Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 02:35:03 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Điện Biên Phủ cuộc đối đầu lịch sử mà nước Mỹ muốn quên đi  (Đọc 53959 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #40 vào lúc: 07 Tháng Chín, 2009, 12:36:12 pm »


NHỮNG ĐIỀU ẢO TƯỞNG Ở VÙNG LÒNG CHẢO


“Dưới những trận bom napan của đối phương thì dù là đất đá cũng phải toé lửa”

Tướng Trần Độ


Ngày 14 tháng 3, Tiểu đoàn dù Thuộc địa số 6 của Thiếu tá Bigeard nhận được lệnh khẩn cấp rời bỏ nhiệm vụ bảo đảm an ninh ở sân bay Cát Bi để quay trở về Hà Nội. Đúng 8 giờ ngày 15 tháng 3, Bigeard báo cáo cho Thiếu tướng Cogny và được lệnh đưa tiểu đoàn dù quay lại Điện Biên Phủ. Khi kể lại trong cuốn sách của mình Bigeard nói đã phát hiện thấy không khí ảm đạm khó hiểu bao trùm lên sở chỉ huy sau sự thất bại của hai căn cứ. Cogny nói với anh ta: “Tình hình đang trở nên tồi tệ, Việt Minh làm chúng ta bất ngờ, hai cứ điểm Béatrice và Gabrielle thất bại, chúng ta mất 2 tiểu đoàn, pháo binh tê liệt. Báo cáo từ Hà Nội vào cho biết trận đánh nảy sinh nhiều yếu điểm, chúng ta chưa giành một thắng lợi nào và các cuộc phản công của chúng ta đều không hiệu qủa”.

Bigeard chấp nhận mệnh lệnh và chỉ ra rằng tiểu đoàn của anh ta cần được nghỉ ngơi. Tiểu đoàn 6 đã tham gia vào tất cả các chiến dịch trong 20 tháng qua và cần có thời gian để thở. Cogny hiểu nhưng vẫn kiên quyết. Tiểu đoàn của Bigeard không thể thiếu đối với sự sống còn của Điện Biên Phủ và những chiếc máy bay C-47 đang chờ đợi họ.

Trong khoảng thời gian ít ỏi để chuẩn bị, Bigeard chỉ có thể thăm dò thái độ ở sở chỉ huy. Chuyến thăm của anh ta tới bộ phận tác chiến đã làm cho binh lính ở đó coi sự thất bại của căn cứ này là điều tất yếu. Họ nói với anh ta rằng: “Chúng ta đã nhúng một ngón tay vào giải quyết, giờ chúng ta buộc phải dùng cả cánh tay”. Cơ bắp chân của Bigeard vẫn bị sưng lên và đau nhói. Mặc cho bác sĩ khuyên ở lại Hà Nội để điều trị nhưng anh ta vẫn quyết định đi. Không thể tin rằng Tiểu đoàn dù Thuộc địa số 6 sẽ tham gia chiến đấu mà không có Bigeard.

Sự ảm đạm ở sở chỉ huy Hà Nội lan truyền tới Điện Biên Phủ. Hành động tàn sát của các tiểu đoàn lính Lê dương, lính Algeri và vụ tự sát của Đại tá Piroth là đòn giáng mạnh vào tinh thần của quân đồn trú. Thực tế việc De Castries và Trung tá Keller không chịu nổi sự vất vả của chiến trường là một điềm gở được báo trước. Đó là một giai đoạn căng thẳng và mệt mỏi. Đại tá De Castries xuất hiện là để giải toả thái độ tò mò mà chính nó sẽ tác động tới vai trò chỉ huy của ông ta trong những ngày sắp tới. Trung tá Langlais không chịu nhượng bộ khi ông ta cố gắng ngăn chặn các đợt tấn công của Việt Minh và triển khai quân dự bị để lấp những chỗ trống trong phòng thủ. Sự phối hợp giữa các tổ đội, đơn vị đang phải căng ra vì các sĩ quan chủ chốt bị thương nhiều và sở chỉ huy của De Castries lại không bổ nhiệm kịp thời ban lãnh đạo.

Lính súng trường và các xạ thủ, những người đang phải chịu đựng đòn chủ lực của các đợt tấn công có thể đã không là điều bí mật đối với cấp trên của họ nhưng họ biết rằng cầu hàng không tới Hà Nội sẽ nhanh chóng trở thành một vấn đề của quá khứ. Đường băng liên tục bị bom oanh tạc, chỉ có những chiếc máy bay y tế C-47 là vẫn hạ cánh và đôi khi có cả những chuyến máy bay liên lạc. Các phi công đang phải đương đầu với làn hoả lực phòng không chính xác và dày đặc của Việt Minh. Họ nghĩ rằng đồ tiếp tế thả xuống sẽ được cung cấp liên tiếp cho quân đồn trú và đảm bảo một phần cho cuộc chiến đấu. Cũng như tất cả binh lính chiến đấu, binh lính trong các công sự luôn nghĩ tới điều gì sẽ xảy ra nếu họ bị thương. Cho tới giờ, những người bị thương nặng đã được chuyển đi kịp thời, và phải thừa nhận sự nỗ lực dũng cảm của những chiếc máy bay y tế. Sự lựa chọn duy nhất là bệnh viện đẫm máu và hôi hám đã bị quá tải của Điện Biên Phủ.

Pierre Schoendoerffer, nhà quay phim quân đội bị thương nhẹ trên Đồi 781 trong trận đánh ngày 5 tháng 3, đang điều dưỡng ở Sài Gòn nhận được một bức điện khẩn từ Hà Nội của một đồng nghiệp - nhà nhiếp ảnh Jean Péraud gửi thông báo rằng cả hai cần có mặt ở Điện Biên Phủ. Cái chết của Jean Martinoff và việc sơ tán André Lebon bị thương để lại một mình nhà nhiếp ảnh Daniel Camus bao quát trận đánh. Schoendoerffer vội vã tìm một chỗ trên máy bay để tới Hà Nội. Điều đó không dễ dàng vì các sĩ quan tham mưu và quân tăng cường đã đầy kín các chuyến bay. Trong tình thế như vậy thì một lính súng trường có quyền ưu tiên cao hơn một người quay camera. Vào ngày 16 tháng 3, Péraud đi cùng với tiểu đoàn của Bigeard. Hai ngày sau, sau một trận tranh giành quyết liệt ở Hà Nội để tìm một chỗ trên máy bay nhảy dù xuống Điện Biên Phủ, Schoendoerffer tụ họp được với các đồng đội của mình. Camus, Péraud và Sehoendoerffer phải ở lại Điện Biên Phủ trong suốt trận đánh.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #41 vào lúc: 07 Tháng Chín, 2009, 12:39:08 pm »


Ngày 16 tháng 3 quân đồn trú nhận được những thùng hàng cứu trợ lớn được thả xuống 2 khu vực thả hàng tiếp viện. Chuyến hàng gần đường băng chính gồm đạn dược, một điện dài phát tín hiệu hướng dẫn máy bay và nhiều hàng y tế. Chuyến hàng xuống khu vực Octavie gần cứ điểm Isabelle thả các xạ thủ thay thế cho 8 người bị chết hoặc bị thương do hoả lực địch, các súng đại bác cỡ 105 ly thay thế cho 6 khẩu súng bị phá hủy, quân thay thế cho Tiểu đoàn dù xung kích số 8 và hơn 600 lính của Tiểu đoàn 6 do Thiếu tá Bigeard chỉ huy.

Mưa và sương mù làm chậm các đợt hàng tiếp viện tới tận sau 11 giờ. Cuối cùng, tiếng ồn của động cơ và tiếng nổ của vũ khí phòng không cho thấy sự có mặt của chuyến bay dẫn đầu. Pháo của đối phương đang bắn về phía khu vực thả hàng tiếp viện Octavie khi lính Pháp và lính Việt Nam thuộc Tiểu đoàn số 6 đang nhẩy xuống. Bigeard lao mạnh xuống đất và phải nhờ tới sự giúp đỡ. Hiện tại anh ta bị bong gân mắt cá và đau bắp chân. Bắt liên lạc với các chỉ huy đại đội, anh ta yêu cầu báo cáo thương vong và lệnh cho quân dàn ra trong khi di chuyển tới Điện Biên Phủ. Sau đó anh ta đi tập tễnh tới cứ điểm Isabelle, của Đại tá André Lalande, gọi điện về sở chỉ huy yêu cầu cho một xe jeep tới để đưa Bigeard về cứ điểm chính.

“Bigeard quay lại!” Tin tức quay về của anh ta lan truyền khắp Điện Biên Phủ như một nguồn cổ vũ tinh thần. Chỉ huy và binh lính Tiểu đoàn 6, với sự hiếu chiến và lạnh lùng dưới làn hoả lực là biểu tượng tốt đẹp nhất của Tập đoàn Viễn chinh Pháp. Nếu Bruno (biệt danh của Bigeard) quay trở lại để cùng chung số phận, quân đồn trú có lý trí thì vẫn còn có hy vọng. Về phần mình Bigeard nhanh chóng cảm nhận thấy sự thất vọng và ý thức đạo đức kém xung quanh anh ta. Mặc dù được báo trước nhưng anh ta vẫn bị sốc bởi những gì thấy được. Câu chuyện của Đại uý Botella về việc anh ta đuổi một số lính dù người Việt khỏi Bawouan 5 vì tội tác chiến kém trong trận phản công ở cứ điểm Gabrielle đã gây ấn tượng đối với Bigeard vì yêu cầu cấp bách lúc đó là tăng thêm sinh lực cho quân đồn trú. Các vấn đề trở nên tồi tệ hơn, Bigeard và Trung tá Langlais đã va chạm nhau ngay khi anh ta quay trở về. Vì Langlais đã lệnh cho một đại đội thuộc Tiểu đoàn 6 tiến hành tuần tra mà không thông qua Bigeard. Đi tập tễnh vào bốt chỉ huy của Langlais bằng chiếc nạng gỗ, Bigeard tức giận nói với Langlais rằng bất cứ mệnh lệnh nào cho Tiểu đoàn 6 đều phải thông qua anh ta. Thậm chí anh ta còn nhắc lại lời của Thiếu tướng Cogny rằng dường như sẽ không có gì là thuận lợi ở Điện Biên Phủ và anh ta phải chú ý tới tình hình thay đổi. Sau đó Bigeard tả lại việc Langlais đã phá vỡ sự bế tác như thế nào. “Anh nói với tôi anh là một Lorrain còn tôi là một Breton. Cả hai chúng ta đều cứng đầu. Chúng ta hãy đập mạnh vào cái cột này thì sẽ thấy ngay ai cứng đầu hơn!” Lúc đó cả hai cùng phá lên cười. Từ đó Langlais và Bigeard hiểu nhau hơn. Họ đã tạo ra một đơn vị đoàn kết, một sự cố kết trong đám binh lính để cùng thực hiện các nỗ lực của Pháp ở Điện Biên Phủ.

Ngày 17 tháng 3, sương mù tan chậm, nó bao trùm lên các căn cứ trong thung lũng giống như một bức màn phong cho phép những toán quân có đủ thời gian để ăn uống. Sương mù còn yểm trợ cho binh lính của hai đại đội thuộc Tiểu đoàn ngụy Thái số 3 ở căn cứ Anne-Marie. Ngoài yếu tố ở trong môi trường thành luỹ và lo lắng về các gia đình bỏ theo Việt Minh, lòng trung thành của người Thái đã bị dao động vì sự thất bại của căn cứ Béatrice và Gabrielle. Nếu những đội quân lính Lê dương cao to, lạnh lùng và những tay lính người Algeri không thể chịu đựng được các đợt tấn công của đối phương thì làm sao họ có thể hy vọng tiếp tục chiến đấu. Người Thái từ lâu đã trở thành mục tiêu của chiến dịch chiến tranh tâm lý của đối phương do những người Thái ủng hộ Việt Minh và những dân làng hoạt động cho Cộng sản thực hiện. Những lá truyền đơn tuyên truyền của Việt Minh bằng ngôn ngữ dân tộc được tìm thấy trong các vị trí của tiểu đoàn người Thái. Nhưng chủ yếu các đợt oanh tạc pháo của đối phương là yếu tố quyết định trong việc đào ngũ của họ. Chiến tranh trong các vùng lãnh thổ của người dân tộc có những nguyên tắc riêng của nó. Bạn tấn công khi bạn đang khoẻ và rút nhanh chóng vào rừng nếu đối phương có lợi thế hơn. Với người Thái, lúc đó dường như vẫn bất động trong một đường hào trên một ngọn đồi trọc. Lặng lẽ và thận trọng đám người Thái hạ vũ khí và trườn qua hàng rào thép gai, bỏ lại hai căn cứ ở phía Bắc của Anne-Marie cho Việt Minh. Các sĩ quan Pháp và một ít người Thái không tham chiến cùng các binh lính không trốn được phải nhờ tới một đại đội người Thái đang cố thủ ở đó. Sau đó, một đại đội từ tiểu đoàn của Bigeard đã cố gắng lấy lại các vị trí bị mất nhưng hoả lực của Việt Minh quá mạnh và cuộc tấn công phải huỷ bỏ. Hai bốt còn lại của căn cứ Anne-Marie sau đó được hợp lại thành một phần của khu vực phòng thủ “Huguette”.

Tổng cộng 254 người Thái được ghi vào danh sách những kẻ đào ngũ ngày 31 tháng 3. Cũng không phải chỉ có người Thái rời bỏ vị trí chiến đấu. Một bài báo của Hãng tin Trung Quốc công bố những kẻ đào ngũ trong quân đồn trú ở Điện Biên Phủ đã gây ra một rắc rối cho Navarre ở Paris. Navarre phải báo cáo sự việc đào ngũ của 2 lính Lê dương ngày 17 tháng 3 và sau đó là 12 lính Lê dương trong tháng 4. Một số binh lính người Việt và người Bắc Phi cũng liều mạng đầu hàng để trốn khỏi vùng lòng chảo Điện Biên Phủ. Trong suốt cuộc chiến tranh Đông Dương, một số lẻ đào ngũ đã trở thành những kẻ phản bội và phục vụ trong hàng ngũ Việt Minh. Với một số, Điện Biên Phủ trở thành trận chiến cuối cùng của họ. Một bức điện tối mật từ Điện Biên Phủ đã thông báo cho sở chỉ huy ở Hà Nội:

Cuốn phim tài liệu của phóng viên cho biết hôm nay phát hiện thấy 6 bức ảnh và 7 thi hài người châu Âu trong số thương vong của Việt Minh. Những dấu hiệu phân biệt: hình xăm: đầu của một phụ nữ bên cánh tay phải... Yêu cầu nhận dạng nếu có thể.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #42 vào lúc: 07 Tháng Chín, 2009, 12:39:43 pm »

 
Một số pháo phòng không 37 ly của Liên Xô hiện đã được di chuyển gần hơn tới đường băng, độ chính xác của hoả lực này đã làm cho việc cứu thương càng thêm khó khăn. Súng máy cỡ lớn của Việt Minh và pháo thu ở các vị trí của căn cứ Gabrielle, Anne-Marie cũng là một nguy cơ. Những chiếc máy bay cứu thương C-47 ầm ầm đổ xuống đường băng và theo sau là một xe cứu thương chở đầy thương binh. Khi máy bay hạ cánh, động cơ vẫn chạy, nhân viên y tế phải mất 5 phút để thả những chiếc cáng để vận chuyển những người bị thương. Vài phút sau một tiếng chuông thông báo sắp tới giờ cất cánh. Những chiếc máy bay thường bị buộc phải cất cánh khi mới chỉ đưa được ít thương binh lên. Sau đó xe cứu thương lại đưa những người thương binh còn lại về phía sau. Trong cảnh vội vã và lộn xộn của việc chuyển thương binh, nhiều người không bị thương đã cố gắng rời Điện Biên Phủ bằng cách luồn lách để lên được những chiếc máy bay cứu thương C-47. Một bộ phận quân cảnh từ tiểu đoàn Lê dương đã phải làm nhiệm vụ hướng dẫn công việc sơ tán.

Hoả lực phòng không càng quyết liệt, yêu cầu các chuyến bay của Pháp làm nhiệm vụ ngăn cản hoả lực càng cấp bách. Mà ở đây các phi công và các nhân viên của lực lượng không quân – hải quân phải nhận ra nhau. Từ những trận oanh tạc dữ dội đầu tiên của ngày 13 tháng 3, hai máy bay Helldivers và Hellcats từ hàng không mẫu hạm Arromanches đã được đưa lên bờ để tác chiến từ sân bay Cát Bi và Bạch Mai. Điều này cho phép máy bay chiến đấu và máy bay ném bom bổ nhào rút ngắn thời gian bay tới Điện Biên Phủ và thực hiện các đợt tấn công mở đầu vào các vị trí súng của đối phương. Các máy bay chiến đấu cũng được gọi tới để bảo vệ những chiếc C-119 khi chúng thả hàng xuống thung lũng. Khi hoàng hôn bao trùm lên Điện Biên Phủ, máy bay từ hàng không mẫu hạm Arromanches lại quay hướng chú ý vào các đường dây liên lạc của Việt Minh, bắn phá trung tâm tiếp tế và những đoàn hộ tống trên Đường 41.

6 chiếc máy bay hải quân có võ trang đóng ở Cát Bi nay đang phải thực hiện các đợt bay suốt ngày đêm làm nhiệm vụ chống lại các căn cứ của Việt Minh trong và quanh Điện Biên Phủ. Giống như những chiếc máy bay chiến đấu và máy bay ném bom bổ nhào những chiếc có võ trang đang bị đẩy vào tình trạng bế tắc. Công việc sửa chữa và kiểm tra thông thường được gác lại dành cho các biện pháp tạm thời để máy bay có thể tiếp tục bay và tấn công mục tiêu. Một nhân viên trên máy bay có võ trang phải bay 4 chuyến trong đó có 2 chuyến trong đêm và tổng cộng là 13 giờ bay trong một ngày.

Khi cuộc chiến căng thẳng, sự phiêu lưu của các phi công hải quân đã trở thành huyền thoại với quân đồn trú ở Điện Biên Phủ. Mối quan hệ đặc biệt giữa nhân viên bay hải quân và các tiểu đoàn dù được tăng lên. Cho dù lực lượng không quân Pháp có cùng chung những mạo hiểm nhưng lính dù vẫn nhận ra lòng nhiệt tình, táo bạo khác thường trong đám phi công hải quân. Bất cứ viên phi công hải quân nào hạ cánh xuống Điện Biên Phủ đều mong chờ một sự đón tiếp nồng ấm từ phía lính dù, một chút rượu thịnh soạn chúc mừng sự sống sót của họ.

Do đảm bảo an toàn hơn cho việc tiếp tế nên đã giúp những sĩ quan không quân Pháp và các đối tác người Mỹ cùng nhau vạch kế hoạch sử dụng máy bay C-119 để ném bom napan các điểm đặt súng của Việt Minh. Nỗ lực này đòi hỏi sự can thiệp đáng kể của người Mỹ trong đó có việc xuất các nguồn napan từ các kho dự trữ của Mỹ ở Viễn Đông, thảo ra các chi tiết trong tác chiến, huấn luyện nhân viên bay theo kỹ thuật hoàn toàn mới và các chuyến bay thử nghiệm. Dự án này đầu tiên phải được sự đồng ý của Pháp và Mỹ. Sự tán đồng đã làm nảy sinh một vấn đề tế nhị ở Washington vì hiện tại trong 29 lần bay làm nhiệm vụ chiến đấu của C-119 trên bầu trời Điện Biên Phủ đều có các nhân viên người Mỹ. Những nhân viên dân sự này do Hãng vận tải hàng không dân sự - Civil Air Transport Corporation (CAT) của Đài Loan cung cấp theo một hợp đồng do CIA sắp xếp. Quyết định cung cấp phi công Mỹ đã được ký sớm ở Washington ngày 29 tháng 1 trong một cuộc họp của Uỷ ban đặc biệt của Tổng thống Eisenhower về Đông dương. Thoả thuận cử 200 lính cơ khí thuộc lực lượng không quân Mỹ hiện đang làm việc tại các căn cứ không quân của Pháp ở Bắc Việt tới Điện Biên Phủ cũng được ký trong cuộc họp đó. Và Tướng O’Daniel được cử làm Trưởng phái đoàn MAAG của Mỹ ở Sài gòn. Một ghi chú của cuộc họp ghi lại lời từ chối của Uỷ ban về việc cung cấp một khí cầu nhỏ cho Pháp để dùng vào các mục đích trinh sát. Các máy bay có võ trang của Pháp đang bị hoả lực phòng không của Việt Minh hạ bệ ở độ cao 3000 mét, bởi vậy yêu cầu này chắc chắn không thực tế và lời từ chối được biện minh. Các nhân viên bay thuộc lực lượng không quân Pháp chỉ bay trong 5 chiếc của tổng số 29 máy bay C-119, Washington thấy không yên tâm về hợp đồng can thiệp của phi công trong bất kể chuyến bay tiếp tế nào đặc biệt từ khi Lầu Năm góc tách một số phi công không quân Mỹ cho đoàn CAT ở Hà Nội. Tướng Trapnell - Trưởng phái đoàn MAAG Mỹ đã bày tỏ mối quan tâm của ông ta tới sự an toàn của lính cơ khí thuộc lực lượng hàng không Mỹ đang làm việc tại các căn cứ của Pháp bị lính biệt kích Việt Minh tấn công; cuối cùng khẳng định lại rằng phi hành đoàn của Pháp sẽ điều khiển các đợt thả bom napan khi người Mỹ đồng ý.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #43 vào lúc: 07 Tháng Chín, 2009, 12:40:26 pm »


Ngày 24 tháng 3 năm 1954, Đại sứ Haeth thông báo cho Bộ Ngoại giao biết Navarre rất hài lòng với sự cho phép đó có nghĩa là thừa nhận bắt đầu chiến dịch ném bom napan. Maurice Dejean - Cao uỷ Pháp nói vị tướng này đã mong chờ bom napan hủy diệt khu rừng bao quanh các căn cứ, mang lại những tổn thất nặng về giời, phá huỷ và làm hỏng các điểm pháo binh của Việt Minh. Nhưng những việc diễn ra ở Điện Biên Phủ rõ ràng đã dạy cho Navarre không được quá lạc quan. Ông ta cũng nói với Dejean rằng từ khi súng của đối phương được đưa vào núi, họ đã rất khó khăn khi tiến quân do các đợt bắn pháo và hoả lực trực tiếp.

Trước sự gián đoạn của các chuyến bay sơ tán bệnh viện của Thiếu tá Grauwin ngày càng tồi tệ. Ngày 17 tháng 3, Việt Minh đã trả lại 86 người bị thương cho các vị trí còn lại của Pháp ở căn cứ Anne-Marie, sức chứa của bệnh viện càng tăng thêm. Gần 500 thương binh bị nhồi nhét vào những chỗ trú ẩn. Máu, mủ, nôn mửa... trộn lẫn với bùn thành một loại đất nhoét. Những con giòi bò thành từng đàn chen chúc nhau trên tường đất và sinh sản nhanh dưới các đống đồ ăn thải và những bộ quần áo bốc mùi. Công việc vệ sinh thông thường phải hủy bỏ vì đội quân của Grauwin đã quá mệt mỏi khi phải chiến đấu để giành lại các mạng sống, chuyển các xác chết và chuẩn bị sơ tán những thương binh nặng.

Một đoạn trích trong bức điện gửi cho Hà Nội báo cáo thương vong trong một đơn vị lính Lê dương cho thấy mức độ thương vong và chết chóc mà quân đồn trú hàng ngày phải đối mặt:

Lính Lê dương Albus Jean bị chết do pháo bắn vào đầu. Poualin Pierre bị thương vào bụng. Vaucher George bị chết. Ba người bị thương vào ngực, người bị thương vào chân, hai người bị thương vào bắp chân, người bị thương bắp đùi, người bị thiêu cháy...

Ngày 19 tháng 3, trận oanh tạc pháo diễn ra không ngớt. Một cuộc chạy đua chống lại cái chết lại diễn ra dưới làn hoả lực ác liệt khi những xe cứu thương và xe tải đang phải lao qua những hố bom trên đường để tới điểm hẹn làm nhiệm vụ sơ tán. Những quả pháo của đối phương đánh vào khu bệnh viện làm nổ tung đám thi hài đang nằm phơi trong nhà xác, những mảnh thịt văng vào các hào giao thông và bắn tung ra phía ngoài các khu trú ẩn.

Một đoàn phẫu thuật tăng cường do Trung uý Vidal chỉ huy đã nhảy dù xuống thung lũng và bắt đầu vượt sông Nậm Rốm. Trong giây phút hiếm hoi lặng tiếng súng, một chuyến hàng chở máu, thuốc peniciline, mocphin... đã được thả xuống mà không hề bị hư hại. Những quả pháo nổ chậm từ súng đại bác 105 ly của Việt Minh đã rơi vào các khu vực bệnh viện. Một quả cối 120 ly bắn thẳng vào khu trú ẩn của đám binh lính cùng 50 người đã bị thương. 14 người bị chết ngay lập tức và hầu hết những người sống sót đều bị thương nặng lần thứ hai.

Tình trạng của những người bị thương đã trở thành mối quan tâm chính của Tư lệnh Pháp. Ngày 20 tháng 3, Paul Sturm ở Hà Nội đã gửi một bức điện mật cho Washington thông báo tình hình:

Người phát ngôn của Tướng Cogny sáng nay cho biết bức thông điệp phát trên đài gửi cho Việt Minh nêu rõ những máy bay hiệu chữ thập đỏ đang tới Điện Biên Phủ để sơ tán thương binh, hôm qua một chiếc C-47 của Pháp đã hạ cánh. Máy bay này đã bị hoả lực bám sát khi đang đưa người lên, nhưng đã cố gắng cất cánh với khoảng 30 người. Hai máy bay chữ thập đỏ khác chưa thể hạ cánh. Việt Minh đã không chấp nhận bức thông điệp trên đài của Pháp, có lẽ họ không nhận được. Suốt cả ngày, 5 chiếc trực thăng ở căn cứ Mường Sài, Lào đã sơ tán thương binh theo khả năng cho phép: người cung cấp tin không có số liệu về số thương binh được sơ tán. Một trong những trực thăng này bị trúng hoả lực của đối phương nhưng đã cất cánh thành công. Đêm hôm trước sau khi trời tối 5 chiếc C-47 đã hạ cánh xuống Điện Biên Phủ và sơ tán an toàn cho khoảng 100 thương binh về Hà Nội. Với tư cách cá nhân, người phát ngôn cho rằng kế hoạch vạch ra đã không tính hết được vấn đề sơ tán thương binh và ông ta e rằng vấn đề đó sẽ trở nên nghiêm trọng hơn khi các đợt tấn công vẫn đang tiếp diễn.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #44 vào lúc: 07 Tháng Chín, 2009, 12:41:12 pm »


Các sĩ quan đưa tin ở Hà Nội và Sài Gòn đã nhấn mạnh việc vi phạm Công ước Geneve của Việt Minh khi bắn vào máy bay chữ thập đỏ. Nhưng các sĩ quan Việt Minh theo dõi hoạt động trên đường băng qua ống nhòm hoặc các phạm vi hoạt động pháo binh lại có quan điểm khác. Họ thấy các nhân viên bay của Pháp lên các trực thăng y tế khởi hành từ tiểu đội bay chiến đấu ở Điện Biên Phủ còn sĩ quan tham mưu lại lên thay vào các máy bay chữ thập đỏ. Thực tế này cũng vi phạm Công ước Geneve. Đài của Việt Minh cũng công bố rằng người Pháp có mang đạn dược lên các máy bay y tế. Dù là những công bố hay những tố giác thì tình hình thương vong là rất tuyệt vọng.

Sau đó các phi công thuộc lực lượng không quân đã đưa ra một mẹo để lừa các tay súng Việt Minh. Hai máy bay y tế C-47 sẽ xuống đường băng vào nửa đêm. Một chiếc sẽ bay trên đường băng ở độ cao 200 mét, gầm rú động cơ như đang thả hàng tiếp tế. Chiếc kia tắt động cơ, lướt nhanh trong đêm tối theo các đèn hiệu để hạ cánh. Việc này tỏ ra có hiệu quả trong vài đêm với tỉ lệ 40 thương binh trên một chuyến. Một kế hoạch hạ cánh 6 máy bay một lúc đã bắt đầu quen... tới tận lần hạ cánh thứ 4. Đúng lúc đó một quả pháo sáng từ một vị trí của Pháp tại căn cứ Huguette bắn vào không trung làm sáng rực đường bay để lộ ra vùng trú ẩn. Những quả pháo bắt đầu nã liên tục vào đường băng gần chiếc C-47. Thương binh được đưa lên vội vã, phi công nổ máy và máy bay cất cánh vào bầu trời tối đen. Không ai dám chắc rằng liệu Việt Minh có phát hiện ra chiến thuật của Pháp hay việc oanh tạc chỉ là một phản ứng vu vơ đối với pháo sáng. Vì thế họ đã quyết định thử lại vào đêm hôm sau. Lần này, không nghi ngờ gì nữa một chiếc C-47 vào đúng vùng phục kích của tổ tuần tra Việt Minh. Các vũ khí tự động đã nhả đạn vào máy bay, giết chết người điều khiển radio và làm bị thương nặng người phụ lái. Từ đó, mọi đợt hạ cánh - dù là chữ thập đỏ hay không chắc chắn đều cuốn hút hoả lực.

Mặc dù có những thành công nhưng Việt Minh cũng đang gặp phải những khó khăn riêng. Bệnh dịch và thiếu thuốc men vẫn là một vấn đề nan giải. Đảm bảo đạn dược và lương thực đến đúng nơi, đúng lúc có thể cho thấy sự mệt mỏi và tổn thất của binh lính. Những tuyến đường tiếp tế qua rừng làm trong tháng mười hai và tháng một, được sửa chữa nhanh chóng sau khi bị sử dụng liên tục và những trận mưa nhiệt đới đòi hỏi phải thường xuyên duy trì việc sửa chữa. Bom đạn và những đợt bắn phá của Pháp có thể không cắt đứt được các tuyến đường tiếp tế của Việt Minh nhưng cũng gây một tổn thất lớn đối với các công binh, tài xế xe tải và những dân công. Những quả bom sát thương do Mỹ cung cấp mới đây hiện đã được đưa vào kho chứa vũ khí của Pháp.

Những tổn thất nặng nề mà các đơn vị của Tướng Giáp phải chịu cũng đã gây ra một tác động tới Việt Minh. Vai trò của các sĩ quan chính trị cộng sản trở nên quan trọng hơn trong việc động viên ý chí và tinh thần chiến đấu của binh lính. Những bài diễn thuyết, thảo luận và bài phát biểu về lòng yêu nước đã giúp cho bộ đội chú trọng vào nhiệm vụ của mình. Hai ngày sau, cuộc tấn công vào căn cứ Beatrice thành công, bức thông điệp đặc biệt của Tướng Giáp gửi cho binh lính thông báo: “Tinh thần của đối phương bị tác động mạnh, gặp nhiều khó khăn nhưng chúng ta không được đánh giá thấp đối phương. Nếu chúng ta đánh giá thấp đối phương, chúng ta sẽ thất bại...” Nhưng sau đó, Tướng Giáp lại cảnh báo: “Khó khăn đầu tiên đã xuất hiện vì chắc chắn các đồng chí không nhận thức được tình hình thực tế và các lực lượng liên quan, tỏ ra chủ quan và coi thường đối phương, từ đó thấy được sự yếu kém của tổ chức chiến đấu phía ta mà có thể dễ dàng dẫn tới thất bại”.

Việc tăng thêm quân Pháp ở Điện Biện Phủ đã không thể kết thúc. Khi Việt Minh tiến gần tới các công sự chính, một số thùng hàng tiếp viện đã rơi vào khu vực họ đóng quân vì thế đã trực tiếp cung cấp cho Việt Minh mọi thứ từ đạn dược tới quần áo ngụy trang. Cho dù phần lớn những thùng hàng rơi vào bên trong vành đai phòng thủ nhưng cũng cần phải có sự cố gắng lớn, vượt nguy hiểm mới lấy được và đem phân phát cho mọi người. Những gói hàng ban đêm có thể tránh được hoả lực phòng không còn những gói lớn rất khó có thể xác định được trong đêm tối và hoả lực pháo binh của Việt Minh đã làm cho mọi việc trở nên khó khăn hơn. Điều này đặc biệt đúng với những gói hàng lớn được thả xuống từ những chiếc C-119. Cuộc trao đổi qua điện tín giữa De Castries và sở chỉ huy Hà Nội đã di đến quyết định những gói hàng lớn thả từ máy bay C-119 phải chia thành từng gói nhỏ hơn.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #45 vào lúc: 07 Tháng Chín, 2009, 12:41:43 pm »


Khi chiến dịch Điện Biên Phủ đang thu hút sự chú ý của toàn thế giới thì ở Hà Nội đã diễn ra một chiến dịch bao vây tinh thần. Vì các trận oanh tạc của lính biệt kích Việt Minh vào các sân bay Bạch Mai, Gia Lâm, Cát Bi và Đồ Sơn, Navarre đã lệnh cho dân các làng xung quanh buộc phải sơ tán. Điều này được thực hiện cho dù có sự phản đối mạnh mẽ của thủ lĩnh Bắc Việt. Cùng lúc đó Thiếu tướng Cogny đang theo dõi việc tập trung lực lượng của đối phương vào sát Hà Nội và Hải Phòng. Các báo cáo tình báo đã xác định vị trí của 36 tiểu đoàn chính quy Việt Minh ở châu thổ sông Hồng được các lực lượng địa phương và dân quân tự vệ làng xã ủng hộ. Ngày 17 tháng 3, Sturm đã gửi một bức điện mật từ Hà Nội cho ngài Đại sứ Heath, phàn nàn rằng quyết định sơ tán các nữ nhân viên người Mỹ và du khách về Sài Gòn của ông ta đã trực tiếp liên quân tới quân dự bị của Pháp ở Điện Biên Phủ và làm cho vấn đề an ninh ở miền Bắc tồi tệ hơn. Chỉ ra tình hình lúc đó vẫn chưa thay đổi, Sturm nói:

Dù sao các nhà chức trách dân sự và quân sự đều khuyên không nên sử dụng các tuyến đường dẫn ra ngoài thành phố, vì tất cả hiện đều đang phải chịu các đợt tấn công lẻ tẻ. Đường cao tốc Hà Nội – Hải Phòng chỉ mở cho qua lại vào các buổi trưa. Đường tàu bị phá hoại nặng, 12 tuyến đã được khôi phục để phục vụ. Sự thâm nhập của Việt Minh gồm cả quân chính quy và quân địa phương có võ trang từ trước tới nay chưa hề cao tới mức như vậy gần các khu đông dân cư.

Thông báo cho ngài đại sứ rằng Pháp đang tính tới việc sơ tán phụ nữ và trẻ em ra khỏi Bắc Bộ nếu Điện Biên Phủ thất bại, Sturm đã cảnh báo về một chiến dịch tổng lực có thể xảy ra và hứa giữ lời khuyên của ngài đại sứ. Bức điện của ông ta kết luận: “Vào lúc đó làm ơn đưa tất cả phụ nữ và du khách ra xa Hà Nội ngoại trừ bản thân ngài”.

Ngày 24 tháng 3, hành động đầu tiên đã được thực hiện trong đợt ném bom napan tập trung vào các vị trí của Việt Minh 1 km về phía Tây của các công sự phòng ngự Điện Biên Phủ. 3 chiếc C-119 có các nhân viên của Pháp đã thả một loạt bom napan với các ngòi nổ chậm 10 giây trên một khu vực dài 3km, rộng 1 km. Khu mục tiêu thứ 2 do các máy bay C-47 đảm nhiệm. Những đợt ném bom napan cuối cùng đã tiêu diệt nhiều vị trí của Việt Minh và gây ra nhiều thương vong. Nhưng thời tiết xấu, hoả lực phòng không kém, thiếu kinh nghiệm... kết hợp lại đã làm giảm hiệu quả của chiến dịch. Tướng Trần Độ sau này đã viết một đoạn mô tả rất lãng mạn về các đợt tấn công.

Dưới những trận bom napan của địch thì dù là đất đá cũng phải toé lửa; nhưng mặc cho những vết cháy trên da thịt, bộ đội của chúng ta vẫn chiến đấu, súng đạn của ta vẫn liên tiếp bắn vào kẻ thù những kẻ đang lợi dụng khói thuốc để không ngừng mở các đợt tấn công. Băng lại những vết bỏng, bộ đội của ta vẫn có thể đè bẹp các đợt tấn công của chúng.

Khi những người bảo vệ Điện Biên Phủ phải ngồi chờ đợi trong công sự, phải tiết kiệm từng chút súng đạn thì lòng tin của quân đồn trú bị bao vây lại đang được bàn bạc sôi nổi. Tướng Paul Ely – Tổng tham mưu trưởng liên quân Pháp đã tới Washington ngày 22 tháng 3 năm 1954 để bàn việc tăng cường viện trợ của Mỹ và bảo đảm về sự can thiệp của Mỹ nếu Trung Quốc tham gia vào. Pháp đã sẵn liên tưởng tới hậu quả của Hội nghị Geneve sắp diễn ra về Đông Dương với việc thắng hay bại của họ ở Điện Biên Phủ và được biết rằng Hồ Chí Minh và Giáp có cùng chung quan điểm.

Radford, Tổng tham mưu trưởng liên quân Mỹ đề xuất với Ely một kế hoạch cứu vãn Điện Biên Phủ bằng một đợt không kích ồ ạt của Mỹ mang mật danh “Vulture”. Kế hoạch này yêu cầu 60 máy bay B-29 từ các căn cứ của Mỹ ở Clark Field ở Philippin và Okinawa tiến hành ném bom rải thảm vào ban đêm xuống các căn cứ của Việt Minh quanh Điện Biên Phủ. Những máy bay ném bom cỡ lớn sẽ được bảo vệ bằng 150 máy bay chiến đấu từ hàng không mẫu hạm số 7 của Mỹ để chống lại sự can thiệp của không quân Trung Quốc có thể xẩy ra. Ely đưa kế hoạch của Radford trở lại Paris và được chính phủ hoàn toàn chấp nhận. Tuy nhiên Tướng Navarre đã có nghi ngờ về chiến dịch Vulture này. Nguy cơ can thiệp của Trung Quốc vào cuộc chiến tranh đã làm cho ông mất nhiều thời gian hơn. Tình báo Pháp đã báo cáo việc máy bay chiến đấu MIG được tăng cường tại các sân bay ở phía Nam Trung quốc và bộ binh Trung Quốc ủng hộ cho Việt Minh cũng tăng lên. Chiến dịch ném bom ồ ạt của Mỹ có thể quét sạch lực lượng chiến đấu của Tướng Giáp nhưng cũng có thể lôi kéo các sư đoàn của Trung Quốc vào Bắc Bộ và tiêu diệt sạch đoàn quân Viễn chinh của Pháp.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #46 vào lúc: 07 Tháng Chín, 2009, 12:42:06 pm »


Khi việc cứu vãn Điện Biên Phủ đang được bàn bạc ở Washington, thì quân đồn trú ở Điện Biên Phủ đang phải duy trì sự sống, chờ đợi đợt hành quân tiếp theo của Tướng Giáp. Giống như hầu hết những người làm chiến dịch trước đây, binh lính đang phải tính từng ngày và phải học để sống với những xác chết. Để giữ các xác chết ở một khoảng cách tương đối, mọi lúc yên lặng đều được sử dụng tối đa để cải tiến và tăng cường các vị trí có độ dốc. Tình hình khác thường ở Điện Biên Phủ đã làm quay ngược trở lại thời gian 38 năm trước. Những nơi trú ẩn được thắp nến, các công sự được đắp bằng những bao cát, hoả lực pháo và dây thép gai đã làm cho binh lính hình dung tới những bức ảnh không rõ ràng của cuộc Đại chiến thế giới I. Còn các sĩ quan Pháp, binh lính Đức trong đội Lê dương lại được nhắc nhở về mặt trận phía Tây và Verdun. Điện Biên Phủ hoàn toàn khác, chiến tuyến ở mọi nơi và không có vùng sau chiến tuyến.

Giữ cho tuyến đường nối từ căn cứ Isabelle tới các vị trí chính thông suốt đã trở thành cơn ác mộng. Việt Minh đã thành công trong việc đào các đường hào ở một làng nhỏ của bản Kho Lai, và ngăn chặn hiệu quả các tuyến đường. Ngày 22 tháng 3, một tổ chiến đấu từ Tiểu đoàn dù Lê dương số 1 với một trung đội tăng yểm trợ đã cố gắng chiến đấu để tới Isabelle nhưng không thành công. Lính Algeri và lính súng trường người Thái từ Isabelle được lệnh tiến lên phía Bắc của tuyến đường để trợ giúp cho Tiểu đoàn dù Lê dương số 1. Những gì được coi là một trận đánh quyết liệt ngắn gọn giờ đã phát triển thành một trận đánh đỉnh cao. Lính Lê dương của Tiểu đoàn dù Lê dương số 1 phải chiến đấu gian khổ để tiến từng bước, vận động qua các cánh đồng lúa, trườn dưới cơn mưa hoả lực bắn ra từ các loại vũ khí tự động và các loại cối hạng nhẹ. Mặc cho các cuộc không kích và những đợt hoả lực phóng ra từ súng xe tăng, Việt Minh vẫn không ra khỏi các đường hào. Sở chỉ huy của Đại tá De Castries đã phải cho phép trung đội tăng còn lại can thiệp trước khi có thể chiếm được vị trí của đối phương. Sau gần 5 giờ chiến đấu, 2 đại đội của Trung đoàn 57 Việt Minh thuộc Sư 304 đã bị quét sạch. Phía Pháp 151 người bị chết, 72 người bị thương. Cái giá phải trả để duy trì tuyến đường giao thông huyết mạch giữa Điện Biên Phủ và căn cứ Isabelle trở nên quá cao.

Tình hình ngày một xấu đi ở Điện Biên Phủ được phản ánh bằng không khí tại trại báo ở Hà Nội, nơi các phóng viên đang thu thập từng ngày để có tin về diễn biến của trận đánh. Nói là trại vì thực tế đó là một toà nhà trong khu vực định cư của Pháp ở một thành phố thuộc địa cũ. Toà nhà gồm các khu vực để ngủ cho một số lượng hạn chế các nhà báo, một quán ba, một phòng chờ lấy tin và một khu ăn uống. Nó còn có văn phòng của nhân viên kiểm duyệt quân sự Báo chí chuyển qua, người kiểm duyệt nhận và dán một con tem vào sau khi những đoạn không hợp lệ đã được xoá bỏ. Một số bản thảo bị xoá bỏ hoàn toàn. Vào thời điểm quân sự thành công, văn phòng này tương đối yên tĩnh nhưng khi mọi việc trở nên xấu đi thì đó là cảnh tranh cãi của những đại diện báo chí quốc tế và nhóm nhân viên kiểm duyệt.

Cuộc đấu tranh lâu dài ở Đông Dương đã dạy cho quân đội Pháp thấy tầm quan trọng về chính trị của phương tiện thông tin đại chúng trong việc gây tác động tới công luận Pháp và công luận quốc tế. Các sự kiện ở Điện Biên Phủ đang làm căng thêm mối quan hệ vốn đã mong manh giữa phương tiện thông tin đại chúng và các sĩ quan báo chí. Các kí giả kiểm tra dữ liệu được cung cấp một cách chính thức thay cho các thống kê và những tin tức rò rỉ ban đầu mà họ nhận được từ các phi công, những người bị thương và những sĩ quan tham mưu lắm điều trở về. Ví dụ như việc Tiểu đoàn dù Lê dương khai thông đường tới Isabelle đã được cho biết như một thành công đáng kể trong khi các phóng viên lại tập trung nhiều vào phí tổn của đợt tác chiến này và thực tế Isabelle đã trở nên bị cô lập. Các phóng viên Anh và Mỹ đã làm ầm lên vì việc để lộ tin từ Điện Biên Phủ.

Các sĩ quan cao cấp Pháp thường bị lợi dụng để xuất hiện trên các tin không chính thức. Một cuộc họp như vậy đã làm Chuẩn tướng Dechaux, chỉ huy nhóm bay chiến thuật miền Bắc phải phủ nhận việc một chiến C-119 bị bắn rơi ở Điện Biên Phủ là do người Mỹ lái. Tin đồn rằng tổ lái này hiện đang bị mắc kẹt trong pháo đài. Dechaux đã phủ nhận tin đồn này. Mặc cho sự phủ nhận của ông ta, nhiều phóng viên đã vội vã chuyển tin này thành các bản tin chỉ ra rằng tổ lái của Mỹ hiện đang phải hứng chịu hoả lực ở Điện Biên Phủ. Những bức điện báo như thế này không bao giờ được chuyển qua phòng nhân viên kiểm duyệt. Trận đánh đang gây ra căng thẳng hơn ở Hà Nội. Thiếu tướng Cogny, người nổi danh với việc nói quá nhiều về sự có mặt của các nhà báo, có vẻ như muốn tránh xa những gì rất có thể trở thành một thảm hoạ. Các phóng viên nhanh chóng ghi chép lại sự khác nhau giữa phòng tham mưu của Tướng Navarre và phòng tham mưu của Tướng Cogny. Trong khi các sĩ quan của Navarre tỏ ra lạc quan thì các sĩ quan làm việc cho Cogny lại không giấu được sự bi quan. Consul Sturm báo cáo: “Những người đứng đầu nội các của Cogny trước đây và hiện nay đã nói với tôi tuần trước rằng Cogny không bao giờ đưa ra quan điểm về Điện Biên Phủ nhưng lại chấp nhận nó như một kế hoạch may rủi khi Navarre ra lệnh thực thi”. Hơn nữa các thông điệp của Cogny gửi cho De Castries đã trở nên không thực tế khi giải thích về tình hình hiện tại. Yêu cầu tăng quân và những lo lắng về một kế hoạch trốn chạy của Đại tá De Castries nếu pháo đài bị tàn phá, bị gác bỏ bằng những lời hứa sẽ huy động một nhóm lính dù và sẽ nghiên cứu một kế hoạch ứng cứu lực lượng bị bao vây. Cogny thúc giục De Castries tiếp tục theo dõi thành công của chiến trường. Ông ta viết thêm một đoạn nhấn mạnh rằng công sự nào bị đối phương chiếm sẽ ngay lập tức được lấy lại, giá như De Castries không hạn chế lực lượng dự bị theo lời đề nghị của ông ta. Thậm chí một quan sát viên trung lập cũng sẽ không khó khăn gì trong việc nhận thấy hơi hướng tự biện hộ mạnh mẽ cho tương lai trong một đoạn viết như vậy.

Điều đã xẩy ra tiếp theo ở Điện Biên Phủ là cái gì đó mà rất ít cựu chiến binh muốn bàn tới. Sự kiện này đã phản ánh bằng việc làm của một sĩ quan cao cấp và thách thức nguyên tắc kỷ luật của quân đội Pháp. Sáng sớm ngày 24 tháng 3, Trung tá Keller, Trưởng phòng tham mưu của De Castries được đưa về Hà Nội. Sau đó Trung tá Langlais đảm nhiệm chức chỉ huy không chính thức ở Điện Biên Phủ với sáng kiến riêng của anh ta. Trách nhiệm vạch kế hoạch và thực thi các đợt phản công được giao cho Thiếu tá Bigeard. Mặc dù việc thay đổi chỉ huy chưa công bố, nhưng nó vẫn xuất hiện dưới nhiều hình thức khác nhau. Ngày 24 tháng 3, việc không tham chiến của De Castries không còn là một bí mật nữa. Ông ta ở im trong bốt chỉ huy có lính bảo vệ, tập trung liên lạc với Cogny hàng ngày qua đài bán dẫn, ký vào các bức điện được chuyển tới và hiếm khi ra ngoài.

Langlais và các chỉ huy lính dù của ông trên thực tế đã chỉ huy trận đánh, luân phiên các đơn vị, chỉ đạo các cuộc phản công và phối hợp sự yểm trợ của pháo binh và không quân. Thực tế, việc điều động Langlais sau này đã trở thành cuộc bạo loạn của một số sĩ quan không phải lính dù, và chỉ là đối phó với tình hình hiện tại. Thật lạ lùng, De Castries rõ ràng đã chấp nhận việc sắp xếp mới không hề phản đối nhưng đã giữ lại chức tổng chỉ huy chính thức của mình để kiềm chế tính bốc đồng của Langlais bằng những lời khuyên và tiếp tục đóng vai là người liên lạc giữa Điện Biên Phủ với sở chỉ huy của Cogny. Như Bernard Fall chỉ ra trong cuốn sách “Điện Biên Phủ, Một góc địa ngục” của ông ta rằng: Quả thực các lực lượng ở Điện Biên Phủ cuối cùng là do một Trung tá người Pháp (Langlais) chỉ huy - người trên thực tế đã chỉ huy một sư đoàn còn phía bên kia là một giáo sư sử học người Việt Nam (Tướng Giáp) - người đã chỉ huy cả một quân đội.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #47 vào lúc: 07 Tháng Chín, 2009, 12:43:04 pm »


CỐI XAY THỊT


“Cho dù 3000 binh lính của tôi bị thương ở Điện Biên Phủ, thì thực tế đó cũng sẽ không buộc tôi phải đầu hàng”.


Tướng Henri Navarre
nói với Sturm ở Hà Nội



Những đường pháo sáng đan chéo nhau qua đường băng, phản âm với những tiếng nổ lớn của những quả đại bác. Hoả lực phòng không rền vang khắp thung lũng làm thủng lỗ chỗ các thân máy bay và cản trở những đợt thả hàng tiếp viện của Pháp. 3 chiếc C-47 bị phá huỷ trong 48 giờ, các nhân viên phi hành đoàn bị thiêu cháy trong những thân máy bay bị xoắn lại. Cuối tháng 3, những chuyến bay y tế và những thùng hàng tiếp viện trở thành một cuộc tập bắn cho các tay súng Việt Minh. Quân đồn trú sớm hân hoan khi biết rằng toàn bộ các khẩu pháo 75 ly của đối phương đã bị pháo binh ở Điện Biên Phủ đè bẹp. Giờ đây sự hân hoan đó dần biến mất vì những đám lửa vàng thiêu cháy các phương tiện vận chuyển đang thắp sáng cả bầu trời. Tối ngày 27 tháng 3, Đại tá Nicot, sĩ quan không quân chịu trách nhiệm việc sơ tán thương binh và tiếp thêm hàng tiếp viện thông báo với sơ chỉ huy không quân Viễn đông của Pháp rằng ông ta ra lệnh tạm ngừng thả hàng ở tầm thấp. Ông ta còn cho biết cuộc chém giết đang diễn ra và nhấn mạnh tới cú sốc tâm lý mà các phi hành đoàn đang phải hứng chịu bên cạnh sự mệt mỏi về tinh thần vốn đã sẵn có.

Mệnh lệnh của Nicot nghĩa là độ cao để thả hàng tiếp viện bằng dù trước đây ấn định không quá 2000 feet (khoảng 700 m), giờ sẽ tăng lên ở độ cao tối thiểu là 8000 feet (khoảng 2.800 m). Với độ cao như thế thì khó có thể thả hàng một cách chính xác vào bên trong khu vực vành đai phòng thủ đang ngày càng co lại. Từ đó, việc thả hàng sẽ là trở thành một canh bạc thực sự. Không quân đang thử nghiệm các biện pháp dùng ngòi nổ, dù mở chậm trên không để thực hiện các chuyến thả hàng tiếp viện. Những ngòi nổ nhỏ cho phép những chiếc dù mở ở độ cao chọn trước bỗng chốc đã trở thành quan trọng đối với sự sống còn của Điện Biên Phủ.

Câu trả lời của Navarre với lời đề nghị khẩn cấp của Cogny yêu cầu tiếp viện thêm 50.000 dù mở chậm thể hiện sự bất đồng sâu sắc hơn trong mối quan hệ giữa hai vị tướng này. Navarre nói: “Tôi thật ngạc nhiên vì ông - một người chịu trách nhiệm trong việc chỉ huy và yểm trợ cho chiến trường Điện Biên Phủ lại đợi tận tới ngày 26 tháng 3 để phải đối mặt với vấn đề phải thả hàng tiếp viện ở độ cao và những khó khăn có liên quan tới việc này”. Tuy có bực dọc nhưng Navarre vẫn quyết định thực thi ngay lời đề nghị. Lực lượng không quân của Mỹ ở Nhật Bản đang sục sạo tìm kiếm trên thị trường để cung cấp cho Pháp những chiếc dù thay thế kể cả nguồn dự trữ cho Hà Nội. Trong khi đó, các nhân viên kỹ thuật không quân Pháp ở miền Bắc Việt Nam đang làm việc cả ngày lẫn đêm để sản xuất ra những sản phẩm của riêng họ. Thật không may, khi đưa ra thử sản phẩm lại thường bị hỏng, những chiếc dù chỉ mở một chút hoặc đôi khi không mở hoàn toàn.

Cuối tháng 3, Sturm đánh điện về Washington báo cáo về một cuộc nói chuyện với Tướng Navarre ở Hà Nội. Navarre nói với Sturm rằng ông ta không mong chờ Giáp trả lời bức thông điệp yêu cầu ngừng bắn vào máy bay y tế của ông ta. Nhưng Navarre hy vọng rằng việc chuyển đi bức thông điệp sẽ buộc đối phương phải đối mặt với những trách nhiệm về thương vong của quân Pháp ở Điện Biên Phủ. Sturm báo cáo:

Navarre nói Việt Minh dường như tin rằng thương vong của binh lính Pháp ở Điện Biên Phủ tăng nhiều mà các phương tiện y tế lại không sẵn có, nên có thể buộc Navarre phải chấm dứt giao tranh vì các lý do nhân đạo. Tuy nhiên Navarre nói: “Cho dù 3000 binh lính của tôi bị thương ở Điện Biên Phủ, thì thực tế đó cũng sẽ không buộc tôi phải đầu hàng”.

Không có đủ thời gian cho những thái độ khoác lác như vậy ở Điện Biên Phủ. Rõ ràng cần phải làm điều gì đó để giảm bớt hoả lực phòng không của Việt Minh đang cản trở các đợt hàng tiếp viện và gây một ảnh hưởng lớn với các chuyến bay y tế. Mặc dù Việt Minh đang chuẩn bị cho một đợt tấn công lớn khác nhưng Thiếu tá Bigeard vẫn chỉ ra niềm hy vọng lại đang trỗi dậy trong đám binh lính. Tiểu đoàn dù Lê dương số 1 cố gắng đánh qua Isabelle một lần nữa, làm 100 quân của đối phương bị chết trên đường. Tiểu đoàn của Bigeard loại khỏi vòng chiến đấu 50 Việt Minh khác. Bigeard lệnh cho các tay súng đại bác không giật và cối 81 ly di chuyển từ chỗ này sang chỗ khác, phóng hoả lực vào các điểm tập trung của đối phương để phân tán hoả lực đối phương, cứu viện cho Eliane đang bị trọng pháo tấn công.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #48 vào lúc: 07 Tháng Chín, 2009, 12:43:33 pm »


Tối 25 tháng 3, Bigeard được triệu tập tới hầm chỉ huy của De Castries. Mặc cho Langlais nắm quyền kiểm soát, trên danh nghĩa De Castries vẫn là một chỉ huy pháo đài, vì thế hầu hết các quyết định tác chiến quan trọng đều phải có sự tán thành của ông ta. Ngài đại tá qúy tộc và ngài thiếu tá là một điển hình về những điều tương phản và là một tấm gương của quân đội Pháp sau Thế chiến II. Trong thời đại Napoleon, De Castries đã có thể được cưỡi ngựa cạnh thống soái Ney trong khi Bigeard đã có thể lên tới quân hàm trung sĩ. Nhưng thời đại và quân đội ngày nay đã đổi thay. Bigeard mô tả cuộc gặp mặt thật thân tình và thực tế.

Xin chào Bruno, anh uống một chút whisky chứ? De Castries hỏi, cứ như Bigeard là một vị khách trong lâu đài của ông ta.
Được thôi, thưa ngài đại tá
Mọi việc ở Eliane thế nào rồi?
Tinh thần 5/5..., mọi thứ đều tốt thưa đại tá.


Sau đó De Castries giải thích lý do vì sao cho triệu tập Bigeard, vì ông ta nhận được mệnh lệnh từ Hà Nội phải vô hiệu hoá tất cả các vị trí phòng không của Việt Minh về phía Tây của pháo đài.

Ngày mai hãy đi giải quyết cho tôi. Anh có toàn quyền hành động. Hãy lấy bất cứ cái gì anh cần để điều hành công việc.

Đồng ý thưa đại tá. Tôi sẽ được thưc hiện ngay. Nhưng Bigeard không rời sở chỉ huy trước khi chắc chắn rằng người chỉ huy cao cấp của anh ta đã hiểu rõ hai vấn đề không lấy gì làm dễ chịu. Anh ta nói với De Castries có sự chuẩn bị trước vì sẽ có nhiều thương vong nghiêm trọng xẩy ra cho dù có những cơ hội thành công. Anh ta còn giải thích rằng anh ta chỉ có được một chút thời gian để tổ chức một đợt tác chiến mà phải chính xác, thận trọng và nhanh chóng, trong đó mỗi người phải hiểu được đầy đủ phận sự của mình trong nhiệm vụ ấy.

De Castrics nói: Tôi biết, Bruno nhưng tôi đặt niềm tin ở anh.


Sau đó Bigeard bắt tay vào công việc chạy đua, làm việc liên tục trong 6 giờ trên một chiếc bàn tạm thời trong công sự cạnh sở chỉ huy của Langlais. Các mệnh lệnh được đánh máy rất đơn giản và rõ ràng. Họ vạch ra nhiệm vụ của đơn vị tác chiến, cung cấp một bản tóm tắt tình hình xác định vị trí của một trung đoàn thuộc Sư đoàn 308 Việt Minh trong vùng tác chiến với hai tiểu đoàn đang bảo vệ các đơn vị phòng không. Hai tiểu đoàn dù là Tiểu đoàn dù xung kích số 8, tiến về phía bản Ban và Tiểu đoàn dù Thuộc địa số 6 của Bigeard tiến về phía bản Ong Pét - sẽ là lực lượng tấn công chủ yếu. Tiểu đoàn dù Lê dương sẽ ở vị trí quân dự bị, sẵn sàng can thiệp khi được báo trước 5 phút, trong khi một tiểu đoàn bộ binh Lê dương sẽ tác chiến như một lực lượng yểm trợ (dự phòng). Pháo binh yểm trợ sẽ được triển khai theo các mệnh lệnh phát sinh, bằng 12 ca nông 105 ly, 12 ca nông 155 ly và 12 pháo 120 ly.

Cuối cùng, Bigeard cũng có được súng đại bác và pháo 105 ly, nhưng chỉ có 2 khẩu đại bác 155 ly là sẵn có cho công việc. Các mệnh lệnh yêu cầu sự sẵn sàng yểm trợ của không quân ở mức tối đa. Điều này thường phụ thuộc vào thời tiết. Một trung đội tăng được giao nhiệm vụ áp sát hoả lực yểm trợ. Đại uý Yves Hervouet, chỉ huy đội tăng, đang dẫn đầu đoàn tăng và Thiếu tá Jacques Guérin - sĩ quan liên lạc thuộc lực lượng không quân đang phải chịu mệt mỏi khi vừa bị bệnh. Cả hai đều dự cuộc nói chuyện cung cấp thông tin cần thiết của Bigeard. Sự có mặt của họ tượng trưng cho nguyên tắc không thành văn của Điện Biên Phủ.

Bigeard biết rằng bất ngờ và thần tốc là yếu tố quan trọng cho sự thành công của đợt tác chiến. Ông ta chuẩn bị một lực lượng pháo binh lớn để mở đợt tấn công lúc 6 giờ và tin chắc rằng các tiểu đoàn tấn công lúc đó chỉ cách các mục tiêu trong vòng 300 mét. Ông ta còn chỉ dẫn cho các đơn vị làm thế nào để đánh lạc hướng tuần tra của đối phương khi chạm trán với họ trong lúc tiến quân vào ban đêm. Với tất cả các việc trên và để tránh một cuộc chiến kéo dài gây tổn thất, tránh các đợt tăng cường quân của Việt Minh, ông ta nhấn mạnh vào yêu cầu rút quân nhanh một khi công việc đã hoàn thành.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #49 vào lúc: 07 Tháng Chín, 2009, 12:44:11 pm »


Trong màn đêm yên tĩnh, không trăng sao, các bộ phận của lực lượng tác chiến đặc biệt tập kết tại các điểm xuất phát: Tiểu đoàn số 6 từ căn cứ Elian qua sông Nậm Rốm, Tiểu đoàn dù xung kích số 8 ra khỏi đồn, Tiểu đoàn 1 Trung đoàn Lê dương số 2 ra khỏi căn cứ Huguette và Tiểu đoàn dù Lê dương số 1 ra khỏi các vị trí ở Claudine và Junon. Bigeard lệnh cho đài phát thanh ngừng phát và cho phép các đơn vị đúng 5 giò 30 ra ngoài để báo cáo quân số có mặt tại vị trí. Một trung đội 3 xe tăng do Trung sĩ Aristide Carette chỉ huy lặng lẽ tiến lên phía trước, các tay lái đang phải chú ý tới tiếng động cơ đang rì rầm tiến và tránh những cú vào ga đột ngột. Bigeard đang trong vị trí của mình. Thông thường thì một thiếu tá hiếm khi có cơ hội để vạch kế hoạch và chỉ huy một đợt tác chiến lớn có liên quan tới bốn tiểu đoàn và một đội tăng với sự yểm trợ của không quân và pháo binh, mà không có người gánh vác hoặc cân nhắc các quyết định cùng anh ta.

Trận oanh tạc bắt đầu đúng giờ quy định phá tan buổi bình minh yên ả bằng những tiếng nổ long trời lở đất làm cho Việt Minh bất ngờ đang phải tìm kiếm sự yểm trợ. Lúc 6 giờ 30, khi một loạt pháo bắn ra, lực lượng tấn công lao vào màn khói làm bụi trùm lên các vị trí của đối phương và làm cho dân làng phải hoảng loạn. Các lính dù biết rằng cuộc tấn công này không có gì là dễ dàng. Việt Minh bị trúng trọng pháo và sự xuất hiện của các lính dù rất gần với các vị trí của họ, mà bộ đội của Sư đoàn 308 lại không phải là những người xa lạ với chiến trường. Pháo và cối của Việt Minh ngay lập tức bắn trả những kẻ tấn công, các nòng súng máy của hoả lực phòng không được hạ xuống thấp để bắn những lính dù đang nhảy xuống. Các trung đội dù dẫn đầu đã rơi vào các chiến hào và các điểm đặt súng của Việt Minh giữa những tiếng nổ inh tai của lựu đạn và tiếng nổ ngắt quãng của những vũ khí tự động.

Bigeard bò dài ra chỉ huy đợt tấn công từ một nơi trú ẩn gần nơi tác chiến, la hét vào những chiếc đài khi nghe thấy tiếng nổ inh ỏi của những quả đạn pháo. Thời tiết xấu làm chậm đợt hàng tiếp tế của không quân trong suốt một giờ. Khi đã tới, máy bay tấn công như những phản ứng thù địch để ngăn cản hoả lực địch, cản trở việc tăng quân của Việt Minh. Những người lính dù có quyết tâm chiến đấu hết ụ súng này tới ụ súng khác, phá huỷ các khẩu 20 ly và súng máy cỡ 50 với những ngòi kích nổ. Thương vong tăng vì cuộc chiến vẫn tiếp diễn. Một trung uý dù chết vì đạn trúng đầu khi đang báo cáo việc thu giữ thành công một đường hào của đối phương. Một sĩ quan trẻ khác bị mất cổ tay khi đang ra hiệu cho lính của anh ta tiến lên.

Các thống kê về chiến trường có chiều hướng biến động khi họ vạch ra hướng tiến quân của các tiểu đoàn, đại đội và trung đội. Với những người có liên quan, là lính dù của Pháp và của Việt Minh, lính Lê dương hoặc bộ đội Việt Minh, thì cuộc chiến đấu ở bản Ban và bản Ong Pét đều vượt quá dự tính. Mỗi đầu đạn hoặc mảnh đạn vỡ đều đe doạ tới sự sống còn của mỗi người tham chiến, sự căng thẳng làm khô cổ họng và làm tim đập dồn dập... Sự khích lệ, tình đồng đội và việc huấn luyện đã đóng góp vào sự thành công hoặc thất bại của một hành động nhỏ. Binh lính của cả hai bên chiến đấu với một tinh thần đoàn kết gắn bó ở cấp trung đội và tiểu đội. Kết quả cuối cùng thường phụ thuộc vào sự mạnh hay yếu của mối quan hệ đó.

Khi trận đánh đang diễn ra, một trong những đại đội của Bigeard đã phải chịu những tổn thất lớn từ một loạt đạn pháo cối của đối phương làm viên chỉ huy của đại đội bị chết. Bộ binh Việt Minh nhanh chóng tiến theo đường hào vào tấn công những tên còn sống sót đang bị choáng váng. Cho dù có hoài nghi việc đến đúng giờ thì một đại đội nữa cũng đã được điều động tăng cường. Quang cảnh cuộc sống bỗng chốc diễn ra như có sự xuất hiện một kịch bản phim Hollywood. Trung đội tăng ở Isabelle được triệu tập có mặt đúng giờ quy định. 3 chiết M-24 đánh tan một tiểu đoàn đối phương trên đường tới Điện Biên Phủ và tăng tốc để vượt qua vùng đồng bằng trống trải. Họ tới đúng vào thời điểm quan trọng, những chiếc cannon của họ bắn thẳng vào quân Việt Minh đang lao tới, những khẩu súng máy kéo theo một mô hình xác chết dọc theo các giao thông hào, vết nghiến của xích xe tăng đang đẩy quân của đối phương vào bùn lầy. 2 chiếc tăng bị hoả lực của bazôka bắn vào nhưng không bị hư hỏng. Lúc 15 giờ 30, Việt Minh rút quân và trận đánh của các khẩu đại pháo đã kết thúc. Đó là thời điểm cho lực lượng đặc nhiệm rút lui trước khi đối phương tổ chức lại lực lượng và tăng cường quân.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM