Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 01:32:01 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Điện Biên Phủ cuộc đối đầu lịch sử mà nước Mỹ muốn quên đi  (Đọc 53945 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #20 vào lúc: 06 Tháng Chín, 2009, 09:40:40 am »


Cuối tháng 12, 3 chiếc xe tăng M-24 đầu tiên của Mỹ được chở tới Điện Biên Phủ bằng cầu hàng không để sẵn sàng chiến đấu. Chúng được tháo rời thành 2 phần - khung gầm và tháp pháo. Một tiểu đội gồm 10 chiếc M-24 sớm được hình thành. Đại tá De Castries đã có được những gì mà cấp trên hứa cho, mặc dù phần đất tác chiến của ông giờ đang bị co lại từng ngày.

Điện Biên Phủ đang dần trở thành một thành phố quân sự với những đặc điểm nguyên tắc và thủ tục riêng của nó. Đó là một công trường xây dựng khổng lồ khi các cứ điểm có tầm quan trọng xung yếu được bố trí và hình thành. Phần lớn các cứ điểm này nằm ở các đồi thấp trong thung lũng. Khi thời tiết tốt, các hoạt động trên công trường tạo ra những lớp bụi sạn lửng lơ trong không trung, khi gió to sẽ đẩy những bụi sạn đó vào các trang thiết bị cơ khí và làm tắc các phần động cơ. Những trận mưa bất chợt tràn xuống toàn đất sét, tạo thành bùn nhoét và biến những đường đi thành đường trượt, làm nhốn nháo các hoạt động và gây ra sự lo lắng cho các chỉ huy về các trận mưa của tháng 2 và 3. Các công binh tập trung vào những việc được ưu tiên rõ ràng như bốt chỉ huy trung tâm, bệnh viện, trung tâm thông tin liên lạc và đơn vị lọc nước được xây dựng ngầm trong các hầm chống bằng gỗ và các bao cát đắp xung quanh. Mỗi tiểu đoàn bộ binh làm việc trong các hầm hào đều do công binh hướng dẫn và ủng hộ, nhiều công việc khó dành cho Việt Minh bị bắt (gọi là PIM) đảm nhiệm. PIM, chủ yếu là những người bị bắt từ các chiến dịch truớc, cho dù họ thuộc về lực lượng lao động tập trung hay lực lượng dư thừa của đơn vị đã bắt họ, đều thể hiện một sự thống nhất về mối quan hệ con người trong thời chiến. Họ xuất hiện để xoá bỏ học thuyết biện chứng của các cán bộ cộng sản đó là chấp nhận bản sắc của riêng họ và một nguyện vọng được sống. Công việc thường lâu dài và nguy hiểm nhưng PIM vẫn tồn tại. Một số phân đội PIM sống lâu cùng với một đơn vị Pháp nên gần như đã trở thành một phần quân của Pháp. Nhiều người được biết đến với cái tên của các sĩ quan và hạ sĩ quan người Pháp qua những cuộc hành quân dài ngày và những cuộc đụng độ đẫm máu. Một số bộ đội Việt Minh trước đây được giao quyền hạn không chính thức trong cộng đồng PIM, một cộng đồng có vai trò quan trọng trong trận đánh sắp tới.

Các sĩ quan công binh phải nín thở mỗi khi các đội tuần tra và các chuyến bay đưa binh lính chiến đấu hoàn thành nhiệm vụ ra ngoài, điều này đã làm chậm trễ công việc xây dựng đang cấp bách. Vật liệu xây dựng tới chậm và còn thiếu nhiều so với nhu cầu của quân đồn trú. Một số đơn vị vừa không có kỹ thuật lại vừa không có kinh nghiệm vẫn phải trưng dụng. Hầu hết các binh lính này từ lâu đã có được sự ưu tiên của hoả lực và sự yểm trợ của không quân trong những vụ đụng độ với Việt Minh nên rất ít trận bị lộ. Công việc triển khai vũ khí và các đơn vị chiến đấu ở Điện Biên Phủ có xu hướng tạo ra một cảm giác giả về sự an toàn.

Pierre Schoendoerffer, một nhà quay phim quân đội trẻ, người đã tới Điện Biên Phủ hồi đầu tháng 12 bị choáng ngợp bởi quang cảnh của những công sự. Anh ta tự nói: “Thật không thể tưởng tượng Việt Minh lại có thể tiến đánh ở một nơi như thế này”. Nhưng một số cựu chiến binh ngay lập tức lại gạt bỏ ý tưởng lạc quan của anh ta, chỉ ra những yếu điểm trong các khu phòng thủ và mô tả Điện Biên Phủ như một sự sắp đặt không ngẫu nhiên. Sau này, Schoendoerffer viết: “Chúng tôi phải phát quang mặt đất, đào hố, đào rồi lại đào. Chắc chắn rất mệt mỏi: Chúng tôi đã đào rất nhiều ở Hoà Bình năm 1951, ở Nà Sản, Sầm Nưa, Lai Châu năm 1952 và giờ đây chúng tôi lại phải tiếp tục đào”.

Còn những chiến sĩ già lại chẳng có những lo lắng như vậy. Trung sĩ Bleyer của đội Lê dương được lệnh làm lễ rửa tội cho trung đội của anh ta ở cứ điểm Béatrice trên một dãy đồi phía đông bắc của Điện Biên Phủ.

Chúng tôi đi làm ngay, phát bụi rậm, chặt cây và dụng lán, mỗi trung đội đều tích cực tranh đua với nhau, đặc biệt là với lính Lê dương. Tôi chỉ có thể động viên binh lính của mình và với chút ít kinh nghiệm trong chiến dịch của người Nga, tôi biết pháo có thể gây ra nhiều thiệt hại. Lính Lê dương của tôi cũng nhận thức rất rõ về những mạo hiểm mà chúng tôi đang làm.

Một số đơn vị Lê dương sử dụng súng phun lửa để đốt bụi rậm làm mùi dầu cháy bay vào các công sự. Khi các hầm trú ẩn được đào xong, công việc lao động lại tiếp tục. Những hàng rào thép gai mở rộng được dựng lên để bẻ gãy các đợt tấn công và dồn những kẻ tấn công vào các vùng hoả lực đã chuẩn bị trước. Mìn, bẫy sát thương được cài đặt trước, bom napan vào vị trí sẵn sàng phát nổ khi đối phương tấn công.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #21 vào lúc: 06 Tháng Chín, 2009, 09:45:55 am »


Ngày 20 tháng 12, Tổ cơ động số 9 (GM-9) tới Điện Biên Phủ. GM-9 gồm 2 tiểu đoàn thuộc Bán lữ đoàn Lê dương số 13 (Tiểu đoàn 1 và 3) và một tiểu đoàn từ Trung đoàn Algeri số 3. Sự có mặt của Bán lữ đoàn Lê dương số 13 là một sự kiện giống với sự có mặt của đội quân Napoleon trên chiến trường trước đây. Cho dù, lính dù của Tiểu đoàn dù Lê dương số 1 vẫn trong thung lũng, thì sự có mặt của Bán lữ đoàn 13 này cũng khẳng định lại sự vững chắc của pháo đài ở vùng rừng núi. Quân Lê dương đã trở thành một phần của lịch sử quân sự Đông Dương kể từ cuối những năm 1800. Quân Lê dương tập trung chủ yếu vào cuộc chinh phục thuộc địa Đông Dương của Pháp và tham gia vào các chiến dịch thời kỳ đầu chống lại nạn hải tặc ở Bắc Bộ. Trong đó có chiến dịch bao vây Tuyên Quang năm 1884, khi 2 đại đội Lê dương cầm cự trong 4 tháng chống lại một lực lượng tấn công khoảng 20.000 người Trung Quốc. Danh tiếng gần đây hơn của Bán lũ đoàn 13 là các trận đánh trong Thế chiến II của Narvik ở Na Uy và Bir Hakeim ở sa mạc Libi và ở Đông Dương cũng rất tốt. Những người Algeri thuộc Trung đoàn súng trường số 3 cũng là những binh lính đáng tin cậy với một bề dày thành tích chiến đấu.

Trung tá Jules Gaucher - 48 tuổi, sĩ quan Lê dương chỉ huy GM-9 là một huyền thoại về sự ngay thẳng, một sinh viên tốt nghiệp đại học ở Đông Dương từ năm 1940, Gaucher đã chiến đấu với quân Nhật, Việt Minh, bọn cướp biển và một lực lượng cướp bóc của binh lính quốc gia Trung Quốc. Anh ta không còn lạ gì Điện Biên Phủ, và đã thực hiện một trận chặn đánh ở đó năm 1945 chống lại quân Nhật trước khi dẫn quân vượt qua biên giới Trung Quốc an toàn. Nhân viên của ông ta có tiếng là hiếu chiến trong các cuộc ẩu đả ở các quán bar và các sàn nhẩy của Hà Nội và Sài Gòn trong những lúc rảnh.

Mỗi ngày quân lại được tăng cường thêm tới Điện Biên Phủ: lính Lê dương, Algeri và các tiểu đoàn bộ binh Marốc, các khẩu đội pháo thuộc địa với nhiều tay súng da đen người châu Phi; các đơn vị công binh, thông tin, hậu cần, các đoàn phẫu thuật; các phân chi đội lực lượng không quân và các đơn vị tình báo, thậm chí còn có cả các đội hiến binh tập trung ở sở chỉ huy trung tâm. Vào đêm Giáng sinh có 10.910 quân liên hiệp Pháp trong thung lũng. Tất cả số binh lính này ăn nghỉ trong hệ thống phòng ngự 8 cứ điểm mới thiết lập được nối với nhau bằng radio và điện thoại. Gabrielle (Đồi Độc Lập) ở phía bắc là nơi xa nhất khu dân làng và đường băng; Anne-Marie (Đồi Bản Kéo) nằm phía Tây Bắc của đường băng; Béatrice (Đồi Him Lam) nằm phía Đông Bắc đường băng, phía góc của khu rừng nơi có tuyến đường 41 đi qua; Huguette1 nằm phía Tây đường băng và Dominique2 phía Đông. Claudine, bốt chỉ huy trung tâm được đặt trong làng phía Tây Nam đường băng và Eliane3 phía Đông ở giữa là đường 41. Isabelle (Phân khu Hồng Cúm) và một sân bay nhỏ dùng trong trường hợp khẩn cấp được xây dựng tách biệt với các công sự khác cách 6 km về phía nam. Cứ điểm Francoise (Cứ điểm 311 còn gọi là Căng Na), phía Tây của Claudine4; các vị trí thứ yếu như Opéra và Junon sẽ được hình thành theo yêu cầu của trận đánh. Mặc dù các cứ điểm yểm trợ lẫn nhau nhưng theo hình ảnh thông lệ thì chúng không tạo nên một vành đai phòng thủ vững chắc quanh Điện Biên Phủ. Nguồn gốc của những cái tên con gái vẫn còn là một bí ẩn. Có người cho rằng Đại tá De Castries có tiếng về những cuộc phiêu lưu ái tình nên đã coi trọng những cái tên nữ giới. Có người cho rằng sở chỉ huy của De Castries, muốn thay đổi cách sắp xếp theo bảng chữ cái nên đã dùng các ký hiệu đó để dễ phân biệt hơn và độc đáo hơn. Cho dù lý do nào đi nữa thì khi tới thăm sở chỉ huy, các sĩ quan Mỹ và Anh đều nhận thấy sự thú vị trong cách đặt tên như vậy.

Tuy nhiên, thực sự cũng có một phụ nữ xuất hiện ở Điện Biên Phủ đó là Pauline Bourgeode, thư ký của De Castries. Một số thành viên của đoàn diễn viên ba lê hoàng gia Thái từ Lai Châu không may bị nhỡ chuyến bay tới Hà Nội đã ở chung trại với các phân đội người Thái. Vợ và con của các điệp viên tình báo người Mông và Thái được ở trong căn cứ của GCMA. Lính Lê dương đã chở rất nhiều gái điếm người Algeri, người Việt và các thành viên của 2 nhà chứa cơ động (BMC). Tình trạng này xuất hiện trong những đợt phục vụ lâu dài của quân Viễn chinh ở những pháo đài và công sự bị cô lập ngoài sa mạc Bắc Phi nơi nỗi buồn tạo ra sự cô đơn, chán nản, thất vọng và dẫn tới bạo loạn hoặc điên loạn. Từ đó BMC trở thành niềm vui của đám lính Lê dương. Phụ nữ ở BMC cũng như PIM bị buộc phải ở lại Điện Biên Phủ trong suốt chiến dịch.
__________________________________
1. Gồm 6 cứ điểm Huguette 1, 2, 4, 5, 6, 7 tương ứng với các cứ điểm 206, 208, 311B, 311A, 105, 106.
2. Gồm 5 cứ điểm Dominique 1, 2, 3, 5, 6 tương ứng với các cứ điểm E1, D1, 505-505A, D3, D2 và vị trí pháo binh 210.
3. Gồm 6 cứ  điểm Eliane 1, 2, 3, 4, 10, 12 tương ứng với các cứ điểm C1, A1, A3, C2, 506-507, 508-508A-509.
4. Gồm 5 cứ điểm Claudine 1, 2, 3, 4, 5 thuộc phân khu Trung tâm gần sở chỉ huy của De Castries.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #22 vào lúc: 06 Tháng Chín, 2009, 09:46:53 am »


Tướng Navarre quyết định đi thăm quân đồn trú ở Điện Biên Phủ vào mùa Giáng sinh. Mỗi tiểu đoàn đều tổ chức lễ đón riêng quanh cây thông Noel tạm bợ được trang trí bằng giấy màu, bông và bất cứ thứ gì có thể để gây ấn tượng. Thông báo về sự có mặt của Navarre đã lan truyền từ cứ điểm này sang cứ điểm khác, một số binh lính rất hài lòng với cử chỉ này của vị tổng chỉ huy, còn một số lại không mấy nhiệt tình. Navarre xuất hiện vẫn với vẻ lạnh nhạt xa cách và bận rộn như xưa. Bài phát biểu ngắn gọn của ông trước những sĩ quan và binh lính tiêu biểu không hề gây cảm hứng. Pierre Schoendoerffer, người quay phim chuyến thăm đó, phải luồn lách để vào được phòng họp báo ở sở chỉ huy của De Castries. Trước khi bị các sĩ quan tham mưu đuổi ra ngoài, anh ta đã nghe thấy Đại tá Piroth, chỉ huy pháo binh của De Castries khẳng định với Tướng Navarre rằng: “Không khẩu pháo nào của Việt Minh có khả năng bắn 3 loạt mà không bị phát hiện”. Navarre vẫn còn nghi ngờ và bày tỏ mối lo ngại của ông ta về số lượng xe tải chở hàng tiếp viện của Việt Minh trên các tuyến đường theo như báo cáo. Ông nói: “Chúng ta không thể cắt đứt được các tuyến đường mòn”, nhưng nhiều sĩ quan đã không đồng tình với ý kiến đó.

Người ta hơi nghi ngờ vì Navarre đã đưa ra quá nhiều ý kiến. Các chiến dịch Régate và Ardèche chứng tỏ khả năng không thể duy trì một tuyến đường bộ nối với Điện Biên Phủ, lời kêu gọi Paris cho quân tăng cường và tăng tiếp viện vẫn chưa được trả lời, các báo cáo tình báo đang vẽ ra một bức tranh chuẩn bị u ám và những khả năng của đối phương. 4 ngày sau chuyến thăm Điện Biên Phủ, Navarre lệnh cho Thiếu tướng Cogny chuẩn bị các kế hoạch tối mật cho khả năng sơ tán khỏi Điện Biên Phủ. Navarre nêu ra hai tình huống có thể buộc phải sơ tán: sự sụp đổ của các khu phòng thủ trước những đợt tấn công lớn của đối phương hoặc sự nghẹt thở của các cứ điểm do hoả lực phòng không và pháo binh của đối phương thâm nhập vào đường băng. Navarre nhấn mạnh trong cả hai trường hợp, Điện Biên Phủ sẽ không được sơ tán cho tới phút chót. Hai kế hoạch - chiến dịch Ariane nhằm cứu quân đồn trú đang rút lui và chiến dịch Xenophon nhằm đưa quân đồn trú về phía Nam - không được tiết lộ cho các chỉ huy ở Điện Biên Phủ. Cùng lúc Navarre nhận được một bức điện mật từ Thiếu tướng Cogny thông báo các đơn vị của Sư đoàn 308 và 316 Việt Minh đã lập các chòi quan sát và các vị trí phòng ngự để ngăn cản bất cứ đợt rút quân nào của Pháp từ Điên Biên Phủ và chống lại các chuyến bay tuần tra trinh sát thâm nhập vào sâu bên trong. Rõ rằng sự thành lập các vị trí mới của đối phương là rất nghiêm trọng. Các đơn vị Việt Minh gồm “4 tiểu đoàn bộ binh và 2 đại đội phòng không hướng về phía đông”. Một bức điện khác tới sở chỉ huy Hà Nội hồi đầu tháng một yêu cầu hỗ trợ của không quân đã để lộ sự tăng cường các hoạt động tiếp cận công sự của đối phương.

Từ: Tổ tác chiến phía Tây Bắc

Tới: Các lực lượng mặt đất miền Bắc Việt Nam

Mật

Cho các sư đoàn tác chiến

Yêu cầu ngày 12 tháng 1 năm 1954: ngay khi thời tiết thích hợp, ném bom ồ ạt có lợi cho G.O.N.O (Tổ tác chiến phía Bắc). 2000 Việt Minh đóng quân và đào hào ở khu vực trồng rừng cách bản Tấu 3 km về phía Tây Bắc.


Bức điện tiếp tục liệt kê ra các toạ độ và cảnh báo các vị trí đóng quân cách mục tiêu 4 km về phía Nam. Bức điện của một sĩ quan ở sở chỉ huy Hà Nội cho biết: “Đợt ném bom này được thực hiện vào buổi sáng nay bằng 3 chiếc B-26 cùng với 500 pound (22.680 tấn) bom và theo sau là các máy bay ném bom từ Điện Biên Phủ và Xiêng Khoảng (Lào)”.

Trong chuyến thăm các sĩ quan cao cấp từ sở chỉ huy pháo binh ở Hà Nội, các quan chức dân sự và một số phóng viên chiến tranh dày dạn kinh nghiệm đã tỏ ra lo lắng về việc thiếu pháo ở Điện Biên Phủ. Chỉ huy pháo binh Đại tá Charles Piroth đã trả lời hết sức lạc quan. Piroth, 48 tuổi là một xạ thủ nhiều kinh nghiệm, bị mất cánh tay trong một trận đánh ở Italy nhưng đã hồi phục và có thể chỉ huy một trung đoàn pháo binh trong cuộc chiến tranh Đông Dương. Anh ta là một sĩ quan vui tính, anh ta có mặt ở đâu là làm cho không khí ở đó tăng thêm phần sinh động. Mặc dù, các nơi pháo vẫn chưa tới vị trí nhưng Piroth đã sớm có 25 khẩu đại bác 105 ly, 4 khẩu 155 ly và 16 cối 120 ly theo lời đề nghị.

Các báo cáo vẫn đưa thêm tin về sự lạc quan của Piroth trong việc vận chuyển pháo và các thùng đạn lớn vào vị trí. Các vị trí pháo, các hầm để ngỏ cao tới ngang vai, các đồn nhỏ xếp bằng bao cát có tác dụng cho các chiến dịch thuộc địa cũ chống lại sự nổi loạn của các bộ tộc có vũ trang tốt hơn là để chống lại một lực lượng của đối phương được trang bị pháo binh và được huấn luyện kỹ. Hoả lực phản pháo của Piroth có hiệu quả hay không đều phụ thuộc vào sự vững chắc của các đài quan sát và 6 máy bay quan sát đứng trên đường băng. Vì thế, một sĩ quan cao cấp đóng vai trò quan trọng trong công sự phòng thủ của Pháp tới sẽ không thấy được những yếu điểm của một kịch bản tồi. Khả năng các đài quan sát có thể bị tàn phá và đường băng trát vữa không thể sự dụng được dường như không có trong suy nghĩ của anh ta. Mà nếu có suy nghĩ như thế thì anh ta vẫn thẳng tiến mà không hề có ý biến đổi tình hình. Dù sao đi nữa, đánh giá thấp đối phương không phải là lỗi của một mình Piroth mà là lỗi chung của nhiều người.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #23 vào lúc: 06 Tháng Chín, 2009, 09:47:56 am »

Đại tá De Castries và đám tham mưu cảm thấy đã bỏ quá nhiều thời gian quý giá vào các cuộc thanh tra và các chuyến viếng thăm VIP. Các quan khách quân sự và dân sự sẽ bay tới Điện Biên Phủ vào buổi sáng để họp báo và thăm quan các cứ điểm sau đó ăn trưa nhanh chóng trước khi bay trở về Hà Nội trong đó có Trung tướng John O’daniel, Tư lệnh quân đội Mỹ ở Thái Bình Dương, sau đó phụ trách phái đoàn MAAG của Mỹ ở Sài Gòn. Ông ta tạo cho công chúng tin tưởng vào công việc xây dựng căn cứ của Pháp nhưng lại tự lắc đầu không tin vào các công sự trong thung lũng.

Điện Biên Phủ trở thành điểm tập trung chú ý của thế giới như một cuộc kháng chiến của “thế giới tự do” chống lại sự xâm lược của Cộng sản. Chính phủ Pháp, đang đối mặt với một phong trào chống chiến tranh lan rộng trong nước lại đang phải uốn nắn tin tức báo chí cho phù hợp và quân đội đang làm hết sức mình để tiến những bước chắc. Thật may cho các sĩ quan thông tin quân đội, hầu hết các chuyến thăm của giới nhà báo tới Điện Biên Phủ đều ngắn và tương đối đơn giản. Nhiều nhà báo phương Tây lần đầu tiên tới thăm Đông Dương, những người cũ không dễ gì có được ấn tượng. Một số với kinh nghiệm ở Triều Tiên cũng như Việt Nam cho biết nguyên tắc của cuộc chiến tranh Triều Tiên là “chiếm lĩnh các vùng đất cao” đã bị lờ đi ở Điện Biên Phủ. Họ cho rằng các cứ điểm được đặt trên các đỉnh đồi nên Việt Minh sẽ phải tấn công các vị trí của Pháp từ dưới chân thung lũng. Lý luận này đã không thuyết phục được các phóng viên chiến tranh dày dạn kinh nghiệm, những người luôn coi những dãy núi bao quanh thực sự là mối đe doạ. Với tất cả những điều nói trên, họ nêu ra vấn đề lô gíc trong việc thực hiện một chiến dịch tấn công chống lại Việt Minh bằng cách đào vào các vị trí phòng thủ. Để tránh sự kiểm soát của quân đội Pháp, nhiều phóng viên Anh và Mỹ đã đệ trình những báo cáo ngắn gọn sau khi rời Đông Dương.

Một nhóm nhà báo, nhà văn, nhiếp ảnh và quay phim mặc đồng phục như những thành viên của Trung tâm báo chí và thông tin quân đội trong đó có nhà quay phim André Lebon và nhà nhiếp ảnh Daniel Camus đã nhảy dù xuống Điện Biên Phủ cùng với một lực lượng tấn công. Pierre Schoendoerffer, Jean Péraud và Jean Martinoff còn rất trẻ và ưa mạo hiểm, sau này cùng tham gia với họ. Họ ghi lại cuộc chiến tranh ngay tại các mặt trận. Những hình ảnh sinh động của Điện Biên Phủ vẫn còn là những thông tin quân sự hấp dẫn và gây cảm động nhất kể từ Thế chiến II.

Việc chăm sóc ăn uống cho tất cả quân đồn trú ở Điện Biên Phủ và các chuyến viếng thăm VIP cũng như các nhà báo đều phải dựa vào những đầu bếp chăm chỉ của quân đội. Từ khi bắt đầu, cuộc chiến ở Đông Dương đã bộc lộ một số vấn đề về hậu cần cũng như đầu bếp. Sự đa dạng về sắc tộc và tôn giáo trong lực lượng Liên hiệp Pháp đòi hỏi phải có sự nhận và phân phát cụ thể. Nhiệm vụ này khó có thể hoàn thành bằng phương tiện vận chuyên đường không. Lính súng trường Bắc Phi có thói quen ăn thịt cừu nên họ cần ngũ cốc, nước chấm cay và tiền để mua trà. Binh lính từ Tây Phi lại ăn củ mài, lạc và hồ tiêu cay. Ngươi Việt của quân đội quốc gia và những người đang phục vụ các đơn vị của Pháp thích ăn thịt lợn, cơm, mì và nước mắm. Các đầu bếp của lính Lê dương rất vất vả trong công việc nấu nướng nhưng vẫn cố cung cấp cho lính Lê dương nguồn dinh dưỡng đa dạng và ổn định. Các vấn đề trở nên phức tạp khi có nhiều các ngày lễ tôn giáo hoặc lễ quân sự truyền thống đòi hỏi những thực đơn đặc biệt. Lính Lê dương yêu cầu được ăn loại xúc xích trong lễ kỷ niệm hàng năm có tên Camerone - một trận đánh nổi tiếng của lính Lê dương ở Mexico năm 1863. Lính Bắc Phi trông chờ vào một loại thịt cừu nướng vào bữa cuối của tháng ăn chay Ramadan của người đạo Hồi.

Quân Viễn chinh Pháp là một đội quân nghiện rượu, một chút rượu khai vị là chuyện bình thường trước bữa ăn, rượu và bia thường uống trong khi ăn. Rượu cô-nhắc, rum, vang thường sẵn có trong các bữa ăn của sĩ quan. Mặc dù, chỗ ăn uống ở Điện Biên Phủ rất giản đơn và hành động không cho phép quá thỏa mãn nhưng cầu hàng không tới Hà Nội vẫn giữ được truyền thống và đặt rượu trên bàn.

Lính dù của Đại tá Langlais vẫn tiếp tục công việc thăm dò phía ngoài vành đai phòng ngủ. Ngụy trang và kỷ luật trên đường mòn của Việt Minh làm cho tầm quan sát của De Castries và máy bay quan trắc gần như không thấy gì. Để xác định được Việt Minh đánh giá sức mạnh của họ và tìm kiếm dấu hiệu của một cuộc tấn công sắp tới, bộ binh phải theo dấu đối phương, đụng độ và bắt tù binh. Đoạn trích từ một bản báo cáo của tổ tuần tra trinh sát ngày 12 tháng 1 năm 1954 của một sĩ quan thuộc Tiểu đoàn dù Lê dương số 1 miêu tả trò chơi trốn tìm chết người này.

Isabelle bị đối phương quấy nhiễu, trinh sát của ta khống chế khu vực phía Tây của Isabelle, một tuyến đường mở tới chỗ của Việt Minh. Chúng tôi rời Điện Biên Phủ lúc 4 giờ để vào vị trí lúc rạng đông. 9 giờ sáng Tiểu đoàn dù Lê dương số 1 di chuyển vào tới bản Phủ. 10 giờ tiểu đoàn này tới bản Cò Hèn và 11 giờ tới bản Lung Con. Không thấy người dân nào. Bản làng bỏ hoang bị phá huỷ, đốt cháy và không có dấu hiệu của sự giao tranh. Vùng đồng bằng giữa Điện Biên Phủ và Isabelle Việt Minh không kiểm soát ít ra là cho tới sáng.

Lúc 13 giờ 30, đại đội 3 tới bản Huoi Phuc, bản này cũng bị bỏ lại như các làng bản khác, Trung uý Brando cho quân tạm nghỉ và cầm la bàn định phương hướng. Một đầu đạn sượt qua la bàn làm trung uý bị thương vào tay và phá hỏng cả chiếc nhẫn cưới. Việt Minh phóng hoả lực làm một lính Lê dương là Bruck bị tllương vào cánh tay... Việt Minh bố trí một đơn vị nhỏ đóng quân ở gần cánh đồng lúc được một đại đội yểm trợ bám sát các sườn đồi cách 400 mét về phía trước. Súng không giật 57 ly tập trung vào mục tiêu phía xa trong khi các đại đội 2 và 3 đi càn quét cánh đồng lúa. Cùng lúc Tiểu đoàn dù Lê dương số 1 bị trúng hỏa lực cối 81 và bị thiệt hại nặng. Khi một qủa pháo nổ cách đó gần 2 mét, Thiếu tá Verguet biến mất trong đám khói, sau đó người ta tìm thấy anh bị đen nhẻm, đứng như trời trồng, nhưng không bị thương. Cách đó 30 mét, những mảnh đạn tung ra đã giết chết Thiếu úy Nenert và làm bị thương Thiếu úy Thibout.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #24 vào lúc: 06 Tháng Chín, 2009, 09:50:08 am »

   
Danh sách thương vong do hỏa lực pháo cối lần này cho ta hiểu biết sâu sắc hơn về bản chất của Tiểu đoàn dù Lê dương số 1.

Trung đội 2 Đại đội 4: sĩ quan giúp việc cho Martin, Thượng sĩ Zivkovic, Hạ sĩ Đỗ Văn Kính, lính Lê dương Larensac, Mlekusch, Ahlgrin; lính tình nguyện Việt Nam Nguyễn Văn Mùi, Đỗ Văn Phòng, Trần Văn Thay, Nguyễn Văn Ngải bị  thương; Đại đội 1 lính Lê dương Pittak chết, lính tình nguyện Thân Trọng Phong và Phạm Văn Vinh bị thương.

Trực thăng sơ tán những người bị thương nặng và tiểu đoàn này bắt đầu cuộc hành quân quay trở lại. Trinh sát thấy nghi ngờ có các hoạt động phía trước nên đã ra hiệu cảnh báo. Bất ngờ, một đội tuần tra người Thái trắng xuất hiện trên đường mòn, họ rời các vị trí ở Điện Biên Phủ mà không thông báo cho sở chỉ huy biết. Từ khi lính dù được biết không có lực lượng đồng minh nào trong khu vực thì sự bất cẩn của người Thái gần như bị xoá sạch.

Gần Điện Biên Phủ, tiểu đoàn này bị trúng hoả lúc súng trường tự động, một viên đạn nhỏ làm rách miệng một lính Lê dương và sượt qua gáy. “Mặc dù vậy nhưng anh ta cũng không bị thương nghiêm trọng”. 2 trung uý và 1 hạ sĩ cũng bị trúng đạn. Việt Minh rút lui để lại một người bị thương phía sau. Rõ ràng họ đã chuẩn bị phục kích người Thái trên đường trở về Điện Biên Phủ. Tiểu đoàn dù Lê dương số 1 trở về vành đai phòng ngự an toàn lúc 23 giờ 40. Trung uý nhớ lại: “Đại tá Langlais tiếp nhận chúng tôi một cách lạnh nhạt, anh ta coi sự trở về của chúng tôi là quá ồn ào”. Đội tuần tra khẳng định Việt Minh đã có mặt ở phía tây Isabelle. Tiểu đoàn dù Lê dương số 1 bị chết 5 người (trong đó có 1 sĩ quan), 33 người bị thương (trong đó có 5 sĩ quan). Việt Minh chết 16 người, 1 bị thương và 1 tù binh. Theo biệt ngữ quân sự thì Pháp phải chịu thương vong nhẹ nhưng sự tiêu hao dần các đơn vị chóp bu sẽ làm mất đi tính hiệu quả tổng thể làm tác động tới tinh thần của binh lính.

Khi lực lượng chính quy tới sát Điện Biên Phủ và nguồn tiếp viện cho một đợt tấn công lớn vẫn tiếp tục, Tướng Giáp đã di chuyển quân để đẩy Pháp vào thế bấp bênh và vắt kiệt các nguồn quân sự của chúng. 7 tiểu đoàn từ các Sư đoàn 304 và 325 Việt Minh chuyển hướng sang Trung Lào, liên kết với quân đồng minh Pathet Lào. Như vậy, đã xuất hiện một nỗ lực lớn chia đôi Lào tại điểm hẹp nhất. Với những người tập trung vào Điện Biên Phủ thì việc di chuyển quân này đã làm cho Pháp bất ngờ và phải sơ tán tỉnh Thà Khẹt. Tướng Gilles và lực lượng dù của ông được đưa sang Lào và bắt đầu công việc sục sạo tại căn cứ của Pháp ở Sênô cách không xa Savanakhẹt. Thiếu tá Bigeard và Bréchignac ngay lập tức dẫn các tiểu đoàn vào rừng để truy tìm đối phương. Họ phát hiện đối phương ở bản Som Hong ngày 5 tháng 1. Sau 2 ngày chiến đấu ác liệt, Việt Minh chết 400 người, lính dù quay trở lại căn cứ. Không lâu sau, cuộc tấn công của Tướng Giáp bị suy yếu nhưng ông cố gắng giải phóng các khu vực ở Lào và kéo quân Pháp ra khỏi vùng châu thổ.

Tướng Giáp không phải là vị tướng duy nhất đưa ra kế hoạch hành động tấn công. Vào giữa tháng 12, mặc dù có những dấu hiệu ban đầu về việc chú trọng của Việt Minh vào Điện Biên Phủ, Navarre vẫn đưa ra các lệnh thực hiện chiến dịch Atlante. Cuộc tấn công vào vùng lãnh thổ miền Trung và Nam Việt Nam do Việt Minh cai quản bao gồm một đợt đổ bộ lên bờ biển ở Tuy Hoà ngày 20 tháng 1 và một đợt càn quét của hơn 30 tiểu đoàn bộ binh với sự yểm trợ của pháo binh và thiết giáp qua vùng Liên khu V. Mục tiêu là gây thương vong cho 30.000 quân Việt Minh đang bảo vệ khu vực này, đảm bảo an toàn cho vùng thuộc miền Trung cao nguyên và cho phép các tiểu đoàn mới thành lập của Quân đội quốc gia Việt Nam được thử nghiệm chiến đấu. Chiến dịch Atlante lại một lần nữa chứng minh sự thiếu khả năng của Tư lệnh tối cao Pháp trong việc hiểu và giải quyết cuộc chiến tranh du kích. Sau một vài va chạm nhẹ, Việt Minh tuân theo giáo lý cơ sở của các chiến thuật du kích và giấu mình trong các quả đồi, đặt mìn, bẫy để tiêu diệt đối phương. Chiến dịch Atlante trở thành một buổi dạo chơi dài và khát khô họng dưới ánh nắng chói trang của bầu trời. Cuối cùng Việt Minh sẽ phản công vào vùng cao nguyên, phục kích và quét sạch toàn bộ tổ cơ động. Navarre thậm chí buộc phải cắt giảm lực lượng lính dù dự bị của Điện Biên Phủ để ngăn chặn đường tiến của đối phương.

Thiếu tướng Cogny, người có kế hoạch tấn công các kho chứa hàng và các tuyến đường cung cấp phía tây bắc vùng châu thổ của Việt Minh bị Navarre từ chối, đã phản đối mạnh mẽ chiến dịch Atlante. Hai ngày trước khi binh lính đầu tiên của Pháp cập cảng ở Tuy Hoà, Cogny đã gửi một bức điện khẩn cho Navarre yêu cầu tiếp sức cho các đợt chặn đánh mới đây nhất của Việt Minh. Vấn đề đầu tiên đề cập tới 2000 quả pháo 105 ly và 3000 cối 82 ly trên đường tới trung tâm tiếp tế của Việt Minh ở Tuần Giáo phía đông bắc Điện Biên Phủ. Bức điện sau thậm chí chứa đựng cả những tin tức báo trước điềm gở.

Khẩn cấp

Cogny gửi cho Navarre.

Về vấn đề hậu cần, chuyến vận tải chở 130.000 đầu đạn có kế hoạch tới Tuần Giáo. Cho đến giờ, từ 13 tháng 1, 7000 cối 82 ly (gồm cả 3000 quả nói trong bức điện truớc), 3000 viên đạn cho pháo phòng không 37 ly và 9 tấn thuốc nổ vẫn đang trên đường tới. Sư đoàn 316 Việt Minh yêu cầu trung đoàn 98 gửi cho họ những số liệu cụ thể trước ngày 20 tháng 1. Chắc chắn rằng điều này đã đề cập tới báo cáo phân tích bản nghiên cứu các căn cứ của ta ở Điện Biên Phủ được yêu cầu trước ngày 18 tháng 1.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #25 vào lúc: 06 Tháng Chín, 2009, 09:52:14 am »

MỘT ĐỒNG MINH CẨN TRỌNG

“Navarre nói cho dù mất Diện Biên Phủ hay mất mười tiểu đoàn chiến đấu đi chăng nữa thì cũng sẽ không ngăn cản ông ta đi tới thắng lợi cuối cùng”

   
Đại sứ Mỹ Donald Heath
   trong bức điện mật gửi cho Bộ Ngoại giao
   ngày 3 tháng 1 năm 1954

Nếu thế giới đang dõi theo công cuộc chuẩn bị cho cuộc chiến ở Điện Biên Phủ với những mức độ quan tâm khác nhau thì Chính phủ Mỹ đang từng ngày phân tích tình hình bằng mọi phương tiện. Chính quyền Eisenhower có được một lợi ích chính trị và quân sự trực tiếp từ kết quả cuối cùng của trận đánh. Điện Biên Phủ đang nổi lên như một cuộc thử nghiệm quan trọng về khả năng duy trì Đông Dương của Pháp và né tránh cuộc tấn công chính của Cộng sản vào Đông Nam Á. Thành công hay thất bại ở Đông Dương sẽ phá giải được một phán quyết về chính sách viện trợ kinh tế và quân sự của Mỹ trong suốt thời gian 4 năm (ở mức 80% chi phí cho chiến tranh) để ủng hộ những nỗ lực của Pháp. Tác động nhẹ của cuộc chiến tranh Đông Dương khích lệ trực tiếp chính sách ngoại giao của Mỹ ở châu Âu, nơi chiến tranh lạnh giờ đây đã nguội dần. Washington coi tư cách thành viên của Pháp trong đồng minh NATO là điều cơ bản cho sự sống còn của Tây Âu nên đã theo dõi chính quyền Pháp đang cố gắng giải quyết cuộc chiến tranh ở Đông Dương. Nước Pháp mệt mỏi với vai trò là người phòng thủ chống lại chủ nghĩa cộng sản ở Đông Nam Á. Dưới những áp lực chính trị và công chúng trong nước, chính sách của Pháp đang tiến tới một giải pháp đàm phán không thể tránh khỏi. Các nhà hoạch định chính sách ở Washington, đang cân nhắc tới một hậu quả không mong đợi và nguy hiểm vẫn tiếp tục hy vọng cho một giải pháp quân sự phù hợp và đang làm hết sức mình để bảo đảm rằng người Pháp sẽ nhận được bất cứ thứ gì mà họ cần ở Điện Biên Phủ và bất cứ đâu ở Đông Dương.

Bộ Ngoại giao, Bộ Quốc phòng và CIA yêu cầu báo cáo chính xác, kịp thời và đánh giá thực tế từ chiến trường để dựa vào đó làm cơ sở cho các chính sách và kế hoạch. Đại sứ quán, Cố vấn, Phái đoàn viện trợ Mỹ và cơ quan CIA ở Sài Gòn, toà lãnh sự ở Hà Nội là những nhà cung cấp thông tin chính này. Trước sự phát triển của truyền thông vệ tinh, diễn tiến của chiến dịch ngoại giao con thoi của các tổng thống, các ngoại trưởng, chính phủ Mỹ đã dựa chủ yếu vào các báo cáo tin cẩn của các chuyên gia ở nước ngoài. Thông tin khẩn cấp và quan trọng chuyển đi bằng mật mã. Các bản thảo chi tiết hơn và kém sự cấp bách hơn đã tới bằng đường của người đưa tin ngoại giao hay bằng đường hàng không tới Washington.

Doald Heath là đại sứ ở Sài gòn, với danh nghĩa là trưởng phái đoàn ngoại giao Mỹ yêu cầu ngừng mọi cuộc truyền thông. Ngài đại sứ cùng nhóm chính trị của ông ta và Paul Sturm - lãnh sự của Mỹ ở Hà Nội cung cấp cho Ngoại trưởng J.F.Dulles một loạt các thông tin chính xác về Điện Biên Phủ. Trưởng ban CIA bổ sung vào báo cáo này bằng các bức thông điệp riêng cho cấp trên của ông ta, Allen Dulles. Một số sĩ quan tình báo mật, chạy đua với các vị tiền bối ở Đông Dương cũng đang tiến gần tới hành động.

Sau đây là các đoạn trích từ bức điện tín của đại sứ quán, lưu hành trong tháng 1 năm 1954 thể hiện rõ mức độ báo cáo chính thức của Mỹ lúc đó.

Ngày 5 tháng 1, một bức điện mật tới Bộ Ngoại giao báo cáo về cuộc nói chuyện của đại sứ Heath với Maurice Dejean Cao uỷ Pháp ở Sài Gòn về Điện Biên Phủ. “Về tình hình ở miền Bắc, Dejean vừa trở về sau chuyến thăm Điện Biên Phủ nơi ông ta cho là mạnh hơn nhiều lần so với Nà Sản đã từng dưới sự chỉ huy của Đại tá De Castries - người ông ta coi là một trong những sĩ quan giỏi nhất trong toàn quân đội Pháp”. Sau khi dự tính những tổn thất nặng nề của Việt Minh trong một trận tấn công và thảo luận về khả năng xâm nhập của Việt Minh sang Lào, Dejean kết luận: “Để tiến nhanh tới thắng lợi phải tăng quân Lê dương lên 6 trung đoàn mới lấy từ Dức”. Dejean nói với Heath: “Phải có các nguồn tài chính để chi trả cho các đơn vị Lê dương mới và cơ sở vật chất để trang bị cho họ và sẽ hoàn toàn không khó khăn gì trong việc tuyển chọn các sư đoàn Lê dương mới nếu Adenauer nhìn theo cách khác”. Sau đó, Dejean nói tiếp ông ta sẽ thực hiện ý đồ này trước cả Navarre, người luôn cho rằng điều này cũng thú vị nhưng vẫn muốn để cân nhắc thêm”.

Ngày 8 tháng 1, một bức điện mật (không gửi) từ Heath cho Ngoại trưởng đề cập tới một yêu cầu thăm dò của Pháp về Thiếu tướng Thomas Trapnell (cựu chiến binh của Bataan sau đó là trưởng phái đoàn MAAG Mỹ). Người Pháp đang tính tới việc yêu cầu các phi công Mỹ lái 12 máy bay C-119 thực thi nhiệm vụ cung cấp”. Bức điện cho rằng “đúng vào lúc này, Mỹ đã cho Pháp mượn 17 chiếc C-119” và thông báo với Washington rằng Dejean đã mời một vị tướng không quân Mỹ từ Tokyo tới thăm Đông Dương vào cuối tháng.

Ngày 15 tháng 1, một bức điện mật từ Hà Nội gửi cho ngoại trưởng và đại sứ quán ở Sài Gòn nêu chi tiết cuộc nói chuyện giữa lãnh sự Paul Sturm với Thiếu tướng Cogny về Điện Biên Phủ. Cogny nói với Sturm rằng ông ta hy vọng Việt Minh sẽ không tấn công cho tới tận cuối tháng 1 và giải thích về tình hình chiến thuật.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #26 vào lúc: 06 Tháng Chín, 2009, 09:54:14 am »


Các tổ tuần tra cho thấy Điện Biên Phủ bị các lực lượng đối phương nằm ngay ngoài phạm vi pháo binh bao vây mọi phía. Trinh sát bất cứ hướng nào đều đụng phải phản ứng dữ dội của đối phương. Cogny nói chắc chắn Sư đoàn 308 và 316 đã vào các vùng lân cận cứ điểm, có những dấu hiệu rõ ràng nhưng không có bằng chúng về sự có mặt của Sư đoàn 312 trong khu vực và về pháo phòng không của Việt Minh, và các phi công báo cáo rằng các loạt đạn bắn vào họ có thể là pháo 37 hoặc 40 ly.

Cuộc thảo luận giữa vị tướng của Pháp và nhà ngoại giao của Mỹ tập trung vào vấn đề cung cấp cho Điện Biên Phủ (60 DC-4, 20 chuyến hàng, hàng ngày), sự có mặt của xe tăng và pháo binh Pháp, các kế hoạch của Việt Minh ở Lào và việc thiếu quân dự bị đã làm cho Cogny tiếp tục đánh sâu vào các pháo đài của đối phương ở quanh Yên Bái và Thái Nguyên. Sturm kết luận rõ ràng: Cogny tỏ ra thiếu tự tin trong cuộc nói chuyện có liên quan tới hậu quả cuả cuộc tấn công cuối cùng vào Điện Biên Phủ, và cố ý hạn chế lời tuyên bố của mình bằng những câu như “ít ra là tôi nghĩ như vậy”... Rõ ràng nếu các sư đoàn của đối phương được pháo binh và pháo phòng không hỗ trợ thì tình thế của cứ điểm Điện Biên Phủ sẽ rất nguy kịch.

Ngày 21 tháng 1, một bức điện mật gửi tới Ngoại trưởng thông báo lại thực tế của cuộc gặp giữa Đại sứ Heath và Marc Jacquet – Ngoại trưởng các nước Liên hiệp Đông Dương.

Hôm qua Jacquet nói với tôi rằng, theo quan điểm của ông ta thì Navarre cần phải giành được một số thắng lợi trong ít tháng tới hoặc tranh thủ áp lực của phe đối lập trong Quốc hội Pháp để tiếp tục các nỗ lực của Pháp ở Đông Dương, điều này sẽ buộc bất cứ một chính phủ có quyền lực nào cũng phải đi đến chỗ khởi xướng các cuộc đàm phán với Hồ Chí Minh... Jacquet nói, điều tốt nhất xảy ra sẽ có lợi cho Việt Minh tấn công Điện Biên Phủ trong lúc họ đang mong đợi đồng thời giáng cho Pháp một đòn thất bại nặng nề, và điều đó cũng sẽ làm giảm vị thế của Pháp trong cuộc chiến tranh ở Đông Dương.


Sau đó Jacquet nói về sự tham gia cuối cùng của Mỹ trong cuộc chiến

… Ông ta cho rằng nếu không có sự can thiệp của Mỹ, sự hình thành quân Lê dương với những chuyên gia lái máy bay, chuyên gia cơ khí, kỹ thuật chiến tranh của Mỹ... thì Việt Minh không thể thất bại. Chính phủ Pháp rất coi trọng việc thành lập cái gọi là “quân Lê dương” của Chính phủ Mỹ mà từ trước tới nay họ bị hạn chế bởi một lý do cho rằng làm như thế sẽ gây ra những khó khăn cho Chính phủ Mỹ và ngược lại.

Bên cạnh những cuộc nói chuyện cấp cao đại sứ quán, lãnh sự quán USIA và các sĩ quan phái đoàn viện trợ Mỹ đang đi du lịch Việt Nam, Campuchia và Lào đã thu thập các tin tức từ sản lượng mùa màng tới các quan điểm của sĩ quan Pháp, của chính trị gia Đông Dương và của các biên tập viên báo chí. Là một phóng viên chiến tranh của USIA, tôi đã chứng kiến 7 chiến dịch quân sự chính, tôi đã ở Điện Biên Phủ trong cuộc hành quân Castor và cũng đã quan sát chiến dịch Atlante và sự đánh trả của Pháp trước sự xâm nhập vào Trung Lào của Tướng Giáp. Các sĩ quan từ đoàn MAAG của Mỹ ở Sài Gòn đang thực thi nhiệm vụ thăm các đơn vị người Pháp và người Việt trên chiến trường với mục đích kiểm tra việc sử dụng các trang thiết bị của Mỹ cung cấp. Họ còn báo cáo về tinh thần sẵn sàng chiến đấu của các đơn vị này. Các chuyên gia quân sự và các chuyên viên tình báo từ Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương của Mỹ có những chuyến thăm thường xuyên tới Đông Dương. Một số sĩ quan quân đội Mỹ dành thời gian ở Điện Biên Phủ như những nhà quan sát, và đưa ra lời khuyên khi cần thiết. Họ phải rời đi một cách kín đáo khi trận đánh thực sự diễn ra. Theo gợi ý của một trong những du khách tới Điện Biên Phủ, thì cần có một khẩu đội pháo phòng không Mỹ (4 súng máy cỡ 50). Sau một vài vụ cãi lộn về việc sử dụng các loại vũ khí phòng không cho cuộc chiến mặt đất, Navarre đồng ý chấp thuận. Những khẩu pháo cỡ 50 thực sự có hiệu quả khi chống lại các đợt tấn công trên bộ của Việt Minh giống như khi chúng chống lại cuộc tấn công của Trung Quốc ở Triều Tiên.

Ngay từ đầu tháng 1 các cứ điểm ở Điện Biên Phủ đã được bố trí dày kín: Tiểu đoàn ngụy Thái số 3 và một đại đội pháo Lê dương ở “Anne-Marie”; Tiểu đoàn 3 Bán lữ đoàn Lê dương số 13 ở Béatrice; Tiểu đoàn 1 Bán lữ đoàn Lê dương số 13, Tiểu đoàn dù Lê dương số 1 và Tiểu đoàn dù xung kích số 8, pháo binh, hai trung đội tăng, một đại đội trọng pháo Lê dương, các đơn vị an ninh, tình báo, y tế, hậu cần của sở chỉ huy ở Claudine; Tiểu đoàn 3 trung đoàn Algeri số 3, pháo binh và pháo phòng không cỡ 50 ở “Dominique”; Tiểu đoàn 5 trung đoàn Algeri số 7 và một đại đội pháo Lê dương ở Gabrielle; Tiểu đoàn 1 trung đoàn Marốc số 4 ở Eliane; Các đơn vị của Tiểu đoàn ngụy Thái số 2 và nhóm biệt kích người Thái số 1 ở Francoise; Tiểu đoàn 1 trung đoàn Lê dương số 2 và pháo phòng không cỡ 50 ở Huguette; Tiểu đoàn 3 trung đoàn Lê dương số 3, Tiểu đoàn 2 trung đoàn Algeri số 1, một trung đội tăng, pháo binh và một đại đội biệt kích người Thái ở Isabelle.

Biệt hiệu cứ điểm có thể là sự đánh lừa khi mô tả những căn cứ phòng thủ này. Thực tế, chúng thường bao gồm một vài vị trí có đánh số yểm trợ lẫn nhau trong quần thể một nhóm những quả đồi hoặc các gò đất cao. Một số có những đặc điểm vật lý riêng biệt. Gabrielle mọc lên từ vùng đồng bằng giống như một chiếc tàu chiến sau làn hơi nước dày đặc nhanh chóng nhận được tín hiệu của “tàu khu trục”. Sở chỉ huy ở Eliane được đào trong những đống đổ nát của khu nhà thống sứ thuộc địa do các công binh san phẳng bằng những khối thuốc nổ khi làm nhiệm vụ phát quang. Một cây lớn mọc lên cách không xa sở chỉ huy của Trung tá Gaucher ở Claudine. Quân số của các cứ điểm này sẽ tăng lên theo các đợt tăng quân và theo nhu cầu của trận đánh.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #27 vào lúc: 06 Tháng Chín, 2009, 09:55:29 am »


Ngày 5 tháng 1, Tướng Giáp và tham mưu trưởng Tướng Hoàng Văn Thái chuyển sở chỉ huy tới cái hang gần một thác nước cách Điện Biên Phủ 20 km. Cái hang này có rừng bao quanh và những tảng đá mòn khổng lồ che khuất đường vào. Một cái lều có ngụy trang được dựng gần khu vực làm việc ngoài trời, nơi có những phiến đá mặt phẳng lớn đôi khi dùng làm bàn để trải bản đồ. Vị chỉ huy Việt Minh này đang lên kế hoạch cho một đợt tổng tấn công vào ngày 25 tháng 1. Một trong những mối quan tâm chính của ông là thấy được pháo binh của mình đã vào vị trí và sẵn sàng nhả đạn. Các đơn vị pháo binh đã tới gần Điện Biên Phủ bằng 5 tuyến đường mới mở, nhưng những chiếc xe tải có thể kéo chúng xa hơn đều phải làm cho quân đồn trú chú ý tới. Mỗi khẩu trọng pháo giờ phải được kéo lên các sườn đồi dốc và đưa vào các vị trí bằng tay cùng với những sợi dây thừng lớn và những vật chèn để giữ cho chúng khỏi lăn xuống vực. Tiến độ công việc được đo bằng yard trong 7 ngày đêm lao động vất vả không nghỉ ngơi. Tướng Trần Độ, một tư lệnh sư đoàn đã viết về cuộc chiến thầm lặng của công việc kéo pháo.

Lính bộ binh tìm mọi cơ hội tiếp cận lính pháo binh để nói chuyện và học thêm về cách kéo pháo bằng xe tải. Khi quay về đơn vị họ truyền nhau bằng một giọng rất nhỏ “Xe mẹ kéo xe con”.

10km đường chật hẹp tới mức nếu bánh xe bị chệch nhẹ, pháo sẽ lăn xuống vực sâu. Đường mới mở nhanh chóng bị lầy tới mắt cá chân. Bằng những cơ bắp chúng tôi phải thay các xe tải để kéo pháo vào vị trí. Chúng tôi chỉ ăn cơm, đôi khi sống hoặc khê; những bếp lửa không được bốc khói vào ban ngày và không được sáng vào ban đêm. Để leo lên một sườn đồi, hàng trăm người phải bò trườn trước pháo, khoác lên vai những chiếc dây thừng và kéo lên từng inch một. Vào những chỗ dốc cao chiếc tời kêu cót két; càng khó hơn khi xuống dốc; lái và chặn những chiếc bánh xe là công việc của lính pháo binh. Lính bộ binh chỉ dùng dây và tời. Ban đêm toàn dùng bằng đèn pin để duy trì độ sáng từ 500 tới 1000 mét.


Mặc dù, đường mòn được ngụy trang cẩn thận, Tướng Trần Độ vẫn phát hiện ra rằng lá cây thường quá cũ.

Cành và lá cây héo đi và rối tung lên, đôi khi làm cho đối phương nghi ngờ. Ban ngày, các máy bay trinh sát gầm rú trên đầu, liên tiếp bổ nhào xuống trong khi các máy bay chiến đấu ném bom và tàn phá. Ban đêm pháo binh của đối phương rất năng động, có khi pháo của nó gây cho ta nhiều thương vong. Mỗi lần pháo của đối phương bắn ra, lại kéo theo một trận mưa mảnh đạn, tiếng nổ inh tai và những cây to bị chẻ ra. Những người kéo pháo anh dũng phải nằm xuống trong vài giây, không được rời tay khỏi dây kéo cho dù tay bị bật máu. Khi những khẩu pháo cuối cùng được vào vị trí, lại phải khiêng vác đạn lên.

Đây là những ngày thử thách gay go với Tướng Giáp. Ông hy vọng tấn công trước khi các căn cứ phòng thủ của Pháp hoàn thành, trung thành với phương châm “cơ động, linh hoạt và bất ngờ”. Nhưng báo cáo tình báo về các pháo đài của Pháp cho thấy không mấy thuận lợi. Đại tá Bùi Tín nhớ lại:

Tướng Giáp nói với tôi, suốt đêm 24 tháng 1 ông ấy không thể nào ngủ được, ông cố gắng để đánh giá tình hình và tự hỏi “Chúng ta có thể thắng được hay không?” Ông nói, ông phải đối mặt với 3 vấn đề chính:

Một là, mở rộng chiến trường: Nà Sản tương đối nhỏ nhưng Điện Biên Phủ lớn hơn gấp 15 lần. Chúng ta có thể giải quyết thế nào? Các lực lượng của ta không được huấn luyện để tác chiến trên một phạm vi rộng lớn đến như vậy.

Hai là, biên chế các lực lượng Việt Minh: cho tới lúc đó, trận đánh lớn nhất mới có sự tham gia của một sư đoàn tăng cường và hai trung đoàn, giờ chúng ta có thêm năm sư đoàn, liệu chúng ta có khả năng điều khiển tới mức cần thiết?

Ba là, vấn đề về thời gian: Trước đây trận đánh dài nhất kéo dài 20 giờ, phần lớn bắt đầu vào ban đêm và kết thúc vào sáng sớm. Liệu chúng ta có thể duy trì được một trận đánh kéo dài hơn?

Chúng ta hy vọng đánh nhanh nhưng sau ba tháng, tình hình ở Điện Biên Phủ đã thay đổi. Thật ngớ ngẩn khi cho rằng các chiến thuật áp dụng trong tháng mười hai có thể được sử dụng vào tháng một, khi các lực lượng của Pháp tăng lên gấp đôi về người và các căn cứ được nâng cấp với nhiều hàng rào thép gai và pháo binh hơn. Tấn công lúc này sẽ là một sự mạo hiểm. Tướng Giáp phản ánh lại những gì Hồ Chí Minh đã nói với ông ta: “Đồng chí, tôi cho đồng chí toàn quyền quyết định - với một điều kiện - nếu đánh ta phải thắng. Nếu đồng chí không chắc thắng thì không đánh” Nghĩ về trách nhiệm của mình với Hồ Chí Minh, với nhân dân và với quân đội, Tướng Giáp quyết định hoãn đánh vì cho rằng nếu sử dụng các chiến thuật cũ thì chắc chắn sẽ thất bại. Thay vào đó, ông ra lệnh huy động hàng ngàn cuốc xẻng và mai thuổng.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #28 vào lúc: 06 Tháng Chín, 2009, 09:56:25 am »


Ngày 18 tháng 3 năm 1991, trong một cuộc phỏng vấn ở thành phố Hồ Chí Minh, Tướng Giáp nói với tôi về cái đêm vận mệnh ấy.

Tôi có thể nói quân đội mà tôi chỉ huy hoàn toàn giữ kỷ luật tốt. Nhiệm vụ của chúng tôi là vào vị trí ở Điện Biên Phủ và sẵn sàng phóng hoả lực nhưng tôi ra lệnh rút lui. Quyết định này được đưa ra vì tình hình lúc đó đã thay đổi. Tôi quyết định thay đổi phương pháp chiến đấu và rút lui ngay lập tức. Vì thế chúng tôi đã rút về. Binh lính của tôi không vui, hoàn toàn không vui chút nào.

Phản ứng, của họ rất dễ hiểu. Bộ đội của Tướng Giáp và dân công đã làm việc vượt mức để chuẩn bị cho trận đánh tháng một và cán bộ chính trị đã diễn thuyết kêu gọi anh em vì tầm quan trọng của trận đánh sắp tới và cả lòng quyết tâm cũng như những hy sinh đang chờ họ. Nhưng binh lính Việt Minh đã không có thời gian để suy nghĩ về nỗi thất vọng của họ. Giờ đây họ phải đối mặt với một nhiệm vụ gay go là chuyển những khẩu pháo xuống đồi. Tướng Giáp chỉ thị các vị trí pháo binh sẽ phải chuẩn bị kỹ hơn, đạn sẽ phải chuyển bằng tay nhiều hơn, ưu thế về người và hoả lực sẽ là cơ bản trước khi phát lệnh đánh phù hợp với phương châm “đánh chắc, tiến chắc”.

Tướng Giáp thảo ra giai đoạn một của kế hoạch tấn công, yêu cầu phá huỷ Beatrice, cứ điểm chi phối tuyến đường 41 tới Tuần Giáo, Gabrielle và Anne Marie bảo vệ hướng Tây Bắc tiến vào Điện Biên Phủ.

Nhiều pháo 75 ly và 105 ly giờ lại phải đưa xuống các đồi quanh thung lũng. Thực tế này trái ngược với những nguyên tắc cơ bản của việc triển khai pháo binh cổ truyền. Vị trí này sẽ cho phép pháo của Việt Minh bắn vào các mục tiêu đóng quân của Pháp. Một số vị trí pháo được đặt vào chỗ sâu và hẹp đủ để cho phép lắp xong đạn pháo, bảo vệ sự nguyên vẹn của đá cũng như bảo vệ chúng khỏi các cuộc tấn công không quân và hỏa lực pháo binh của đối phương. Chỉ có nòng pháo nhô ra khỏi bệ bắn được nguỵ trang khi cần bắn. Các sĩ quan pháo binh và cố vấn Trung Quốc dành hàng tuần đánh dấu trên bản đồ các vị trí bị lộ của Pháp. Các pháo thủ ở khẩu đội được giao công việc phối hợp các mục tiêu cụ thể. Các đợt hoả lực yểm trợ cho các điểm trong thung lũng như: các cứ điểm, các sở chỉ huy; các bệ pháo, hai chiếc cầu nhỏ bắc qua sông Nậm Rốm, một trong hai cái là cầu Bailey do công binh xây dựng; và các đường băng. Các khẩu pháo nghi binh được đặt và sẵn sàng ở các bệ nhử để kéo hoả lực của đối phương và các cuộc tấn công không quân.

Ngày 26 tháng 1, Việt Minh bắt đầu bắn pháo ở các điểm khác nhau trong thung lũng với những gì xuất hiện chỉ là một khẩu đại bác 75 ly. Các đợt oanh tạc lẻ tẻ vào cuối giờ trưa hoặc đầu giờ chiều thường rất nhanh và không hiệu quả. Có người cho rằng sự quấy rối rụt rè này thể hiện mức độ khả năng pháo binh của Việt Minh. Quân đồn trú đang bối rối vẫn có thể hình dung ra các tay súng đối phương đã phải mất một số đạn trước khi điên cuồng bắn phá. Các cựu chiến binh cẩn thận hơn thì cho rằng pháo binh đáp trả của Pháp và các máy bay chiến đấu có thể hạ gục được đợt khiêu khích đầy tiềm năng. Thúc tế, pháo 75 ly xuất phát từ một pháo đại bác và đang hoạt động như một bài diễn tập.

Trưa ngày 3 tháng 2, một khẩu đội pháo 75 ly mở màn năm Tết âm lịch của Việt Nam bằng một trận oanh tạc 30 phút vào các vị trí của Pháp. Các khẩu đội pháo của Đại tá Piroth nhanh chóng tiếp ứng thử thách này, giáng vào các quả đồi bằng những khối nổ công suất cao. Các máy bay B-26 và máy bay chiến đấu được triệu tập, các xe tăng tiến về phía trước để phóng hoả vào các vị trí pháo bị nghi ngờ. Nhà sử học quân sự Jules Roy tiết lộ Pháp đã bắn hết 1.650 quả pháo 105 ly và 180 quả bom trong đợt đánh trả đó. Khi hoả lực, bom và đợt oanh tạc kết thúc, De Castreis và tham mưu của ông ta được biết họ đã phá huỷ được nhiều pháo của đối phương. Thực tế, hầu hết các mục tiêu được xác định đều là các bệ pháo giả. Tướng Giáp lệnh cho các khẩu đội 105 ly nằm im bất động để dành cho ngày hôm sau.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #29 vào lúc: 06 Tháng Chín, 2009, 09:58:42 am »


Ngày 7 tháng 2, Tướng Giáp tới thăm các đơn vị pháo và chúc mừng họ với thành tích đưa được pháo vào vị trí, nhắc nhở họ không chịu khuất phục trước sự hăm doạ của pháo binh và máy bay đối phương và nhấn mạnh tầm quan trọng của trận đánh sắp tới và các vấn đề về chỉ huy. Ông nói với các xạ thủ: “Chủ nghĩa anh hùng và sự tuân thủ nghiêm các mệnh lệnh là hai bản chất chủ yếu của bộ đội ta trong chiến đấu”. “Gần đây, nhờ vào sự tuân thủ nghiêm mệnh lệnh của các đồng chí nên chúng ta đã thành công, điều đó rất tốt. Tuy nhiên, một số đồng chí vẫn còn do dự phải đối mặt với những khó khăn và đã không hoàn toàn thực hiện các mệnh lệnh với sự nghiêm túc và khẩn trương. Hãy để họ sửa chữa những thiếu sót để tiến lên”. Sau khi khen ngợi nhiều sĩ quan, những người vẫn còn sát cánh bên binh lính, giúp di chuyển pháo và nêu gương, Tướng Giáp nói dẫu sao nhiều sĩ quan còn chưa thực sự thương yêu binh lính của mình, đã rời vị trí chiến đấu vào lúc khó khăn nhất. Ông kết tội những cá nhân như vậy là trốn tránh nhiệm vụ và yêu cầu họ sửa chữa. Với thời gian tấn công giờ lùi lại vào cuối tháng hai hoặc tháng ba, Tướng Giáp tách Sư đoàn 308 đang làm nhiệm vụ bao vây, cử họ tiến thẳng sang Luang Prabang.

Được cảnh báo bằng những tin tức gián đoạn trên đài phát thanh và số liệu thu thập được từ các cuộc hỏi cung tù nhân, Pháp chờ đợi Việt Minh tấn công vào khoảng ngày 25 tháng 2. Với họ, sự di chuyển quân của Sư đoàn 308 là một sự bất ngờ làm họ bối rối và là dấu hiệu chắc chắn rằng trận đánh đã bị hoãn lại. Bát cứ sự trì hoãn nào cũng đều làm giảm sút ý chí của con người. Giống như Việt Minh, binh lính Pháp đã lên dây và sẵn sàng chiến đấu. Binh lính trong các hầm hào công sự đều tin tưởng và chờ đón trận đánh với hy vọng kết thúc sự chờ đợi dai dẳng. Với tất cả những điều nói trên, họ mong muốn được thử sức mình. Nếu lính súng trường và các xạ thủ ở Điện Biên Phủ cảm thấy bị lừa đối, thì các thành viên của Tư lệnh Pháp còn bị thất vọng lớn hơn. Trận đánh mà họ mong đợi quá lâu, trận đánh sẽ lộ ra các sư đoàn của Tướng Giáp và những gì diễn ra mà họ đã nói với các du khách cao cấp từ Paris có thể là bước ngoại của cuộc chiến tranh với những người ủng hộ Pháp giờ đây lại là con số không.

Một lần nữa, binh lính ở nơi khác lại phải bay sang để tăng cường cho các khu phòng thủ ở thủ đô của Lào. Một số nhà quan sát cho rằng Luang Prabang luôn là mục tiêu chính của Tướng Giáp và phần lớn các sư đoàn của ông sẽ nối theo ngay Sư đoàn 308, còn một lực lượng nhỏ kiềm chế Điện Biên Phủ và quân đồn trú bị bao vây. Nhiệm vụ chính của Sư đoàn 308 là ngăn cản khả năng rút lui của quân Pháp từ Điện Biên Phủ sang Lào và cản trở những nỗ lực hình thành một dải đất liền nối với các pháo đài. Sư đoàn 308 quét sạch quân đồn trú ở Mường Khao, căn cứ mà Pháp đã lấy lại trong chiến dịch “Ardèche” và giải tán một số đồn nhỏ trước khi quay về Điện Biên Phủ.

Trong khi đó, đáp lại những mệnh lệnh của Tư lệnh Pháp, De Castries tiếp tục thúc giục các đội tuần tra chiến đấu đưa tiểu đoàn lùng sục các làng xung quanh để tìm ra các căn cứ của đối phương, xác định và phá huỷ các vị trí pháo ở các đồi về phía Đông. Những cuộc tuần tra này không tránh khỏi các cuộc đụng độ với địa phương ở khoảng cách rất gần từ Điện Biên Phủ. Sự mệt mỏi của đội quân khi quay về cũng có nghĩa làm chậm hơn nhiệm vụ củng cố các vị trí phòng thủ. Trước đây, các đội tuần tra đã va chạm với các đơn vị cơ động của đối phương ở các vị trí phục kích tạm thời. Giờ họ đang lao đầu vào chống lại lính bộ binh Việt Minh ở những công sự bê tông ngầm vững chắc và các hệ thống hầm hào. Các bệ súng này được ngụy trang tốt tới mức các đội trinh sát và lính canh qua lại thường xuyên mà cũng không phát hiện ra. Việt Minh đã tận dụng tối đa yếu tố bất ngờ, giấu hoả lực tới khi thuận lợi nhất mới lia đạn vào đội tuần tra của Pháp với các vũ khí tự động, DKZ, súng không giật 57 ly và cơn mưa lựu đạn.

Trong một đợt tác chiến không thành, Langlais dẫn lính dù và một tiểu đoàn người Marốc cùng Tiểu đoàn ngụy Thái số 2 tiến về Đồi 781 nhằm đúng hướng Điện Biển Phủ, họ hy vọng tìm được pháo binh đối phương ở sườn đồi phía sau để tiêu diệt. Langlais mang theo một phân đội súng phun lửa Lê dương và một bộ phận công binh chiến đấu để giúp giải quyết các công sự của Việt Minh trên đường tuần tra. Ở đây, một lần nữa các bài học về việc sử dụng vũ khí lại không phù hợp với thực tế. Không phát hiện được khẩu pháo nào ở sườn đồi phía sau và trước khi đội tuần tra có thể leo lên được các độ cao để xem xét sườn đồi phía sau hướng Điện Biên Phủ, chúng đã bị đánh dập gót bằng một trận tấn công dữ dội của đối phương. Người Marốc, đúng như tiếng tăm của họ, đã chiến đấu dũng mãnh như những con hổ, nhưng tiểu đoàn người Thái lại dao động và bắt đầu tan rã. Langlais phải ra lệnh rút lui. Đội tuần tra kéo về Điện Biên Phủ chẳng có gì trong tay để chứng minh cho những nỗ lực của họ mà còn bị thương vong nhiều hơn. Đội đã mất 96 sĩ quan và binh lính.

Những thất bại như thế đang gặm nhấm lòng tin của quân đồn trú Pháp. Họ còn bộc lộ những yếu kém trong các đơn vị. Các tiểu đoàn người Thái thường quen với các trận phục kích và các trận đánh nhỏ trong rừng không có nghĩa là họ được sử dụng như các đơn vị chính quy. Mặc dù các binh lính người Thái thường chiến đấu bằng lòng dũng cảm nhưng họ không thể ngang bằng với các lính chính quy Việt Minh trong một trận đánh quyết liệt, kéo dài. Binh lính Bắc Phi, những người đã chiến đấu với những đặc trưng riêng trong Đại chiến thế giới II và đã chiến đấu rất tốt ở Đông Dương trước Điện Biên Phủ, cũng chỉ ra những dấu hiệu giảm sút hiệu quả. Lính Marốc đã bị dao động hồi đầu năm vì chính phủ Pháp đã truất ngôi và trục suất quốc vương của họ do các quan điểm chủ nghĩa quốc gia. Đây là hành động xúc phạm tôn giáo và chính trị đối với người Marốc, từ đó quốc vương cũng là người lãnh đạo tôn giáo đáng kính của tất cả mọi người tin vào đạo Hồi trong nước. Mặc dù các chiến sĩ của các trung đoàn thuộc địa này thường có truyền thống bàng quan với chính trị, nhiều người cũng đã bị sốc bởi hành động của chính phủ Pháp. Các đơn vị người Algeri không còn có cán bộ lành nghề như đã từng tạo ra những cỗ máy chiến đấu hiệu quả trong Đại chiến thế giới II. Những tổn thất đã nặng nề, cán bộ thay thế lại không có phẩm chất giống như những người đi trước. Cùng như người Marốc, người Algeri cần các sĩ quan, người mà họ biết và tôn trọng và người biết tôn trọng họ. Hơn nữa, nhiều người trong các đơn vị này đang phải chịu đựng sự mệt mỏi và thất vọng khi phải chiến đấu trong một cuộc chiến tranh dường như không bao giờ chấm dứt ở một vùng đất thù địch.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM