Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 01:07:18 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Điện Biên Phủ cuộc đối đầu lịch sử mà nước Mỹ muốn quên đi  (Đọc 53943 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #80 vào lúc: 08 Tháng Chín, 2009, 08:04:37 pm »


Cả hai phía đều biết rằng các vị trí Eliane là chìa khoá để tới Điện Biên Phủ. Sự nhận biết này không chỉ là của các sĩ quan tham mưu hay các chỉ huy chiến trường mà còn là cả lính dù, lính Lê dương cũng như bộ đội. Các cán bộ chính trị Việt Minh đã chuẩn bị cho binh lính của họ mọi thứ trong cuộc tấn công cuối cùng cũng như lòng quyết tâm chiến đấu để giành thắng lợi. Quân Pháp, mặc dù bị thiếu người, thiếu đạn dược và luôn nghĩ rằng không thể phụ thuộc vào sự giúp đỡ từ bên ngoài, đều quyết tâm tiếp tục chiến đấu. 48 giờ cuối cùng của cuộc chiến là điều ác liệt nhất ở Điện Biên Phủ. Tướng Trần Độ tả lại tình hình đêm ngày 6 tháng 5:

Mọi hào giao thông dẫn tới các vị trí của đối phương đều thám đẫm máu của các binh lính. Trong cơn hấp hối, đối phương đã thực hiệp đợt kháng cự ác liệt nhất, tập trung hoả lực vào các nút giao nhau của các đường hào. Đối phương huy động mọi trung đội, mọi tổ nhóm có thể để chống lại cuộc tấn công của chúng tôi, nhưng binh lính và sĩ quan của chúng tôi ở Điện Biên Phủ đều đã thấm nhuần quyết định của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Đảng, của Chính phủ và của Bộ tư lệnh tối cao.

Các đơn vị của 2 trung đoàn Việt Minh tấn công Eliane 10 và 4. Đại uý Botella và những người còn lại của Bawouan 5 đã tận dụng toàn bộ lực lượng của các đợt tấn công trước. Như thường lệ, Việt Minh đang tìm điểm yếu trong phòng thủ của Pháp, họ đã lựa chọn tấn công vào những lính dù của Quân đội quốc gia Việt Nam. Chỉ khi lực lượng bộ binh đe doạ tràn lên tiêu diệt đám lính dù thì mới làm cho Botella ra lệnh cho đám lính dù rút quân.

Toàn bộ quang cảnh giờ là một cuộc trình diễn khổng lồ. Ánh sáng của những chiếc dù lập loè như bóng ma trong đêm tối rồi tắt ngấm, nhường lại bóng đêm cho tia chớp của lựu đạn pháo và hoả lực. Các quả rốc két Kachusa gầm rú như những chùm sao băng rơi xuống tạo ra các hố lớn và trùm lên những người lính canh phòng ở các căn cứ. Âm thanh hỗn độn căng thẳng tới mức nhiều người nghĩ rằng họ đã bị điếc. Binh lính đang chiến đấu để duy trì các hướng tới cầu Bailey bắc qua sông Nậm Rốm có thể nhìn thấy con sông này chất đầy xác chết. Xác người trôi nổi thành từng đám giống như đám vật cản bị chặn lại.

Rạng sáng ngày 7 tháng 5 có dấu hiệu cho thấy phía đối phương đang chuẩn bị cho một đợt tuần tra khác. Nhưng nếu những người lính canh phòng của Pháp giống như một đấu thủ quyền Anh dũng cảm nhưng bị bại thì các tướng lĩnh của Việt Minh lại trên cương vị những người quản lý có thể cử người thay thế mới vào trận. Các đơn vị mới của Việt Minh tiến lên phía trước dưới sự yểm trợ của đêm tối giờ đã sẵn sàng tiếp tục các cuộc tấn công.

Trung tá Bigeard ghi lại những cảm giác về buổi sáng hôm đó:

Thật là một ảo giác! Sau 56 ngày chiến đấu không ngủ được và ăn công rất kém, chúng tôi đã sụt cân, lều trại bị sập đổ trong bùn lầy, xác chết ở mọi nơi... những người bị thương nằm trong các đường hào xin được đưa về trạm cứu thương, những người còn sống sót như đang sống trong một giấc mơ. Dù sao thì đêm ngày 6-7 tháng 5 cũng thật tuyệt vời. Chúng tôi vẫn trụ vững, vẫn hy vọng. Chúng tôi bị choáng váng nhưng đã tránh được một cú “knock out”.

Ngày 7 tháng 5, lực lượng không quân đã cố gắng hết sức nhưng thời tiết xấu, đối phương tác chiến gần tới mức khó có thể tìm được một mục tiêu chính xác. Tướng Trần Độ nhớ lại: “Các đợt máy bay từ Hà Nội và Thượng Lào vội vã ném bom và bắn phá nhưng pháo phòng không của chúng tôi rất năng động. Hơn nữa những đoàn máy bay này không có sự kết hợp với lực lượng bộ binh phía dưới nên trông giống như những chiếc lá vàng trước một cơn gió mạnh”.

Sở chỉ huy trung tâm vẫn đang liên lạc với các vị trí còn lại. Eliane 4 đã trở thành khu trú ẩn cho đám lính dù từ các tiểu đoàn của Bréchignac. Nó còn là nơi che chở cho những thương binh đang được các bác sĩ và y tá của 3 trạm cứu thương tiểu đoàn chữa trị. Lúc 9h30, Eliane 4 bị tàn phá, Eliane 10 bị tấn công mạnh. Bigeard sau này đã viết về việc nhận được thông điệp cuối cùng của Bréchignac:

Bréchignac gửi cho Bruno: “Họ đang ồ ạt tiến lên. Tôi sẽ phá huỷ các đài thu phát của mình. Vĩnh biệt Bruno”. Sau đó Botella nói: “Lần này thế là hết. Vĩnh biệt Bruno. Hãy nói với Langlais tôi rất thích anh ta”. Bigeard lau nhưng giọt nước mắt đang lăn trên má và tự nhủ: “Không, không thể như thế”. Cùng lúc những thành viên còn lại của tiểu đoàn Bigeard ở Eliane 10 đang bị nhấn chìm bởi những đợt sóng tấn công đồng tràn lên.

Tại boongke GMI gần bệnh viện, Pierre Schoendoerffer cho biết các gián điệp người Mông tới giờ đã trốn hết vào rừng. Như những người tham gia vào cuộc chiến trong bóng tối họ không hề có ảo tưởng gì về các cơ hội sống còn sau khi bị đối phương bắt giữ. Một số người Thái còn lại cũng đang rời vị trí, mặc những bộ quần áo rách nát với hy vọng sẽ được coi như những thành viên của bộ tộc bất hạnh sau khi rời Điện Biên Phủ. Một số lính súng trường Marốc ra hiệu sẵn sàng ra hàng đối phương.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #81 vào lúc: 08 Tháng Chín, 2009, 08:05:28 pm »


Sáng ngày 7 tháng 5, Tướng De Castries liên lạc trực tiếp với Thiếu tướng Cogny. De Castries đề cập tới tình hình bi đát ở Điện Biên Phủ và đi thẳng vào các chi tiết đáng chú ý là thay quân, tăng cường sức mạnh cho các đơn vị với ý đồ duy trì cuộc chiến đấu. Với mỗi yêu cầu của De Castries, Cogny đều trả lời vẻn vẹn một câu đồng ý “Oui”. Khi De Castries nêu ra vấn đề thảo luận về chiến dịch Albatross và giải thích kế hoạch thực hiện chiến dịch vào ban đêm, Cogny đã đồng ý. Cuộc nói chuyện khép lại với kế hoạch giải quyết vấn đề thương binh. Không lâu sau đó, Cogny gửi một bức điện cho Đại tá Lalande ở Isabelle nói lại rằng mọi quyết định tham gia vào chiến dịch Albatross đều phải được thực hiện theo yêu cầu của đại tá.

Đến trưa việc huy động quân cho chiến dịch Albatross được thảo luận ở sở chỉ huy của Langlais. Theo kế hoạch cần 2 đội quân: một đội quân dù và một đội quân Lê dương phá vỡ phòng tuyến của đối phương, tiến thẳng sang Lào. Nhưng các sự kiện tiến triển quá nhanh, báo cáo tình báo cho biết các hào giao thông mới của Việt Minh đang xuất hiện dọc theo vành đai phía Tây. Rõ ràng một đội quân hướng về phía Tây Nam để sát nhập với đội quân của chiến dịch Condor sẽ có ít cơ hội hơn đội quân tiến thẳng về phía Tây để vào rừng. Với việc cân nhắc lựa chọn từ ngữ, Bigeard đã đặt tên cho nỗ lực phá vây lần này là chiến dịch “Bloodletting” và nói tới khả năng sẽ phải chịu 80% thương vong. Lúc 13h00, cuộc chiến Albatross không thực hiện được vì các chỉ huy thông báo với Bigeard rằng binh lính của họ quá mệt mỏi. 16h00, Điện Biên Phủ thừa nhận sự thất bại của Eliane 3, báo cáo tình hình chiến đấu giáp lá cà ở xung quanh Eliane 11, 12 (cứ điểm 508, 508 A, 509) và “sự thâm nhập ồ ạt của Việt Minh vào toàn bộ mặt trận phía Tây của căn cứ trung tâm”.

Thương binh đã tới được bệnh viện. Xác chết nhiều tới mức Thiếu tá Grauwin phải ra lệnh chất đống các thi hài mới lên mái của bệnh viện. Grauwin viết:

Trong các hào dẫn tới sở chỉ huy, thương binh xếp thành hàng dài không hết, kẻ đứng người ngồi và hàng người này kết thúc tại nơi có cuộc đụng độ với Việt Minh. Một số người bị chết vì chìm trong bùn lầy. Những người đang lao tới từ các căn cứ lại giẫm lên họ làm họ chìm sâu hơn. Không cáng khiêng, không lều trại, chẳng có gì.

Một nhóm thương binh từ Eliane 4 kéo vào túp lều chật ních làm nhiều người chết hơn. Việt Minh bắt được họ đã chuyển lên phía trước và nói với bác sĩ rằng họ phải sớm được chuyển tới bệnh viện.

Cuộc liên lạc bằng điện đài cuối cùng với Hà Nội diễn ra ngắn ngủi trước 17h00 ngày 7 tháng 5. Có nhiều quan điểm khác nhau trong cuộc nói chuyện nhưng chắc chắn Cogny đã khẳng định với De Castries: Điện Biên Phủ không được đầu hàng. Sau lệnh ngừng bắn lúc 17h00, De Castries cho phép trận đánh kết thúc. Cogny nêu bật thành tích tuyệt vời của quân đồn trú và khẳng định không thể để mất Điện Biên Phủ. Với tất cả những gì nêu trên, Cogny khẳng định “không thể có chuyện kéo cờ trắng”. Quy định này được nhắc đi nhắc lại. Tướng De Castries thông báo cho Cogny rằng ông ta đã ra lệnh phá huỷ tất cả vũ khí đạn dược và cơ sở vật chất. Những xạ thủ châu Phi của Binh đoàn thuộc địa đang kéo những khối khoá nòng hạng nặng vào sông Nậm Rốm.. Những quả lựu đạn bằng phốt pho làm cháy các nòng súng, còn các xạ thủ pháo và cối đang đập tan các ống kính ngắm. Binh lính thiết giáp cũng đang phá huỷ hết các vũ khí của họ. Đó là lúc phải nói lời tạm biệt với Điện Biên Phủ. Theo phần lớn các nguồn tư liệu thì De Castries đã ra lệnh ngừng phát tín hiệu bằng một từ đơn giản “tạm biệt” và Cogny cũng chỉ trả lời “tạm biệt”. Ngày 7 tháng 5, trung tâm tình báo của Thành cổ Hà Nội đã tổng kết tình hình bằng một câu ngắn gọn: “17h30 - không còn liên lạc với Điện Biên Phủ”.

Vị trí chính giờ đã do dân chúng chiếm đóng. Lác đác có tiếng hoả lực và tiếng lựu đạn nổ từ đằng xa nhưng rồi dần dần cũng hết. Mặc dù một số lính tham chiến vẫn còn trong các hào giao thông chờ lệnh để tiến xa hơn nhưng một số đã liều mạng nhảy ra ngoài. Bởi có sự bình tĩnh đến bất ngờ mà họ đã dũng cảm đứng dậy để nhìn vào đống đổ nát xung quanh với những cột khói đen dày đặc bốc lên từ những kho vũ khí bị phá huỷ. Ngắm nhìn những tia nắng cuối ngày, họ thả hồn trong yên lặng. Một số người đi giúp đỡ thương binh, một số khác tìm kiếm đồ ăn. “Những con chuột của sông Nậm Rốm” đã ngập ngừng chui ra khỏi nơi ẩn náu dọc bờ sông, chưa xác định rõ phản ứng của các bạn mình.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #82 vào lúc: 08 Tháng Chín, 2009, 08:06:13 pm »


Bộ đội đầu tiên đã xuất hiện, thận trọng tiến theo từng nhóm nhỏ, vũ khí sẵn sàng trong tay. Sau đó bộ đội rời khỏi nơi ẩn nấp nhiều hơn, tập hợp thành các tiểu đội, đại đội tiến thẳng về phía các khu trú ẩn của Pháp. Bỗng nhiên, các công sự tràn ngập quân Việt Minh, những người đã trinh sát các đường hào, các lều trại, đang la hét lính phòng ngự bước ra ngoài và làm cho một số cựu chiến binh Pháp bạc đầu phải hoảng sợ. Lúc đầu do sợ Bigeard sẽ phải gánh chịu một số hành động trả thù nên De Castries yêu cầu Bigeard trốn còn ông ta vẫn ở đó. Nhưng Bigeard đã quyết định ở lại. Lúc Việt Minh bắt đầu tập hợp tù binh thành hàng, De Castnes đã chuẩn bị sẵn tinh thần. Khi Đại uý Tạ Quang Luật dẫn lính vào hầm, De Castries đang chờ ở đó. Sau một cuộc trao đổi ngắn gọn liên quan tới lệnh ngừng bắn, De Castries và nhân viên của ông ta được tập hợp bên ngoài hầm chỉ huy. Thiếu tá Grauwin liếc nhanh nhìn vị chỉ huy khuôn mặt tái xanh đang bị dẫn đi.

Liệu có phải một lá cờ trắng hay những lá cờ đã từng bay trên nóc hầm chỉ huy của Pháp ở Điện Biên Phủ giờ vẫn còn là vấn đề tranh cãi? Trong thống kê các trận đánh xuất bản năm 1963, Tướng Trần Độ đề cập tới sự xuất hiện của những lá cờ trắng không dưới một lần. Miêu tả sự thất bại của hầm chỉ huy trung tâm, ông ta viết: “Cờ đỏ sao vàng của Việt Minh tung bay khắp nơi. Những tia nắng vàng làm tăng thêm sắc màu diện mạo của chúng trong khi lại che khuất đi màu trắng của những lá cờ của đối phương bị thất bại”. Một nhà quân sự, một cựu chiến binh của Điện Biên Phủ Erwin Bergot nhớ lại một chiếc dù thả hàng màu trắng, lớn vướng vào thân cây gần hầm chỉ huy của De Castries có thể đã là một lý do trong lời đồn về lá cờ trắng. Nhà nghiên cứu Bernard Fall cho biết không ai trong những người sống sót mà ông ta đã phỏng vấn nói tới một lá cờ trắng và khi Việt Minh dựng lại sự thất bại của pháo đài này những ngày sau đó cho người Liên Xô Lazarevich Karmen quay camera cũng đã bỏ qua mọi cảnh của lá cờ trắng.

Một số cá nhân mệt mỏi vì chiến đấu hoặc những người không tham chiến đã tập hợp dọc sông Nậm Rốm có thể đã ra hiệu sẵn sàng đầu hàng, nhưng các cuộc phỏng vấn riêng của tôi với các cựu chiến binh Điện Biên Phủ cho thấy họ đều thừa nhận không có lá cờ trắng nào vào ngày 7 tháng 5. Bigeard sau này đã viết phản ứng của ông ta về việc những lá cờ trắng ở Điện Biên Phủ và tỏ ý không bằng lòng với cách đề cập tới trận đánh đó của Hà Nội. “De Castries chỉ ra rằng Hà Nội quyết định kết thúc trận đánh lúc 17h00 để phá huỷ mọi thứ chứ không phải để đầu hàng; không có lá cờ trắng nào... không ai được đầu hàng nhưng cũng không có thêm trận đánh nào nữa... điều cần thiết là đeo vũ khí bên mình và chờ Việt Minh tới”. Cuối cùng, mọi sự dũng cảm của các lính phòng ngự Điện Biên Phủ để bảo vệ cho quan điểm không có những lá cờ trắng đều là vô bổ. Nhưng có một điều chắc chắn rằng lá cờ lúc đó đang bay trên nóc hầm De Castries là màu đỏ có một sao vàng và khẩu hiệu thêu chữ vàng “Quyết chiến quyết thắng”.

Thời gian chờ đợi trong hầm chỉ huy của Langlais thật ngắn ngủi nhưng chua xót. Lính dù và đám chỉ huy ngờ rằng những người chiến thắng sẽ đối xử với họ theo những nguyên tắc đã được nêu ra trong công ước Geneve. Kể từ khi bắt đầu cuộc chiến tranh Đông Dương, họ đã trở thành kẻ thù của đối phương, làm cản trở các kế hoạch của Việt Minh, đánh bại các đơn vị của đối phương trên chiến trường và gây ra nhiều thương vong. Giờ đây, trong một thung lũng đầy xác chết của đối phương, những lính dù không cảm thấy lạc quan về số phận của họ. Những lời nói qua lại cho biết sẽ loại bỏ những chiếc mũ nồi đỏ để tránh giống với lính dù. Langlais mặt tái mét đã đốt chiếc mũ nồi của mình và thay vào đó bằng một chiếc mũ vải rộng vành. Bigeard đang thông báo về sự thất bại của tiểu đoàn do chính anh ta chỉ huy. Anh ta đã giữ lại chiếc mũ và quyết định đội nó, coi nó như một biểu tượng tôn trọng binh lính của mình.

Pierre Schoendoerffer nhớ lại lúc chờ đợi Việt Minh trong hầm chỉ huy của Langlais:

Tôi cảm thấy bực tức và cay đắng vì bị bỏ rơi. Tôi không có cảm giác lá mình đang bị chỉ huy vì trong suốt trận đánh tôi không có thời gian để nghĩ về điều đó. Sau đó có những tiếng quát tháo bằng tiếng Việt ngay phía ngoài hầm chỉ huy. Một lính dù không tham chiến nói: “Họ ở đây”. Bigeard tuyên bố, “tôi không giơ tay hàng!” Không ai trong chúng ta làm điều đó. Không có lá cờ trắng nào. Tôi tự nói, hãy quan sát mọi thứ, không bỏ sót điều gì.

Các chỉ huy lính dù xếp thành một hàng tù binh đang ì ạch qua những vũng bùn lầy tiến về phía vành đai. Schoendoerffer nhớ lại:

Chúng tôi để lại đống đổ vỡ của chiến trường và bỗng nhiên thấy cỏ cây và hương thơm của hoa lá. Một cảnh hoàng hôn yên lặng, trên cao chiếc Dakota cuối cùng đang thả một chuyến hàng y tế. Việt Minh còn rất trẻ. Cho dù bị tổn thất nặng nhưng không hề có sự thô bạo. Chúng tôi trèo lên tới đỉnh đồi, có thể nhìn thấy toàn bộ thung lũng tràn ngập Việt Minh vẫn sẵn sàng tấn công. Họ nhìn chằm chằm vào chúng tôi khi chúng tôi đi qua.

Khi hàng tù binh dừng lại, Schoendoerffer chạm trán lần đầu với đối phương. Anh ta nhớ lại:

Một lính Việt Minh tiến lại, quát thẳng vào mặt tôi, trông anh ta rất tức giận và tôi đã chờ đợi phiền phức trút xuống. Sau đó anh ta rút tay ra, cầm một điếu thuốc cháy dở, hất đầu và bảo tôi hút. Tôi làm theo, anh ta và những người khác đã phá lên cười.

Binh nhất Claude Sibille, một người còn sống sót của tiểu đoàn Bréchignac nhớ lại khi rời nơi trú ẩn theo lệnh ngừng bắn với cái quần soóc, mũ sắt, áo gilê tránh đạn và vác theo một khẩu cabine. “Một Việt Minh tước khẩu cabine và lột bỏ áo tránh đạn của tôi, tôi nghĩ tôi sắp bị bắn. Chúng tôi đã ăn rất ít trong 8 ngày, không thuốc lá và hết cả lương thực. Khi được đưa đi tôi đã nghe thấy tiếng chim hót và đó là ngày đẹp nhất của tôi ở Điện Biên Phủ”.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #83 vào lúc: 08 Tháng Chín, 2009, 08:06:59 pm »


Sau khi bệnh viện bị san bằng, Thiếu tá Ctrauwin nói với Terraube đi sát với anh ta trong đoàn tù binh. Họ qua cầu Bailey và đi về hướng “five hills”. Terraube nói bộ đội ở khắp mọi nơi, hàng trăm xác chết ở Eliane 2. Sau đó một sĩ quan Việt Nam chặn đoàn tù binh lại và sự tuyệt vọng của Grauwin bỗng được thay bằng niềm hy vọng. Anh ta kể lại phút giây đó trong cuốn sách của mình:

Một giọng nói bằng tiếng Pháp: “Anh có phải là Thiếu tá Grauwin?”

“Đúng”.

“Anh phải quay về bệnh viện và tiếp tục chăm lo cho thương binh. Đó là mệnh lệnh từ Tư lệnh của chúng tôi”.


Đại tá Lalande ở Isabelle đã không đủ sức để cứu Trung tâm của Điện Biên Phủ. Căn cứ của anh ta bị hàng loạt pháo binh liên tiếp cô lập. Không thể liên lạc với Điện Biên Phủ, không nhận được các chỉ thị từ Hà Nội anh ta quyết định thực hiện một đợt phá vây về phía Tây Nam. Lúc 21 giờ ngày 7 tháng 5, quân đồn trú ở Isabelle, một lực lượng hỗn hợp 2 tiểu đoàn lính Lê dương, Algeri, người Thái, lính xe tăng, lính pháo binh đã liều lĩnh trườn qua hàng rào thép gai để tới các vùng núi phía xa. Nỗ lực của họ đã trở thành một thảm hoạ. Việt Minh đang đợi họ, trận rút lui có kế hoạch ngay lập tức trở thành hỗn loạn. Trong sự hỗn loạn, binh lính Việt Minh đã lẫn lộn với các đội quân của Lalande. Hỏa lực tấn công các ngả, tới nửa đêm thì kết thúc. Cả Lalande và Trung uý Wieme đều bị bắt làm tù binh. Chỉ khoảng 100 người trốn được sang Lào. Cuộc chiến giành Điện Biên Phủ đã kết thúc.

Gần 8000 Việt Minh đã hy sinh cho thắng lợi này, trên 2000 lính của lực lượng liên quân Pháp đã trả giá cho thất bại của họ. 6452 lính liên quân Pháp bị thương trong chiến dịch, 1500 người được cứu sống trong bệnh viện của Grauwin và các trạm y tế của tiểu đoàn. 15000 người bị thương trong các công sự của Việt Minh không kể số người bị chết chưa thống kê hết của cả hai phía, đó là những người Pháp chạy trốn và bị chết trong rừng; các đội tuần tra bị mai phục; những người bị chết vì trúng hoả lực pháo binh; dân phu bị trúng bom khi đang làm việc trên Tuyến đường 41 và cán bộ chính trị Việt Minh và những người tuần tra bị các thổ dân trung thành với Pháp giết chết. Người dân tộc ở phía Tây Nam đã phải trả một giá quá đắt khi phải sống ở các vùng lân cận Điện Biên Phủ. Bom đạn, bắn phá, hoả lực pháo binh đã gây tổn thất nặng nề cho người dân. Số phận và các vấn đề chính trị quốc tế đã buộc nhiều làng phải lựa chọn đứng về các phía và với một số thì sự lựa chọn đồng nghĩa với việc huỷ diệt và chết chóc. Ngày 8 tháng 5, một bức điện thông báo cho các chỉ huy chiến dịch rằng Điện Biên Phủ đã thất bại. Vì thế, đội quân cứu viện được lệnh rút sang Lào. Trận rút đó đã làm một tiểu đoàn người Lào bị tổn thất nặng nề.

Cùng ngày, các nhà ngoại giao đã tập trung tại một bàn hội thảo ở Geneve để quyết định tương lai của Đông Dương. Ở Điện Biên Phủ, Việt Minh đang phân loại tù binh, phân thành những nhóm nhỏ 50 người và bắt đầu đưa họ hành quân tới những trại giam lớn phía sông Đà và tỉnh Thanh Hoá. Việt Minh đã bắt được trên 10.000 tù binh và đang vội vã chuyển họ ra khỏi khu vực mà người Pháp có thể tập trung ứng cứu. Phần lớn tù binh vẫn đang cố phải đối mặt với thực tế rằng cuộc chiến đã kết thúc, rằng họ vẫn còn sống và họ đã phải chịu đựng những giờ giam giữ đầu tiên. Họ đã phải học để tồn tại từng ngày và chẳng quan tâm tới tương lai. Phía trước họ là một cuộc hành quân qua rừng dài 500 dặm. Một số người quyết tâm trốn nếu có cơ hội. Bigeard đã nhét một bản đồ vùng Bắc Bộ bằng lụa vào trong giầy và sẵn sàng cùng Bréchignac bỏ trốn.

Ngày 8 tháng 5 cũng đánh dấu một thành công đỉnh cao của GMI (lính biệt kích thuộc người dân tộc) đang hoạt động dưới sự chỉ huy của Trung tá Roger Trinquier. Lợi dụng lúc Việt Minh đang tập trung nỗ lực vào Điện Biên Phủ, hàng ngàn người Pháp do đám biệt kích dẫn đầu đã từ rừng lao ra để giải phóng cho dân làng bị các lực lượng lãnh đạo tạm thời của đối phương quản thúc. Trước sự ngạc nhiên đó, Bộ Tư lệnh tối cao Pháp đã nhận được báo cáo khẳng định rằng Lào Cai, một tỉnh quan trọng ở biên giới Trung Quốc đã bị lực lượng biệt kích người Mông và người Thái chiếm. Thậm chí kỳ diệu hơn là họ tái chiếm được Lai Châu, phía Bắc của Điện Biên Phủ mà người Pháp đã bỏ lại hồi tháng 12 năm 1950. Phía Tây Bắc, một lực lượng du kích từ các tộc người Mông và người Dao đang bao vây Cao Bằng, một tỉnh biên giới khác và là lối vào của các nguồn tiếp viện từ Trung Quốc. Lực lượng Cardamom đang di chuyển từ phía Nam Lai Châu tới Điện Biên Phủ khi pháo đài ở đây bị thất thủ. Hiện tại mọi việc họ có thể hy vọng là cứu thoát những người bị cô lập và báo trước tình hình cho nhóm tù binh muốn trốn thoát.

Những thành công của đám biệt kích này chứng minh rằng Đại tá Trinquier và nhiều sĩ quan dù cùng lính biệt kích đã đúng khi tăng cường sử dụng rộng rãi các lực lượng không chính quy ở Đông Dương. Bên cạnh đó, Bộ tư lệnh tối cao Pháp, bị chủ nghĩa bảo thủ giới quân sự và những truyền thống khắt khe của nó che mắt, đã thấy việc sử dụng quân của bộ tộc trong một cuộc chiến đã định là hợp lý. Thật không may, mọi bài học được rút ra từ những thành công của người bộ tộc ở vùng núi đều không được áp dụng. Nhờ có lệnh ngừng bắn mà một số quân biệt kích đã trốn được sang Lào, nhưng phần lớn bị chết và bị quân du kích Việt Minh bắn chết. Nhiều tháng sau khi ký Công ước Geneve, các nhóm du kích bị cô lập dưới sự chỉ huy của các sĩ quan Pháp và các binh lính không tham chiến vẫn đang sống sót và chiến đấu trong rừng. Bức điện cuối cùng yêu cầu tiếp tế đạn mãi tới 2 năm sau khi Điện Biên Phủ thất bại mới tìm lại được.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #84 vào lúc: 08 Tháng Chín, 2009, 08:07:36 pm »


Khi các đoàn tù binh hành quân qua rừng tới các trại mới thấy hết điều kiện tồi tệ về tâm lý của quân đồn trú và những hậu quả nghiêm trọng của nó. Khẩu phần ăn hàng ngày là 800 gam gạo và chút quả lạc hoặc thỉnh thoảng có quả chuối không đủ chất và làm cho năng lượng cũng như cơ thể cường tráng của đám tù binh nhanh chóng bị cạn kiệt. Những người sống sót mất đi trọng lượng tối thiểu mà họ đã giữ được trong suốt chiến dịch, vì thế mà họ mất đi khả năng đề kháng của cơ thể. Sốt rét, bệnh lỵ, viêm họng... không chữa khỏi là tình trạng chung. Thời gian mà một tù binh có thể vác một cáng tre chở một đồng đội của mình bị ốm ngày càng ngắn hơn.

Cán bộ Việt Minh hoặc các sĩ quan chính trị đã chia tách thành nhóm các sĩ quan tham chiến và các sĩ quan không trực tiếp tham chiến, các sĩ quan không trực tiếp tham chiến và các chiến sĩ. Số tù binh bị bại trận là một đề tài chống chiến dịch tuyên truyền cho cán bộ. Chiến dịch chiến tranh tâm lý của Việt Minh luôn căng thẳng và thường xuyên diễn ra. Không mấy ngày kết thúc mà không có các bài quán triệt và các phần tự phê bình và phê bình. Tù binh được nhắc đi nhắc lại rằng họ là những tội phạm chiến tranh và có thể chuộc lỗi bằng cách thừa nhận đường lối sai lầm của mình và tìm tới lòng nhân từ độ lượng của “Cụ Hồ”. Một chiến dịch tuyên truyền làm cho các tù binh đánh lại lẫn nhau đó là những khác nhau về sắc tộc và những cuộc nói chuyện về bản chất xấu xa của chủ nghĩa đế quốc. Lính dù thường bị theo dõi sát sao vì họ không chịu tham gia vào việc tái diễn lại cảnh của trận chiến đấu.

Robert Mallet một sĩ quan không trực tiếp tham chiến của Tiểu đoàn dù Lê dương số 2 đã viết một đoạn mô tả chính xác những kinh nghiệm của anh ta trong cuộc hành quân dọc Tuyến đường 41 theo hướng Tuần Giáo:

Cùng với Coalan, Maioli và 2 sĩ quan không tham chiến khác của Tiểu đoàn dù Lê dương số 2, chúng tôi cố gắng trốn tới 3 lần. Lần cuối chúng tôi bị đám dân làng có vũ trang bắt giữ. Họ đang chuẩn bị cho chúng tôi một trận thì vào giây phút cuối chúng tối đã được cứu do có một tiếng súng bắn vào không trung của một lính du kích Việt Minh cách đó không xa. Sau đó chúng tôi được trao trả vào đoàn tù binh cuối cùng của Điện Biên Phủ.

Mallet tới trại số 73 ở Thanh Hoá sau một chuyến đi 4 tuần. Người Pháp, Đức, Việt và Thái được tách ra theo các quốc tịch. Mallet và nhóm của anh ta được phân làm 4 ở một ngôi chùa bỏ không. Theo thông báo của một y sĩ Lê dương thì Mallet không phù hợp với công việc lao động vì anh ta bị thoát vị cột sống...

Thường xuyên có những cuộc họp chính trị trong đó có cả những người dân địa phương tổ chức kỷ niệm một việc gì đó hoặc vinh quang của một ai đó. Các tù binh được lệnh tham gia vào các lễ hội bằng tiết mục hát. Sự tham gia của nhóm Mallet là một thất bại vì họ đã hát bài hát của quân đội Pháp làm cho sĩ quan chính trị chủ trì phải tức giận.

Binh nhất Robert Blondeau nhớ lại những ngày trong trại khi các tù binh được tập trung xem một bộ phim tuyên truyền của Liên Xô với tiêu đề Gặp nhau trên sông Elbe, tái dựng cảnh gặp nhau của 2 đạo quân Mỹ-Liên Xô năm l945: “Một sĩ quan Mỹ đang đi về phía những người Xô-viết với một chai rượu whisky lôi từ trong túi ra, sau đó chỉ vào cái ống nhòm đang đeo trước ngực một sĩ quan Xô-viết và hỏi: “Đây là cái gì?”.

… Bigeard, Bréchignac và 2 sĩ quan khác đã cố bỏ trốn nhưng đều bị quân địa phương bắt lại. Schoendoerffer và Péraud quyết định thử vận may trong khi đang trên đường được chuyển tới trại. Họ cho biết chiếc xe tải Molotova đi trong đêm tối được vài giây thì tới một chỗ đường vòng và tiếp tục tiến theo ánh đèn pha của chiếc xe tải. Sau một lúc căng thẳng và luồn lách, Péraud đã moi được con dao từ túi của Schoendoerffer và cắt dây trói. Họ đợi tới chỗ tối rồi cùng nhau nhảy xuống và lao thẳng vào rừng. Sau đó họ bị lạc nhau. Schoendoerffer rơi xuống một cái hố nước. Anh ta có thể nghe thấy tiếng quát tháo của những lính gác đang đuổi theo và nhìn thấy ánh sáng của những chiếc đèn pha. Khi một lính gác tiến lại, anh ta lặn xuống nước, lính gác đã bước lên cái đầu của anh ta và phản ứng tự nhiên đã làm anh ta bị lộ rồi bị đưa trở lại thùng xe. Còn Péraud từ đó đã không ai nhìn thấy hay nghe thấy điều gì về anh ta.

Nếu một số tù binh chống lại chiến dịch tuyên truyền của đối phương thì những người khác cũng làm theo. Đó là vấn đề chủ yếu của sự sống còn. Một hệ thống thưởng phạt công minh đã được áp dụng. Những người có ý hợp tác đã nhận được thêm một chút khẩu phần ăn hoặc một chút thịt trâu hay thịt lợn rang. Còn những người không thì khẩu phần ăn của họ bị cắt bớt. Nhiều binh lính bại trận ốm yếu, xa nhà cảm thấy rằng họ đã bị quân đội Pháp bỏ rơi. Họ đã tạo ra một vùng đất màu mỡ để nuôi dưỡng những mầm mống phản bội, đối địch. Sự trừng phạt nhóm mà nhiều người phải chịu đựng từ sự không phục tùng của một thành viên trong nhóm đã trở thành một biện pháp hữu hiệu của cán bộ chính trị Việt Minh. Việc không tuân thủ đường lối của Đảng của một tên lính thực dân ngang ngạnh đồng nghĩa với việc để cho đồng đội bị ốm nặng của mình sẽ chết mà không có thuốc chữa.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #85 vào lúc: 08 Tháng Chín, 2009, 08:08:06 pm »


Điều kiện tâm lý của tù binh trong cuộc chiến tranh Đông Dương chẳng hề bị hạn chế. Lính Bắc Phi, châu Phi được hỏi những vấn đề đơn giản về việc tại sao họ lại tới chiến đấu ở Việt Nam khi Tổ quốc của họ vẫn bị thực dân đô hộ. Lính Liên quân Pháp bị bắt lâu ngày, được cán bộ Việt Minh do người Trung Quốc huấn luyện bằng các kỹ thuật tuyên truyền của Cộng sản đã đưa vào sống với đám tù binh như những người đáng tin cậy nhất. Những kẻ phản bội này nói bằng ngôn ngữ của tù binh để giải thích thêm cho những luận cứ của cán bộ và khuyên những người bạn đấu tranh để giải phóng cho đất nước của họ. Cuộc nổi loạn của người Algeri chống lại sự cai trị của Pháp đã nổ ra vào ngày 1 tháng 11 năm 1954. Cuộc xung đột đẫm máu này là dấu hiệu sụp đổ của Đế chế Pháp và làm chia rẽ nước Pháp. Do sự đa dạng của tù binh, nên các kỹ thuật giống nhau được áp dụng sẽ cho những kết quả xáo trộn. Những người tiến bộ trong số họ sẽ được đưa về nước bằng máy bay của Liên Xô theo như lời hứa.

Mặc dù mọi tù binh gồm cả người Pháp phải chịu những biện pháp cân não của Việt Minh và phải chịu căng thẳng trong các trại. Báo cáo của các đợt tác chiến của tình báo và của các đơn vị đặc biệt đều chưa được phép tiếp cận. Một số người sống sót thừa nhận rằng những người bắt họ đôi khi còn không được ăn bằng các tù binh. Nhưng Việt Minh đã được tôi luyện bởi kinh nghiệm sống trong rừng lâu ngày với khẩu phần ăn đạm bạc. Họ đã được nghe nhiều về các tù binh - những tay lính đánh thuê và những tên thực dân đáng ghét. Việt Minh không có tôn chỉ võ sĩ đạo của người Nhật là coi tù binh như những chiến binh bị ruồng bỏ thà chết còn hơn sống.

Vì những cuộc thương lượng quanh co và những công tác tuyên truyền của Việt Minh nên công việc sơ tán thương binh của Pháp ra khỏi Điện Biên Phủ bị chậm lại. Vấn đề chính là có cả thương binh của phía Quân đội quốc gia Việt Nam trong chiến dịch. Việt Minh coi họ như những kẻ phản bội cần được giải quyết riêng. Vấn đề này được đưa ra thảo luận trên bàn đàm phán ở Geneve. Ngày 18 tháng 5, Ngoại trưởng Pháp, Georges Bidault chỉ ra rằng sự phân chia như vậy là vi phạm nguyên tắc không phân biệt chủng tộc và đề nghị trao trả số Việt Minh bị thương tương ứng với bất cứ điểm nào mà chỉ huy Việt Minh đề ra. Một bức điện mật từ đoàn đại biểu Mỹ ở Geneve gửi về Washington nhấn mạnh giọng điệu tuyên truyền của Việt Minh đáp lại lời phát biểu của Ngoại trưởng Bidault:

Đoàn đại biểu Bắc Việt nhắc lại lời chấp nhận nguyên tắc không phân biệt chủng tộc nhưng cho rằng số thương binh người Việt rất thấp vì Tư lệnh Pháp đã tập trung hết ở Điện Biên Phủ những binh lính giỏi nhất của Quân đoàn Viễn chinh và rằng số người Việt trong quân đồn trú chính gốc chỉ bảo gồm 1/8 và nhiều người trong số đầu hàng đã từ bỏ Pháp ngay trong cuộc chiến.

Sau nhiều cuộc thương lượng bảo gồm cả Hội chữ thập đỏ Pháp và Bộ Tư lệnh tối cao Pháp ở Việt Nam, Việt Minh cho phép những thương binh của Quân đội quốc gia Việt Nam nhập vào quá trình sơ tán. Một trong những cái giá mà Pháp phải trả cho sự thương lượng này là hứa không tấn công Tuyến đường 41 từ Điện Biên Phủ tới khi nào công việc sơ tán hoàn thành. Với vật cản trở đã được chuyển đi, những thương vong nghiêm trọng cuối cùng được đưa ra khỏi Điện Biên Phủ vào đầu tháng 6 năm 1954.

Thời gian có hiệu lực này đã cho phép Việt Minh tăng tốc tái triển khai các sư đoàn vào vùng châu thổ. Một báo cáo tuần của tuỳ viên quân sự ở Đại sứ quán Mỹ tại Sài Gòn đã đánh giá tình hình từ 23 tháng 5 đến 29 tháng 5: “Các sư đoàn Việt Minh 304, 308, 312, 316 và 351 đang tiến nhanh hơn cuộc hành quân của quân Pháp vào vùng châu thổ và phía Pháp dự tính các sư đoàn này có thể sẵn sàng tấn công vùng châu thổ từ ngày 15 đến 20 tháng 6”.

Mặc dù trò chơi quân số nghe có vẻ nhẹ nhàng nhưng khó có thể được áp dụng. Ước tính gần 11.000 lính Liên quân Pháp - cả khỏe mạnh và bị thương - bị bắt ở Điện Biên Phủ, gần 3.300 quân phải quay trở về vào tháng 9 năm 1954 theo các điều khoản của Hiệp định Geneve.

Khi các đoàn đại biểu của Hội nghị Geneve đi sâu vào các vấn đề, các cuộc thương lượng qua lại và hướng tới một thoả thuận vào tháng 7 là ra lệnh ngừng bắn, tạm thời chia cắt Việt Nam ở vĩ tuyến 17, rút quân Pháp khỏi miền Bắc và quân Việt Minh khỏi miền Nam, tiến hành các bước bầu cử theo kế hoạch trong 2 năm, thì Mỹ lại đang tiến tới can thiệp sâu vào Đông Dương.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #86 vào lúc: 08 Tháng Chín, 2009, 08:08:35 pm »


Tại cuộc họp báo 4 ngày sau thất bại của Điện Biên Phủ, Tổng thống Eisenhower được hỏi liệu Đông Dương có được phép gia nhập Liên minh phòng thủ Đông Nam Á do Ngoại trưởng Dulles đề xướng và liệu có phải “Nó vẫn là yếu tố không thể thiếu trong khu vực phòng thủ Đông Nam Á”. Tổng thống đã trả lời một cách mập mờ và chính vì thế ông ta đã trở thành người nổi tiếng:

Tất nhiên, thành lập một tổ chức là ý tưởng hay và quan trọng nhằm đánh bại quân bài đôminô. Khi mỗi vật đứng tách riêng, một cái đổ nó sẽ tác động tới cái bên cạnh và cuối cùng cả hàng bị đổ. Mặc dù có sụ tác động thống nhất nhưng nếu bạn thử xây dựng hàng rào đôminô như vậy, nếu cần thiết một cái bị đổ cũng không gây ảnh hưởng gì tới cái kia. Còn với tôi, tôi không cho rằng thế giới tự do này phải xoá bỏ Đông Dương, chúng ta phải nhìn vào tất cả mọi việc với sự lạc quan và quyết tâm. Tôi cần nhắc lại các vấn đề phức tạp đó và chủ nghĩa thất bại sẽ không giành được thắng lợi.

Rõ ràng, Eisenhower đã xác định Đông Dương như một quân bài đôminô sắp sụp đổ mà sự sụp đổ của nó do Cộng sản chi phối sẽ đe doạ các quốc gia khác ở Đông Nam Á và chỉ ra rằng Mỹ không có ý muốn xoá bỏ Đông Dương.

Ngày 14 tháng 5, Ngoại trưởng Dulles đã gửi một bức điện mật cho đoàn đại biểu Mỹ ở Geneve. Một đoạn trích trong bức điện cho thấy Dulles đã sẵn sàng đóng một vai trò quan trọng ở Việt Nam:

Tình hình chính trị và quân sự lộn xộn ở Việt Nam được phản ánh trong bức điện số 2372 của Sài Gòn cho thấy yêu cầu có các biện pháp khẩn cấp từ phía Mỹ mà bước đầu tiên là thúc giục Bảo Đại quay về Việt Nam ngay. Nếu Bảo Đại tỏ ra không chấp nhận sự có mặt của Đại sứ Heath, các ngài nên bàn với Bidault có thể tiến hành các bước tiếp theo. Nếu Bảo Đại không thẳng thắn chấp nhận gợi ý ban đầu, có thể nói với Bảo Đại rằng trừ phi ông ta sẵn sàng chấp nhận gợi ý của chúng ta, chính sách của Pháp và Mỹ có liên quan tới ông ta và chế độ của ông ta sẽ được xem xét lại.

Sáu ngày sau một bản đánh giá tình hình tình báo quốc gia của CIA về “hoạt động chính trị và quân sự ở Đông Dương trong 30 ngày tới” cảnh báo: “Tình hình ổn định chính trị ở Việt Nam sẽ có thể bất ổn trong thời gian này. Sự vắng mặt của Bảo Đại... chủ nghĩa bè phái trở nên cực đoan và chính quyền miền trung Việt Nam gần như bị tê liệt. Có thể chính quyền này sẽ tan rã trong 30 ngày tới”. Ngày 26 tháng 6, Ngô Đình Diệm đã tới Sài Gòn để nhận chức thủ tướng. Dưới những áp lực ngày càng tăng của người Mỹ, Bảo Đại phải miễn cưỡng chỉ định người của đám công giáo gây tình trạng hỗn độn ở miền Nam Việt Nam. Đại tá Lansdale và nhóm của ông ta ở CIA đang chờ đợi để giúp Bảo Đại một tay. Với Diệm, cuối cùng Mỹ đã có một tay sai riêng ở Sài Gòn.

Những đêm ở Điện Biên Phủ trở nên yên tĩnh hơn. Dân công và dân phu đã làm việc suốt ngày để dọn những đống đổ nát của chiến tranh, chôn gần 10.000 xác chết của Pháp và Việt Minh, sửa lại cầu, đường dưới ánh trăng sao. Phần lớn những chiếc dù đã bị tả tơi nhưng một số vẫn loé sáng trong đêm tối giống như những tấm vải liệm. Người Thái trốn vào núi đã bắt đầu kéo về, sửng sốt bởi quang cảnh trơ trụi của thung lũng và không thể tưởng tượng nổi con người lại có thề sống sót được trước sự huỷ diệt như vậy. Dây thép gai xoắn lại lấp lánh dưới ánh trăng. Các công sự bị sập và những hào giao thông bị cày xới đều trống rỗng và yên lặng nhưng họ vẫn ngửi thấy mùi của những xác chết.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #87 vào lúc: 08 Tháng Chín, 2009, 08:13:28 pm »


PHỤ LỤC
BẢNG ĐỐI CHIẾU TÊN GỌI CÁC VỊ TRÍ
THEO TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG PHÁP


Phân khu Bắc (theo quan niệm của ta lúc đó gồm ba trung tâm đề kháng Gabrielle, Béatrice và Anne-Marie), được gọi như sau:

Đồi Độc Lập --> Gabrielle

Him Lam --> Béatrice

Bản Kéo gồm Anne-Marie 1 và Anne-Marie 2 nằm tại Bản Kéo


Phân khu Trung tâm.

Những cứ điểm ở phía đông:

A1 --> Eliane 2.

C1 --> Eliane 1

C2 --> Eliane 4

A3 --> Eliane 3.

E1 --> Dominique 1.

D1 --> Dominique 2

D2 và vị trí pháo binh 210 --> Dominique 6.

D3 --> Dominique 5

505, 505A --> Dominique 3

506, 507 --> Eliane 10

508, 508A, 509 --> Eliane 12


Những cứ điểm ở phía tây:

105 --> Huguette 6, trước là Anne-Marie 3

106 --> Huguette 7, trước là Anne-Marie 4

206 --> Huguette 1

208 --> Huguette 2

310 --> Claudine 4

311, còn gọi là Căng Na --> Huguette F, còn gọi là Francoise

311A --> Huguette 5

311B --> Huguette 4


Phân khu Hồng Cúm --> Isabelle.


Chú thích: Có một số cứ điểm nằm sát sở chỉ huy (PC) của Đờ Cát ở phía tây-nam và đông-nam khu Trung tâm (thuộc Claudine và Junon) ta chỉ đánh dấu trên bản đồ tham mưu, chưa đánh số.


Het
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM