Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 02:00:01 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lược sử quân sự các nước Đông Nam Á  (Đọc 106693 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #70 vào lúc: 02 Tháng Mười Một, 2008, 10:23:24 am »

QUÂN ĐỘI CỘNG HÒA PHLLIPPIN


I. Khái quát về cộng hòa Philippin

Quốc gia hải đảo nằm ở phía tây Thái Bình Dương, ngăn cách với Việt Nam bởi biển Đông về phía đông nam là nước Cộng hoà Philippin. Với 7.107 hòn đảo lớn nhỏ, nối liền thành một dải dài 1.800km, trải rộng trên diện tích 299.700km2, Philippin được ví như "dãy cọc tiêu” trên mặt đại dương. Đảo Ludông và Minđanao là hai đảo lớn nhất của Philippin, chiếm tới hai phần ba diện tích đất nước.


Địa hình Philippin chủ yếu là đồi núi và cao nguyên. Núi chiếm ba phần tư diện tích các hòn đảo. Do nằm trong vành đai kiến tạo Thái Bình Dương, Philippin có quá nhiều núi lửa (hiện có trên 10 núi lửa đang hoạt động) nên còn được nhiều người gọi là "dải lửa” của bờ Tây Thái Bình Dương. Philippin có khí hậu xích đạo nhiệt đới-biển-gió mùa; nhiệt độ trung bình hàng năm từ 27-28°C ở Vùng đồng bằng và 15-20°C ở Vùng núi. "Dãy cọc tiêu”, “dải lửa" này chịu nhiều sự khắc nghiệt của tự nhiên: trung bình mỗi năm có tới 20 cơn bão nhiệt đới đi qua Philippin. Cùng với gió bão, những trận mưa lớn gây ra không ít khó khăn cho đời sống và sản xuất của cư dân. Bù lại, Philippin có đất đai màu mỡ với thảm thực vật và động vật phong phú. Thiên nhiên cũng ban tặng cho Philippin nhiều khoáng sản quý, hiếm: vàng được khai thác cả ở dạng khoáng mạch và pha khoáng; đồng, ma ngan, rôm, sắt cũng là những khoáng sản có trữ lượng đáng kể. Những năm gần đây việc thăm dò và khai thác dầu khí ở thềm lục địa đã trở thành một ngành công nghiệp quan trọng của Philippin.


Hệ thống giao thông của Philippin có hàng hải phát triển mạnh với Manila là hải cảng lớn nhất. Cả nước có 603.000km đường bộ, trong đó có 28.400km đường nhựa với khoảng 1.300km đường ô tô cao tốc xuyên quốc gia; hệ thống đường sắt có tổng chiều dài 1.400km; đường không ngoài một số sân bay nội địa còn có 2 sân bay quốc tế ở Manila và trên đảo Mactan.


Cộng hoà Philippin là nước có dân số đứng thứ ba trong các nước Đông Năm Á. Hiện nay, dân số Philippin là 87.857.473 người (12.2005); trong đó 90% dân số sống ở 11 đảo lớn với 96% diện tích đất nước. Phần lớn cư dân Philippin là người gốc Mã Lai. Philippin là quốc gia đa dân tộc và đa ngữ, trong đó người Vixaian chiếm 44% dân số, Tagalog 21%, Ilogo 12 %... Tiếng Tagalog là ngôn ngữ chính thống của Philippin. Tuy nhiên, các văn bản chính thức của nhà nước đều được viết bằng tiếng Anh và từ năm 1973, tiếng Anh trở thành ngôn ngữ chính thức của Philippin. Tôn giáo chính ở Philippin là Thiên chúa giáo, chiếm 91% dân số, chỉ có 5% dân số theo đạo Hồi và 4% theo đạo Phật. Thủ đô của Philippin là Manila (trước năm 1977 là Kexơn Cyti).


Là một nước nông nghiệp lâu đời nên đa số dân Philippin sống bằng nghề nông với lúa và ngô là những cây lương thực chính; lâm nghiệp và nghề đánh bắt cá ở Philippin cũng khá phát triển. Về công nghiệp, ngành khai thác và chế biến quặng đóng vai trò quan trọng. Cũng như hầu hết các nước đang phát triển, Philippin thường phải nhập khẩu nguyên hếu và bán thành phẩm, máy công cụ, hàng tiêu dùng và nhiên liệu. Tuy nhiên, Philippin cũng sản xuất được nhiều mặt hàng xuất khẩu như thiết bị điện tử, sản phẩm cơ khí và thiết bị vận tải, quần áo và các chế phẩm nông sản. Hiện nay, nền kinh tế Philippin phát triển ổn định và tăng trưởng vào mức trung bình ở châu Á.


Dân cư Philippin chịu ảnh hưởng của nhiều nền văn hoá khác nhau, từ văn hoá các nước Đông Nam Á, Trung Hoa, Ấn Độ, các nước Hồi giáo đến Tây Ban Nha và Mỹ. Tiến trình lịch sử Philippin có một số đặc điểm khác biệt so với các nước Đông Nam Á khác:

1. Với vị trí chiến lược hết sức quan trọng trên con đường hàng hải quốc tế đi qua vùng biển phía tây Thái Bình Dương, Philippin là nước bị xâm lược và thuộc địa hoá sớm nhất ở Đông Nam Á. Khi bị xâm lược, Philippin chưa có một nhà nước thống nhất, chưa hình thành bản sắc văn hoá dân tộc, cộng đồng dân tộc Philippin dễ bị xung đột. Lợi dụng đặc điểm này, thực dân, đế quốc phương Tây luôn luôn gây ra mối hận thù giữa các cộng đồng người Philippin để dễ bề cai trị.

2. Philippin là nước Đông Nam Á chịu ảnh hưởng tư tưởng khai sáng của châu Âu sớm nhất cùng với sự ra đời của nền báo chí dân tộc và là nước đầu tiên trong vùng lập nên nước Cộng hoà độc lập (1898).

3. Philippin là thuộc đia kiểu mới đầu tiên của đế quốc Mỹ, là nước Đông Nam Á duy nhất chịu ảnh hưởng toàn diện, sâu sắc và lâu dài của nền văn hoá, lối sống và mô hình chính trị Mỹ. Sau khi giành độc lập, Philippin ủng hộ Mỹ trong các vấn đề chính trị-quân sự tại khu vực như duy trì các căn cứ quân sự Mỹ, gia nhập SEATO...


Từ sau năm 1975 đến nay, Philippin độc lập hơn trong chính sách đối ngoại; bắt đầu có xu hướng xem xét lại định hướng một chiều về phía Mỹ; đòi bãi bỏ các căn cứ quân sự của Mỹ, xem xét lại các hiệp ước kinh tế với Mỹ, bình thường hóa quan hệ và phát triển thương mại với các nước xã hội chủ nghĩa và các nước tư bản chủ nghĩa khác.


Về chế độ chính trị và nhà nước, từ khi Mỹ chính thức thiết lập nền thống trị trên quần đảo (1902), chế độ chính trị, tổ chức nhà nước, cơ cấu đảng phái của Philippin hoàn toàn dập khuôn theo kiểu Mỹ.


Theo Hiến pháp hiện hành của Philippin, Tổng thống đồng thời là Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang. Hội đồng an ninh quốc gia có nhiệm vụ cố vấn cho Tổng thống về các vấn đề có liên quan đến quốc phòng. Bộ Quốc phòng và Tổng tham mưu trưởng điều hành các hoạt động của lực lượng vũ trang.


Philippin là thành viên của Liên hợp quốc từ ngày 24 tháng 10 năm 1945. Trong cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam, hai tiểu đoàn Phillippin tham gia chiến đấu cùng với Mỹ từ năm 1962 đến năm 1969. Sau khi nhân dân Việt Nam kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Philippin lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam cấp đại sứ (12.7.1976). Philippin là một trong năm nước sáng lập ra Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) năm 1967.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #71 vào lúc: 02 Tháng Mười Một, 2008, 10:24:08 am »

II. Lịch sử xây dựng và phát triển của Quân đội Cộng hoà Philippin

Lịch sử xây dựng và phát triển của Quân đội Philippin gắn liền với lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm của các tầng lớp nhân dân Philippin. Trong quá trình lịch sử đó, người Philippin xây dựng các lực lượng vũ trang của mình dưới nhiều hình thức và tên gọi khác nhau như quần chúng vũ trang trong Liên minh tối cao và đáng kính những người con của nhân dân (gọi tắt là Catipunan), Quân đội nhân dân kháng Nhật (gọi tắt là Hukbalahap). và các lực lượng vũ trang quân đội) Philippin (AFP). Tuy được xây dựng trên những cơ sở xã hội khác nhau, song các đội quân này trong những thời kỳ lịch sử nhất định luôn là lực lượng nòng cốt trong cuộc đấu tranh giành và bảo vệ nền độc lập dân tộc của Philippin.


Vào năm 1521, Phecđinăng Magienlăng chỉ huy một hạm đội của Tây Ban Nha xâm nhập các đảo Sam, Sêbu và Mactan của Philippin. Cư dân trên đảo Mactan đã đứng lên chống lại và giết chết Magienlăng. Sau đó, người Tây Ban Nha lại tiếp tục xâm nhập Philippin nhiều lần nhưng phải đến năm 1565, Tây Ban Nha mới áp đặt được sự thống trị của mình trên quần đảo Philippin1 (Ở Philippin, thực dân Tây Ban Nha không tiến hành khai phá thuộc địa mà bóc lột Philippin theo lối truyền thống trước đó, nghĩa là chủ yếu thu thuế, vơ vét những gì có sẵn, duy trì nền kinh tế thuộc địa ở tình trạng lạc hậu; do đó Philippin là thuộc địa kém phát triển nhất trong hệ thống thuộc địa của phương Tây ở châu Á). Lúc đầu, người Tây Ban Nha xâm lược Philippin không phải vì mục đích kinh tế mà họ quan tâm đến mục tiêu chiến lược nhiều hơn; họ muốn biến quần đảo này thành phòng tuyến ngăn chặn sự bành trướng của người Bồ Đào Nha lúc đó đang có thế mạnh, đồng thời dùng Philippin làm bàn đạp để chiếm các thị trường buôn bán ở châu Á. Trong suốt thế kỷ XVII - XVIII, Tây Ban Nha đã cô lập được Philippin; tránh được các cuộc xâm nhập của người Hà Lan và người Anh vào thuộc địa của mình.


Ngay khi mới đặt chân lên quần đảo Philippin, thực dân Tây Ban Nha đã gặp sự phản kháng quyết liệt của người dân nơi đây mà điển hình là trận Mactan. Những thế kỷ sau đó, làn sóng khởi nghĩa chống lại ách thống trị của thực dân Tây Ban Nha liên tiếp nổ ra và ngày càng lan rộng; đặc biệt là phong trào nông dân tại Bokhon kéo dài 85 năm (1744-1829). Nhưng, cho đến trước thế kỷ XIX, do các phong trào đấu tranh của nhân dân Philippin đều mang tính tự phát, không có sự lãnh đạo đúng đắn và thống nhất nên đều thất bại.


Sang thế kỷ XIX, cùng với sự hình thành và phát triển các tầng lớp, giai cấp mới có trình độ hiểu biết và ý thức dân tộc, phong trào giải phóng dân tộc ở Philippin bắt đầu mang tính chất tự giác và ngày càng được tổ chức chặt chẽ. Tháng 1 năm 1872, công nhân và binh lính Cavit tiến hành cuộc khởi nghĩa vũ trang phản đồi chính sách thuế mới của chính quyền Tây Ban Nha. Cuộc khởi nghĩa đã bị chính quyền thực dân dìm trong bể máu, song đây là tiếng súng báo hiệu phong trào giải phóng dân tộc Philippin đã bắt đầu bước sang giai đoạn mới, giai đoạn "thức tỉnh dân tộc" của người Philippin. Tuy nhiên, trong bước phát triển mới, phong trào chủ yếu mang tính chất cải lương, chưa biết dựa vào sức mạnh của quần chúng, phủ nhận đấu tranh vũ trang, nội bộ lãnh đạo thường mâu thuẫn, do đó phong trào vẫn chưa thoát ra khỏi tình trạng bế tắc.


Tháng 6 năm 1892, người anh hùng dân tộc Philippin, nhà văn Hôxê Ridan sáng lập ra Liên minh Philippin - tổ chức dân tộc đầu tiên của người Philippin. Liên minh thành lập được 4 ngày thì Hôxê Ridan bị chính quyền thực dân bắt giam; các thành viên của Liên minh bị truy bức và hãm hại; thêm vào đó, nội bộ có sự chia rẽ nên Liên minh nhanh chóng tan rã. Sau khi Liên minh Philippin tan rã, tháng 7 năm 1892, Anđreas Bôniphaxiô lập ra hội kín lấy tên là Liên minh tối cao và đáng kính những người con của nhân dân, gọi tắt là Catipunan.


Catipunan là tổ chức cách mạng đầu tiên của Philippin. Dưới sự lãnh đạo của Catipunan, phong trào giải phóng dân tộc Philippin có bước phát triển về chất, được các thế hệ người Philippin tự hào gọi là cuộc "cách mạng Philippin". Các nhà lãnh đạo Catipunan chủ trương dựa vào quần chúng nông dân để giành độc lập dân tộc bằng một cuộc đấu tranh vũ trang. Một kế hoạch khởi nghĩa được vạch ra, theo đó, các lực lượng vũ trang sẽ đồng loạt tiến công địch vào nửa đêm ngày 29 tháng 8 năm 1896. Chính quyền Tây Ban Nha sớm phát hiện kế hoạch khởi nghĩa nên đã chuẩn bị đối phó. Đúng 12 giờ đêm 29 tháng 8 năm 1896, cuộc khởi nghĩa bắt đầu nổ ra, nhưng cánh quân do Bôniphaxio chỉ huy bị một trung đoàn bộ binh Tây Ban Nha phản công, buộc phải quay trở lại. Trong khi đó, lực lượng do Aghinanđô chỉ huy đã lập chiến công tại tỉnh Cavít. Đây cũng chính là một trong những yếu tố làm nảy sinh mâu thuẫn, dẫn đến sự chia rẽ trong nội bộ Catipunan. Ngày 10 tháng 5 năm 1897, người anh hùng dân tộc Philippin Bôniphaxiô đã bị sát hại. Lợi dụng thời cơ nội bộ Catipunan bị chia rẽ, thực dân Tây Ban Nha đã huy động 18.000 quân phản công; đồng thời đưa ra một số lời hứa hẹn để mua chuộc Aghinanđô. Ngày 1 tháng 11 năm 1897, đại biểu các đội quân khởi nghĩa nhóm họp ở Biaknabatô đã thông qua hiến pháp lâm thời của nước Cộng hoà Philippin, tuyên bố thành lập chính phủ mới do Aghinanđô làm tổng thống. Nhưng, hơn một tháng sau, ngày 14 tháng 12 năm 1897, Aghinanđô đã ký với chính quyền thực dân Điều ước Biaknabatô, nhận từ tay thực dân Tây Ban Nha 800.000 pêxô1 (Lưu Tộ Xương, Quang Nhân Hồng, Hàn Thừa Văn, Ngãi Châu Xương. Lịch sử thế giới cận đại, Sđd, tr.479), kêu gọi nhân dân hạ vũ khí, tự động giải tán chính phủ rồi sau đó lưu vong sang Hồng Kông.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #72 vào lúc: 02 Tháng Mười Một, 2008, 10:24:52 am »

Sau khi Aghinanđô đầu hàng, chính quyền thực dân Tây Ban Nha không thực hiện các cải cách như đã hứa; nhân dân philippin không thừa nhận Điều ước Biaknabatô. Ngày 22 tháng 3 năm 1898, Phecđinăng Macabulôt đứng ra thành lập Chính phủ và Quân đội cách mạng, tiếp tục lãnh đạo nhân dân Philippin chiến đấu chống sự thống trị của bọn thực dân Tây Ban Nha. Tướng Actemiô Ricac (Artemio Ricarte) được cử làm Tổng chỉ huy Quân đội cách mạng Philippin. Khi thành lập, Quân đội cách mạng Philippin mới chỉ có lực lượng lục quân, quân số và trang bị rất ít ỏi.


Một tháng sau khi Chính phủ cách mạng Philippin được thành lập, tháng 4 năm 1898, cuộc chiến tranh giữa Mỹ và Tây Ban Nha bùng nổ. Mỹ một mặt đưa chiến hạm vào vịnh Manila xâm chiếm Philippin, mặt khác cho người liên hệ với Aghinanđô để mật đàm với ông về việc Mỹ sẽ "viện trợ" và "bảo hộ" cho cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc của Philippin. Tin tưởng vào lời hứa của Mỹ, Aghinanđô quay trở về Philippin và ngày 12 tháng 6 năm 18982 (Ngày 12 tháng 6 được lấy làm Ngày quốc khánh của Philippin), tại Cavít, ông đã đọc bản tuyên ngôn độc lập, tuyên bố thành lập nước Cộng hoà Philippin do ông làm Tổng thống, chấm dứt chế độ thực dân kéo dài hơn 300 năm của Tây Ban Nha ở nước này.


Tuy nhiên, thực dân Tây Ban Nha đã bán rẻ Philippin cho đế quốc Mỹ. Ngày 10 tháng 12 năm 1898, Mỹ và Tây Ban Nha ký hiệp ước “hoà bình” tại Pari (Pháp), theo đó, Tây Ban Nha nhận của Mỹ 20 triệu USD để "chuyển nhượng" Philippin cho Mỹ. Từ đó, Mỹ công khai lên tiếng mở rộng quyền thống trì của họ trên khắp các đảo Philippin. Bất chấp các tuyên bố của Cộng hoà Philippin phản kháng hành vi xâm lược của Mỹ, tối 4 tháng 2 năm 1899, Quân đội Mỹ bất ngờ tập kích vào Manila. Trước nguy cơ lan rộng của cuộc chiến tranh xâm lược, Aghinanđô chủ trương mở rộng và phát triển lục quân lên 16.000 người, đồng thời bắt đầu xây dựng hải quân.


Ngày 5 tháng 2, Chính phủ Cộng hoà Philippin tuyên chiến với Mỹ. Viện binh Mỹ tới tấp đổ vào Philippin, từ 8.500 vào cuối cuộc chiến với Tây Ban Nha lên 21.000 - tháng 2 năm 1899) và đến tháng 11 năm 1899 đã lên tới 65.0001 (Đ.V. Môxiacốp, V.A. Chiu-rin, Lịch sử Đông Nam A (bản tiếng Nga), Trướng Đại học Tổng hợp Phương Đông xuất bản, Mátxcơva, 2004. tr.138). Trước sức mạnh áp đảo của quân xâm lược, từ tháng 11 năm 1899, quân đội cách mạng phải phân tán và áp dụng chiến lược chiến tranh du kích. Cả nước được chia thành các quân khu du kích, mỗi quân khu có một tư lệnh du kích chỉ huy. Quân du kích đã chiến đấu kiên cường, tập kích các nhóm quân địch đi tuần tiễu hoặc các cứ điểm tiền tiêu của chúng. Tính từ tháng 5 năm 1900 đến tháng năm 1901, quân du kích đã tập kích 1.026 trận và gây thương vong cho hơn 7.000 quân Mỹ1 (Lưu Tộ Xương, Quang Nhân Hồng, Hàn Thừa Văn, Ngãi Châu Xương, Sđd, tr.482).


Trong khi quân đội triển khai chiến tranh du kích, nội bộ lãnh đạo phong trào kháng chiến bị chia rẽ làm hai phái: phái thoả hiệp gồm đại diện giai cấp địa chủ và tư sản mại bản chủ trương đầu hàng, còn phái cấp tiến chủ trương tiến hành chống Mỹ tới cùng. Sau khi Aghinanđô bị địch bắt (tháng 3 năm 1901), ông tuyên thệ trung thành với Mỹ. Tiếp theo Aghinanđô, nhiều phần tử địa chủ và tư sản Philippin đua nhau ra đầu hàng, Philippin chính thức trở thành thuộc địa của Mỹ. Sau khi áp đặt được sự kiểm soát toàn diện đối với Philippin, ngoài việc tăng cường quân đội và cảnh sát làm công cụ trấn áp cách mạng, Mỹ còn thành lập toà án quân sự các cấp, nghiêm cấm người dân Philippin bàn bạc về vấn đề độc lập dân tộc.


Dưới ách thống trị của Mỹ, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở Philippin tuy không phát triển mạnh mẽ như ở một số nước Đông Nam A khác, song cũng có những bước phát triển nhất định. Trong những năm giữa hai cuộc chiến tranh thế giới, ở Philippin xuất hiện hàng loạt các đảng phái chính trị, tập hợp đông đảo các tầng lớp nhân dân đấu tranh giành độc lập: năm 1917, Đảng Dân chủ của giai cấp địa chủ-tư sản ra đời, tập hợp những người yêu nước nhưng bất bình với chủ nghĩa bảo thủ và thoả hiệp của đảng dân tộc; năm 1924 xuất hiện Đảng Mác xít của giai cấp công nhân với chủ trương đấu tranh vì một nền "độc lập nhanh chóng và đầy đủ” cho Philippin; năm 1930, Đảng Cộng sản Philippin thành lập, lãnh đạo giai cấp công nhân và những người yêu nước đấu tranh dưới các hình thức bãi công, khởi nghĩa...


Về phía Mỹ, vào đầu những năm ba mươi, chính giới Mỹ đã phải tính đến vấn đề chuyển giao dần nền độc lập cho Philippin. Điều này được lý giải bởi hàng loạt nguyên nhân chủ quan và khách quan; đó là ảnh hưởng xấu của cuộc khủng hoảng kinh tế 1929-1933 của thế giới tư bản đối với Mỹ; là phong trào cách mạng ở châu Âu, Trung Quốc, phong trào giải phóng dân tộc ở Đông Nam Á đang lên cao... Để chuẩn bị trao quyền độc lập cho Philippin, Quốc hội Mỹ đã thông qua hai đạo luật là Đạo luật Harơ Hao Cơttinh (1932) và Đạo luật Tydin Mác Duphi (1934). Theo các đạo luật này, sau thời gian quá độ 10 năm, Philippin đương nhiên là một nước cộng hoà độc lập; trong thời gian quá độ đó, Philippin thực hiện chế độ tự trị, quyền lợi của Mỹ vẫn được giữ nguyên. Ngày 15 tháng 11 năm 1935, Chính phủ tự trị Philippin được thành lập do Queson làm Tổng thống và Oxmena làm Phó tổng thống.


Trước tình hình thế giới sôi động và sự bất bình ngày càng tăng của các tầng lớp nhân dân trong nước, Chính phủ tự trị Philippin đặt vấn đề quốc phòng lên vị trí hàng đầu chủ trương xây dựng lực lượng vũ trang theo chế độ quân dịch với sự giúp đỡ của tướng Mỹ Đulat Mác Áctơ. Ngày 23 tháng 12 năm 1935, "Luật liên bang số 1", còn gọi là “Luật quốc phòng" được ban hành, mở đường cho sự ra đời của Quân đội Philippin mới, thực chất là quân đội tay sai, dưới sự bảo trợ của Quân đội Mỹ. Lực lượng quân đội lúc mới thành lập lại có khoảng 6.000 quân, trong đó cảnh sát là thành phần nòng cốt. Với ngân sách viện trợ hàng năm khoảng 16 triệu pê xô, Mỹ đã tích cực giúp đỡ huấn luyện cho Quân đội Philippin trở thành một quân đội mạnh trong khu vực.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #73 vào lúc: 02 Tháng Mười Một, 2008, 10:25:30 am »

Từ mùa hè năm 1941, trước nguy cơ xâm lược của phát xít Nhật, chính phủ Mỹ khẩn trương củng cố phòng thủ Philippin. Mác ác tơ được chỉ định làm tư lệnh lực lượng quân Mỹ ở viễn Đông (USAFFE), bao gồm cả Quân đội Philippin. Quân Mỹ ở Philippin được nâng lên 50.000 người, kể cả Quân đội Philippin là 180.000; máy bay tăng lên 500 chiếc1 (G. I. Levixơn, Philippin trên đường giành độc lập (bản tiếng Nga), Nxb Nauka, Mátxcơva, 1972, tr.263); cảng Manila và vịnh Xubic được phong toả. Song, các biện pháp gấp rút của chính phủ Mỹ đã quá muộn. Khi quân Nhật đổ bộ lên Philippin, quân Mỹ - Philippin tổ chức kháng cự rất yếu ớt.


Tuy quân Nhật không bị nhân dân Philippin kháng cự nhưng cũng không được họ ủng hộ như giới cầm quyền Nhật đã dự tính. Không khí hoảng loạn bao trùm giới lãnh đạo chính trị ở Manila; trong đó một số người muốn chạy vào sở chỉ huy của Mác Áctơ để lánh nạn, một số khác tìm cách phục vụ người Nhật, chỉ một số rất ít nghĩ đến việc tổ chức nhân dân kháng chiến, còn đa số là ngồi chờ tình thế sẽ xoay chuyển có lợi cho bên nào để theo bên đó. Ngoại trừ Đảng Cộng sản Philippin, còn lại không một đảng phái và tổ chức xã hội nào có dấu hiệu hành động.


Trong khi đó, đội hình phòng ngự của Mỹ ở Ludông bị quân Nhật đánh tan tác. Ngày 2 tháng 1 năm 1942, quân Nhật chiếm được thủ đô Manila và căn cứ quân sự Cavit. Queson trong cơn hoảng loạn đã đề nghị Tổng thống Mỹ Rudơven nhanh chóng trao trả độc lập cho Philippin để sau đó tuyên bố trung lập và đòi rút cả quân Mỹ và quân Nhật ra khỏi Philippin. Đương nhiên, Rudơven không thể chấp nhận đề nghị này. Queson lại đề nghị Mác Áctơ cho phép đầu hàng quân Nhật để "củng cố sự kháng cự của người Philippin" nhưng cũng bị từ chối. Tháng 2, Mác Áctơ bỏ mặc quân đội và chạy sang Ôxtrâyria; Queson và Oxmena được đưa sang Mỹ. Ngày 7 tháng 5, người kế nhiệm Mác Áctơ, tướng Vâyinrait đầu hàng Nhật, đồng thời ra lệnh cho toàn bộ lực lượng quân Mỹ và quân Philippin trên các đảo Vixai và Minđanao đầu hàng, mặc dù quân Nhật không xuất hiện ở đó. Quân Mỹ kết thúc các hoạt động phòng thủ ở Philippin.


Bất chấp sự đầu hàng của quân Mỹ, những người Philippin được động viên vào hàng ngũ Quân đội quốc gia và Quân đội Mỹ đã chiến đấu kiên cường trong những điều kiện hết sức khó khăn. Sự hy sinh quên mình để bảo vệ bán đảo Bataan thực sự là một chiến công oanh liệt của các chiến sĩ Philippin. 50 nghìn người còn lại của các đơn vị bị đánh tan đã rút về đây để bảo vệ Bataan, trong đó chủ yếu là người Philippin (80%). Khác với lính Mỹ, những người lính Philippin chưa được huấn luyện kỹ càng, trang bị chỉ toàn súng trường lạc hậu, khẩu phần ăn chỉ có 60g gạo/ngày, nhưng họ đã kiên cường chiến đấu hơn 3 tháng chống lại kẻ thù có ưu thế lực lượng, gây cho quân Nhật nhiều tổn thất nặng nề và làm chậm bước tiến của chúng trên các mặt trận khác.


Trong khi các chính trị gia thuộc các đảng phái tư sản dân tộc, các thành viên của chính phủ tự trị tìm cách thoả hiệp, hợp tác với Nhật; nhân dân không có điều kiện tổ chức kháng cự quân xâm lược thì Đảng Cộng sản và các tổ chức thân cộng sản đứng ra thành lập Mặt trận thống nhất kháng Nhật. Tháng 3 năm 1942 các đội du kích do Đảng Cộng sản xây dựng ở miền Trung Ludông hợp nhất lại thành Quân đội nhân dân kháng Nhật (Hukbalahap) do Luật Taruc làm Tổng tư lệnh, Caxtơ Alêchxanđrinô làm Phó tổng tư lệnh. Nhiều đội tự vệ tự phát của các làng xã cũng gia nhập Hukbalahap. Các chiến binh của quân đội Hukbalahap được gọi là Huk.


Đơn vị chiến đấu cơ bản của Quân đội nhân dân kháng Nhật là đại đội, quân số khoảng 100 người. Đến tháng 11 năm 1942, các đơn vị Hukbalahap được tổ chức thành 5 quân khu theo vùng lãnh thổ: Quân khu 1 là miền nam tỉnh Pampanga, Quân khu 2 là vùng đầm lầy Kanđaba nằm giữa 2 tỉnh Pampanga và Bulakan, Quân khu 3 là tỉnh Tarlac, Quân khu 4 - tỉnh Nueva Exikha, Quân khu 5: miền tây tỉnh Pampanga. Cơ quan đầu não của Hukbalahap là Bộ Tổng Tham mưu (trước tháng 11 năm 1942 là ủy Ban quân sự). Chỉ huy các đơn vị Hukbalahap là những người có năng lực nhất và trung thành với sự nghiệp chung. Vấn đề nan giải đối với Hukbalahap là việc bảo đảm vũ khí. Suốt mùa xuân năm 1942, các đội du kích đã thực hiện nhiều cuộc đột nhập vào Bataan để lấy vũ khí và đạn dược do quân Mỹ và quân Nhật bỏ lại; kết quả đã thu được 7.000 súng trường và súng ngắn1 (G.I. Levixơn, Sđd, tr.282). Du kích quân còn thực hiện thành công nhiều cuộc tập kích táo bạo vào các kho vũ khí của Nhật. Ngoài ra, họ còn tự tạo được nhiều vũ khí thô sơ. Đến cuồl mùa hè 1942, Hukbalahap đã có 35 đại đội (lúc mới thành lập chỉ có 5). Từ tháng 5 năm 1 942 , các đội quân Hukbalahap thường xuyên hoạt động ở các tỉnh miền Trung Ludông (chủ yếu là các tỉnh Pampanga, Tarlac, Bulakan, Nueva Exikha, Laguna). Bằng cách tập kích bất ngờ, quân du kích chiếm được nhiều thành phố nhỏ và giữ được từ 2 đến 3 ngày. Thời kỳ này, Bộ chỉ huy Hukbalahap thực hiện chiến thuật "tiến công liên tục": các đại đội và liên đại đội liên tục đột kích, tập kích vào các toán quân Nhật; nhiều khi người chỉ huy thực hiện chiến thuật này bất chấp cả sự mệt mỏi của du kích và sự bất lợi về so sánh lực lượng, do đó bị tổn thất lớn. Mùa xuân năm 1943, quân Nhật bắt đầu chuẩn bị chiến dịch trừng phạt quy mô lớn chống Hukbalahap. Trong chiến dịch kéo dài 10 ngày ở vùng Kabiaô, quân Nhật đã loại khỏi vòng chiến đấu 14 đại đội, tức là gần một nửa lực lượng của Hukbalahap. Sau thất bại nặng nề này, lực lượng còn lại của Hukbalahap rút vào các căn cứ rừng núi và từ đó phái từng nhóm 4-5 người ra phục kích, bất ngờ tiến công các tốp quân Nhật đi lẻ.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #74 vào lúc: 02 Tháng Mười Một, 2008, 10:26:12 am »

Bước ngoặt của cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ hai trên chiến trường châu Âu trong năm 1943 đã tạo điều kiện cho quân đội Mỹ đẩy mạnh hoạt động ở Thái Bình Dương. Lúc này quân Mỹ đã chiếm ưu thế hơn hẳn quân Nhật, song, do những khó khăn cả về quân sự và chính trị, Mỹ chưa thể đổ bộ lên quần đảo Philippin. Trong khi đó, cuộc đấu tranh của nhân dân Philippin đang mạnh lên từng ngày khiến cho giới cầm quyền Mỹ không khỏi lo lắng: nếu người Philippin có thể tự xoá sổ quân chiếm đóng Nhật thì khả năng thiết lập trở lại sự thống trị của Mỹ như trước đây là một vấn đề nan giải đối với Mỹ.


Các cơ quan tình báo quân sự của Bộ tham mưu lực lượng quân Mỹ ở nam Thái Bình Dương được lệnh tung vào Philippin các toán biệt kích với nhiệm vụ kiểm soát cuộc chiến tranh du kích chống Nhật và ngăn cản việc lật đổ quân Nhật trước khi quân Mỹ trở lại. Bằng các thủ đoạn lửa bịp và do sự phản bội của một số phần tử địa chủ, tư sản dân tộc, Bộ chỉ huy quân Mỹ đã đưa được người của mình vào vị trí chỉ huy phần lớn các đơn vị du kích ở Minđanao, Lâyti, Panai, Minđôrô. Theo chỉ đạo từ Oasinhtơn, khi kiểm soát được nhóm du kích nào đó, tình báo Mỹ lập tức yêu cầu du kích chấm dứt đấu tranh vũ trang. Nếu như ở các đảo miền Nam Philippin, tình báo Mỹ cơ bản thực hiện được kế hoạch ngăn cản phong trào du kích thì ở những vùng Hukbalahap có ảnh hưởng chính trị tương đối lớn như Xebu, Negrô và nhất là ở Ludông, người Mỹ gặp không ít khó khăn.


Ngay từ khi mới thành lập, Hukbalahap đã đề nghị Bộ chỉ huy quân Mỹ hợp tác chống Nhật, nhưng tất cả các sĩ quan Mỹ được lệnh không hợp tác với Hukbalahap. Trên thực tế sau khi quân đội Mỹ đầu hàng quân Nhật, nhóm sĩ quan Mỹ do Thiếu tá Tôrpơ còn ở lại trong vùng lãnh thổ bị chiếm đóng đã ký thoả thuận phối hợp hoạt động với Hukbalahap; nhưng ít lâu sau, Tôrpơ đã bị chỉ điểm cho quân Nhật sát hại. Ở miền Nam Ludông, nhóm du kích do Anđecxơn chỉ huy cũng có quan hệ tốt với Hukbalahap cho đến tận cuối cuộn chiến tranh.


Tháng 6 năm 1944, Hukbalahap một lần nữa đề nghị tướng Mỹ Mác Áctơ phối hợp hành động, nhưng Mác ác tơ lại muốn Hukbalahap phải phục tùng mình. Không quy phục được Hukbalahap bằng cách lừa dối và hăm doạ, Mác Áctơ dùng thủ đoạn giăng bẫy để phá hoại Hukbalahap. Bộ tham mưu lực lượng quân Mỹ ở nam Thái Bình Dương chọn một số người Philippin thuộc phái chống cộng làm chỉ huy một số đơn vị USAFFE, khi quân Hukbalahap tưởng đây là đồng đội du kích của mình và thản nhiên tiếp cận sẽ bị bắn tới tấp. Bẫy này được giăng ở nhiều nơi và đã gây tổn thất nghiêm trọng cho Hukbalahap.


Mùa thu năm 1944, cục diện Chiến tranh thế giới lần thứ hai đã thay đổi rất thuận lợi cho phe Đồng minh; quân đội phát xít Đức, đồng minh chính của quân phiệt Nhật đã bị Hồng quân Liên Xô đánh tan tác. Trong bối cảnh đó, ngày 20 tháng 10, quân Mỹ đổ bộ lên đảo Lâyti. Lúc này, Hukbalahap đã kịp tăng cường lực lượng lên 10.000 quân chiến đấu (không phải tất cả đều được trang bị hỏa khí) và gần 30.000 quân dự bị1 (G.I. Levixơn, Sđd, tr.315). Với lực lượng được tăng cường, Hukbalahap bắt đầu các chiến dịch tiến công quân Nhật. Cùng với việc tích cực tiến công quân Nhật ở nhiều khu vực thuộc tỉnh Pampanga và tỉnh Nueva Exikha, các đơn vị Hukbalahap còn chi viện đắc lực cho quân Mỹ tấn công; đồng thời đánh vào nhiều thành phố ở đồng bằng miền Trung. Với 3.000 chiến sĩ hy sinh, Hukbalahap đã lập chiến công vô cùng hiển hách: tiêu diệt 20.000 quân Nhật và 5.000 quân tay sai. Chính tướng Mỹ Đichcơ, Tham mưu trưởng Tập đoàn quân số 6 của Mỹ chiến đấu ở Philippin cũng phải thừa nhận "Hukbalahap là một trong những đơn vị chiến đấu tốt nhất mà tôi được biết"2 (Dẫn theo: G.I. Levixơnl Sđd. tr.319).


Nhưng, chính những phẩm chất tốt đẹp đó của Hukbalahap, một đội quân được sự ủng hộ rộng rãi của nông dân Philippin và kiên trì đường lối chống chủ nghĩa đế quốc vì nền độc lập dân tộc, đã làm cho giới cầm quyền Mỹ lo sợ. Vì vậy, trước khi đổ bộ lên Philippin, quân Mỹ đã được lệnh phải lập tức giải giáp Hukbalahap sau khi không cần sự giúp đỡ của họ. Trong khi chiến tranh còn chưa kết thúc thì du kích quân Hukbalahap đã bị những họng súng Mỹ chĩa vào đòi giao nộp vũ khí và giải tán; khoảng 10 đại đội bị giải giáp ngay lúc này. Tháng 2 năm 1945, khi 109 chiến sĩ thuộc đại đội 77 Hukbalahap, những người đã từng chiến đấu yểm trợ cho tập đoàn quân số 6 của Mỹ tình nguyện giao nộp vũ khí thì họ liền bị quân USAFFE vây bắt, tống vào nhà tù Malôlôs rồi bắn chết hết tại đó. Sự phản bội của Mỹ đối với Hukbalahap không chỉ gây nên sự căm phẫn trong hàng ngũ du kích quân mà ngay cả những người Mỹ có lương tâm cũng rất bất bình.


Những ngày cuối tháng 2 năm 1945, lực lượng phản gián của Mác Áctơ đã bắt Tổng tư lệnh Hukbalahap L.Taruc, Phó tổng tư lệnh K. Alêchxanđrinô và 5 chỉ huy cao cấp khác của Hukbalahap vì tội "hoạt động phá hoại ngầm". Các đội quân Hukbalahap (quyền chỉ huy tối cao tạm thời được giao cho Marianô Ba ngốt) bắt đầu rút vào rừng núi. Ngay sau khi quân Nhật bị quét sạch khỏi Philippin tháng 7 năm 1945), Quân đội Hukbalahap tuyên bố tự giải tán.


Sau khi phát xít Đức và quân phiệt Nhật bị đánh bại, so sánh lực lượng trên thế giới đã thay đổi có lợi cho các lực lượng cách mạng và phong trào giải phóng dân tộc. Trong bối cảnh đó, phong trào chống đế quốc ở Philippin cũng phát triển mạnh mẽ, buộc Mỹ phải trao trả độc lập cho Philippin (tháng 7 năm 1946). Song, trước khi trao trả độc lập cho Philippin, Mỹ đã tìm mọi cách đưa phe nhóm đại địa chủ - tư sản thân Mỹ lên cầm quyền để áp đặt điều kiện tuyên bố độc lập của nước này; trong đó quan trọng nhất là điều kiện bảo đảm việc duy trì sự hiện diện của quân đội Mỹ tại Philippin và Mỹ nắm quyền kiểm soát Quân đội quốc gia Philịppin (lúc này do Kangleon làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng).
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #75 vào lúc: 02 Tháng Mười Một, 2008, 10:27:35 am »

Ngày 4 tháng 7 năm 1946, Hiệp ước về cơ sở quan hệ giữa Mỹ và Philippin được ký kết, theo đó Mỹ chuyển giao chủ quyền quốc gia đối với quần đảo cho Chính phủ Philippin. Bản Hiệp ước còn có một điều khoản riêng về việc duy trì các căn cứ quân sự Mỹ ở Philippin. Năm 1947, một loạt hiệp ước quân sự được ký kết, trong đó quy định Philippin chuyển cho Mỹ quyền sử dụng 23 khu vực trên lãnh thổ Philippin để bố trí các căn cứ quân sự với thời hạn 99 năm. Theo Hiệp ước về viện trợ quân sự, Quân đội quốc gia Philippin trên thực tế sẽ do các cố vấn Mỹ kiểm soát Các cố vấn quân sự Mỹ có nhiệm vụ biến Quân đội Philippin thành công cụ đàn áp phong trào giải phóng dân tộc và đấu tranh giai cấp ở Philippin1 (The Daily World. 7.VI. 1975). Thời kỳ đầu giành độc lập Philippin đặc biệt chú trọng phát triển hải quân. Mặc dù hạm đội Philippin - tiền thân của lực lượng hải quân Philippin ra đời năm 1899, nhưng hoạt động cũng như trang bị vũ khí còn quá thô sơ và kém phát triển. Theo sự "cố vấn" của Mỹ, hải quân Philippin được chia thành các đơn vị theo loại chiến hạm hay nhiệm vụ, bao gồm lực lượng sẵn sàng chiến đấu, lực lượng tuần tra, lực lượng phục vụ, lực lượng tàu tiến công, lực lượng không quân của hải quân và lực lượng đặc biệt.


Ngày 7 tháng 10 năm 1947, lực lượng không quân của hải quân hình thành với trang bị ban đầu là 2 máy bay PT-13 và L-5 (đến năm 1951 , hai chiếc máy bay này được cải tạo thành thủy phi cơ để sử dụng trong các hoạt động chống buôn lậu).


Đến năm 1950, với sự giúp đỡ của Mỹ, các lực lượng vũ trang Philippin (AFP) được tổ chức lại gồm các quân chủng lục quân, không quân và hải quân. Sở chỉ huy các lực lượng quốc phòng được đổi tên thành Bộ Tổng hành dinh các lực lượng vũ trang Philippin. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng mới là R. Macxayxay. Nhằm đối phó với các lực lượng ly khai và các phần tử hoạt động nổi dậy dọc bờ biển của quần đảo, R. Macxayxay chỉ thị cho quân đội thành lập ngay lực lượng hải quân đánh bộ với yêu cầu phải có khả năng cơ động cao, hoả lực mạnh. Mặc dù khi mới thành lập chỉ có 1 đại đội với 212 quân nhưng nhờ có kỷ luật sắt kỹ năng chiến đấu tốt và lòng trung thành nên lực lượng này luôn được yêu cầu trợ giúp trong một số lĩnh vực hoặc sự vụ mà các lực lượng khác phải bó tay.


Sau chiến tranh, trong khi nền kinh tế bị tàn phá nặng nề, nhiều vấn đề xã hội chưa được giải quyết, chính quyền địa chủ - tư sản lại thi hành chính sách phản dân chủ khiến cho đông đảo các tầng lớp nhân dân hết sức bất bình và dấy lên phong trào đấu tranh mạnh mẽ. Chính phủ mới thành lập (sau cuộc bầu cử tháng 4 năm 1946) do Rôxát đứng đầu đã thẳng tay đàn áp phong trào, trước hết là phong trào nông dân. Các đơn vị quân đội quốc gia được huy động tham gia bắt bớ nông dân, hủy hoại mùa màng, đốt nhà dân, tra tấn, đánh đập nông dân. Chỗ dựa của quân đội quốc gia trong các hoạt động này là 90 nghìn quân Mỹ, bao gồm cả lục quân, không quân và hải quân.


Năm 1947, tại miền Trung Ludông đã xuất hiện nhiều đội tự vệ của nông dân; các đơn vị chiến đấu của Hukbalahap bắt đầu được tái lập; Bộ Tổng tham mưu Hukbalahap được khôi phục để kiểm soát quá trình tự phát của phong trào nông dân kháng chiến. Trong các cuộc đàm phán với chính phủ, lãnh đạo Liên minh nông dân và Hukbalahap sẵn sàng giải quyết cuộc xung đột bằng biện pháp hoà bình và nộp vũ khí với điều kiện chính phủ tiến hành cải cách nông nghiệp và các cải cách xã hội khác. Tuy nhiên, các cuộc đàm phán đã không đem lại kết quả Tháng 4 năm 1948, sau khi lên thay Rô xát bị chết, E. Quinnô bề ngoài tiếp tục đàm phán với Hukbalahap nhưng trên thực tế vẫn sử dụng quân đội đàn áp phong trào nông dân và tấn công các lực lượng tiến bộ. Trước tình hình đó, Hukbalahap và Liên minh nông dân buộc phải tiếp tục con đường đấu tranh vũ trang.


Địa bàn căn cứ chủ yếu của cuộc khởi nghĩa vũ trang của nông dân Philippin là các vùng rừng núi miền Trung Ludông (các tỉnh Pampanga, Tarlac, Nueva-exikha, Batangas, Rixan). Trong giai đoạn đầu của cuộc khởi nghĩa tháng 8 năm 1948 - tháng 10 năm 1950), Hukbalahap thực hiện chiến thuật du kích chiến như đã từng áp dụng trong những năm kháng chiến chống Nhật chiếm đóng. Năm 1950, Hukbalahap đổi tên thành Quân giải phóng (Hukbông). Nghĩa quân dự định ngày 7 tháng 10 năm 1950 mở cuộc tấn công lớn vào thủ đô Manila nhưng tình báo của Quân đội Chính phủ đã nắm được các văn kiện tác chiến của bộ chỉ huy khởi nghĩa và kịp thời ngăn chặn.


Về phía Quân đội Chính phủ, Bộ trưởng Quốc phòng Macxayxay, người đã từng tham gia kháng chiến chống Nhật, không lạ gì chiến thuật du kích và đã đề ra kế hoạch đàn áp phong trào khởi nghĩa. Dưới sự chỉ huy của Macxayxay, ngày 18 tháng 10 năm 1950, tại Manila, lực lượng quân đội đã bắt các ủy viên Bộ chính trị và 105 cán bộ chủ chốt của Đảng Cộng sản Philippin. Đây là một đòn giáng mạnh vào phong trào khởi nghĩa. Từ đây, lực lượng Quân đội Chính phủ nắm quyền chủ động về quân sự. Kế hoạch dập tắt phong trào khởi nghĩa được Macxayxay bắt đầu bằng việc củng cố quân đội thường trực; lực lượng cảnh sát từng giừ vai trò tích cực trong cuộc chiến với lực lượng Hukbalahap nay được đặt dưới quyền kiểm soát của quân đội. Năm 1951, với việc thành lập 28 cụm chiến đấu tiểu đoàn gồm 22,5 nghìn người, tổng quân số lục quân của Quân đội quốc gia được nâng lên 54 nghìn1 (Lachica E, Huk: Philippine Agrarian Society in Revoit. Manila. 1971, p.131). Mỗi cụm chiến đấu này là một đơn vị cơ động, được trang bị vũ khí hiện đại và có đội ngũ sĩ quan, binh sĩ được huấn luyện kỹ càng. Nòng cốt của các lực lượng này là những đơn vị đã qua chiến đấu ở Triều Tiên1 (Viện Lịch sử quân sự Bộ Quốc phòng Liên Xô, Cuộc đấu tranh vũ trang vì tự do và độc lập của các dân tộc châu Á (bản tiếng Nga), Nxb Nauka, Mátxcơva, 1984, tr.126). Các đơn vị trinh sát được huấn luyện đặc biệt để hoạt động trong điều kiện rừng núi. Ngoài lục quân, Macxayxay còn sử dụng cả không quân, hải quân, các đơn vị phòng thủ bờ biển, 8 nghìn cảnh sát, 20-30 nghìn dân phòng để đàn áp lực lượng khởi nghĩa. Với tổng quân số 100 ngậm binh lính và sĩ quan, so sánh lúc lượng giữa Quân đội Chính phủ và quân du kích là 10:12 (Pomroi U.J, Trong rừng sâu (bản tiếng Nga), Nxb Nauka, Mátxcơva, 1965, tr.105).


Bên cạnh tiềm lực trong nước, viện trợ quân sự và kinh tế của Mỹ đã góp phần nâng cao đáng kể sức mạnh của Quân đội quốc gia Philippin. Tính đến giữa năm 1950, Mỹ đã đưa vào Philippin số vũ khí, trang bị trị giá 136,5 triệu USD3 (Viện Lịch sử quân sự Bộ Quốc phòng Liên Xô, Cuộc đấu tranh vũ trang vì tự do và độc lập của các dân tộc châu Á (bản tiếng Nga), Nxb Nauka, Mátxcơva, 1984, tr.126), bao gồm tàu chiến, tàu tuần tiễu và tàu đổ bộ, máy bay hạng nhẹ T-28 và T-33, máy bay trực thăng. Tháng 6 năm 1950, Philippin được Tổng thống Mỹ Truman đưa vào khu vực "trực tiếp bị đe doạ từ Trung Quốc", do đó phần lớn trong số 250 triệu USD viện trợ tài chính năm 1951 của Mỹ cho Chính phủ Quirinô là dành cho việc thành lập, huấn luyện và trang bị 10 đơn vị cảnh sát cơ động dã chiến chống quân khởi nghĩa4 (SLPRL. Arms Trade Registers: the Arms Trade with the Third World. Stockholm, 1975. p.457).
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #76 vào lúc: 02 Tháng Mười Một, 2008, 10:28:24 am »

Từ tháng 10 năm 1950, Quân đội Chính phủ chuyển sang tấn công trên diện rộng ở miền Trung Ludông, gây thiệt hại nặng nề cho quân khởi nghĩa. Năm 1951, quân chính phủ tiến hành 14 chiến dịch trừng phạt quy mô lớn. Một trong những chiến dịch lớn nhất là chiến dịch "Thanh gươm" tiến hành tháng 2 năm 1951, Macxayxay đã huy động hàng nghìn quân với sự chi viện hoả lực pháo binh và không quân, trong đó có cả một số đơn vị quân Mỹ. Ý đồ tác chiến chiến dịch là sử dụng lực lượng hình thành cánh cung bao vây các khu vực cơ bản của quân du kích, đẩy họ vào rừng núi, sau đó từ hai hướng nam và bắc giáng những đòn quyết định tiêu diệt quân khởi nghĩa. Mặc dù quân Chính phủ không thực hiện được đầy đủ ý đồ đó song lực lượng cơ bản của Quân giải phóng buộc phải rút vào rừng núi sau khi bị tổn thất nặng nề. Kết quả trong năm 1951, quân Chính phủ đã tiêu diệt khoảng 2 nghìn quân du kích và cũng khoảng chừng ấy bị bắt làm tù binh1 (Lachica E., Opcid. p.,131). Quân giải phóng chuyển sang chiến thuật phòng ngự.


Chiến dịch tiến công có quy mô lớn nhất của quân Chính phủ đánh vào Quân giải phóng là "chiến dịch Bốn bông hồng" (tháng 4 năm 1952). Kết quả Quân giải phóng bị tổn thất nặng; nhiều nhà lãnh đạo và chỉ huy bị bắt; nghĩa quân đứng trước nguy cơ bị tiêu diệt hoàn toàn. Thời kỳ này, quân Chính phủ vận dụng nhiều biện pháp truy kích và tiêu diệt du kích quân như đóng giả làm quân du kích, tuần tiễu, lùng sục, giăng bẫy, phục kích. Quân giải phóng tỏ rõ không đủ sức chống đỡ trước sức tiến công của quân chính quy của Chính phủ được trang bị vũ khí hiện đại. Trong hàng ngũ chỉ huy của Quân giải phóng không có lấy một người cầm quân chuyên nghiệp; nhiều chiến sĩ Huk thậm chí không biết sử dụng hoả khí. Năm 1953, cuộc khởi nghĩa bị dập tắt; một số nhóm nhỏ các chiến binh Huk còn lại bị đánh bật vào rừng núi các tỉnh miền Trung Ludông nhưng bị chia cắt, không thể liên hệ được với nhau.


Sau khi dập tắt phong trào khởi nghĩa nông dân, nhiệm vụ của Quân đội Philippin được chuyển từ đàn áp phong trào nông dân và chống nổi dậy sang phòng thủ, bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ. Thêm vào đó, những lo ngại hoang tưởng của Mỹ về các cuộc nổi dậy của lực lượng cộng sản, đặc biệt là trước những diễn biến ở Trung Quốc, Triều Tiên và Đông Âu... đã thúc đẩy Mỹ khẩn trương giúp Chính phủ Philippin xây dựng quân đội theo hướng hiện đại hoá.


Theo học thuyết quân sự những năm 50 thế kỷ XX của Quân đội Mỹ, không quân có vai trò quyết định trên chiến trường và chiếm ưu thế so với các quân chủng khác. Chính vì vậy, trong khi giúp Philippin hiện đại hoá quân đội, Mỹ đặc biệt chú trọng đến lực lượng không quân.


Từ năm 1954, không quân Philippin bắt đầu chuyển sang sử dụng máy bay phản lực. Trong chuyến đi thăm các cơ sở không quân ở Mỹ (1954), Chuẩn tướng Pêlagiô Crút (Pelagio Cruz) đã đề xuất với các quan chức không quân Mỹ về việc hiện đại hoá không quân Philippin. Năm 1955, chương trình được Mỹ phê chuẩn và năm sau (1956), Đại tá Gôđốpređô Giulianô, một trong những người anh hùng thuộc phi đội tiêm kích số 6 trong Chiến tranh thế giới lần thứ hai, các thiếu tá Pếttana, Giôde Racuđô và Đại úy Giôde Gin đã đưa những chiếc máy bay phản lực huấn luyện T-33 đợt đầu từ Nhật về căn cứ Các vì căn cứ Ba sa gần đó cần được Mỹ giúp thêm kinh phí cải tạo mới có thể tiếp nhận được máy bay mới. Trên thực tế, trong gần ba thập kỷ sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai, lực lượng không quân Philippin luôn đứng đầu trong số các lực lượng không quân của các nước ở khu vực Đông Nam Á.


Không quân Philippin được chú trọng tăng cường phát triển cả về trang bị vũ khí và tổ chức biên chế. Đơn vị chiến thuật cơ bản của không quân Philippín là các phi đội được trang bị tương đối hiện đại để có thể hoạt động độc lập trong các vùng chiến sự. Năm 1958, không quân Philippin có thêm một số phi đội tiêm kích F-86F "Sabrejet" từ thời chiến tranh Triều Tiên. Chỉ sau vài lần bay tập và tham gia diễn tập cùng với Tập đoàn không quân Mỹ số 13 ở căn cứ Clác, các phi công người Philippin đã có thể sẵn sàng làm nhiệm vụ chiến đấu. Sự ra đời của các phi đội yểm trợ đường không, tiền thân của lực lượng yểm trợ đường không hỗn hợp trong các thập kỷ sau, đánh dấu bước phát triển mới trong quá trình xây dựng và hiện đại hoá Quân đội Philippin nói chung và của lực lượng không quân nói riêng.


Trong những năm 60 của thế kỷ XX, lực lượng không quân Philippin đã tiến những bước dài cả về vũ khí, trang bị kỹ thuật và tổ chức lực lượng. Ngoài hệ thống ra đa cảnh giới vùng trời trên toàn bộ quần đảo, không quân Philippin còn có thêm một lực lượng máy bay phản lực siêu âm F-5A/B "Freedom Fighter” trang bị tên lửa AIM-9B. Tuy nhiên, từ máy bay, trang bị kỹ thuật, nhiên liệu cho đến quần áo, mũ bay của phi công đều do Mỹ cung cấp. Ngay cả nhân viên bảo dưỡng cũng do người Mỹ huấn luyện. Do đó, có thể nói lực lượng không quân Philippin trong thời gian này là "không quân Mỹ do người Philippin điều hành". Năm 1962, Tổng thư ký Liên hợp quốc Đắc Hamơcgiôn đề nghị Chính phủ Philippin điều một phi đội máy bay chiến thuật F-86 sang Cônggô làm nhiệm vụ chống lực lượng ly khai ở nước này. Đầu năm 1963, phi đội Linbas của Philippin đã cùng các đơn vị tiêm kích của Thuỵ Điển và Iran kiểm soát vùng trời tỉnh ly khai của Cônggô. Phi đội Linbas đã được Liên hợp quốc tặng huân chương.


Cùng năm đó, lực lượng không quân Philippin đã thực hiện xuất sắc một nhiệm vụ nhân đạo ở tỉnh Tuylíc trên đảo Bai của Inđônêxia; giúp nhân dân ở đây khắc phục hậu quả do hoạt động của núi lửa Gunung Agung. Các nhân viên quân y của không quân Philippin đã cùng một nhóm bác sĩ và y tá của Bộ Y tế tham gia cứu chữa cho hàng nghìn người ở một bệnh viện dã chiến. Bảy thiếc C-47 của không quân Philippin chở nhân viên y tế, thuốc men và lương thực cứu trợ tới Tuylíc.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #77 vào lúc: 02 Tháng Mười Một, 2008, 10:28:59 am »

Là một quốc gia hải đảo, Chính phủ Philippin rất chú trọng phát triển hải quân, bao gồm lực lượng tàu tiến công, lực lượng phục vụ, lực lượng sẵn sàng chiến đấu, không quân của hải quân, lực lượng tác chiến đặc biệt và hải quân đánh bộ.


Lực lượng tàu tiến công là một trong những thành phần lực lượng được hình thành sớm nhất của hải quân Philippin. Lúc mới thành lập (9.5.1955), lực lượng này còn rất khiêm tốn với 20 chiếc xuồng làm nhiệm vụ chống buôn lậu và được gọi là "đơn vị xuồng nhỏ". Từ đầu những năm 60 của thế kỷ XX, số lượng tàu, xuồng bắt đầu được tăng cường và đến ngày 1 tháng 3 năm 1988 được đổi thành lực lượng tàu tiến công làm nhiệm vụ tác chiến ven biển và bảo đảm an ninh. Năm 1960, lực lượng phục vụ được thành lập với nhiệm vụ chủ yếu là chuẩn bị các tàu trợ thủ và đổ bộ cho hạm đội.


Lực lượng sẵn sàng chiến đấu tuy ra đời muộn hơn (16.11.1964) song lại có vai trò rất quan trọng; đây là lực lượng chủ yếu kiểm soát và huấn luyện các hoạt động tác chiến trên biển đối với tất cả các đơn vị được phối thuộc; đồng thời vạch kế hoạch phát triển, thử nghiệm và đánh giá các quan điểm chiến thuật hải quân.


Không quân của hải quân Philippin được xây dựng trên cơ sở 2 chiếc máy bay PT-13 và L-5 do Mỹ chuyển giao từ năm 1947. Đến năm 1951, hai chiếc máy bay này được cải tạo thành thủy phi cơ để sử dụng cho các hoạt động chống buôn lậu và ngày 16 tháng 9 năm 1975, Quân đội Philippin chính thức thành lập binh chủng không quân của hải quân.


Lực lượng tác chiến đặc biệt là lực lượng tinh nhuệ nhất của hải quân Philippin; được sử dụng trong các hoạt động tác chiến đặc biệt trên biển, trên không và trên bộ (SEAL) như trinh sát, cận chiến, tình báo, đến các hoạt động ngầm dưới nước để yểm trợ cho các hoạt động tác chiến trên biển nói chung.


Hải quân đánh bộ được coi là lực lượng mũi nhọn của hải quân Philippin; được xây dựng đáp ứng yêu cầu cơ động cao, hoả lực mạnh để đối phó với các lực lượng ly khai và các phần tử hoạt động bất hợp pháp dọc bờ biển. Từ chỗ chỉ là một đơn vị cỡ đại đội với 212 binh sĩ, ngày nay hải quân đánh bộ Philippin đã phát triển thành một binh chủng mạnh.


Để tiến hành các hoạt động bảo vệ an ninh vùng biển quốc gia và các hoạt động khác như phục vụ hậu cần, phát triển cộng đồng trong phạm vi khu vực đảm nhiệm, hải quân Philippin được chia thành các bộ tư lệnh tác chiến trên biển phụ trách lực lượng các khu vực, bao gồm Lực lượng hải quân phía Bắc, Lực lượng hải quân Trung tâm, Lực lượng hải quân phía Tây và Lực lượng hải quân phía Nam.


Trong những năm 60 của thế kỷ XX, một trong những hoạt động quân sự nổi bật của Quân đội Philippin là tham gia vào cuộc chiến tranh Việt Nam. Là thành viên của Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á (SEATO), đồng minh thân cận của Mỹ và dưới áp lực của Mỹ, Philippin dù không muốn vẫn phải chia sẻ trách nhiệm với Mỹ trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Ngày 20 tháng 7 năm 1964, Quốc hội Philippin thông qua đạo luật cho phép tổng thống nước này tăng viện trợ kinh tế và kỹ thuật cho Việt Nam Cộng hoà. Đạo luật này đã được thực hiện thông qua việc cử sang Nam Việt Nam lực lượng đặc nhiệm, giới hạn nhiệm vụ vào việc thi hành công tác dân sự vụ bao gồm một tiểu đoàn công binh xây dựng, các nhân viên y tế và chuyên gia phát triển nông thôn, 1 tiểu đoàn an ninh, 1 pháo đội dã chiến cùng với các thành phần hậu cần và sở chỉ huy. Lực lượng đặc nhiệm này lên đến con số 2.061 người (năm 1966). Ngoài ra, Mỹ còn sử dụng các căn cứ quân sự ở Philíppin để tiến hành cuộc chiến tranh ở Việt Nam.


Để đổi lại sự trợ giúp của Philippin, ngoài việc cung cấp đầy đủ trang thiết bị đầy đủ cho lực lượng Philippin ở Nam Việt Nam, Mỹ còn phải đưa ra một chương trình viện trợ quân sự lớn cho quân đội nước này, trong đó có khoản cung cấp cho Phihppin 4 tàu tuần tra trên sông phục vụ hoạt động chống buôn lậu của Quân đội Philippin, súng trường M.14 và súng máy cho một tiểu đoàn cảnh sát, trang bị đủ cho 3 tiểu đoàn công binh. Số viện trợ này là phần bổ sung vào lời cam kết trước đây của Mỹ đối với Philippin gồm 1 tàu khu trục hộ tống và một số tàu tuần tra, đồng thời phải cung cấp thêm 1 phi đội F-5 và một số trực thăng cho lực lượng không quân Philippin. Trong thời gian này, Philippin đang được hưởng khoản viện trợ quân sự hàng năm gồm 17 triệu USD thiết bị công binh và khoảng 1,5 triệu USD trợ giúp do Mỹ cung cấp. Philippin dự kiến cuối năm 1967 sẽ thay quân ở Việt Nam, khoảng 600 sĩ quan, binh sĩ sẽ đến Nam Việt Nam vào ngày 20 tháng 9 năm 1967. Tuy nhiên, kế hoạch chưa kịp thực hiện thì những lý do về tài chính, an ninh, chính trị ở trong nước cũng như tình thế cuộc chiến tranh của Mỹ ở Nam Việt Nam đã khiến cho Philippin không những không thể đưa quân sang thêm mà phải rút quân dần về nước. Kế hoạch rút quân được thực hiện từ ngày 25 tháng 11 năm 1969 và kết thúc vào ngày 15 tháng 2 năm 1970.


Ngoài các hoạt động quân sự, đầu những năm 60 của thế kỷ trước, Quân đội Philippin còn được huy động tham gia các chương trình xã hội - kinh tế của đất nước. Giữa những năm sáu mươi, Quân đội Philippin thành lập các trung tâm hành động dân vận nhằm giúp các cộng đồng dân cư ở gần các căn cứ không quân thực hiện các dự án từ phát triển sản xuất lương thực đến xoá nạn mù chữ cho người lớn. Ngoài ra, tất cả các đơn vị chiến thuật của lực lượng không quân đều tham gia các chương trình xã hội nhằm tranh thủ "trái tim và khối óc" dân chúng.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #78 vào lúc: 02 Tháng Mười Một, 2008, 10:30:21 am »

Từ khi Maccôt lên cầm quyền (1965), Philippin cũng bắt đầu lâm vào cuộc khủng hoảng kinh tế-xã hội. Mọi nỗ lực cải cách của chính quyền trong lĩnh vực công nghiệp và nông nghiệp đều không đem lại kết quả mà chỉ làm cho sự phân hoá giàu nghèo ngày càng trở nên rõ rệt, dẫn đến một cao trào đấu tranh mới chống chính quyền. Trong bối cảnh đó, Đảng Cộng sản do Hôxê Maria Xixon đứng đầu rnuốn thổi một luồng sinh khí mới cho phong trào du kích tưởng như đã nguội tắt bằng việc tổ chức ra Quân đội nhân dân mới (năm 1969). Quân đội nhân dân mới (NPA) triển khai đấu tranh vũ trang ở miền Trung Ludông và ở nhiều nới khác chống chính phủ. Ở miền Nam, lực lượng Hồi giáo cực đoan cũng nổi dậy chống chính phủ do làn sóng di cư từ miền Bắc, chủ yếu là các tín đồ Thiên chúa giáo đến các vùng đất truyền thống của người Hồi giáo ở phương Nam. Năm 1968, người Hồi giáo thành lập Phong trào độc lập và năm 1969 họ tổ chức ra Mặt trận giải phóng dân tộc Môrô (MNLF) để lãnh đạo cuộc đấu tranh vũ trang chống chính phủ.


Trước tình hình khủng hoảng toàn diện của đất nước, ngày 21 tháng 9 năm 1972, Tổng thống F.Maccôt tiến hành cuộc đảo chính quân sự và thiết lập chế độ độc tài với lý do không thể giải quyết các vấn đề chính trị và kinh tế xã hội nếu như tổng thống không được toàn quyền hành động. Sau đảo chính, Maccôt tuyên bố thiết quân luật, đồng thời bắt giam nhiều lãnh tụ của các đảng đối lập; nhiều tờ báo bị cấm, những tờ báo còn được hoạt động phải đặt dưới sự kiểm soát của chính phủ. Lúc này, quân đội trở thành chỗ dựa chủ yếu của chính phủ và được tăng cường đầu tư. Ngân sách quốc phòng được gia tăng với mức độ chưa từng thấy, từ 800 triệu pêxô năm 1972 lên 4 tỷ vào năm 1986 và cùng với tăng ngân sách, quân số cũng được tăng lên gần gấp đôi, từ 60 nghìn lên 113 nghìn trong cùng thời gian trên1 (Đ.V. Mô-xia-cốp, V.A. Chiu-rin, Lịch sử Đông Nam Á, Sđd, tr.321).


Cũng như Quân đội Inđônêxia dưới thời Xuhacto, các sĩ quan và tướng lĩnh cao cấp được phái về các khu vực để kiểm soát hoạt động của chính quyền địa phương; được cài vào các bộ, các ngành để giám sát việc thực hiện các quyết định của nhà độc tài. Song, giới quân sự Philippin đã không kiểm soát được toàn bộ tình hình đất nước. Mặc dù năm 1981, Maccôt đã bãi bỏ thiết quân luật và phóng thích các đối thủ chính trị bị ông bắt giam năm 1972, song tình hình vẫn không được ổn định. Nạn tham nhũng tràn lan, đời sống khó khăn của đông đảo các tầng lớp nhân dân là những nguyên nhân chủ yếu gây nên làn sóng đấu tranh của các lực lượng đối lập đòi trở lại các chuẩn mực dân chủ.


Mặc dù Quân đội Chính phủ đạt được một số kết quả nhất định trong việc trấn áp những người cộng sản, bắt giam Xixon, song quân số của NPA vẫn gia tăng, gấp đôi so với thời kỳ đảo chính. Phong trào Hồi giáo với sự ủng hộ của nhiều nước Ả rập đã được củng cố cả về lực lượng và tổ chức Nghĩa quân Hồi giáo thường xuyên xung đột với quân Chính phủ làm cho tình hình ở Minđanao và trong cả nước hết sức căng thẳng.


Sau vụ ám sát Benhigô Aquinô, một trong những đối thủ chính trị chính của Maccôt, tình thế suy sụp của chế độ độc tài càng trở nên rõ nét. Với hy vọng củng cố quyền hành chính thống của mình, Maccôt tuyên bố tiến hành tổng tuyển cử trong cả nước. Song, cuộc bầu cử đầu năm 1986 đã đem lại thắng lợi cho các địch thủ chính trị của Maccôt do quả phụ của Benhigô Aquinô, bà Aquinô Coraxôn đứng đầu.


Dưới thời Aquinô Coraxôn (1986-1992), giới quân sự thường xuyên biểu lộ sự bất bình với chính phủ của Tổng thống Aquinô Coraxôn bởi họ bị đẩy xa khỏi quyền lực. Phái quân sự cho rằng phái chính trị cầm quyền đã phản bội họ và "quá nhân nhượng" đối với cộng sản; do vậy, họ đã mưu toan tiến hành hàng loạt cuộc bạo loạn nhằm vào chính phủ của Tổng thống Aquinô, trong đó lớn nhất là các cuộc nổi dậy năm 1987 và 1989 dưới sự chỉ huy của Đại tá Hônaxan và Thiếu tá đanilô Atiênza. Tuy nhiên, lực lượng nổi dậy không có được sự ủng hộ của cả công chúng và quân đội, do đó không thể lật đổ được chính quyền của Tổng thống Aqumô. Mặc dù vậy, các cuộc đảo chính hụt đã gây tổn thất nặng nề cho lực lượng vũ trang Phihppin, đặc biệt đối với không quân. Chẳng hạn, trong cuộc nổi dậy ở Xănglây Phinđơ ngày 2 tháng 12 năm 1989 do thiếu tá đam lô Atiênza chỉ huy, 7 chiếc T-28, 1 trực thăng Sikorsky đã bị bắn rơi cùng với một kho xăng bị phá hủy.


Sau khi Phiđen Ramốt lên cầm quyền (1992), ông bắt đầu đàm phán với Mặt trận dân tộc dân chủ do Đảng Cộng sản lãnh đạo, đề nghị hợp pháp hoá Đảng Cộng sản và tuyên bố ân xá cho những người đã từng lãnh đạo khởi nghĩa. Những đề nghị này đã gây nên sự bất đồng nghiêm trọng trong hàng ngũ những người cộng sản, dẫn đến sự chia rẽ trong đảng; nhiều tổ chức xã hội cũng rút khỏi Mặt trận dân tộc dân chủ. Một mặt tiến hành đàm phán, mặt khác Ra mốt cho quân đội tăng cường các chiến dịch tiến công các căn cứ cơ bản của những người cộng sản. Năm 1993, quân Chính phủ chiếm được đại bản doanh của Đảng Cộng sản ở miền Trung Ludông và bắt nhiều nhà lãnh đạo của phong trào du kích.


Sự chia rẽ về tổ chức, những thất bại trên mặt trận đấu tranh vũ trang đã làm cho tinh thần và lực lượng của NPA suy sụp. Đến năm 1995, quân số của NPA chỉ còn không quá 4-5 nghìn người.


Song song với việc đàm phán với lực lượng cộng sản, năm 1992 Chính phủ cũng tiến hành đàm phán với tổ chức lớn nhất của lực lượng Hồi giáo chống đối là Mặt trận giải phóng dân tộc Môrô, lúc này lực lượng đã có tới 20 nghìn người1 (Các số liệu ở trang này dẫn theo: Đ.V. Mô-xia-cốp, V.A. Chiu-rin, Lịch sử Đông Nam Á, Sđd, tr.383). Tháng 1 năm 1994, hai bên ký thoả thuận ngừng bắn và năm 1996, lãnh tụ Mặt trận giải phóng dân tộc Môrô Nu Mixuari ký với Phiđen Ra mốt bản hoà ước trao quyền tự trị cho 4 tỉnh trên đảo Minđanao, nơi người Mô rô theo đạo Hồi chiếm đa số. Riêng với Mặt trận Hồi giáo giải phóng dân tộc Mô rô phải đến năm 1997 Chính phủ mới ký được hoà ước, theo đó 8 nghìn tay súng Hồi giáo đã nộp vũ khí. Tuy chưa đạt được thoả thuận ngừng bắn với tất cả các nhóm Hồi giáo cực đoan đã tách ra khỏi Mặt trận giải phóng dân tộc Môrô, song đến giữa thập niên chín mươi thế kỷ XX, tình hình chính trị ở miền Nam Phihppin đã tương đối ổn định; ngoại trừ tổ chức Abu Xayap (Abu Sayyaf) vẫn tiếp tục hoạt động khủng bố và bắt giữ con tin.


Thành công lớn nhất của Phiđen Ramốt là đã giải quyết tốt vấn đề lực lượng quân đội chống đối thể chế chính trị được thiết lập từ năm 1986. Cuối tháng 8 năm 1994, sau nhiều lần đàm phán, chính quyền Ramốt đã thuyết phục được đa số binh lính và sĩ quan chống đối hạ vũ khí và đầu hàng quân chính phủ. Một bộ phận đáng kể trong số họ được khôi phục địa vị và trả lương cho cả thời gian họ đứng trong hàng ngũ chống đối. Chính phủ đã ký thoả thuận với những sĩ quan quân đội đã lập ra cái gọi là Liên minh cách mạng dân tộc và thuyết phục họ hoà nhập tổ chức của mình vào đời sống chính trị bằng cách tham gia chiến dịch bầu cử năm 1995.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #79 vào lúc: 02 Tháng Mười Một, 2008, 10:33:03 am »

Về quan hệ quân sự đối ngoại, từ năm 1991, Phihppin bắt đầu giảm dần sự phụ thuộc vào Mỹ do Thượng viện Philippin ngày 16 tháng 9 năm 1991 đã bỏ phiếu bác bỏ Hiệp định về căn cứ quân sự giữa Philippin và Mỹ. Vào thời điểm này, do chính sách hoà hoãn của Chính phủ với các lực lượng nổi dậy, đồng thời nền kinh tế có những cải thiện đáng kể đã cho phép Chính phủ có thể tập trung nhiều hơn vào nhiệm vụ xây dựng quân đội. Mặt khác, từ thập niên chín mươi, do những thay đổi chính trị - quân sự trên quy mô toàn cầu và khu vực châu Á - Thái Bình Dương trong nước đã khiến Chính phủ phải tăng cường ngân sách cho các lực lượng vũ trang. So với ngân sách quốc phòng một số nước trong khu vực, ngân sách quốc phòng năm 1995 của Philippin còn rất thấp, chỉ có 26,1 tỷ pê xô (gần 1 tỷ USD). Do vậy, năm 1996, Chính phủ Philippin đã đề ra kế hoạch hiện đại hoá quân đội (hoàn thiện vào năm 2010) với tổng chi phí khoảng 330 tỷ pê xô, tương đương 15 tỷ USD. Với khoản ngân sách này (không nằm trong ngân sách quốc phòng hàng năm), Quân đội Philippin dự tính sẽ mua sắm vũ khí trang bị mới, nâng cấp một số vũ khí hiện có và cải thiện các cơ sở hạ tầng trong thời kỳ 15 năm. Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng tài chính-tiền tệ ở châu Á năm 1997, chiến dịch tấn công của các nhóm Hồi giáo ly khai ở miền Nam cũng như cuộc tấn công của Mỹ vào Apganixtan làm cho chương trình hiện đại hóa khó thực hiện được theo đúng kế hoạch (đến năm 2001 mới chi khoảng 7 tỷ USD).


Trong chương trình hiện đại hóa quân đội, chính quyền Philippin tiếp tục dành ưu tiên phát triển lực lượng hải quân và không quân theo hướng điều chỉnh tổ chức và quân số, giảm quân thường trực, tăng cường quân dự bị; phát triển học thuyết quân sự nhằm hướng tới mục tiêu sẵn sàng phản ứng tự vệ; đẩy mạnh chương trình huấn luyện vào giáo dục quân sự theo hướng nâng cao kỹ năng và đào tạo các quân nhân lành nghề (trong đó có đội ngũ các chuyên gia); đồng thời xây dựng hạ tầng cơ sở thích ứng với những nội dung cơ bản như xây dựng hệ thống thông tin hiện đại, các căn cứ quân sự, các cơ sở hạ tầng về hậu cần, kỹ thuật... Đặc biệt, Philippin rất chú trọng xây dựng các căn cứ hải quân không chỉ nhằm mục đích bảo vệ giao thông đường biển, bảo đảm cho các hoạt động của hải quân mà còn là yếu tố kích thích các hoạt động kinh tế của quốc gia.


Để hiện đại hoá vũ khí trang bị kỹ thuật, từ năm 1991 đến năm 2001, Philippin đã chi khoảng 6 tỷ USD. Hướng mua sắm chủ yếu là của Mỹ, Trung Quốc, Nga và các công ty khác của nước ngoài. Chương trình mua sắm nói trên được soạn thảo dựa trên yêu cầu về an ninh quốc phòng trong bối cảnh chính trị - quân sự mới ở khu vực, trong đó có vấn đề tiêu chuẩn hoá và hợp tác quân sự giữa các nước trong khối ASEAN.


Theo hướng mở rộng hợp tác quân sự với các nước (ngoài Mỹ), ngày 14 tháng 9 năm 1994, Philippin đã ký với Pháp thoả thuận hợp tác quân sự giữa hai nước, mở đường cho Pháp giúp đỡ hiện đại hoá quân đội nước này theo chương trình 15 năm. Nội dung hợp tác bao gồm huấn luyện kỹ thuật quân sự, chuyển giao công nghệ, các cuộc tập trận chung, mua sắm trang bị kỹ thuật, trao đổi các chuyên gia quân sự và đào tạo học viên quân sự. Ngoài ra, Philippin cũng nhận được sự trợ giúp từ Cộng hoà Liên bang Đức.


Tuy nhiên, Philippin vẫn duy trì quan hệ quân sự truyền thống với Mỹ và đó là hướng hợp tác cơ bản. Viện trợ quân sự của Mỹ cho Philippin đã tăng từ 1,9 triệu USD năm 2001 lên đến 400 triệu USD năm 20041 (Tạp chí Quốc phòng Malaixia "ADJ" 10.2004). Philippin tiếp tục mua một số máy bay mới để thay thế máy bay F-5 A/B đã có trong trang bị của không quân Philippin từ hơn 30 năm nay. Sức mạnh của hải quân Philippin cũng tiếp tục được tăng cường bằng việc mua sắm thêm một số tàu tuần tra cỡ nhỏ mang tên lửa của Pháp, còn Mỹ sẽ giúp họ thiết kế pháo hạm cỡ nhỏ. Các công ty đóng tàu của Cộng hoà Liên bang Đức sẽ giúp Philippin đóng tàu nổi và sửa chữa tàu tại chỗ...


Về khả năng tự đảm bảo trang thiết bị kỹ thuật trong nước, Philippin có 4 cơ sở được coi là then chốt của nềil công nghiệp quốc phòng nước này, gồm:


Công ty các hệ thống chính xác chuyên về công nghệ và nghiên cứu đạn dược. Công ty này bắt đầu hoạt động từ năm 1997, có nhiệm vụ sản xuất các mặt hàng chất lượng cao do Philippín tự thiết kế như ngòi nổ cho súng cối 60mm, 81mm, lựu pháo RG-3, súng cối FMS2-A2 và FM-A2, rốc két FRK3, bom nhiên liệu không khí CB-4, đạn  GL-8. Công ty còn làm nhiệm vụ cải tiến, nâng cấp vũ khí 1 trang bị nhằm đáp ứng nhu cầu của hoạt động quân sự.


Công ty phát triển hàng không vũ trụ (PAD) thành lập năm 1973, vẫn là xí nghiệp của nhà nước nhằm phát triển ngành công nghiệp hàng không Philippin với ba yêu cầu: tự lập, an ninh quốc gia, chuyển giao công nghệ. Hướng hoạt động chính là chế tạo và lắp ráp máy bay và phụ tùng, đồng thời là trung tâm dịch vụ máy bay lên thẳng BO-105 của công ty BN Islander. Hiện nay, PAD có khả năng sản xuất và lắp ráp máy bay theo đơn đặt hàng của Đức, Anh; bảo dưỡng kỹ thuật và sửa chữa cho một số công ty của Ôxtrâylia, Italia. Năm 1989, PAD hợp tác với một công ty của Italia lắp ráp máy bay phản lực huấn luyện và máy bay chiến đấu S-211, máy bay SF-260 cho không quân Philippin. Ngoài ra, PAD còn hợp tác với Ixraen chế tạo máy bay KFIR, hợp tác với Mỹ cải tiến máy bay F-5 A/B,...1 (Quân đội và trang bị các nước ASEAN... Sđd, tr.14).


Công ty công nghiệp công nghệ hàng không thành lập năm 1989 có nhiệm vụ thiết kế, phát triển và chế tạo hệ thống trang bị pháo cho máy bay S-211; đồng thời cung cấp cấu kiện composite và thực hiện các dịch vụ bảo dưỡng máy bay.


Công ty GKN Defense chuyên thực hiện các dịch vụ kỹ thuật cho lục quân Philippin như chế tạo, sửa chữa, bảo dưỡng xe máy bọc thép, chuyển giao công nghệ. Hoạt động của công ty được khởi đầu bằng sự kiện Quân đội Philippin chọn xe bọc thép SIMBA để chở quân trong các hoạt động bảo đảm an ninh nội địa. GKN đã có các liên kết với Công ty công nghệ xe bọc thép liên doanh châu Á chế tạo và xuất khẩu các phương tiện kỹ thuật tăng thiết giáp.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM