh Quang bật nhổm dậy nhìn tận mặt Ba Tuấn. Một lát, anh hỏi, giọng lạc hẳn đi :
- Vậy chính anh hôm đó đã bước lên vai tôi ?
- Ừ.
- Trời đất !
Anh nằm ngửa ra, hồi lâu mới nói được, giọng như trách móc :
- Hôm đó anh đã làm gãy xương vai tôi lần thứ hai đó nghen.
- Tôi biết.
Hai người im lặng một lúc lâu. Con tắc kè kêu từng tiếng một ngoài xa. Trời đã dứt mưa, trăng lộ ra khỏi mây, sáng vằng vặc. Ba Tuấn biết đêm nay mình sẽ không ngủ được. Anh nằm ôn lại trận đánh đó, và bao nhiêu chi tiết đều gợi anh nhớ đến lúc anh bước lên vai người bạn. Phải , chính người bạn này đây trong đêm tối đó anh gặp không quá một phút, không nhìn rõ mặt, không biết tên tuổi quê quán mà đã chịu gãy một xương vai để đưa anh vào trận chiến đấu...

Anh đốt một điếu thuốc nữa. Trong lúc Thanh Quang bắt đầu kể tiếp câu chuyện :
- Cái xương vai tôi bị thương trận trước còn yếu lắm, bị anh bước gãy rồi -tôi chỉ còn cách nằm dí lại bờ tường chịu trận. Tôi nói với trung đội để lại nhiều đạn. Với một cánh tay, một khẩu súng AK, tôi bắn kềm một cánh rất đông tụi nó gần suốt trận đánh. Cuối cùng chúng bao tròn tôi. Tôi vẫn bình tĩnh. Và tôi cũng chẳng ân hận gì anh. Anh làm sao biết được vai tôi bị gãy, anh chỉ có muốn qua mau bên kia nổ súng thôi. Tôi nghĩ như vậy và chiến đấu thêm một lúc nữa. Tôi bắn đã gần hết đạn, tôi đành phải bắn từng phát một, bắn những tên gần nhứt. Cuối cùng lúc tôi kiệt sức rồi, tôi bỗng nghe tiếng anh - tôi đoán là tiếng anh - anh thét : - "Đánh cắt tụi nó ra, chiếm lại bờ tường... Phải chiếm lại bờ tường"... Vậy là anh đoán tôi còn ở lại đó, anh trở lại đánh giải vây tôi. Lúc đó tôi muốn được nhìn mặt anh quá. Nhưng thoáng một cái anh đánh cắt được tụi nó, rồi trung đội tôi cũng vừa về tới - anh và trung đội anh đã mất hút vào khu trận địa mới trước mặt... Phải tôi đã nhớ đúng như vậy không anh Ba ?

Ba Tuấn giật mình ngó sang người bạn. Không biết anh giật mình vì câu hỏi, hay vì không biết từ lúc nào anh thấy bàn tay của Thanh Quang đã nằm gọn trong tay mình. Anh đáp, nhẹ như hơi thở :
- ờ.
Sáng hôm sau bác Bảy thấy Ba Tuấn về sớm, đồ đạc không mang trên lưng mà ôm kè kè bên hông. Bác vội đón hỏi:
- Sao về gấp vậy, anh Ba ?
- Chà, nóng ruột công việc ở nhà.
- Có gặp được bạn không ?
- Ờ, có...
- Vậy là nói chuyện suốt đêm chớ gì ?
- Dà... cũng có chợp mắt được một chút...
- Ờ, chỗ bạn bè...
Bác Bẩy kết luận một cách thờ ơ như vậy, rồi tính hỏi qua chuyện khác. Nhưng bác bỗng ngạc nhiên thấy tuy Ba Tuấn trả lời bác có vẻ lừng khừng như vậy, nhưng nét mặt lồ lộ vẻ xúc động không sao giấu được. Và khi anh cầm chén nước lên uống, tay anh run run... Bác chưa thấy khi nào Ba Tuấn như vậy cả. Chà, bạn bè tâm giao cỡ nào mà dữ vậy ? Còn hơn năm ngoái bác gặp đứa em ruột của bác, đứa em út mà bác đã cõng nó suốt trên lưng từ những năm cơ cực.
Bác vội hỏi :
- Vậy là đúng người bạn đó hả ? Đúng là nhà hai người ở khít nhau... và cái thẹo...
Ba Tuấn vội đáp, giọng lắp bắp :
- À, không... Nhưng cũng ở bên bờ Cửu Long... Và có lần chúng tôi đã cùng nhau chiến đấu...
Rồi anh giở bản đồ ra, đưa ngón tay dò theo những dấu chấm xanh đỏ trong đó, như muốn che giấu cái gì trong lòng.

7 - 1970
« Sửa lần cuối: 29 Tháng Bảy, 2009, 05:12:45 am gửi bởi Midaxudavo » Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #16 vào lúc: 05 Tháng Tám, 2009, 10:22:40 pm »

Bà nội tôi

Ký ức tôi còn giữ được hình ảnh bà nội tôi là vào khoảng tôi lên bày lên tám gì đó, lúc đó là những năm đầu kháng chiến chống Pháp, bà nội tôi hồi đó đã già yếu lắm rồi, người ốm, cao lòng khòng, tay chân xương xẩu, da đen bóng, nứt nẻ như thân tràm lục. Ông nội tôi mất hồi nào tôi không biết, nghe nói từ hồi còn trẻ, bà nội tôi một mình nuôi ba tôi và mấy chú tôi lớn lên, ai cũng được học hành, ba tôi và người chú kế còn được lên học ở Sài Gòn đậu bằng tú tài, mấy chú khác học ở chợ huyện hoặc chợ tỉnh cũng đều có bằng cấp cả. Bà nội tôi có mười một người con, toàn con trai, người có vợ hoặc chưa vợ đều ở với bà, cho đến năm khởi nghĩa 45 đi tứ tán cả, phần lớn đi kháng chiến, một số đi buôn hoặc đi làm ruộng xa. ở nhà một mình bà nội tôi cai quản hết cả cơ ngơi gồm nhà cửa, vườn tược và hơn mười mẫu ruộng. Làng tôi nằm bên bờ sông Vàm Cỏ Tây xứ đồng chua nước mặn nổi tiếng, dân cư thưa thớt, tôm cá nhiều nhưng muỗi mòng cũng lắm, bước ra khỏi nhà là phải xăn quần lội ngay xuống sình, nhà này cách nhà kia có khi kêu hú cũng không nghe tới. Tuy vậy làng tôi không hẳn là làng nghèo, do làm ruộng giỏi và cần cù nên có nhiều nhà lợp được mái ngói, thấp nhứt cũng lợp lá dừa nước cột kèo bằng cây tràm lụt. Nhà bà nội tôi thuộc loại khá giả, thuộc trung nông lớp trên hoặc tương đương như vậy. Có một dạo bà nội tôi xây được nhà nền đúc, mái ngói lợp âm dương, phía trước lót gạch bông xanh đỏ, phía sau có nhà bếp nhà kho, có cả một lẫm lớn để cất lúa. Sân nhà rất rộng, lót gạch tàu làm sân phơi lúa, vườn trồng đủ thứ cây trái không thành hàng lối gì cả, có một cây me già cao ngất chim đậu hót ríu rít suốt ngày. Bà nội tôi nuôi gà, nuôi heo, trâu có ba đôi, chó mèo mặc sức sanh sôi nảy nở chạy rông trong nhà. Cảnh nhà bà nội tôi nói chung là khang trang từ trước ra sau, chỉ trừ người chủ là bà nội tôi lúc nào cũng lam lũ, tất bật, quanh năm chỉ mặc bộ đồ bà ba đen bạc phếch, tay áo xăn tới khuỷu, quần xăn tới gối, đầu trần chân đất suốt ngày lặn lội ngoài đồng. Với hơn mười mẫu ruộng bà nội tôi quán xuyến tất cả, làm từ việc lớn như coi sóc hàng trăm công cấy công gặt tới việc nhỏ như đắp ống bọng, xả nước vào mương, thắt con cúi để un muỗi cho trâu, việc nào bà cũng làm với vẻ chăm chú, hối hả, mặt mày lúc nào cũng cau có tưởng chừng việc làm ruộng đối với bà là niềm hạnh phúc lớn nhứt lại cũng là nỗi đau khổ lớn nhứt. Không nghe bà than phiền điều gì, cũng không thấy lúc nào bà tỏ vẻ hả hê, vui sướng. Bà làm ruộng được nhiều tiền lắm, lâu lâu thấy bà giở tiền từ trong tủ ra phơi đầy một góc sân. Có một dạo cướp nổi lên dữ quá bà không dám cất tiền trong tủ mà đem giấu trên mái lá sau bếp, giấu nhiều chỗ rồi quên đi tới chừng nhớ ra lấy xuống thấy tiền phần bị ướt phần bị mối ăn hư hao gần hết, bà tiếc rẻ đem ra sông rửa, phơi khô bó thành một bó thảy lên đầu tủ cho nó mục dần đi với năm tháng. Tôi không biết bà nội tôi xài tiền vào đâu, bản thân bà không có nhu cầu gì cả, quanh năm chỉ vài bộ quần áo vải thô, cơm ngày ba bữa với cá bắt dưới sông, rau hái ngoài đồng, gà vịt nuôi chỉ để cho dịp giỗ tết đãi khách khứa. Lâu lâu thấy bà nội tôi mua về một bộ ván gõ, bộ ghế xa lông để ở nhà trên, nơi không khi nào bà bước chân lên tới nhưng lúc nào cũng mở rộng cửa mặc cho gà vịt đậu ỉa, heo làm chỗ gãi lưng. Có một lần tôi nhìn thấy một con heo ngồi chồm chỗm trên một chiếc ghế xa lông, một lần khác một con nghé từ đâu chạy xộc vào đứng lại chính giữa nhà khịt khịt mũi ngó cái tủ kiếng thấy có hình nó trong đó liền hoảng sợ tuôn chạy ra tuốt ngoài đồng, lôi cách mấy cũng không chịu trở vào.

Ruộng bà nội tôi nằm rải rác khắp làng, mỗi thửa có một tên rất kỳ lạ, nghe vừa xa xôi vừa gần gũi, tôi nhớ có một thửa tên là Giây Sấm, một thửa khác tên là Ông Bầu. Trâu bà cũng có tên, bà gọi chúng như con cháu trong nhà: con Pháo, con Xe... Nhà có một người làm duy nhất là thằng Tý, chủ yếu là giữ trâu, nó mồ côi nên ở lâu cũng coi như con cháu trong nhà. Những người làm khác bà nội tôi thuê mướn theo từng vụ mùa, không ngại la mắng, chửi rủa, không chỉ với chuyện làm việc cho bà mà cả chuyện riêng của gia đình họ như uống rượu say bỏ bê vợ con, làm biếng để vườn mọc đầy cỏ. Có một lần tôi thấy bà nội tôi chửi rủa thậm tệ một người làm công vì người này ngủ quên để ao cá bị ngập nước cá ra hết ngoài sông, sau thấy hối hận bà gánh cho một gánh gạo nhưng vừa tới nhà lại la mắng, chửi rủa nữa. Tôi không hiểu quan hệ giữa bà nội tôi với những người làm công, hoặc với bà con chòm xóm là như thế nào: có người thương yêu, có người mang ơn, người khác thì sợ, cũng có người ghét bỏ. nhưng trên tất cả, mọi người đều kính nể bà nội tôi vì bà làm ruộng giỏi, chăm chỉ, cần cù, sản lượng lúa tính bình quân thường cao hơn tất cả.

Làng tôi ngoài chuyện đồng chua nước mặn lại thêm thời tiết cứ thất thường khi thì nắng hạn nứt đất khi thì mưa dầm nước ngập linh láng, công sức đổ ra cho ruộng nương nhiều không biết bao nhiêu mà kể, cây lúa mọc lên như không phải từ đất mà từ lòng bàn tay. Rồi lại còn chiến tranh giặc giã nữa, khói lửa cứ liên miên năm này tháng nọ không bao giờ dứt. Những năm đó và cho tới mãi về sau này tưởng chừng như thằng giặc có thù riêng gì với làng tôi, cứ tập trung đi càn ở đó, bom pháo dập xuống ở đó, hai ngày có trận càn lớn, ba ngày có trận càn nhỏ, cho tới máy bay đi ném bom ở đâu chiều về còn dư bom chúng cũng trút xuống ở đó. Thời giặc Tây cả tỉnh có thằng Tây Ngựa, thằng Tây Búa ác khét tiếng đều đóng quân ở đó,chúng giỏi đi càn bắn phá giết chóc và cũng giỏi bắt gà bắt vịt, lùng sục không thua gì đám lính ngụy, đến lúa thóc giấu trong quan tài chúng cũng lôi ra được. Thằng Tây Ngựa chạy giỏi như ngựa, ham chạy rượt bắt người như săn thú.
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #17 vào lúc: 05 Tháng Tám, 2009, 10:23:31 pm »

Bà nội tôi (tiếp)

Chuyện kể rằng dân làng căm thù thằng Tây Búa quá mới tổ chức một toán người giả làm những thằng hình rơm phục ngoài đồng, mà toán người đó toàn đàn bà con gái, họ rình phục như vậy cả tháng trời mới bắt được nó. Đó là tôi nghe kể thôi, còn thằng Tây Ngựa tôi có gặp một lần. Đúng là nó cao lêu nghêu chân dài như cây sào, mặt đỏ lựng, lúc nào cũng cau có, lầm lỳ, đi càn nó lùng sục không sót chỗ nào, ngó qua cả chuồng heo chuồng gà, ra sau vườn ngồi chồm hổm ngó xuống ao cá rồi ngước mắt nhìn lên ngọn me già. Rồi nó vào nhà tôi. Tôi đi sau đầu chỉ ngang tới gối nó. Nó quay lại nhìn tôi, mặt cau có lầm lỳ, huơ huơ cái ống vố lớn bằng nắm tay có vẻ muốn nói chỉ cần cái ống vố đó thôi nó cũng đập chết tôi. Đó là vào năm bốn bảy, ba tôi đi kháng chiến đã hai năm rồi, má tôi đem tụi tôi từ Sài Gòn về cất cái nhà nhỏ cạnh nhà bà nội tôi, đồ đạc chỉ có chiếc rương lớn đựng quần áo chúng tôi và mớ sách của ba má tôi, toàn sách chữ Tây vì ba má tôi trước đó học trường Tây ở Sài Gòn. Thằng Tây Ngựa đi sải mấy bước đã giáp vòng nhà, dừng lại trước kệ sách ngắm nghía rồi đưa tay lấy một cuốn sách giở ra coi. Nó coi liền mấy cuốn sách như vậy, mỗi lần coi xong nó đều trả về chỗ cũ cẩn thận, không xốc xáo, mặt vẫn cau có lầm lỳ. Rồi nó bỏ đi không đốt nhà tôi như theo thói quen nó đốt bất cứ nhà nào nó đi vào. Phải chăng là do mấy cuốn sách nó đã đọc, nó thấy cái gì, nhớ ra cái gì qua mấy đoạn văn ngắn ngủi trong đó ?

Sau đó nó đi càn tiếp và đã bắn chết ba người, đốt năm cái nhà, tới xế chiều nó trở lại tổ chức xúc lúa nhà bà nội tôi.

Thằng Tây Ngựa đứng chính giữa sân (nó không bao giờ ngồi) khẩu súng ngắn đeo xề xệ dưới đùi, khẩu tiểu liên cầm trong tay, trông ra dáng là một thằng lính chuyên nghiệp. Nó đang trông coi đám lính ngụy đã cởi bỏ hết súng đạn, cởi cả áo cả giày mình trần chân đất như được dịp để vui đùa, ồn ào cười nói, la thét, chọc phá nhau, tranh nhau chạy ào vào lẫm lúa xúc từng thúng lúa lớn đội lên đầu chạy băng qua vườn, qua mương đem đổ xuống chiếc ghe chài đậu dưới bến, mặc cho bà nội tôi chạy bám theo sau, tóc tai rũ rượi, quần áo rách bươm, kêu gào van vỉ, níu kéo, chửi rủa, giành giựt làm lúa đổ tung toé trên lối đi.

Thằng Tây Ngựa nói với bà nội tôi, giọng lơ lớ như ngậm sỏi trong miệng:

- Bà già yên tâm, đây là nhà nước Pháp mượn có giấy tờ đàng hoàng. Còn hơn bà cho tụi Việt Minh ăn không, cái bọn chui rúc trong lùm trong bụi đó có gì mà trả ?

Một tên lính ngụy đội một thúng lúa chạy như bay bỗng đụng nhằm bà nội tôi. Cả hai té văng ra, thúng lúa đổ tung toé. Tôi không bao giờ quên được cảnh ấy, lúc tôi chạy trờ tới nhìn thấy tên lính ngụy giơ cái thúng không lên cười lớn, bà nội tôi thì quì sụp xuống huơ lấy huơ để gom lúa vào lòng, lấy vạt áo cố xúc được chút nào hay chút ấy.

Đêm hôm đó chú Sáu tôi dẫn một toán du kích về tới. Toán du kích mình mẩy đầy bùn sình, mặt mày trầy suể, riêng chú Sáu tôi còn đứt cả vạt áo, quần thì chỉ còn một ống. Chú đi ra coi lẫm lúa rồi trở lại cười nói:

- Tụi lính xúc hết lúa rồi hả má ?

Bà nội tôi ngồi yên không nhúc nhích. Chú Sáu tôi ngồi xuống bên bà nội tôi. Tôi cũng ngồi xuống hỏi xin chú Sáu tôi chiếc ê-tuy đạn. Chú nói:

- Tao có bắn được phát nào đâu. Tụi nó đông quá, tụi tao chỉ có chạy trốn thôi.

Rồi chú quay sang bà nội tôi:

- Tụi con đói bụng quá ơi, má còn gạo nấu cơm cho tụi con ăn không ?

Bà nội tôi lặng lẽ đứng dậy đi ra sau vườn khui chiếc hầm giấu gạo xúc một rổ đầy đem đi vo, nổi lửa nấu cơm. Bà nội tôi lặng lẽ làm không nói gì, cho tới lúc cơm chín bới đưa cho từng người, bà mới nói:

- Tụi bây du kích không đánh thằng Tây để nó xúc lúa của tao, giờ còn về đòi ăn cơm là sao, hả ?

Chú Sáu tôi cười:

- Tụi nó đông quá mà, lại có súng lớn tụi con đánh sao lại. Thôi để bữa khác tụi con sẽ đánh, giờ đói bụng ăn cơm cái đã.

Chỉ một loáng chú Sáu tôi và toán du kích đã ăn hết chảo cơm lớn, ăn luôn cả cơm cháy, kéo nhau ra sau hè múc nước mưa đựng trong chiếc lu mái có trái bí đao nổi lềnh bềnh bên trên uống mỗi người một gáo nước đầy. Bà nội tôi ngồi yên nhìn chú Sáu tôi và toán du kích đang ngồi ưỡn người ra vì no, nói tiếp:

- Thôi tụi bây đừng về đây nữa. tụi bây cần gạo tao đem cho nhưng tụi bây về đây đám lính thừa cơ đến xúc lúa của tao.

Chú Sáu tôi cười lớn:

- Tụi con không về đám lính cũng xúc lúa của má. Má bỏ tụi con sao ?

- Tao không bỏ, nhưng tụi bây phải để yên cho tao làm ruộng.
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #18 vào lúc: 05 Tháng Tám, 2009, 10:24:37 pm »

Bà nội tôi (tiếp)

Ruộng nương đối với bà nội tôi là trên hết ! Sáng hôm sau bà xúc hai thúng gạo gánh đi cho tới trời tối mịt mới về, rồi sáng hôm sau lại gánh gạo đi nữa. Bà đi ròng rã cả tháng trời, người gầy rạc đi, bỏ ăn bỏ ngủ, bà đi đâu trong nhà không ai biết, làng xóm cũng không. Nhưng bọn lính đồn thì biết, một hôm chúng cho lính xuống kêu bà lên.

Nhiều lần bà nội tôi bị bọn lính kêu lên đồn như vậy. Chúng vặn hỏi, hoạnh họe đủ điều, có khi còn đánh đập bà nữa, những chuyện đó không khi nào bà kể lại, chúng tôi đoán được vì có lần từ đồn về giữa đường bà té vật nằm vắt ngang qua bờ ruộng, may có người đi đồng nhìn thấy kêu người khiêng bà về, chạy thuốc gần cả tháng trời, bà phải ăn cháo và uống nước trái ô rô cho tan máu bầm ra. Cả những chuyện khác bà nội tôi cũng không kể như chuyện bị cướp đánh dọc đường, bị bọn biệt kích treo lên cây tra khảo, hoặc những lần chìm ghe gạo ngoài sông cái, bà phải lội gần cây số mới tấp được vào bờ.

Có một chuyện như thế này: Chú Sáu tôi do tính tình thích bông lơn sau lần bị bà nội tôi đuổi không cho về nhà liền tìm chuyện trêu chọc, chú tìm một người du kích cao lớn cho đeo râu nhuộm tóc giả làm thằng Tây Ngựa với hai người du kích khác bận đồ rằn ri làm hai tên lính hộ tống chập tối xộc vào nhà đòi xúc lúa. Thằng Tây Ngựa xì xồ nói giọng mũi, hai tên lính "thông ngôn" lại từ hai câu ra tới tám câu lời lẽ đầy vẻ răn đe, dọa nạt. Chú Sáu tôi tính đóng màn kịch tới đó thôi, chỉ cốt cho bà nội tôi sợ rồi chú sẽ xộc vào bắt trói thằng Tây Ngựa làm oai với bà. Nhưng bà nội tôi không sợ, bà giả vờ van vỉ nhưng ngó dáo dác, rồi bất thình lình chụp cái cuốc bổ vào đầu cả Tây lẫn ngụy khiến cả ba bỏ chạy la lối chửi rủa chú Sáu tôi inh ỏi, không phải chửi bằng tiếng Tây mà bằng tiếng Việt.

Cuộc chiến càng ác liệt, ba tôi và mấy chú tôi không có dịp về nhà nữa, giao hết vợ con cho bà nội tôi nuôi, vừa con dâu vừa cháu nội đông tới vài chục. Bà nội tôi nuôi chúng tôi như nuôi bầy gia súc trong nhà, cá dưới sông, rau ngoài đồng cứ đi bắt, đi hái mà ăn, lúa trong bồ cứ xúc đi xay, đi giã, vải thô bà mua từng cây về cắt may quần áo cho chúng tôi, con gái con trai đều bận giống như nhau. Làng không có trường học chúng tôi mặc tính suốt ngày chạy rông theo sau đuôi trâu, dầm mình dưới con rạch nước đục ngầu mò tôm bắt cá, lội xuống đầm nhổ bông súng hoặc nhào ra ngoài ruộng làm trâu chém lộn nhau, cứ thấy đói bụng chạy về nhà lục cơm nguội ăn rồi lại rong đi chơi nữa, cho đến tối mịt tựu về ngồi quanh bên đống un nghe bà nội tôi kể chuyện. Bà nội tôi hay có tật kể lể rì rầm, ban ngày không có tụi tôi bà kể lể với con trâu con heo, có khi với cả gà vịt nữa. Có lần chợt trở về nhà buổi trưa lục cơm ăn tôi nghe thấy bà nội tôi đang láp giáp nói chuyện, ngó quanh không thấy có ai, dòm kỹ té ra bà đang nói chuyện với con chó Vện vừa mới đẻ con. Bà rầy con Vện về tội nó không biết cách ủ con, cho con bú, dặn bảo nó phải thế này thế nọ, chửi mắng nó rồi lại vỗ về an ủi nó, giọng điệu cũng giống như bà đã la rầy má tôi và mấy thiếm tôi những lần họ sanh chúng tôi. Con Vện nằm im nghe bà nội tôi rầy la, mắt ươn ướt, thỉnh thoảng thè lưỡi liếm đám con mới sanh còn đỏ hỏn, rồi lại liếm tay bà nội tôi. Chó nhà bà tôi nhiều vô số kể, chó mẹ đẻ chó con có bao nhiêu bà nội tôi nuôi hết. Mèo cũng vậy. Tới bữa ăn chó mèo chạy rần rần chung quanh, bà cho con này ăn, đánh con kia, miệng không ngớt la hét, chửi rủa, cuối cùng con nào cũng được phần của mình. Trừ mấy con trâu có chuồng trại đàng hoàng, đám gia súc khác cứ mặc sức chạy rông trong nhà ngoài vườn, chúng sống rất lộn xộn nhưng cũng rất hòa thuận, gà trống đậu trên lưng trâu mà gáy, heo ăn chung với vịt, chó mèo chạy giỡn với nhau.

Buổi tối chúng tôi tựu về nhà, đám gia súc đã ngủ từ lâu, muỗi bay lèo xèo dưới chân, sau khi ăn hết chảo cơm lớn chúng tôi trải tấm đệm ra ngồi ngoài sân, cạnh đống un vỏ trấn hoặc chiếc con cúi ở gần chuồng trâu. Bà nội tôi ngồi chính giữa, chúng tôi sợ ma ngồi sát vào nhau như bầy gà con vừa ăn khoai nướng hoặc bắp rang vừa nghe bà nội tôi kể chuyện. Chuyện của bà nội tôi rất lộn xộn, không đầu không đuôi, chúng tôi vừa ngủ gật hoặc giỡn hớt chọc phá nhau nên chỉ nghe được lõm bõm nào chuyện mùa màng thời tiết, chuyện ma quỷ, trộm cướp, các thần linh và các phép của thần, các điềm lành điềm dữ, sự ứng mộng và bùa ngải, chuyện rừng rú và chuyện sông nước. Bà nội tôi kể chuyện này tiếp chuyện kia không cần biết chúng tôi có nghe hay không, cũng không biết câu chuyện dẫn tới đâu, có ý nghĩa gì, mục đích gì. Tuy vậy cũng có vài chuyện khiến tôi xúc động và còn nhớ tới bây giờ, như câu chuyện sau đây.
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #19 vào lúc: 05 Tháng Tám, 2009, 10:25:34 pm »

Bà nội tôi (tiếp)

Có một người con trai ở đâu xa đến làng tôi lập nghiệp, gia tài chỉ có một chiếc bị bàng và một con chó ốm. Anh nói: "Tôi không còn chỗ nào đi nữa, cho tôi ở đây thôi". Không ai nói gì cả nên anh cứ ở, ban ngày đi tìm việc làm thuê làm mướn, tối đến lật nóp ngủ ở một góc nào đó trong sân nhà chủ. Tính anh lầm lỳ, ít nói, làm việc chăm chỉ, không quen thân ai cũng không làm phiền ai. Một thời gian anh cất được một cái chòi trên một bãi đất hoang, rồi nới rộng ra thành một căn nhà nhỏ. Anh sống kham khổ, tằn tiện, ai giao việc gì làm việc nấy, tiền công do chủ ấn định nhưng lúc thanh toán phải sòng phẳng, thiếu đồng nào anh đòi cho kỳ được mới thôi. Được vài ba năm anh dành dụm được món món tiền có thể mua được một thửa ruộng nhỏ nhưng một hôm có một toán cướp qua làng, nửa đêm ra chòi bắt trói anh đánh cho một chặp lấy hết tiền mang đi. Tiền mất tật mang, lúc gượng dậy được anh khăn gói ra đi theo hướng mấy tên cướp đã đi. Lâu lắm, cho tới lúc dân làng quên anh đi rồi thấy anh trở về người gầy xọp đi, mặt đen ngòm, hai mắt sâu hoắm, lại lặng lẽ đi làm thuê làm mướn không thấy nói gì cả. Nhưng một hôm lính đồn đem giấy xuống bắt trói anh dẫn đi, nói là anh đã giết người, giết bằng cách nửa đêm xộc vào nhà đập đầu cắt cổ một tốp đàn ông trai tráng năm bảy người đem xếp thành hàng trước cửa nhà. Anh bị tù hết bảy năm, thời gian dài đủ để dân làng lại quên anh đi thì anh ra tù, lại trở về làm mướn, dành dụm tiền đủ mua một thửa ruộng nhỏ. Anh đến nhà một người giàu hỏi mua ruộng, nhưng người nhà giàu nói: "Mày là dân làm mướn chỉ nên đi làm mướn thôi. Mày đào con mương kia cho tao đi". Anh lặng lẽ xách len ra đào mương, từ dưới hố sâu anh xắn từng thỏi đất quăng lên vun vút, những thỏi đất đen nhánh loang loáng dưới ánh mặt trời. Trong nhà người chủ giàu có một người con gái, không hiểu sao cô ta cứ theo dõi, rình rập anh, mỗi lần anh ngồi nghỉ lại thấy có cặp mắt đen láy ở đâu đó sau lùm cây kẽ lá nhìn anh. Điều đó khiến anh cảm động nhưng lại làm cho ông chủ nhà giàu phiền lòng, ông bèn kêu đuổi anh đi, tiền công chỉ tính một nửa vì ông không đào tiếp con mương mà ông sẽ lấp trở lại. Ông tỏ vẻ giận giữ lắm, nhưng cô con gái cũng giận không kém, cô xách chiếc len ra đào tiếp con mương, cắm cúi hất đất bay lên loang loáng dưới ánh mặt trời cho tới lúc chết ngất luôn dưới đó.

Chuyện kể của bà nội tôi chỉ tới đó thôi. Bao giờ cũng vậy, cứ tới đoạn cô gái chết ngất, bà nội tôi bận chuyện gì đó phải ngưng kể, hoặc là đống un tàn ngọn phải đổ thêm trấu hoặc con trâu sút dây hoặc có ai đó tới báo đập nước bị sút lỗ bọng. Sau này lớn lên nhớ lại chuyện đó, chắp vá thêm nhiều chuyện khác nữa, tôi ngờ rằng người con gái đó chính là bà nội tôi, còn người con trai có phải là ông nội tôi hay không tôi chưa nghĩ tới được.

Cuộc chiến kéo dài, đám tụi tôi lớn lên lại ra đi tan tác như đàn chim. Thằng Tý giữ trâu cũng ra đi luôn. Bà nội tôi còn lại một mình vẫn cặm cụi làm ruộng, chắt mót từng đồng xu cắc bạc để làm giàu. Không ai biết bà nội tôi giàu tới cỡ nào, tiền bà nội tôi giắt đầy trên mái lá rồi quên đi, vàng chôn đầy sau vườn không hề đánh dấu, có ai hỏi vay tiền bà tính từng đồng tiền lời nhưng nếu có người quên trả bà cũng không nhắc tới. Bà xây nhà nền đúc, cất thêm thảo bạc phía trước và hai gian hai bên, lẩm lúa cho đóng vách ván kê sàn bằng nống đá xanh. Vậy rồi một hôm nhà trúng một trái bom tan tành cả.

Lúc đó đã gần hết cuộc kháng chiến chống Pháp rồi, thằng Tây bị kẹt ở Điện Biên Phủ không hiểu sao còn dư bom đi ném xuống nhà bà nội tôi. Từ ngoài đồng nghe tiếng bom nổ, thấy lửa bựng lên ngay hướng nhà mình, bà nội tôi chạy bươn về thì lửa đã cháy cao ngọn, bà hối hả xách từng thùng nước tưới cho đến khi ngã vật xuống vừa lúc ngôi nhà cũng đổ sụp theo.

Đêm hôm đó tôi cùng một toán du kích xã về tới. Bà nội tôi ngồi dựa lưng vào gốc me già nhìn đống tro than trước mặt, mắt ráo hoảnh. Tôi nói : "Tụi con đói bụng bà nội ơi". Bà nội tôi vẫn ngồi lặng thinh. Tôi lại kêu đói nữa, đến lay bà mấy chặp bà mới đứng dậy đi moi hầm lấy gạo đem ra sông vo. Tụi tôi bắc mấy thanh củi cháy lại làm bếp. Lửa đượm than, nồi cơm chín rất mau, chúng tôi ăn hết nồi cơm lớn, ăn luôn cả cơm cháy. Bắt chước chú Sáu tôi nói đùa cho bà nội tôi vui :

- Nội làm ruộng giỏi ít nữa cất lại nhà mới thôi.
Logged
Trang: « 1 2 3 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM