Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 04 Tháng Mười Một, 2026, 03:55:22 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Trường Sa - Tập văn thơ  (Đọc 39858 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
phonglan
Thành viên
*
Bài viết: 500


Nụ hoa và cây súng


« Trả lời #20 vào lúc: 30 Tháng Mười, 2009, 02:09:34 pm »


ĐẢO CHÌM

Đảo chìm nhìn từ xa - vẫn là phải nhìn từ xa, bởi lẽ đại dương khoáng đạt không ưa độ nhìn gần - là một dải  nước màu xanh lá mạ non tơ nổi lên giữa màu xanh sâu hun hút. Đang lênh đênh giữa vô cùng trời nước, màu xanh nõn nà gợi cảm giác biển bỗng đầy lên, cụ thể, nó hình hài góc cạnh và gần gụi, bớt vẻ hư vô hoang lạnh hơn. Đó là thảm san hô, nằm mấp mé mặt nước bắt nắng trời mà tạo ra cái màu xanh ruộng đồng đến xao xuyến ấy. Nếu giữa vệt xanh lá mạ lại ẩn hiện một vệt màu xanh dương, thì đó là hồ giữa đảo. Có vệt xanh lá mạ dài tới ba mươi bảy cây số như Thuyền Chài, lại có thảm chỉ hơn hai chục cây số như Tốc Tan, Tiên Nữ...

Trên dải nước màu lá mạ đó là một khối bê tông ăn thẳng xuống đáy mà nhác trông nó thật giống cái bốt tròn Hàng Đậu ở Hà Nội, nhìn kỹ hơn, nó mang hình hài một cái lô cốt khổng lồ mà ta thường gặp ở đâu đó trên đê Mai Lĩnh, dưới cầu Phùng. Đó là nhà đảo chìm.

Nóng hầm hầm. Giữa biển mà nóng thì kể cũng ngược ngạo. Biết làm sao ? Lô cốt trấn ngự giữa đại dương mà. Chạnh nhớ những hầm chốt cũng dày, cũng nóng thế này ở biên cương phía Bắc. Cái lô cốt khổng lồ này cũng chứa trong bụng nó một nguồn kinh phí tới 4 tỷ đồng.

Đại úy Hùng, đảo trưởng đảo Núi Le, một trong những đảo chìm nằm xa nhất ở phía cực đông Trường Sa gãi đầu nhăn nhó:
- Đã đến đây rồi, mời các thủ trưởng quá bộ lên đảo một chút. Biết đoàn tới, anh em tuy thiếu nước nhưng vẫn thay quân phục mới, quần áo cũ để đó không giặt mà đoàn không lên, tủi lắm! Năm ngoái, đoàn của Bộ Quốc phòng cũng chỉ dừng lại ngoài xa, thoáng chốc thế như chỉ đi qua ấy.

- Đảo lúc này có bao nhiêu nước? - Đại tá, tham mưu  phó Tổng cục Hậu cần hỏi.
- Dạ! Ba khối .
- Khách lên đông, lấy nước đâu xài ?
- Không cũng phải còn tới bốn khối .
- Chị em văn công nữa. Đàn bà là tiêu tốn nước lắm!
- Dư! Coi nào ... chắc chắn còn năm khối. Vâng! Năm khối ạ! 
  Vị tướng ba sao cả cười quay qua chuẩn đô đốc:
- Kiểu này chỉ giỡn một chút nữa là hắn tòi ra cả chục khối nước cho coi. Khổ ! Lính đảo khát khách đất liền quá, hay ta thay đổi phương án hành quân đi tí chút ?
- Vâng: Sáng mai vào sớm. Còn đêm nay cứ đón anh em lên tàu xem văn công như kế hoạch cũ.
Mắt chàng trai Nghi Lộc, đã từng là giáo viên lục quân sáng lên, nói nhỏ với tôi: 
- Thỏa lòng rồi. Đêm nay anh vào đảo ngủ với tụi em  một đêm nhá ! 

Đêm ấy, trời không trăng không sao, tôi và Phúc Nguyên, phóng viên báo Quân đội theo chiếc xuồng chèo  tay của Hùng vào đảo. Đêm tối mịt mùng. Trời muốn nổi  cơn dông. Nhà lô cốt biến mất dạng. Loay hoay cả tiếng đồng hồ không nhận ra phương hướng. Thuyền mỏng manh; người mỏng manh, bầu trời và sóng nước gầm gào. Nước cạn, xuồng quệt đáy. Thế là phải lội bộ. Lội ba trăm  mét san hô sắc cạnh tựa đá tai mèo. Ngã lên ngã xuống.  Ba thằng níu vai nhau đi xiêu vẹo trong mịt mờ như ba gã thương binh rời trận chiến. Chân đi dép cứng mà thỉnh thoảng vẫn bị trẹo, mắt cá chân cọ vào cạnh san hô đau  trào nước mắt. Vậy mà Hùng, chân giẫm đất vẫn nói cười ồn ã:

- Điện đài bị hỏng. Chiều, thấy tàu của đoàn đến lại ngỡ tàu của đối phương. Anh em nhào vào lỗ châu mai hết, mắt cứ dán vào hai chiếc xuồng máy đeo hai bên sườn tàu. Nếu nổ súng, phải sống chết cướp được một cái. Chao ôi! Xuồng máy đối với lính đảo quan trọng lắm anh ơi! Không có  xuồng, lính ngồi thu lu như những thằng bị đi đày chung  thân. Cá không bắt được, tàu lạ tới không phóng ra kiểm tra được, cứ đứng như phỗng, phát tín hiệu rối loạn đuổi đi  như thằng rồ. Có xuồng là có tất cả. Có sự sống, có phong độ thằng lính khoan thai làm chủ mặt biến, làm chủ  công việc bớt thúc thủ, bớt cô đơn đi rất nhiều: Anh để ý xem: đảo nào có xuồng máy, đảo đó thằng lính trông lanh lợi tự tin lắm. Đảo nào không, thằng lính y hệt con gà rù, ngồi đâu gục đó. Năm ngoái - giọng Hùng lắng đi - ở đảo An Bang, lính thường kêu đảo khổ, có hai chiến sĩ thèm chất tanh bơi ra ngoài thềm san hô kiếm cá, gặp dòng chảy, thế là trôi luôn. Bạn bè đứng trên bờ chỉ kêu khóc nhìn theo mà không làm gì được. Ai nhảy xuống, dù tài bơi lặn tuyệt chiêu đến mức nào cũng bị cuốn chìm. Hai cái đầu nhấp nhô xa dần ... xa dần ... chỉ còn lại hai cái chấm đen nhỏ  xíu. Thế là xong! Đảo chỉ còn cách bắn lên trời một tràng pháo 37 ly tiễn biệt. Chả hiểu hai cậu ấy có nghe thấy không?

- Một chiếc xuồng bây giờ giá bao nhiêu? - Tôi hỏi để khỏa lấp đi một cục gì đang chèn ngang cổ.
- Mười lăm đến hai mươi triệu là cùng.

 Mười lăm triệu! Mấy bữa nhậu của các ngài đang từng ngày làm thất thoát hàng chục, hàng trăm tỷ của nhân dân  ở trong vùng ánh sáng phồn hoa kia? Mấy bữa? Và mười lăm triệu trên bốn tỷ trị giá ngôi nhà, tỷ lệ ấy chả lẽ khó vượt lắm chăng? Chả lẽ sắm được trâu mà quên sắm chão?

Mưa! Mưa nặng hạt ngay từ đầu. Hùng nhảy cẫng:
- Khỏe rồi. Mấy ngày trước cũng có mưa nhưng chỉ mưa xung quanh đảo như chọc ghẹo. 

Anh chàng phóng viên bỗng kêu á, một chân co phắt lên, nhăn nhó. Hùng thọc tay xuống bắt lên một vật to bằng con cua, tròn ủng, có những cái gai dài đâm tua tủa.

- Nhím biển đây. Gai đen, không sao ? Loại gai này sẽ tan trong thịt. Gai đỏ mới sợ. Gây nhức hàng tuần, không thua gì loại cá hồng, ăn vào, mình mẩy bầm dầm như bị vợ đánh cả tháng.
- Này ! Liệu có cá mập không đấy ? - Bị tác động bởi cái loài vật gai đen gai đỏ lạ hoắc này, tôi rụt rè hỏi .
- Nhiều. Trường Sa nổi tiếng nhiều cá mập. Nhưng hiền, toàn bơi theo tranh mồi của người. Lắm khi thức chong chong cả đêm mới ẵm được một chú thu bè, chưa vào đến nơi, cá mập đã len lén bơi theo đớp trộm. Thế là người và cá tranh nhau, co kéo một hồi. Cuối cùng đành chia đều: kẻ khúc đầu, đứa khúc đuôi. Cáu quá đá cho một phát, mập ngoắt mình phóng đi.

Một tiếng chó hộc lên báo hiệu đã đến nhà. Trong bóng đêm, con chó ngồi chồm hỗm ở thành taluy trông côi cút  như ngồi ở bậc thềm nhà sau rặng xoan. - Con Le đó - Hùng nói - Đảo Núi Le nên đặt luôn là con Le. Mà tại sao bốn bề chìm nghỉm thế nào lại là Núi Le, cũng chả hiểu  ông bà ngày xưa đặt tên theo kiêu gì nữa? Con Le này là cựu binh nhất đảo. Nó đã ở đây 4 năm, trong khi người lâu nhất như cậu bác sĩ cũng chỉ mới có 22 tháng. Chó đảo sống sướng hơn chó đất. Đi qua nồi cá kho ngậy mỡ, nó không thèm nhìn lại nửa mắt. Chó chán cá. Người chán cá. Chẳng may sứt chân chảy máu, máu người không thấy, chỉ thấy máu cá không. Tanh òm.

Chúng tôi cười ồ ồ trước cách nói của chàng chúa đảolém mồm. "Tay này chỉ huy được nhưng phải cái hơi ba hoa". Hình như một ai đó đã nhận xét về Hùng như thế. Nhưng tôi xin mạn phép nghĩ ngược lại: giữa sóng nước cô đơn thế này, con người còn có thể lém luốc, còn có thể ba hoa được thì đó lại là phong độ, là bản lĩnh. Chỉ sợ ngày qua ngày ngồi rầu rĩ âm thầm tự gặm nhấm da thịt mình.

Bộ đội ở lại tàu để coi viđiô tới sáng nên đảo đêm nay chỉ có một mình Hùng với một sĩ quan cơ công. Lạnh run, thay bộ đồ mượn của lính đảo, hai nhà báo thoạt thấy ấm cúng như ở giữa chòm xóm gia đình. Cũng có giường, màn, đèn đóm, cũng có nồi cơm nguội với đĩa cá khô, cũng có bàn thờ mà cả hoa lẫn trái đều được làm bằng nilông. Mùi nhang khói phảng phất... Đảo ở đây gọi là làng. Làng Núi Le, làng Tiên Nữ, làng Thuyền Chài... trực thuộc vào huyện đảo Trường Sa. Làng chỉ có một nhà hình lô cốt, làng chỉ có mươi dân cư cùng giới tính. Chao ôi ! Giá bây giờ có một giọng à ơi phụ nữ một tiếng trẻ khóc u oa thì dễ chịu biết bao. Làng phải như thế chứ ?

- Em là một trong vài người ở đảo này lâu nhất - Anh sĩ quan cơ công tâm sự - Nhưng Trường Sa còn có nhưng người mà từ trung úy đến trung tá toàn sống ở đảo, hết đảo này đến đảo khác. Đến khi về, quen thói ra bể nước mưa mà cũng chỉ dám múc từng giọt.
- Nước này pha trà nghe cái mùi nằng nặng. - Nhà báo bạn tôi chun mũi.
- Vâng! Nước pha mùi gián.
- Gián?
- Gián chết dày cả tấc trên mặt nước ngọt. Muốn múc được phải rẽ gián ra.
- Gián biển à? 
- Không! Gián đất liền theo tàu ra đây và sinh sôi nảy nở không diệt kịp. Đầu năm, đảo phó chính trị của tụi em dùng xăng đốt gián, sơ ý để hơi ủ trong hầm bê tông phực  lên bắn theo một tảng đá văng vào đầu ... Nhưng nay cũng đỡ nhiều rồi. Y tế của quân chủng đã cử một đoàn bác sĩ ra đây.
- Đã có người yêu chưa? - Tôi hỏi.
- Có, nhưng bị đá rồi.
- Đá?
- Vâng! Hầu hết lính đảo đều bị người yêu đá cả. Anh bảo thế có bất công không? Có anh quê Hà Bắc khi ra đây được cả chị em hoa hậu hội Lim tiễn đưa. Mấy tháng sau, người yêu bỏ đi theo trai không một mẩu thư tỏ bày. Còn mấy cô hoa hậu? Chắc đang ngồi ở nhà hàng với mấy vị giám đốc xuất khẩu.

Đêm nằm còng queo nghe gió hú ngoài lỗ châu mai, tôi chợt nhận thấy có rất nhiều tranh ảnh treo, dán trên tường. Tất cả đều là ảnh đàn bà con gái. Thậm chí lật cái mai ngao trắng như phấn ở đầu giường dùng thay gối lên,lại vẫn là hình vẽ đàn bà... Hầu như tất cả những mỹ nữ, những hoa hậu, tài tử giai nhân cổ kim âu á đều gom tụ về đây, trên vách hầm bê tông dày 50 phân này. 
- Còn có gì khác đâu ngoài những tấm ảnh cho đỡ nhớ đất liền này ! - Cậu ta ghé tai Phúc Nguyên nói nhỏ - Ngoài ra, cũng còn có thể kể: mùi soa, hoa cài đầu ... Anh dặn văn công cẩn thận, kẻo mất đấy, lính có thể xin hoặc lấy làm kỷ niệm đất liền nữa.
- Thế vẫn có tàu Hồng Công qua lại à? - Tôi hỏi. 
- Thi thoảng. Họ săn bắt cá thu, cá hồng mang về làm món ăn đặc sản thu ngoại tệ: Loại cá này quý hiếm, bên nước họ không có. Một cân cá, nếu còn sống, sẽ bán được  50 đô la, tức là hơn bốn trăm ngàn tiền Việt mình. Béo bở  quá! Mà họ bắt kiểu gì lạ lắm. Lặn xuống sâu, phun thuốc cho cá ngủ rồi ôm về thả vào khoang nước ấm trên tàu,chú cá lại tính queo.
- Nghe nói lính đảo làm giàu bằng con ốc nón Trường Sa? Có người ở bờ lại trốn ra đảo, tức là một cuộc "đảo ngũ ngược chiều”, đúng không? - Anh phóng viên hỏi thẳng băng.
Người lính cười buồn:
- Cũng có, nhưng không phải ở đảo này. Ốc nón Trường Sa có giá trên thị trường thế giới nhưng chục đảo may ra mới có một đảo có. Một cân ốc bán cho tàu ra là hai chục nghìn. Tàu vào đất liền được gấp đôi ngay. Vớt được nhiều, có thể bán cho tàu đánh cá Hồng Công liên doanh Việt Nam. Trung bình mười cân là một chỉ. Ba năm ở đảo, chịu khó mò lặn được trăm cân, vài trăm cân thì khi trở vào cũng đỡ lắm. Nhưng chẳng dễ ăn đâu. Có người bị chết, có  người bị cá mập cắn rách đùi. Bọn em có một định nghĩa: ai mà "tóc đỏ, da đen, ỉa rặn cứt dê" y sì là lính đảo Trường Sa. Còn tụi em ở đây thì tay trắng. Thềm san hô hẹp. Ra khỏi thềm là hoắm sâu xuống trăm mét nước, kiếm được con ốc để dành về phép tặng người yêu hay hỏi vợ còn không ra huống chi có ốc để làm giàu.

Đêm tâm tình qua nhanh. Nắng trên biển cũng đến sớm. Ngày xưa cầm cây súng trong rừng, sáng ngủ dậy  đập mắ vào màu xanh miên man của cây lá. Ngao ngán.   Nay, lại liên tục đập vào màu xanh ngút ngàn của biển cả .Sáng xanh, trưa xanh, chiều xanh, tối xanh, buồn cũng xanh, vui cung xanh, có giấc mơ cũng u uất màu xanh, xanh đến muốn nổ con mắt. 

- Cái sợ nhất ở đảo là sự cô đơn anh ạ - Anh cơ công nói nhỏ - Nhìn mãi ra biển nên đâm sợ màu xanh. Mỗi khi thủy triều rút, đầu óc thần kinh mình như bị rút theo, sa sầm cả mặt mày. 

Lần này Hùng góp chuyện: 
- Đảo này xuồng máy không có, xuồng chèo thì chạm san hô, thành ra muốn họp hành chi bộ, chi đoàn, anh em phải lội bộ, giẫm đạp lên san hô tơi xốp mà vượt hàng chục cây số đến với nhau, tuy đây chỉ là đảo nhỏ. Nhưng nói  chung thường là họp chi bộ qua bộ đàm, kết nạp Đảng, kết nạp Đoàn cũng qua điện đài. Gay nhất là thương binh, hay  ốm đau. Đành phai cõng cáng đến đảo trung tâm có bác sĩ  thôi. Lội trên san hô khó hơn lội bùn. Mỗi giờ may lắm đi được hơn hai cây số. Vậy ba mươi bảy cây là mấy giờ? Có khi người bệnh tắt thở giữa đường. Mà bệnh tật Trường Sa có phải bệnh tật ẩm ương đâu. Toàn thứ nan giải cả.

Nếu có dịp tới vùng bắc đảo chắc chắn các anh sẽ nghe  được những ca phẫu thuật có một không hai ở đó. Ca thứ nhất là một y tá mới ra trường. Không đợi được tàu chở bệnh nhân bị tắc đái đã một tuần vào đất liền nên cứ mổ đại. Mổ để nhét ống nhựa vào bàng quang cho nước giải phun ra thôi chứ chưa biết cách xử lý tận cùng, cơ bản, nhưng bệnh nhân ấy đã được cưu thoát khỏi cái chết mười mươi.

Ca thứ hai ác liệt hơn. Ca đau ruột thừa. Lần này rơi vào một ông bác sĩ vệ sinh dịch tễ chưa cầm dao mổ bao giờ. Cũng lại không chờ tàu được. Năm, bảy trăm cây số,dù tàu có nhận được điện mà ra cũng phải mất vài ngày vài đêm trong khi bệnh nhân gào rống nhào lên nhào xuống van xin cứ mổ, chết còn hơn cực thế này. Thế là mổ. Mổ bằng sự hướng dẫn qua điện đài của một vị bác sĩ chuyên khoa ở đất liền cách 600 cây số. Hướng dẫn từ triệu chứng lâm sàng xem đúng là ruột thừa hay đại tràng hoặc sỏi thận. Đúng ruột thừa rồi, tiếp tục hướng dẫn cầm dao gì, rạch theo góc độ nào, lật lớp mỡ ra sao, đặt gạc cầm máu thế nào... vân vân... Nhiều lắm! Người hướng dẫn hét, người thực hiện hét to hơn hỏi lại.

Cuối cùng rồi cũng tìm được mẩu ruột bị viêm đã mưng mủ ở trong hố chậu phải. Cắt béng đi. Khâu lại, hồi sức theo đúng làn sóng điện trên không gian. Bệnh nhân sống.  Vết mủ loét ấy, nếu để thêm 4 giờ đồng hồ nữa là tử vong. Anh thấy có kinh không?

Hùng cười xòa, vẻ láu lỉnh pha một chút ngang tàng trong ánh mắt. Vừa lúc ca nô bắt đầu chở lính đảo và tốp văn công Quân khu Hai cập bờ. Thấp thoáng trong những chàng trai trẻ nhảy xuống, tôi chợt thấy có người đeo hoa tai làm bằng vỏ ốc sáng lóng lánh, có người lại để cả râu mép lẫn râu cằm trông như người ở châu lục nào đổ bộ đến.

Tạm biệt nhà Lâu bền, tạm biệt chú chó Le màu tro đang thiu thiu ngủ, chúng tôi đi tiếp cuộc hành trình đến những đảo chìm, đảo nửa chìm nửa nổi khác.

Trên tàu chỉ huy, tàu HQ.957, thuyền phó Đông vẫn bảo rằng chưa xác định được tọa độ con tàu trôi lạc từ đảo Sơn Ca giờ này ở đâu.
Logged

Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
phonglan
Thành viên
*
Bài viết: 500


Nụ hoa và cây súng


« Trả lời #21 vào lúc: 30 Tháng Mười, 2009, 02:12:59 pm »


ĐẢO NỔI VÀ NHẬT KÝ CỦA LÂN



Ngày ... tháng ... năm  ...
Vừa qua một trán kiết lỵ 10 ngày rời rã. Mỗi ngày đi 20 lần, tưởng không còn sức lực đâu mà tồn tại ở đảo nữa, nhưng hết đi, nhìn ra nắng, ra biển xanh, nhìn vào những khuôn mặt đồng đội rám nắng, lại thấy nguôi ngoai! Chao  ôi! Giá lúc này có các em ở bên? Cuộc đời sẽ không còn ao ước gì hơn nữa. Em ở đâu? Làm gì ?...


Ngày ... tháng ... năm  ...
Nhạt mồm nhạt miệng, thèm thuốc quá! Mấy gói Mai hậu cần đất liền đưa ra đã mốc nhưng cũng hết sạch rồi.Mà cớ sao lại mốc nhỉ? Cái gì ẩn đằng sau cái sự mốc của hàng trăm cây thuốc rẻ tiền ấy? Lúc này, nếu ai có một điếu, chỉ một điếu thôi, người đó sẽ trở thành một vị cứu tinh. Đã có người lấy bã trà trộn hạt tiêu giã nhỏ cuốnhút. Đã có người trộn nước điếu cày với phoi bào, với giấyvo viên. Lại có anh trộn B1 với rau muống biển, nửa đêm viêm cổ ho như cóc cụ. (Chao! Cây rau muống biển, trông mỡ màu vậy mà ăn không được, hút cũng chả xong, vậy mọc làm gì cho lắm, cho gợi thèm cây rau muống đất liền). Bản thân mình cũng đem cả cỏ sữa, thứ cỏ sao lên chống kiết rất tốt ra đốt phì phèo.


Ngày ... tháng ... năm  ...
Cây bí sau nhà xanh thế mà hơi muối biển mù trôi táp chết mất rồi! Thế là từ nay những buổi chiều không còn màu xanh để lính tráng ra ngoài quây quần trò chuyện, nghĩ  ngợi nữa. Bí đã ra trái, thèm quá nhưng không ai đám ăn. Nhìn nhưng tay lá non nớt của bí bám vào đá đã thấy thương rồi, ai nơ ăn. Sáng nay, tỉnh dậy thấy gốc bí héo khô, lá cành rũ xuống, thằng nào cũng khóc. Biết đến bao giờ mới lại có một cây bí xanh mướt như thế nữa?

Nhớ lại câu chuyện chi bộ ra nghị quyết giết lợn mới được nghe. Tội quá đi thôi ! Cả cái pông-tông chỉ có năm người trơ trọi và một chú lợn con. Tàu đất liền không biết bao giờ ra! Thực phẩm cạn dần. Lợn càng nuôi càng choắt lại. Nước ngọt sắp hết. Người còn chắt chiu từng giọt, lợn thì sao? Chi bộ họp ba lần mới ra được nghị quyết. Một người được phân công thi hành. Nhưng khi đưa con dao lên, chú lợn tưởng con người giỡn đùa như mọi khi, cứ chúi mõm vào nách người mà khụt khịt âu yếm. Con dao rơi xuống... Thì ra, lâu nay lợn không phải là lợn. Nó giống như cây bí này. Lợn đã thành cây cảnh, thành hoa lá, thành con khỉ, con vẹt nuôi cho đỡ cô quạnh, thành niềm vui chăm chút. Nhưng ngày mai hết nước rồi! Hết cách, đang đêm, một người khác can đảm hơn đặt lợn lên phao đẩy ra xa, thả xuống... Cả đêm thương lợn, không ai ngủ  được. Bất ngờ, sáng ra đã lại thấy chú khìn khịt chui vào nách rồi, lông lá ướt sũng...


Ngày. . . tháng. . . năm. . .
Gió máy nơi đây độc địa quá! Sáng qua, lại một người đang đánh răng lăn ra chết. Thế là hai. Thỉnh thoảng đi qua 4 nấm mồ nằm quạnh quẽ ở bìa đảo phía đông lại bâng khuâng buồn. Hai trúng gió, một chảy máu não, một tự sát! Sao lại phải thế nhỉ? Vội tin ở đàn bà con gái vậy ư ? Còn em? Em liệu có phản bội tôi như những cô gái khác không? Là đàn ông, nếu em hiểu rằng, bọn anh có thể vượt qua được trăm ngàn khổ ải nhưng sự phản bội của tình yêu rất dễ làm người ta gục ngã.

Cư dân nơi đây hầu hết là Nghệ Tĩnh. Đất xứ Nghệ hay thật. Đất nghèo sinh những anh hùng. Chỗ nào cũng thấy tiếng nói nằng nặng ấy, càng nơi gian khổ càng nhiều. Người ta nói: năm thứ nhất lính ngoan, năm thứ hai lính chững, năm thứ ba lính không còn biết sợ nể ai nữa. Cũng đúng. Gian khổ quá dễ thành kiêu binh. Cuộc sống hậu phương ngang trái quá, dễ thành bất cần đời. Cán bộ trung đội, đại đội coi như cá mè một lứa. Chỉ nể chúa đảo thôi.

Ở đây khỏi lo nạn quân phiệt. Cán bộ tầm tầm đâu dám  quân phiệt. Thậm chí còn e dè nể nang.

Ở đây cũng khỏi lo tâm lý không thích vào Đảng, không thích đi học sĩ quan như một số đơn vị khác mình đã trải qua. Ở đại đội trọng pháo, có một cậu sau ba năm kiên trì phấn đấu, khi trở về vẫn không được vào Đảng đã khóc òa lên. Chỉ vì mấy cụ còn chưa có điều kiện về quê quán thẩm tra lý lịch. Thẩm tra gì nữa khi gia đình cậu ấy mười người đã có tới tám là đảng viên. Còn việc hào hứng đi học sĩ quan? Tất nhiên trong đó có cả động cơ ngầm là đượcvào bờ cái đã rồi mọi việc tính sau nhưng dù sao nhận thức về hướng nghiệp ở đảo cũng phần nào khỏe khoắn hơn trong bờ.   
                                                                                                                                   
Cứ nghiệm ngay như mình, rõ ràng đầu óc thằng lính giữa biên khơi tinh khiết, trong tréo hơn trong kia. Mọi tạp âm về giá cả, tiêu cực, tham nhũng, thói cơ hội và thấp hèn, tham lam ... đều bị gần ngàn cây số sóng biển đánh lại hoặc hòa cho tan loãng đi. 


Ngày ... tháng. . . năm...
Ngày hôm qua nghe tin ở đảo bên có pháo thủ để càng pháo rơi vào đùi, phải cưa đến háng.

Năm ngoái có khẩu đội bản tập, chẳng may đạn nổ ngay trong nòng khiến cả khẩu đội bị thương.

Rồi có trường hợp pháo phòng không chả hiểu sao đạn nổ ngay đầu nòng. Thế là mâm quay tròn lia trúng bảy người đang ngồi ở gần đó.

Đã lâu rồi, kể từ tháng 4 năm 1988. Trường Sa không có chiến tranh nhưng máu vẫn đổ, con người vẫn ngã xuống. Do vũ khí đạn dược đã quá đát hay do động tác quản lý chỉ huy. Một sĩ quan phối hợp cấp thượng úy như mình chẳng nên khẳng định điều gì. Sĩ quan ngày xưa là con ruột của hải quân, thường xác định ở đảo lâu dài. Mệt mỏi đó, nhưng một khi xác định được thì lăn vào làm đâu ra đấy. Nay sĩ quan có thời hạn, ba năm chia làm ba đợt, lại là người của bốn phương tăng cường về nên rất dễ nín thở ngồi thụ động đếm thời gian trôi. Nghe thằng bạn về phép ghé qua nói tại... nơi mang biệt danh "Đảo Khổ", chỉ vẻn vẹn hơn ba chục người mà phải đổ xuống biển gần 8 tấn gạo mục, hơn 200 hộp thịt, hộp giá. Ông cán bộ hậu cần vùng 4 xuống biển kiểm tra, xót ruột quá đã nắm ngực tay quản lý thét lên: “Mẹ mày! Bố mẹ mày và bố mẹ tao trên bảy mươi tuổi rồi còn phải cõng trên lưng số gạo này ư?”.

Xưa còn nghèo, phải chăm chút từng hạt gạo. Nay cả nước hướng về nên sinh tật ỷ lại nhõng nhẽo chăng? Tiền tiêu chả lẽ chỉ là nơi tiêu tiền? Xưa đánh giặc kiểu con nhà nghèo tằn tiện quen rồi, nay sao phung phí?

Ngày. . . tháng. . . năm...
Mệt mỏi rã rời. Sợ teo cơ, sáng nào cũng chạy dăm vòng trên đường sân bay nhưng vẫn không thấy khỏe hơn. Chạy cùng với những con chó to, nhỏ túa ra từ kháp mọi nơi.

Buồn cười ! Chó ở đây toàn mang tên những ca sĩ, được mến mộ, vui đáo để . Có anh bị vợ bỏ cũng lấy tên vợ đặtluôn cho chó. Đặt để mà đặt thế thôi chứ anh ta đâu biết mình đã nhầm lẫn giữa sự yêu thương và điều nguyền rủa.

Chó nơi đây trở thành đôi mắt canh phòng. Đêm, chúng chia nhau ra ngủ hết ở các công sự dọc đảo. Một con vích ục ịch bò lên đẻ trứng, chúng cũng sủa vang chứ đừng nói thằng người nhái đối phương.

Gà nuôi riêng nhưng lợn lại nuôi chung, nắng chang chang, lợn cha, lợn mẹ, lợn con, lợn cái kéo nhau đi nghễu nghện khắp sân đảo. Lợn chui vào nhà bếp, lợn rúc luôn cả vào hầm phẫu quân y, lợn đảo thả rông, tấp vào đơn vị nào đơn vị ấy cho ăn. Chỉ đến khi chúng lại ục ịch đi qua sân, thấy đông hơn mới biết lợn vừa đẻ thêm lứa. Có năm chó, lợn nhiều hơn người.


Ngày ... tháng ... năm ...
Buồn quá . Tết này tàu lại gặp bão không ra được. Ngày nào cũng dõi mát ra khơi đón chờ một cột khói dựng lên. Tháng vừa rồi không có đậu xanh, không có gạo nếp luộc bánh chưng đón tết (tất nhiên gói bằng ni lông xanh chứ lấy đâu ra lá dong, lá chuối). Lính ta nằm khoèo nghe đài và gần về sáng lại mơ những giấc mơ đang bơi trong dòng sông nước ngọt và cắn ngập cá hàm răng vào chiếc bắp cải mọng nước, tươi nguyên.

Nhớ đêm giao thừa năm ngoái mà rùng mình. Buồn đến ai oán. Có người uống rượu say, leo lên chòi cu dang chân dang tay làm một đường lượn về đất liền. Đất liền đâu chả thấy chỉ thấy đá san hô, suýt chết. Người khác vác con mã tấu tự làm lấy đi phạt chém lung tung vào bất cứ đồ vật gì càng kêu to càng tốt để khỏa lấp im lặng. Lại có người trần truồng chạy ào ra mép sóng, cứ thế mà tru miệng gào vào phía bờ: "Mẹ ơi!... Vợ ơi ! ... Chúng mày ơi!". Có cả đánh lộn nhau nữa. Sáng ra, nhìn lại, nghĩ lại chuyện khi đêm mà cười ra nước mắt.


Ngày ... tháng ... năm ...
Lực lượng làm cầu cảng của thượng tá Thuận cùng anh em lành nghề bên Bộ Giao thông đã ra đảo. Vui hẳn lên. Suốt ngày đêm ầm ào tiếng máy. Ai cũng biết vòng cung Trường Sa sẽ nối cho thân thể Tổ quốc vươn ra biển thêm một triệu cây số vuông. Triệu cây số vuông mặt biển. Thoạtnghe thấy mông lung nhưng đã ai lường hết tầm chiến lược kinh tế của nó sau này. Thứ tầm chiến lược của cả nhân loại đã quá đông đúc đi tìm lẽ sinh tồn ra phía biển. Cầu cảng sẽ thành thương cảng. Thương cảng Trường Sa đâu lớn, nhưng dự trữ cũng tới trên ty đồng. Mới chỉ tính sơ  qua chi phí cho năm 91 đã thấy ngợp: y tấn thép, z tấn khối bê tông, trong khi để chuyên chở 1 tấn ra đến đây phải chi 220 ngàn đồng. Bao nhiêu ? Cả nước mới có một chiếc tàu chuyên dụng để đóng cọc của dầu khí. Muốn thuê mỗi ngày phải trả 67 triệu đồng. Anh Thuận nói, riêng đóng cọc không thôi cũng phải trả mất một tháng mới xong. Một tháng 30 ngày. Ba mươi nhân với 67 triệu là bao nhiêu?

 Tao nghĩ thế này: Tổ quốc đang còn nghèo mà vẫn phải với tay ra biển thì cũng thật là can đảm. Có lẽ đời con cháu mình sẽ ghi nhớ, sẽ đượm hưởng cụ thể tầm nhìn và sự can đảm này. 


Ngày. . . tháng. . . năm ...
Chiều qua đoàn của Tổng cục Chính trị và Hải quân ra tới. Xúc động quá! Thao thức suốt đêm để chờ.

Dáng con gái văn công Quân khu Hai làm cồn cào nhớ tới em. Nhớ đến phát khóc. Giá có em trong đoàn người đu màu xanh đỏ tím vàng kia.

Sóng mạnh. Mưa to. Đồng chí thượng tướng phó chủ nhiệm Tổng cục, tóc đã ngả bạc bước xuống xuồng, một chút nữa thì ngã. Một chiến sĩ nắm chặt tay ông đỡ lại, vừa nói vừa mếu:
- Xa xôi mưa gió thế này mà bố cũng lặn lội ra tận đây thăm bọn con. Khổ!
Logged

Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
phonglan
Thành viên
*
Bài viết: 500


Nụ hoa và cây súng


« Trả lời #22 vào lúc: 30 Tháng Mười, 2009, 02:15:20 pm »


TƯỚNG VÀ LÍNH  



Hai vị tướng cùng chung màu tóc muối tiêu, khẽ trầm ngâm:  
- Như vậy là hỏa lực ở đây mạnh. Bây giờ ta thử đi tìm cái sự ổn định trong đầu óc đám lính trẻ xem sao.

Một dãy nhà lộng gió. Hai dãy giường kê sát hai bên với chăn gối thẳng thớm như trong nhà trường võ bị chính quy. Hai vị tướng ngồi giữa đám lính trẻ như cha ngồi với con, có lúc lại như ông ngồi với cháu. Hiền từ, đại lượng, khẽ khàng pha một chút dí dỏm đùa vui . Đồng chí thượng tướng hỏi một đại úy có nước da đen bóng, thân hình tròn như cá trắm, nghe nói là lính kỳ cựu số một ở đây.  

- Từ lính bộ binh ra làm lính đảo thấy cái gì khó ?
- Dạ, vô tư! - Anh chàng cười, nhe hàm răng trắng bóng, trả lời rất thoải mái câu nói cửa miệng quen thuộc gần đây của lính trên khắp các quân binh chủng.
- Nếu nổ súng, đơn vị có sẵn sàng đánh không?
- Vô tư!  
- Có ngán chiến thuật lá tre, biển người không?
- Dạ, vô tư ?  
- Vợ con thế nào? Ổn cả chứ ?
- Vô tư!
Anh chàng thuận miệng trả lời xong thì mặt bỗng đuỗn ra, đôi mắt ranh mãnh bỗng dưng nhìn lảng đi phía khác.

Một thượng úy chừng hơn hai mươi tuổi ghé tai tôi:
- Vợ ông ấy gửi con lại bà nội rồi bỏ đi rồi ! Suốt ba năm trời, một đồng không dám tiêu, ky cóp dành dụm được chừng hơn hai triệu, định khi về làm thêm một chái nhà  cho vợ con thì lại nghe tin ấy. Ra bãi biển, ngồi trên lưng vích khóc một đêm rồi sáng hôm sau nhờ tàu mua đồ nhậu, trà lá, bánh kẹo kỳ hết số tiền đó vung vãi đãi toàn đảo. Cả đống ốc nón để ở góc tủ, "ông" ấy cũng đem ra đập nát hết.

Vầng trán vị tướng bỗng tối hẳn đi...  
Bước sang một doanh trại khác. Cũng toàn lính trẻ láu lỉnh.
- Vẫn nghe đài theo dõi tin tức đều đều đấy chứ, ông? - Vị tướng hỏi với cái cười rất dễ tin cậy.
- Đều đều thủ trưởng ạ. Suốt từ "nín thở đến tiếng thở".
- Báo chí có về đều không?
- Ít nhưng chỉ thích đọc "tiền phong".
- Vì sao?
- Vì có mục "Tìm bạn bốn phương".
- Thế ông tìm được chưa?  
- Rồi ạ.  
- Đã nhận được mấy lá thư của người đẹp ?
- Sáu lá.  
- Còn ông gửi lại mấy?  
- Hai trăm mười một lá.
-Trời ! Mỗi ngày một lá? Sao dữ dội vậy?
- Ở đảo, không viết thư, buồn lắm thủ trưởng ạ !  
- Thôi được rồi! Được rồi! Ông đọc thử một lá sắp gửi đi cho bọn này nghe xem nào. Lá nào ướt át tình tứ nhất ấy.

Ngần ngại một lúc, anh lính trẻ rút một tờ giấy gấp tư  ra khói túi rồi ngượng nghịu đọc: "Bạn thân yêu! Trường Sa sắp vào mùa dông bão. Cây bàng vuông tôi  trồng trước cửa hầm bây giờ đã lên búp xanh nõn. Gián vẫn nhiều. Con gián màu nâu hay bò trong chạn bát ấy mà. Đêm khuya buồn quá, thằng Hóa ở 12 ly 7 hay đi lại  ngoài sân nghêu ngao hát: "Ngày xưa biển chưa có gián như bây giờ..." (Vị tướng vỗ tay cười vang). Bạn có được  mạnh khỏe an khang không? Nghi Lộc quê ta chắc nóng, bạn đừng để nắng đốt đo tóc như tôi nhé! Lúc này tôi đang đứng đây, chỉ cách... "

Anh lính đột ngột dừng lại, định dúi tờ thư vào túi. Vị tướng vội cầm lấy, cao giọng đọc tiếp: "... Tôi đang đứng đây chỉ cách đối phương có ba kilômét...". Ông buông người  xuống, cười chảy cả nước mắt:
- Bịa nhé !

 Tất cả cười ầm. Cậu lính ngượng quá, rút phắt lá thư chạy bắn ra ngoài. Ông quay sang vị tướng quân hàm xanh:
- Ổn đấy chứ! Vẫn biết nói dóc như vậy là vẫn đứng vững được. Thật đáng yêu. Ngay như mình hồi mới vào Vệ  quốc đoàn, đang ngồi ru rú sưởi lửa trong nhà sàn mà lại viết thư nói: "Ráng nhiều nhuộm đỏ chiến hào...".
- Nói chung Trường Sa năm nay còn để lãng phí nhiều tài sản của nhân dân - Ông nói với vị tướng hải quân - Coi chừng tâm lý ỷ lại, tâm lý kiêu binh. Phải nói rõ cho anh em hiểu: "Ở đây tuy gian khổ nhưng còn nhiều chỗ gian khổ hơn. Ở đây tuy có lác đác những nấm mồ tử sĩ thật nhưng nơi khác vẫn có những người đang từng ngày ngã xuống”.

Cơ chế cán bộ từ các quân binh chủng về tăng cường có thời hạn là cần, nhưng chưa ổn. Đảo là của hải quân. Chúa đảo phải do sĩ quan hải quân chủ trì. Dân tăng cường chỉ nên làm phó. Như thế mới thực sự coi đảo là nhà, là sự nghiệp của mình. Anh có nên nghiên cứu một nhân sự như kiểu quản trị trưởng ở đảo không? Ông này ăn lương chuyên nghiệp để bám sát đảo từ đầu đến cuối trong khi  sĩ quan chỉ huy lần lượt thay nhau. Ngoài ra, muốn người lính yên tâm ở đảo, ta nên tổ chức những tổ cắt tóc, tổ  chụp ảnh, tổ tem thư. Một năm gửi 200 lá thư, phụ cấp lính lấy đâu ra. Anh thử nói với hậu cần chở thóc ra thay gạo xem. Thóc dễ bảo quản, trấu xay ra dùng trồng cây rất tốt. Hơn nữa, ngày ngày bộ đội giã gạo, say trấu nó cũng vui, đỡ nhớ nhà. À, mà xem chừng ở đây trồng được hoa giấy. Anh trao đổi với ông lữ đoàn trồng thử coi. Màu xanh rất quan trọng với thần kinh bộ đội đảo..."

Chuẩn đô đốc Xuân im lặng. Người ta biết ông đang nghĩ đến một câu nói bâng quơ cua lính: "Trường Sa có truyền thống ngược là được đón người của Bộ ra nhiều hơn quân chủng, quân chủng ra nhiều hơn vùng và vùng lại ra nhiều hơn lữ".
 
Con tàu ở đảo Sơn Ca kia sao đến tận giờ vẫn không thấy tung tích gì ? Đã chìm xuống đáy đại dương hay đã dạt vào vùng đất xa lạ nào ?
« Sửa lần cuối: 30 Tháng Mười, 2009, 02:25:53 pm gửi bởi phonglan » Logged

Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
phonglan
Thành viên
*
Bài viết: 500


Nụ hoa và cây súng


« Trả lời #23 vào lúc: 30 Tháng Mười, 2009, 02:18:31 pm »


BỤI TRẮNG SAN HÔ VÀ ĐIỆU NHẢY ĐẠI DƯƠNG


Cuộc hành trình ra với Vạn lý Trường Sa kéo dài 18 ngày đêm không dễ một lúc mà nói hết mọi chuyện mọi điều. Nhưng cũng không thể không nói những cái tưởng như thừa, như không cần thiết cho sự hình thành tư duy vì quần đảo.

Đảo chìm Tiên Nữ một sáng đẹp. Những người lính chăm chú lặng nghe lá thư của bạn bè gửi từ vùng Đồng Văn, Mèo Vạc.
"... A! Chào Trường Sa !  
... Trên này tôi thiếu thịt, dưới ấy bạn thiếu nước. Trên này cả năm tôi toàn ăn cơm với muối cực nhưng thỉnh thoảng lại còn được gặp đàn bà con gái. Ngoài ấy bạn chắc đang rất cô đơn. Nhưng bạn hơn tôi là được nhìn thấy  hoàng hôn trên biển và được cả nước hướng về. Còn nơi đây, trên tiền đồn biên giới bốn mùa mây bay, thiên hạ muốn bỏ quên chúng tôi rồi. Cả bình minh lẫn hoàng hôn đều chả nhìn thấy.

Như vậy tôi và bạn, chúng ta đều gian khổ cả nhưng chả đổ tại ai. Hoàn cảnh chung cả thôi. Bạn có người yêu chưa? Tôi có rồi. Mới có hôm qua. Đẹp lắm nhưng phải cái bàn tay bàn chân hơi to, lại không biết ... hôn nữa ... Tôi dừng đây. Năm thằng chung nhau một cây đèn, phao dầu sắp cạn rồi. Hẹn thư sau viết dài gấp đôi. Chào thi đua giữa biển và rừng nhé".

Không ai cười. Chỉ thấy những cặp mắt bạc nắng chớp chớp ... Nữ đại úy Hoài Thanh cầm đàn bước ra. Cô hát mà không nhìn ai, hát như tự sự. "Mang cánh thư về từ đảo xa... Anh thường nói rằng Trường Sa vẫn xa xôi...". Độ lắng chìm sâu xuống thêm một chút nữa.

Năm ngoái Bích Việt nghẹn ngào khích lệ những chàng lính đảo trẻ tuổi: "Tất cả ở đây, kể cả đồng chí đảo trưởng đều là em tôi. Trước khi chia tay, tôi cho mỗi em hôn tôi một cái". Nhưng nào ai dám hôn ! Ai dám quàng tay qua cổbà thiếu tá nghệ sĩ ưu tú đã bước sang tuổi ba mươi tư. Và cũng không ai dám nhận lời thách đố: "Thằng nào hôn được bà Thúy Mỵ một cái, tao sẽ cho gói mai...". Nhưng hôm nay, dàn ca múa đồng rừng toàn các cô gái trẻ đẹp, lòng dũng cảm của các chàng trai đảo đội nón tai bèo, áochuyên dụng mưa ướt mau khô vải valide và quần soóc màu xanh cho đỡ hư đầu gối đã được tăng lên tột dộ. Thành thông lệ, cứ sau một bài hát, điệu múa là các chàng trai  lại đùn nhau lên hay tự nguyện lên, cầm theo một con ốc đã được đánh bóng cẩn thận làm quà tặng và chớp nhoáng... hôn một cái. Hôn vào má, hôn rất nhanh. Hôn như không hề hôn. Hôn không có cảm giác giới tính. Hôn như thế để bày tỏ tình yêu với đất liền.

... "Nơi anh đóng quân là một vùng đảo nhỏ... sóng vỗ điệp trùng bên nhành trúc san hô...".

Giọng ca cô gái không còn trẻ càng sâu hun hút, tan hòa lượn lờ vào mép sóng, vào màu xanh bất tận và vào ánh mắt người nghe. Người ta thấy một chàng trai to lớn, râu ria phong trần đang ngọ nguậy, tay mân mê con ốc "đại tướng" màu hổ phách.

... "Vẫn gần bên anh vì Trường Sa luôn bên em ... Trường Sa luôn bên anh. ..".  Hoài Thanh vừa dứt lời, chàng trai có hàng ria bặm trợn ấy từ từ đứng dậy và lừ lừ di tới chỗ ca sĩ. "Thơm đi! Dứa đi! Dứa đi !". Tiếng hò la thúc giục. Ca sĩ thoáng bối rối, hơi lùi lại nhưng không dám quay mặt đi. Chàng trai vẫn bước tới. Đúng vào khoảng cách cho phép, khoảng cách đủ để cho một vòng tay ôm vươn tới, thật bất ngờ, thay vì cái hôn bạo liệt như mọi người chờ đợi, chàng trai bỗng gục đầu vào vai cô gái, hai gò má sạm đen rung lên. Anh khóc. Khóc thầm lặng. Cô  gái khẽ rùng mình một cái rồi cũng khóc theo. Tất cả lặng đi. Chỉ có giọt nước mắt lây lan trên khuôn mặt mọi người. Đứng từ xa, vị tướng ba sao cũng vội quay nhìn ra sóng để che đi giọt nước mắt xúc động đang ra từ khóe mắt.

Vùng nhà chòi một ngày sóng lớn. Năm con tàu sắt sù xì như năm chú ngựa hoang được neo chặt vào nhau. Một đôi nam nữ đang nhảy một vũ điệu sôi nổi trẻ trung trên boong tàu cao nhất. Những khuôn mặt thủy thủ bảo vệ đảo ló ra ở khắp mọi nơi: ô tròn cửa sổ, dưới hầm máy, phòng chỉ huy, trên chót vót cột buồm... Năm con ngựa không chịu được cảnh trói buộc cứ chồm lên, chồm lên, hạ xuống tới độ cao năm mét như muốn bứt đứt đây lồng ra với mặt biển rộng dài. Người múa, người xem cũng chồm theo. Cô gái bỗng nhăn mặt bỏ bạn múa chạy vào trong khoang. Im lặng nuối tiếc... Lát sau cô lại lao ra, gò má tái nhợt, cặp môi tái nhợt gượng cười. Cô vừa nôn. Những chú ngựa càng điên cuồng giằng giật. Điệu múa tiếp tục sôi trào...

Giữa trưa. Một doi cát trắng đến nhức mắt. Một khoảnh rau sam trồng trong chậu cũng xanh đến nhức mắt. Giốngngày trước ở vùng Đồng Nai Thượng không có muối ăn suốt ba tháng, đêm bò vào đồn địch, quân ta cho hạt muối ưu tiên vào miệng bỗng thấy... ngọt.

Cát nơi đây không giống cát. Nó là tầng san hô tan vụn ra từ đời này qua đời khác. Cứ trắng tinh và bắt nắng óng ánh như tinh thể muối. Nhà đảo là cái trục, doi cát dựa theo mùa mà biến dạng, xoay quanh trục tựa chiếc kim đồng hồ. Chuyển động chứ không tan biến vì sóng đêm ngày miệt mài vun quén cho.

Cô gái văn công có đôi mắt hơi lé, bộ điệu nghịch ngợm như con trai vừa nhảy vừa hát một làn điệu dân ca Inđônêxia (tính từ đây đến quần đảo dừa đó cũng không bao xa) . Sóng kích thích gió mời gọi, nhạc dập dồn. Những chàng lính đảo dường như bị đốt nóng, không ngồi im được nữa, đứng dậy, bủa vây quanh cô, cùng cô nhảy. Bụi trắng san hô tăng lên. Vẫn mũ tai bèo, áo chuyên dụng và chiếc quần soóc quen thuộc, những cặp chân sần sượng, những đầu gối củ lạc... Chẳng còn nhận ra ai là diễn viên, ai là khán giả. Niềm vui thật kỳ lạ và thiêng liêng.

Bác sĩ Tuấn, người Hà Nội gốc, có khuôn mặt hơi lai Tây, nói giọng ngàn ngạt:

- Đêm Nôen năm ngoái, nhớ phố phường, nhớ cà phê quá bọn em kéo nhau ra cả đây. Catset không có, rađiô đã hết giờ, đành dựa vào sóng gõ thùng đạn mà nhảy. Nhảy đủ kiểu: van, tănggô, đitscô, cha cha cha... nhảy hết điệu này sang điệu khác, người này mệt, người khác nhảy thay. Người nhảy đúng, người nhảy sai, giậm chân đập tay loạn xạ nhưng không ai bỏ cuộc. Cũng cát bay, chân tay đầu gối loằng ngoằng đen đúa thế này. Sáng ra mười mấy thằng  đực rựa nhìn nhau hốc hác, nằm vật xuống, nước mắt trào ra vẫn cười.
 
Cũng chính cô gái sơn cước vừa tròn hai mươi tuổi có đôi mắt le lé đó đã bị một thượng úy thông tin trẻ trai ở đảo Khổ, An Bang hớp hồn "Ngay từ cái nhìn đầu tiên khi anh ấy vượt dòng chảy xiết bơi từ đảo ra tàu, em đã thấy xao xuyến. Anh ấy không phải típ đẹp trai, đẹp trai ở Hà Nội thiếu gì, nhưng tất cả con người anh ấy, từ đôi mắt buồn buồn màu tro, nước da rám nắng, hàm râu quai nón  mờ mờ đến thân hình lăn lẳn trong bộ quần áo lính ướt sũng đã khiến cho em... Khó nói lắm !". Cô gái tâm sự với tôi trong một buổi chiều ngồi trên boong ngắm hoàng hôn.

Và từ đó, như một điều hẹn ước ngầm, cứ chiều chiều, vào một thời gian nhất định, cô lại bồi hồi vào phòng điện đài trên tàu nhõng nhẽo xin được nói mấy câu hay đón nhận vài lời với chàng thượng úy nơi Đảo Khổ đó: Anh có khỏe không? Còn nhớ em đấy chứ? Không được vượt dòng chảy ấy nữa đâu đấy.

... Con tàu mỗi ngày một xa mà hòn đảo thì muôn đời dừng lại. Những lời nhắn gửi hỏi han vẫn theo cánh sóng thông tin bay ngược trở về...

Những chàng thuỷ binh hùng mạnh đa tình tàu HQ.957 không khỏi có một chút ghen ghét khi nhìn vào đôi mắt cô gái nhưng rồi đành chấp nhận trong cái vẻ khoáng đạt vốn có: "Ối dà! Mới hôm qua còn ủ rũ biển một bên và xô một bên, hôm nay đã nhảy nhót trên boong vui như sáo  tắm rồi".

Yêu chăng? Một tình yêu sét đánh chăng? Không! Em đã yêu đâu - Cô gái bối rối nói - Mới chỉ thấy thương thấy mến thôi. Khi tiễn em lên tàu, thấy đôi mắt anh ấy buồn ghê lắm! Em chỉ muốn còn ngày nào lênh đênh trên biển, ngày ấy còn được nghe tiếng nói của nhau dể anh ấy đỡ buồn.

Cái lãng mạn đại dương tinh khiết này kéo dài được bao lâu? Sẽ theo cô gái vào Vũng Tàu, đến Sài Gòn hay ra tận Hà Nội, những địa danh luôn luôn có khả năng đánh tan loáng một sự lãng mạn mỏng manh xa xôi ở cuộc đời này? Điều đó không thể xét đoán trước, song chỉ biết rằng, dù ở thời buổi nào, mộng mơ hay thực dụng, hình ảnh người lính trên tiền đồn bao giờ cũng gợi lên những thắc thỏm bâng khuâng và đẹp vô cùng trong trái tim các cô gái, miễn là các cô gái ấy còn có một trái tim.

Đại dương không chỉ có bâng khuâng mà còn có cả bạo liệt dữ dằn. Tôi tin rằng trong đoàn ba mươi nhăm người đi hôm ấy, không ai không nhắc nhở đến hình ảnh một thượng úy trợ lý công binh đẹp trai trắng trẻo trên thủ đô của quần đảo bão táp. Hình anh đó sẽ không có gì gây ấn tượng mạnh nếu như trong đêm diễn giọng ca và dáng người cô ca sĩ đồng hương Yên Bái không ám ảnh anh. "Hôm qua em đi Chùa Hương... mờ hơi sương... Em còn bé lam các anh ơi ! ...Nam mô a di đà... " . Tiếng niệm nam mô lúng liếng đó không những không làm chàng sĩ quan tham mưu động lòng trắc ẩn mà còn cùng với trận rượu chia tay xô đẩy anh ta bám theo cô tiểu lên tàu."Tất cả các đồng chí ở đảo nhanh chóng trơ về đảo"!Tiếng loa tay của vị đảo trưởng nóng tính và hơi gia trướngkhông làm anh rung động. Không nói gì, không bày tỏ gì, chỉ im lặng nhìn và cười một bên mép. "Anh về đi! Rồi em sẽ viết thư. Cô tiểu van nài. "Không! Về buồn lắm! "Tàu sắp chạy rồi". " Kệ ! Tôi sẽ bơi theo tàu mười cây số kỳ đến khi nào kiệt sức !". "Ôi! Chết em...". Cô gái bối rối buông ánh mắt ra khắp nơi cầu viện. Nhưng tất cả đều lảng đi.Cầu viện gì ! Cái dáng người kia, cặp mắt kia và cái cười gần như sư tử giữ con kia là không đùa được, lơ mơ bị quẳng xuống biển như chơi. Vả lại... Ai cũng nhận thấy rằng, vẻ khấn nài trong đôi mát lá dăm ấy không có thật. Khấn nài gì mà lại như muốn nói: "Cứ để mặc anh ấy. Cứ để mặc hai đứa em...".

Tình trạng im lặng đáng sợ đó sẽ dẫn đến đâu nếu lúc ấy đại úy Hổ không hú còi chuẩn bị ra khơi. Thở dài đánh phựt một cái, anh chàng đưa mắt ai oán nhìn bạn: "Đi nhé ! Cho hỏi thăm quê hương. Hỏi thăm tất cả". Rồi, vẫn dáng gườm gườm đó, anh hất người xuống biển nặng như một khối đá. Thì ra chàng trai sẵn sàng theo tàu mười cây số bơi rất tồi, thậm chí không biết bơi. Quẫy lộn như con vích  bị thương mà vẫn kiêu hùng giơ cánh tay lên vẫy vẫy. Rất may, nếu lúc đó không có một người bạn từ đảo cách 300  mét lao vội ra dìu đỡ thì không hiếu sự thể sẽ đi đến đâu? Vừa lúc tàu rời bến. Trong ánh chiều chạng vạng, mọi người trên boong còn kịp nhìn thấy hai người đã vào bờ  nhưng dường như kiệt sức. Người nọ dìu người kia, thỉnh  thoảng lại ngã nhào xuống bãi san hô. Lại đứng lên, lại ngã xiêu vẹo, lúc ẩn lúc hiện, mờ nhòa như hai sinh linh  bị trọng thương từ con tàu đắm giạt vào.

Tôi không dám đưa mắt nhìn khuôn mặt "ni cô" lúc đó không hiểu đang đứng ở đâu. Tôi sợ phải bắt gặp một đôi  mắt ráo hoảnh hay đang lúng liếng nhìn vào một ai đó trên tàu ! Biết đâu ? Bởi lẽ trong cuộc đời tôi đã từng thấy một  tấm anh cô văn công xinh xắn trên túi ngực một tử sĩ bị  bỏ quên trong rừng. Khi trở về nói lại, cô văn công đó bình thản: "Thế à ? Hùng nào nhỉ ? Chịu ! Em không nhớ đấy ". Mười tám ngày lênh đênh trên quần đảo Trường Sa. Tôi muốn lấy câu chuyện nhỏ này để kết thúc bài viết vội của mình. Con người trẻ tuổi đẹp trai đó dữ dằn trong mối quan hệ đơn thuần giới tính. Cũng như đồng đội, anh khát  thèm đất liền, khát thèm bóng dáng làng quê còn nhọc  nhằn nhưng vô cùng yên ả. Bởi vì, khi con tàu đi rồi, anh  lại trở về với nỗi cô đơn đằng đẵng của mình. Lại biết đến bao giờ mới có một con tàu như thế ra đây. Chao ôi! Cái khái niệm gian khổ thiếu thốn nơi đảo xa tuy đã tạm chìm khuất nhưng cái gian truân vất vả trong lòng lại thừa dịp trối lên, quẫy cực khốc liệt hơn.

Khi đó như nhật ký của Lân, đất liền như là một cứu cánh, một nỗi nhớ dặt dìu, một hoài niệm xanh tươi để tâm  hồn lính neo vào, bám rễ. Da diết mong sao miền hoài niệm đó cứ là màu xanh, đừng tàn nhẫn thúc vào trái tim nhạy cảm của họ những điều tan vỡ không tốt lành.

Tàu sắp cặp bờ thì một tin vui bay ra: đã tìm thấy con tàu đảo Sơn Ca. Nó đã trôi giạt về phía đảo của Trung Quốc. Họ đánh điện mời ta ra tiếp nhận.
 
Thế là con tàu HQ.957 chưa kịp hoàn hồn, đã lại gấp rút chuẩn bị ra khơi làm một cuộc hành trình dằng dặc như thế này nữa.

Trường Sa mùa này ít sóng nhưng Trường Sa không bao giờ tĩnh lặng.
 

                                                                                                              5-1991  
                                                                                                                C. L
« Sửa lần cuối: 30 Tháng Mười, 2009, 02:24:27 pm gửi bởi phonglan » Logged

Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
phonglan
Thành viên
*
Bài viết: 500


Nụ hoa và cây súng


« Trả lời #24 vào lúc: 17 Tháng Mười Một, 2009, 03:39:04 pm »


Nguyễn Đức Mậu



CHUYỆN NHỎ Ở ĐẢO


                                                                                                               Truyện ngắn

Đại đội 5 đóng quân ở một hòn đảo có rất nhiều chim biển. Loài chim biển vốn rất dạn người. Đấy, chúng như  một đám lá đen tỏa xuống vùng cát vàng lóa ánh nắng. Chúng đậu trên nhà bạt, trên khẩu pháo, trên hàng cây xơ  xác vì gió bão. Tiếng chúng kêu cháo chác, khác hẳn với loại chim ở vùng rừng núi, đồng bằng mà các bạn thường gặp. Chúng kêu trong ngày dài, trong đêm thâu. Cái ngôn ngữ lạ lùng của bầy chim biển thường vọng lên, xen giữa niềm vui, nỗi buồn của mọi người. Đang buổi trưa yên ả, chim kêu. Tiếng chim kêu trộn lẫn tiếng sóng biển ầm ào, rền rĩ. Đêm, đang phiên gác, chim kêu, những âm thanh khô khốc như đá sỏi ném vào giấc ngủ say của người lính đảo. Nhất là những buổi sớm, khi có kẻng báo thức, bầy chim từ lùm cây, hốc đá ùa ra, đập cánh rào rào. Bầy chim như chiếc nong lớn sà ngang đầu người mỗi lúc một đông. Tiếng chim cháo chác gọi nhau át cả tiếng hô thể dục buổi sáng. Đã vậy, bầy chim còn tự do thả xuống đầu, xuống vai người những hạt phân tanh tưởi. Thế này thì quá quắt thật. Trung đội trưởng Thụ nghĩ ra một kế hay. Anh đóng cọc, buộc dây, đeo những vỏ thùng lương khô và vỏ ống bơ thịt hộp thành từng chùm. Mỗi khi bầy chim ào đến phá đám Thụ giật dây, vỏ thùng lương khô, vỏ ống bơ thịt hộp va vào nhau loảng xoảng. Bầy chim nghe tiếng động, kéo nhau bay giạt đi nơi khác. Hòn đảo chưa đầy bốn cây số vuông, đứng chơi vơi, đơn độc giữa một vùng mênh mông trời nước. Dường như nơi đây đã thành chốn cư trú lâu đời của bầy chim. Vì thế, mặc dù có những ngươi lính đến ở, bầy chim vẫn không dời sang vùng đảo khác. Bầy chim sống tự do, ồn ào theo thói quen. Hòn đảo nhỏ là thế giới riêng biệt, thu gọn trong vòng bay của chúng. Nhưng giờ đây, ngoài bầy chim biển ra, đảo xa còn có thêm cánh cò nữa. Ở đảo không có làng xóm, bờ tre, đồng lúa mà vẫn có cánh cò. Cánh cò thật chứ không phải cánh cò tưởng tượng như một số nhà thơ thường viết.

Một buổi trưa, cả đảo không ai ngủ được vì nhận được tin tàu chở hàng sắp cập bến. Từng tiểu đội ngồi túm năm tụm ba dưới những lùm cây bàn tán xôn xao. Những lùm cây ở đảo thấp lúp xúp, lá nhọn và dày, cành cây xòa ra dẻo dai, cứng cáp. Hàng năm, gió bão thổi qua khiến cho những lùm cây chẳng cao thêm bao nhiêu. Rễ cây bị gió, sóng đào trơ vẫn bám chắc, xuyên sâu vào lớp đất mặn. Gió bão có vặt hết cành cây thì gốc vẫn còn.

Trung đội trưởng Thụ, chiếc ống nhòm đeo lủng liểng ngang bụng, tay cầm điếu cày rít một hơi dài khoan khoái. Khuôn mặt Thụ đen cháy, hàm răng phô ra một cách dễ dãi. Mọi ngày Thụ vẫn là tay tán chuyện không biết mệt, hôm nay Thụ chỉ tựa lưng vào lùm cây nhìn ra biển cả. Trước mắt anh, những đợt sóng ngoài xa đang nối nhau dồn vào bờ đảo. Bỗng Thụ đứng phắt dậy, nói to:
- Các cậu ơi! Nhìn xem con tàu đang tiến về phía đảo.

Mấy chiến sĩ khum bàn tay che nắng. Họ cùng reo lên một lúc. Tàu ra đảo, ai chả vui. Tàu chở nước ngọt, chở gạo, đạn, chở thư và chở sách báo. Chao, đã hơn một tuần nay, đơn vị thiếu nước ngọt đến khổ. Nước ngọt phải pha với nước biển thành nước lợ để nấu cơm, nấu canh, phải dùng dè sẻn từng bát một. Những chiến sĩ bàn nhau, khi tàu vào đảo, cần liên hoan một chầu nước ngọt cho bõ lúc liếm môi, khô cổ. Nước ngọt, đạn, gạo, sách báo thì chia đều còn thư riêng ai là người có, ai là người không đây. Ai cũng nghĩ mình có, ai cũng chờ đợi, cũng hy vọng một tiếng nói từ đất liền xa xôi gửi tới cho mình...

Con tàu đang rẽ sóng tiến vào phía đảo giữa tiếng reo hò ầm ĩ của những người lính. Họ vẫy tay, đôi mắt đăm đăm hướng về con tàu. Chợt một đôi cánh trắng muốt từ boong tàu vút lên. Đôi cánh chấm vào trời xanh một chấm sáng, rồi rơi nghiêng xuống nhẹ nhàng như tờ giấy mỏng, rồi vỗ đều, vỗ đều.

Trung đội trưởng Thụ hỏi mọi người:
- Các cậu thử đoán xem, loài chim gì đang bay về đảo mình ?
Mấy chiến sĩ khác lên tiếng bàn tán:
- Chim hải âu. Ừ, ngoài chim hải âu chẳng có chim nào ra đảo cả.
- Không phải, chim hải âu làm gì có đôi cánh trắng đến thế.
- Vả lại, chim hải âu chỉ là bay là là ở mặt sóng. Bay cao thế, không phải chim hải âu. Cậu chỉ trông gà hóa cuốc.
- Có lẽ đó là chim ... vịt trời.

Cả đám đông rộ lên. Trông cái dáng bay thế kia mà đoán là vịt trời, mắt gà mờ thật. Lại có ý kiến cho là con hạc. Chà, đó là cả một sự ăn ốc nói mò. Hạc bằng đồng, bằng gỗ đậu ở nóc nhà quan, ở chùa chiền, hạc ở trong thơ phú thì có, thử hỏi đã ai trông thấy hạc bay. Chim hải âu, vịt trời, chim hạc càng không phải, vậy đó là chim gì ?

Từ nãy đến giờ, trung đội trưởng Thụ cầm ống nhòm quan sát. Mọi người bàn cãi chưa ngã ngũ, Thụ đã hạ ống nhòm xuống, cười to:
- Các cậu đoán sai bét cả. Đó là con cò.

Ồ, ở biển làm gì có cò. Người ta nói cò hương, cò lửa, cò đồng, chứ có ai nói cò biển đâu. Cò ra biển, chịu sao được bão gió. Đáp lại sự nghi ngờ của những người lính, đôi cánh trắng muốt, bay nhanh nghiêng vòng xuống đảo. Đúng là cánh cò ra đảo mới lạ lùng chứ. Nếu ở đất liền, gặp một cánh cò bay, hẳn sẽ không có chuyện gì đáng nói. Song nơi đây, xa khuất đất liền, cánh cò đối với người lính mới thân thiết làm sao. Những đôi mắt ngước nhìn trời, gặp một chớp sáng. Trong khoảnh khắc bình yên ấy, cánh cò chợt gợi về một vùng quê quen thuộc. Đã ba bốn năm những người lính xa đất liền, đi giữ đảo.

Giờ đây, chắc các bạn sẽ tự hỏi: Vì sao lại có cánh cò từ đất liền tìm đến hòn đảo xa xôi. Người trưởng tàu tuổi ngoài bốn mươi, khuôn mặt từng trải, nhìn vào dải mũ đang bay của anh, ta có thể đo được sức gió trên biển. Anh đã thay tôi đáp lại sự ngạc nhiên của các bạn bằng một câu chuyện thú vị.

Con tàu mang số 783 gắn bó với người thuyền trưởng từ ngày anh nhập ngũ, nó cũng hao hao giống anh ở những nét từng trải, dày dạn. Anh nhập ngũ năm 1969, con tàu cũng ra biển năm 1969, tuổi quân của anh trùng với tuổi con tàu, những buồn vui, gian khổ của anh nối với con tàu. Một lần rà phá thủy lôi, con tàu phải đi đại tu, hàn vá lại những lỗ rò rỉ, anh bị thương vào ống chân phải đi nằm  viện. Một tháng sau, ngày anh khoác ba lô về đơn vị, đã thấy con tàu mới quét lại màu sơn, đợi anh trên bờ biển. Mười hai năm, con tàu vẫn theo anh đi rong ruổi trên những vùng biển Tổ quốc.

Trong chuyến chở hàng ra đảo này, tàu chạy được một ngày một đêm thì gặp cơn dông. Ở biển vào mùa gió hay có những cơn dông bất thường. Biển đang lặng chợt nổi gió, nổi sóng. Rồi mưa. Những đám mây đen vỡ ra từng mảng nước, mưa quây tròn lấy con tàu đang tròng trành, nghiêng ngả, mưa như tấm lưới dày đặc vây bủa vùng biển rộng. Giữa mặt biển dồn sóng, giữa mưa to, gió lớn, con tàu chợt nhỏ nhoi như chiếc lá. Biển hung dữ hòng nhấn chìm chiếc lá xuống tận đáy sâu nhưng chiếc lá vẫn nổi lên, thách thức. Sự hung dữ của sóng gió không thể kéo dài. Khoảng chừng một giờ sau, mặt biển trở lại hiền hòa. Đàn chim hải âu bay trên boong tàu tránh gió chợt ùa ra, giập giờn trên sóng. Chim hải âu sống với biển cả đã quen. Đối với chúng, làn sóng trắng kia khác chi những cành cây mềm mại. Chim hải âu đậu trên sóng, nô giỡn với sóng. Các thủy thủ trên tàu đứng ngồi trên boong, nhìn ra biển cả. Gió bay tung dải mũ hải quân, hơi gió nồng nước mát và muối mặn. Cơn dông đi qua trả lại cho trời biển sự bình yên, êm ả thường ngày.

Ngay lúc đó, từ khoảng trời cao, một cánh cò gấp gáp bay tới, rồi sà vội xuống boong tàu. Các thủy thủ đoán chắc đó là con cò lạc bầy trong cơn dông. Không tìm được về đất liền, không tìm ra nơi đậu, bay mãi rã cánh, con cò đành phải tìm đến con tàu làm nơi trú ngụ.

Dường như sự mệt mỏi làm cho con cò quên cả sợ hãi. Nó đứng run rẩy trên boong tàu, hai cánh xơ xác rung lên như còn sũng nước. Riêng đôi mắt vẫn long lanh như hai  giọt nước trong suốt. Hẳn lần đầu tiên, con cò rời xa tổ ấm, lạc vào chốn con người. Người trưởng tàu xuýt xoa: " Nó rét, khổ chưa, đôi chân cứ muốn khuỵu xuống. A, chú ta đói nữa, chiếc diều lép kẹp thế kia, chắc từ qua đến giờ chẳng được miếng nào vào bụng". Một thủy thủ cầm bát cơm đặt trước con cò rồi nói vọng xuống nhà ăn: " Nhốt hộ tớ con mèo, kẻo nó vồ con cò...". Có tiếng nói vui: " Vẫn biết chú mày quan cách, quen ăn cá ăn tép, quen mâm cao cỗ đầy, nhưng tàu đang chạy, cá tép kiếm đâu ra. Thôi xin mời chú mày xơi tạm...". Đang đói, con cò nghiêng mắt,bước lại gần bát cơm, giương mỏ mổ liền. Bị những hạt cơm dính vào mỏ, cò ngửa cổ lên vừa lắc vừa nuốt. Với cái mỏ dài, đôi mắt sắc, con cò ăn theo kiểu cách con cò.

Ánh nắng buổi trưa sưởi ấm, hong khô đôi cánh con cò. Quen lội ruộng mò tép, mò cá, sàn tàu bằng gỗ làm cho bước chân nó chệnh choạng. Trưởng tàu và các thủy thủ nhìn dáng điệu con cò, tán đủ chuyện dông dài, cái chấm trắng đất liền sáng lên trong mắt mỗi người. Họ lo đến lúc nào đó, con cò sẽ rời tàu bay mất.

Chiều hôm đó, con cò rời tàu bay đi thật. Mọi người đứng ở trên tàu vừa vui, vừa thấy nuối tiếc. Liệu con cò có đủ sức bay về đất liền không? Ở đất liền có bờ tre, có đồng lúa, có bạn bầy. Hãy bay về đất liền đi, bay qua cơn dông, bay qua khoảng trời xa, tìm về quê hương tổ ấm. Biển xanh và đảo xa, nhiều bão gió là nơi ở của chim hải âu và người lính.

Song, đúng như người trưởng tàu dự đoán, ngay chiều hôm đó, con cò lại bay về boong tàu. Qua cơn dông, con cò không nhận ra hướng đất liền chăng? Hay khoảng cách từ  đây về đất liền quá xa, đôi cánh mỏng manh không vượt qua được? Cả hai trường hợp trên thật đáng buồn. Từ hôm đó con cò lạc đàn đành phải theo tàu 783 ra đảo...

Người trưởng tàu dừng câu chuyện nhìn ra bãi cát:
- Còn một tháng nữa, tàu mới về đất liền. Lúc đó, chúng mình sẽ trả con cò về xứ sở của nó.
Trung đội trưởng Thụ vui vẻ nói:  
- Đảo mình đã nuôi gà, nuôi chó, bây giờ lại có thêm một chú cò nữa, càng vui. Tôi phải đóng cái lồng thật hẳn hoi, ban ngày chú ta đi kiếm mồi, ban đêm chú ta về lồng ngủ. Ra đảo đâu phải chuyện đùa, chú ta cần làm quen với bão gió mới sống nổi.  

Có tiếng nói xen vào:
- Nếu chú cò quen với đảo, xin mời ở đây với chúng ta luôn. Thử hỏi có đảo nào như đảo này giữa vùng biển, không có làng mạc, đồng ruộng mà vẫn có một chú cò tìm đến, tuyệt thật.

Lúc này, con cò đang dò dẫm bước ra mép biển. Hai chân nó vàng như que trúc, đặt từng bước dè dặt lên mép sóng lăn tăn. Thỉnh thoảng cái mỏ dài và nhọn lại mổ vào biển cả.  
« Sửa lần cuối: 18 Tháng Mười Một, 2009, 08:16:31 am gửi bởi phonglan » Logged

Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
phonglan
Thành viên
*
Bài viết: 500


Nụ hoa và cây súng


« Trả lời #25 vào lúc: 17 Tháng Mười Một, 2009, 03:40:23 pm »


Những người lính nơi đây phần lớn đều là con đẻ vùng đồng bằng. Người trưởng tàu quê ở đất trồng dâu Thuận Vi Thái Bình. Trung đội trưởng Thụ quê ở vùng đồng chiêm Hà Nam Ninh, tiểu đội trưởng Lành ở vùng đất thuốc lào Tiên Lãng, Hải Phòng, cậu Sinh ở đất quan họ Hà Bắc. Lý lịch của họ chỉ gói gọn trong vài dòng. Nhưng cuộc đời họ lại bộn bề kỷ niệm. Những đêm nằm úp thìa bên nhau, những ngày ngồi trên mâm pháo, trên hạm tàu trực chiến, họ thường nhắc về vùng quê của mình. Từ khi có con cò ra đảo, trong câu chuyện họ kể cho nhau cũng thấp thoáng cánh cò. Có khi đang ngồi trực chiến trên trận địa, nhìn thấy cánh cò bay qua, một chiến sĩ nói:
- Bây giờ đang mùa cò đẻ trứng đây.
Lập tức trung đội trưởng Thụ nói như khoe:
- Làng tớ gọi là làng Cò, cái tên chẳng được văn hoa gì, cứ gọi mãi thành quen, thành nhớ. Hàng năm cứ đến  tháng 5, cò hương, cò lửa, cò cha, cò mẹ kéo nhau về hàng đàn làm tổ đẻ trứng ở chòm tre hoặc ngọn muỗm. Cái giống cò thật thà như đếm chứ chẳng được khôn ngoan bằng giống sẻ cam, chim chếch. Tổ sẻ cam, chim chích làm bằng sợi tơ, sợi cỏ, vừa đẹp vừa êm ấm, còn tổ cò thì lổn nhổn từng cọng tre với sợi boòng boong lại treo tít trên ngọn cây cao, chắc hẳn cu cậu sợ kẻ khác lấy trộm trứng. Làm tổ ở trên cao, chỉ một trận gió thổi qua là gay go rồi. Hồi nhỏ, những hôm mưa to, gió lớn, bọn trẻ con chúng tớ thường rủ nhau đi nhặt trứng cò.  

Thấy mọi người chú ý nghe, trung đội trưởng Thụ sôi nổi nói tiếp:
- Làng Cò của tớ nằm giữa vùng đồng chiêm lụt lội, đúng là đất "cưỡi trâu đi họp" như các cậu vẫn thường giễu tớ. Ngày trước đói kém, lụt lội liên miên, dân làng tớ kéo nhau đi kiếm sống bằng đủ các nghề. Nghề thợ mộc, thợ xây, nghề lái trâu, nghề thợ nhuộm dệt vải ... nghề hoạn lợn, hoạn bò. Cái đất làng tớ, người đi các nơi thì làm ăn khấm khá, người ở lại thì sống ngâm da, chết ngâm xương nhọc nhằn suốt đời mà không đủ miếng cơm, manh áo. Đất làng tớ nghèo khó nhất nhưng cửng nhiều chữ nghĩa, lắm thầy đồ, nghe đồn lại có cả nhà thơ, nhạc sĩ nữa... Nhiều người làm lên cán bộ cấp cao, ngồi xe con về thăm làng, vẫn phải đi nhờ đò mới tới được quê cha đất tổ . Đấy như cái đận mình về phép năm ngoái.

Tưởng chuyện gì mới mẻ chứ chuyện về phép, Thụ đã kể cho đồng đội nghe không biết bao nhiêu lần. Hôm nọ có một anh nhà thơ ra đảo, Thụ cũng tìm cớ nói đến chuyện riêng tư của mình. Chẳng phải Thụ muốn khoe khoang, những chuyện đại loại như vậy anh nhớ lắm, anh có thể bộc bạch một cách say sưa cho người khác nghe mà không sợ nhàm, sợ chán.

Năm ngoái, Thụ về phép đúng vào mùa mưa lũ. Tháng trước, vợ anh có viết thư báo tin cho anh rõ vật liệu đã chuẩn bị xong nhưng nhà cửa chưa làm gì vội vì tới đây hợp tác xã sẽ có kế hoạch dọn làng tới vùng đất cồn cao. Dọn làng đi, từ xưa đến giờ, ông cha mình chưa dám tính đến, hợp tác xã phải làm để ổn định cuộc sống lâu dài.

Làng Cò, cái rốn sâu giữa vùng đồng chiêm, mùa mưa nước từ các nơi dồn về, nước dâng ngập đồng lúa, nước tràn vào bờ tre, ruộng vườn, nước tràn vào nhà cửa. Về tới đường cái, nhìn vào làng Cò như hòn đảo nổi, Thụ thoáng thấy ngại ngùng. Anh nhìn đồng nước, không thấy bóng một con đò nào đi lại. Từ ngoài đảo về đây, đi tàu, đi xe đã mất gần mười ngày, chả lẽ đã tới gần làng anh lại phải ngồi chờ đò. Mà chờ đò đến khi nào mới có ? Thụ bèn lấy vải nhựa gói ba lô, đội lên đầu, lội nước. Trong ba lô có mấy gói tép khô, gọi là quà ngoài đảo đem về cho gia đình ăn dần. Tép khô ruôn vào lọ, để được lâu, nấu cà, nấu canh, hoặc kho với nước mắm làm thức ăn mặn đều phải vị. Thêm nữa vài lạng cau khô, lúc xuống ga Hàng Cỏ, Thụ ghé vào chợ Đồng Xuân mua về cho bà nội, bà ngoại giã trầu. Hai thứ tép khô và cau khô, mới bọc qua giấy báo, nước thấm vào thì rầy rà to. Lối vào làng chỗ sâu, chỗ nông, hai tay nâng ba lô trên đầu, Thụ bước lần từng bước như người đi trên đám cỏ gai. Lội nước một đoạn, Thụ thấy ngứa ở kẽ ngón chân, anh với tay xuống, gỡ được chú đỉa trâu to kềnh. Đồng làng Cò nhiều đỉa hẹ, đỉa trâu, khối cô gái làng khác mê trai làng Cò, vừa mê vừa sợ lội đồng ngập quá thắt lưng, đi cấy gặp phải đỉa trâu, đỉa hẹ. Thi, vợ anh, người ở thành phố, từ hồi hai người lấy nhau, cô ta dám rời bỏ chốn thị thành về ở đất làng Cò. Buổi đầu làm dâu,Thi theo mẹ chồng đi cấy, gặp đỉa bám vào chân, cô vất  đon mạ cấy dở, bước vội lên bờ. Bà mẹ chê con dâu ăn trắng mặc trơn, giận con trai hám sắc không biết chọn người ăn làm. Ngày đi nhập ngũ, Thụ còn dặn vợ:
- Em đi xuống đồng, nhớ bôi vôi vào chân cho đỉa khỏi bám nhá. Em xem, ở làng mình người đi cày đi cấy đều phải mang theo một gói vôi bọc giẻ, cặp vào tay tre, giắt sau lưng quần. Đỉa bám vào chân, chỉ cần quết nhẹ một cái, cu cậu sẽ rụt vòi vào ngay.

Thi gục đầu vào vai chồng sụt sịt. Thụ nắm lấy bàn tay nhỏ nhoi của vợ, ái ngại.
- Hay là em xin đi dạy mẫu giáo...

Thi khóc to hơn. Cô biết từ nay cô phải sống xa chồng, phải ở với người mẹ chồng khó tính nghi kỵ. Dù thế, Thi không thể khăn gói về thành phố, vì ở làng Cò có mẹ chồng, dẫu sao tuổi ngoài sáu mươi của bà cụ vẫn cần cô lúc trở trời trái gió.

Đồng trắng băng băng, cơn gió thổi qua khiến mặt nước gợn lên từng đợt sóng nhỏ. Thụ nhìn ra xung quanh, xa xa trên bờ đê, từng tốp người đang dăng hàng chống úng. Trên bầu trời sũng mây, một đàn cò trắng không biết từ đâu bay về, chúng nghiêng xuống những chòm tre và những lùm cây nhô khỏi mặt nước.

Vượt qua cánh đồng. Thụ bước vào ngõ xóm quen thuộc. Ngõ chưa hết lội, nước dâng ngang hai bên bờ dậu, hoa râm bụt nở đỏ gợi nhớ màu hoa súng đồng, cánh chuồn chuồn đan nhau bay là là mặt nước. Thụ đi lối tắt, để nguyên quần áo ướt bước thẳng vào ngôi nhà ba gian mái rạ. Mẹ anh đang lúi húi thu dọn quần áo cùng những đồ đạc linh tinh gác lên chiếc giàn tre. Anh nhìn mẹ, nhìn rõ những sợi tóc bạc lòa xòa dính đầy tro trấu. Thấy anh quần áo ướt sũng, lấm bùn, bà cụ kêu lên:  
- Chết thật, anh lội bộ từ đường cái quan về à?
- Vâng...
- Vợ anh cũng bảo anh biên thư về phép trong dịp này. Mấy hôm nay quẹt cứ kêu mãi.
- Nhà con đi đâu?
- Đi chống úng, con trai con gái làng này kéo nhau đi hết. Anh không ra đồng báo cho nó biết, nó chưa về đâu. Nó chắc phải ở đó đến sáng.
- Ôi chà, bao giờ về thì về, mẹ chẳng phải lo.

Anh nói thế thôi, thực tình về nhà chưa gặp vợ, ai chả sốt ruột. Nhưng ban ngày ra chỗ đám đông kéo vợ về, mà nghe họ giễu cho à. Cánh con trai, con gái làng Cò mồm mép tép nhảy, đã trêu ai, có mọc thêm sừng cũng không đối đáp nổi, phải chờ cho đến tối, Thụ mới khoác áo bạt, chèo con đò thúng tới phía chân đê sáng trưng đèn đuốc.  

Buộc đò vào gốc cây, Thụ định cố tránh đám đông, nhưng gặp phải ông chủ nhiệm đi xăm xăm lại phía mình. Chưa nhìn rõ Thụ, ông chủ nhiệm đã nói oang oang:
- Sao đi chống úng mà ra muộn thế? Không sợ bị phạt điểm à ?
- Chào bác, cháu đây. Thụ đây...
- Thụ đấy hả. Thế mà tớ cứ tưởng tay nào đi bắt cá trộm. Cứ đi rình như tớ, trăm bó đuốc thế nào cũng bắt được con ếch... Cậu được về phép à ?
- Vâng. Bác có biết nhà cháu ở đâu không?
- Đi theo tớ. Cả đội ta có hai người biết chạy máy bơm. Tớ bàn với cậu, cứ cắp cái chiếu ra đây ngồi canh máy bơm với vợ. Nếu cậu kéo bà ấy về là khuyết mất một chân chạy máy đấy.
Thụ nói khéo:  
- Không, cháu chỉ mang áo mưa ra cho cô ấy thôi.
Ông chủ nhiệm bước hụt xuống bờ ruộng, ngọn đèn bão trên tay chao đi chao lại:
- Ối chà, chỉ được cái lý do lý trấu, tớ đi guốc vào bụng cậu rồi. Kia, cô ấy chạy máy ở chỗ cái lều có ngọn đèn sáng ấy...
« Sửa lần cuối: 18 Tháng Mười Một, 2009, 08:19:23 am gửi bởi phonglan » Logged

Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
phonglan
Thành viên
*
Bài viết: 500


Nụ hoa và cây súng


« Trả lời #26 vào lúc: 17 Tháng Mười Một, 2009, 03:41:14 pm »


Ông chủ nhiệm rẽ quành lên phía bờ đê, Thụ men theo bờ ruộng đi lại căn lều. Bên cạnh chiếc máy bơm giội nước ào ào, có tiếng con gái khe khẽ hát. Thụ dừng lại, ngập ngùng. Tiếng hát đang cao vổng lên chợt ngùng bặt:
- Ai đấy ?
Thụ cố lấy giọng khàn khàn, nói trêu:
- Báo cáo, đêm hôm nhỡ đường tôi xin được vào đây ngủ nhờ.
Thi nhận ngay ra Thụ, giọng nói lạ hẳn đi:
- Anh Thụ ... người đâu mà lúc nào cũng đùa được. Anh mới về, sao đêm nay không ở nhà...
Thụ bỏ áo bạt, ngồi xuống cạnh Thi, nói trêu:
- Anh đi công tác qua nhà có một đêm, không ra gặp em lại trách...
- Thật không?
- Anh được về một đêm cộng với mười lăm ngày nữa.
- Lúc anh đi, mẹ có biết không?
- Từ lúc anh về, mẹ giục anh ra đây đến năm lần bảy lượt. Cụ còn nắm cơm nếp bảo anh mang ra cho em ăn nữa.
- Cụ tâm lý thật...
- Em ở đây có một mình thôi à?
- Chả một mình thì mấy mình?
- Đêm nay, anh ở đây với em cho vui lúc nào mệt, em cứ ngủ, anh ngồi canh máy cho.
- Anh có mà canh ba ông đồ rau. Mẹ bảo anh hồi nhỏ là chúa hay ngủ gật. Mẹ kể cả cái đêm giao thừa, sai anh trông nồi bánh chưng, lúc mẹ xuống bếp đã thấy anh gục đầu vào đống trấu ngủ như chết. Cũng may mà đêm đó anh không bị cháy quần...
- Bây giờ thì khác rồi. Đêm nay xem ai ngủ trước ai.
- Anh chỉ được cái vụng chèo khéo chống. Em sợ chốc nữa cái Mây, cái Huệ nó đến đây thì xấu hổ chết.
- Em thật buồn cười. Hồi yêu nhau ngồi ở ghế công viên, đạp xe đèo nhau đi các nơi giữa ban ngày ban mặt chẳng sao. Giờ thành vợ, thành chồng lại xấu hổ.  
- Ừ, em nói xa thế thôi. Đêm nay, chắc gì cái Mây, cái Huệ đã tới ai cũng bận chống úng chứ có ai được rảnh rang đâu...

Đột nhiên Thụ quàng tay qua vai Thi kéo mạnh về phía mình. Mái tóc ướt sương đêm của Thi xõa sang anh, mát rượi. Bốn năm về trước, ngày anh đi, tóc Thi chưa dài như bây giờ.

Đêm hôm đó và những đêm sau, vợ anh vẫn chạy máy bơm như thường (bà mẹ Thụ phàn nàn với Thi đủ điều, nhưng cô ta chỉ cười trừ). Những đêm sau, anh vẫn chèo  con đò thúng ra chỗ vợ chạy máy. Khi tiếng máy bơm xả nước đều đều, trong căn lều nhỏ lại vọng lên tiếng nói  chuyện xì xầm của hai người. Có lúc ngọn đèn dầu chợt nhỏ lại như muốn tắt, những ngôi sao xa xăm chợt tan vào khoảng thẫm trời đêm...

Ngày trả phép, vợ anh chèo đò đưa anh đi dọc con sông chảy giữa cánh đồng nước rút. Những khoang ruộng hôm trước bị ngập lụt, lúa đã ngoi lên khỏi mặt nước, lá lúa đẫm bùn chen lẫn lá lúa xanh non. Từ bờ tre làng anh, đàn cò trắng lại bay ra, phong tỏa xuống cánh đồng, màu trắng chấp chới xa dần rồi lẫn vào bờ cây, màu lá.  

Mới thế đã gần một năm, chóng thật. Những lá thư từ đất liền gửi ra đảo, từ đảo gửi về đất liền đã nối gần khoảng cách xa xôi giữa hai người. Thi viết thư, báo tin với anh hợp tác xã đã chuyển làng, bà con chòm xóm đã giúp đỡ gia đình anh dựng lại nhà cửa. Ngôi nhà bốn gian lợp rạ, vợ anh đang nuôi lợn nái để sắm sửa thêm một số đồ đạc trong nhà. Còn một tin vui nữa: vợ anh đã có mang. Đứa con chưa ra đời, giọt máu nhỏ nhoi đang lớn dần trong nỗi lo âu, niềm hy vọng của đất liền và hải đảo.

Sớm nay, trước giờ thể dục, Thụ đã khoe toáng lên với mọi người, niềm vui của anh lộ ra giọng nói:
- Các cậu ơi, vợ tớ mới đẻ con trai. Tớ nhận được điện từ đất liền đánh ra vào lúc 12 giờ đêm qua. Chả là tớ có thằng bạn người cùng làng ở tổ trực điện đài của Bộ. Tớ dặn vợ tớ khi nào đẻ, viết thư ngay cho bạn tớ để hắn báo tin ra đảo. Gửi thư phải mất vài tháng, gửi điện mất có vài phút, nhanh thật. Các cậu thấy có lý thú không: Xen giữa mệnh lệnh chiến đấu từ Bộ Tổng gửi ra đảo lại có vài dòng tái bút báo tin cho Lê Thụ biết, vợ đẻ con trai...

Các chiến sĩ vây quanh Thụ hỏi rối rít:
- Thằng bé được mấy cân?
- Nào tớ có biết.
- Nghe người ta bảo con đầu lòng mà nặng ba cân rưỡi là thuộc diện khỏe. - À, tớ phải viết thư về bảo "bà ấy" chụp ảnh thằng bé gửi ra đảo, xem hình thù mặt mũi nó thế nào.

Thụ vừa nói vừa giật dậy đuổi chim, những vỏ thùng lương khô, vỏ thịt hộp va vào nhau phát ra những âm thanh đến vui, vui hơn mọi sáng.

Thể dục xong, như thường lệ, Thụ xách chiếc lồng cò ra rặng cây ven biển. Anh mở cửa lồng, cánh cò bay vút lên, lượn vòng quanh đảo.

Chỉ còn chừng một tuần nữa, con tàu sẽ trở về đất liền. Trung đội trưởng Thụ và anh em lính đảo đã viết sẵn thư nhờ các thủy thủ chuyển dùm. Mấy hôm nay, đảo thay đổi thời tiết, trời đang nắng hanh khô chợt đổ mưa dầm, từng mảng mây theo gió kéo về làm thành một màu chì trùm lên toàn đảo. Đề phòng gió xoáy bất chợt, những người lính cuộn hết nhà bạt, đắp đất, xếp đá lên các nhà hầm. Mấy con tàu trợ chiến được đưa vào lạch đá tránh gió, những khẩu pháo mặc kín áo bạt. Ngay cả những lùm cây cũng bị phạt bớt cành để bão gió khỏi nhổ gốc ném xuống biển. Mưa dai dẳng, dầm dã suốt ngày suốt đêm. Ở đảo vào những ngày mưa, được cái sướng tha hồ tắm mát, dư dật nước uống, riêng nơi ăn chốn ở thì khổ sở hết chỗ nói. Giấc ngủ trong đêm, ngoài tiếng sóng biển, tiếng mưa xối, tiếng chim kêu cháo chác, còn có tiếng gọi nhau, tiếng múc nước bì bõm, tiếng cuốc xẻng khơi rãnh ở những căn hầm sụp lở.

Cũng từ mấy hôm nay, trung đội trưởng Thụ không mở cửa lồng cho con cò bay ra ngoài trời nữa. Đang mưa gió, nước biển dâng to, cò bay ra đó gặp lốc xoáy thì sao. Con cò bị nhốt trong lồng lâu, đôi cánh cúp lại buồn bã, nó nghiêng mắt nhìn ra bầu trời đầy mây, bầu trời phản chiếu vào đôi mắt nó một màu xám đục. Những vệt chớp cắt ngang, tiếng sấm tiếng sét dội xuống đảo, mặt đất rung lên, bụi đất ập vào nhà hầm. Con cò giật mình đứng nép vào góc lồng chật hẹp. Nhìn con cò tội nghiệp, trung đội trưởng Thụ và những chiến sĩ cảm thấy lo ngại. Ở đảo mưa bão còn nhiều, mấy hôm nữa, họ sẽ gửi con cò theo tàu trở lại đất liền.

Sau khi kiểm tra phiên gác đêm, Thụ đang ngủ say bỗng thức giấc vì tiếng gió hú ầm ào. Miếng tôn trên nóc hầm anh gió đập thình thình như búa gõ. Một cơn lốc bốc tấm tôn ném phăng tới nơi khác, những chiếc cọc, những tấm gỗ nhỏ tung khỏi mặt đất. Nghe tiếng mái tôn rơi, nghe tiếng gỗ đá chạm nhau, Thụ nhỏm dậy chạy ra ngách hầm để chiếc lồng cò. Hầm trống không. Thụ quờ tay lần ra xung quanh, không thấy. Anh chạy ra trận địa, chạy lại phía lùm cây. Cơn lốc đã ném chiếc lồng cò đi đâu ?

Có tiếng chó sủa vang trên bãi cát, tiếng chó sủa gắt gao, giật cục. Anh chạy lại tiếng chó sủa và nhận ra chiếc lồng cò vướng vào một bụi gai (giá anh không đến kịp, chỉ cần một trận gió, cái lồng cò sẽ lăn xuống biển).

Chiếc lồng cò bẹp dúm, Thụ luồn tay qua cửa lồng, bàn tay anh chợt run run khi chạm phải đôi cánh lạnh buốt. Đêm khuya, màu trắng cánh cò nhói lên hơn mọi màu trắng khác. Cùng lúc đó, người trưởng tàu và mấy chiến sĩ cũng chạy lại, họ đứng quanh Thụ. Vài giọng nói nhát gừng. Im lặng.

Con cò đã chết, câu chuyện đến đây cũng không thể kéo dài. Những năm tháng xa đất liền, cánh cò cùng bao kỷ niệm quê hương đã in sâu vào nỗi nhớ của mỗi người lính. Và những ngày nắng hanh, những ngày mưa bão, nhìn lên vòm trời đảo xa, họ vẫn thấy hiện ra cánh cò thấp thoáng...


                                                                                                        
                                                                                                               N.Đ.M
« Sửa lần cuối: 18 Tháng Mười Một, 2009, 08:27:36 am gửi bởi phonglan » Logged

Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
phonglan
Thành viên
*
Bài viết: 500


Nụ hoa và cây súng


« Trả lời #27 vào lúc: 17 Tháng Mười Một, 2009, 03:43:42 pm »


Tô Hải Nam


NHỮNG NGƯỜI KHÁCH CỦA HÀNG KHÔNG MẪU HẠM


                                                                                                                    Bút ký

Ở quần đảo Trường Sa, trên đảo chìm Đá Nam đã mọc lên 2 ngôi nhà mới của quân ta. Một nhà xây lâu bền đứng sừng sững soi mình xuống vùng nước phía đông đảo; một pông-tông mà anh em thường gọi là "căn cứ nổi" được gắn chặt với nền san hô ngầm bằng những chiếc neo, mỗi neo nặng 1 tấn. Trên căn cứ nổi có đủ phòng ở, khoang chứa thực phẩm, sân chơi và trận địa chiến đấu cùng nhiều thiết bị phục vụ sinh hoạt. Thượng úy Bùi Văn Hường, phó đảo trưởng đảo Đá Nam trực tiếp chỉ huy căn cứ nổi này. Dưới Hường là một số chiến sĩ tuổi sàn sàn mười chín đôi mươi, tuổi quân chưa đầy năm. Được biên chế gian khó cùng chia, vinh quang cùng hưởng, quyết bảo vệ bằng được căn cứ nổi, vì đây là lãnh thổ nổi cùng với một vùng biển bao quanh mà Tổ quốc đã trao cho các anh gìn giữ.

Ngày tháng cứ lần lượt qua đi. Họ quen với cuộc sống kham khổ của người lính đảo, quen với một môi trường chỉ có nắng gió và tiếng ầm ào của sóng biển.

Đảo Đá Nam là một trong số 21 hòn đảo mà cán bộ, chiến sĩ đảo Trường Sa đang trấn giữ. Nhưng hòn đảo chìm này lại có vị trí cực kỳ quan trọng, mọi người thường gọi nó là con mắt của quần đảo. Đứng bất kỳ ở điểm nào trên hòn đảo chìm ấy cửng có thể phóng hết tầm nhìn về các hướng. Tất cả các mục tiêu lớn nhỏ xuất hiện trong tầng nhìn, các anh đều có thể "tóm" được và phân tích nhận định chính xác từng loại mục tiêu, từng dạng tàu thuyền, trước khi điện báo về đất liền. Nhận rõ tầm quan trọng của "con mắt" quần đảo, phó đảo trưởng Hường trong một cuộc họp đã hỏi ý kiến anh em:
- Vị trí đảo chúng ta thế nào mọi người đều biết. Bây giờ ai đề xuất được ý kiến mới để vừa giữ được pông-tông, vừa bảo toàn được lực lượng?
Chiến sĩ Hiền người được anh em gọi là vua ĐKZ nhanh nhảu nói:
- Theo tôi, phải luyện tập thành thục hơn nữa các phương án tác chiến và phương pháp cấp cứu trên biển, để bất cứ địch nào đến là đánh, và nếu có sao cũng tự cấp cứu cho nhau được.
- Địch đến là đánh thì dĩ nhiên rồi - Chiến sĩ Hiệp cắt ngang câu nói của Hiền, rồi tiếp: Tập luyện các phương án tác chiến thì tuần nào chúng ta cũng tập. Đến nay chúng ta đã thành thục tất cả các phương án chính và hai phương án dự phòng. Còn cấp cứu thì ngày nào chúng ta chẳng tập bơi biển... theo tôi, chúng ta cứ tập tuần tự như kế hoạch. Còn bây giờ tôi đề nghị đảo phó nên dạy anh em cách nhận dạng các vì sao trên trời để biết chính xác các hướng ban đêm trên biển, hoặc sau này hoàn thành nghĩa vụ trở về, vào rừng có bị lạc thì nhìn sao trời cũng biết tìm đường mà ra.

Mọi người đồng thanh hưởng ứng, Hường nói: bắt đầu từ tối nay chúng ta học nhận dạng các vì sao. Còn sau đây tất cả đi bảo quản xích neo và kiểm tra thân vỏ pông-tông, vì đài báo cơn bão số 3 đang xuất hiện.  

Bắt đầu từ đêm ấy, mỗi đêm các anh đều dành ra một giờ để học nhận biết các vì sao. Trong đêm học đầu tiên, Hường nói với anh em:
- Giá tôi là thuyền trưởng thì chắc chắn trong vòng 2 tuần, tôi sẽ hướng dẫn cho anh em biết hết các chòm sao chủ yếu trên bầu trời, nhưng vì không đủ kiến thức như thuyền trưởng nên tôi hiểu biết đến đâu sẽ chỉ vẽ cho anh em đến đó. Bây giờ theo tay tôi chỉ là hướng bắc. Bốn vì sao như cái vòm tẩu thuốc kia và ba vì sao kế tiếp như cái cán tẩu thuốc kia là chòm sao Tiểu Hùng Tinh. Từ chòm sao đó, kéo dài xuống 7 lần thấy một vì sao đứng độc lập  sáng nhất kia, chính là sao Bắc Đẩu. Đấy là hướng chính bắc... Muốn là định đâu là hướng đông, đâu là hướng tây thì chỉ cần đứng nhìn vì sao Bắc Đẩu rồi giang hai tay ngang bằng vai, theo đầu cánh tay phải chính là hướng đông, đó là nơi mặt trời mọc. Theo đầu cánh tay trái chính là hướng tây, đó là nơi mặt trời lặn. Còn khi đã xác định được hướng bắc thì sau lưng chúng ta sẽ là hướng nam...

"Lớp thiên văn cấp tốc" của căn cứ nổi kết thúc sau một tối sát hạch nghiêm túc. Hường cũng không ngờ chỉ có 15 giờ học trong hai tuần mà kiểm tra giao hội các vị trí chòm sao, cậu nào cũng chỉ chính xác và trả lời đúng vanh vách. Kết quả đó khích lệ Hường tiếp tục mở lớp "khí tượng hải văn cấp tốc" theo đề nghị của anh em. Nội dung đề cập trong lớp này là sau khi giảng giải cho anh biết tên các loại mây hay gây ra dông bão và cách nhận biết các dạng này, Hường đi sâu trao đổi về hiện tượng vòi rồng, lốc, dông và bão thường xuất hiện ở khu vực Trường Sa.  

Một hôm, sau bữa cơm chiều, Hường nhận được bức điện: "Chuẩn bị đón thêm xe tăng". Đọc mật danh, Hường phán đoán ngay là cấp trên bổ sung cho căn cứ nổi x người. Thêm người là thêm tay súng, thêm việc làm, nhưng cũng thêm chỗ nằm, thêm miệng ăn và thêm một khoang chứa thực phẩm, dụng cụ, đó không phải là chuyện đùa... Hường nghĩ vậy, rồi tập trung anh em thông báo nội dung bức điện để mọi người chuẩn bị đón khách...

Hai ngày sau, một chiếc tàu của đoàn Vận tải C55 từ từ tiến vào, buông neo ngay bên thềm san hô đảo. Hai mươi  phút sau, chiếc xuồng chở người cùng nhiều lương thực, thực phẩm và các thiết bị khác cặp mạn pông-tông. Trung  úy Đoàn Văn Có, cán bộ chỉ huy anh em mới bổ sung, vui vẻ lên tiếng:
- Làm gì mà các cậu đón chúng mình như đón cấp trên thế?
Từ trên mặt pông-tông, Hường cũng nói vui:
- Giá căn cứ nổi này có còi, chúng tôi còn kéo còi chào các cậu nữa đấy. Những câu nói đùa đầu tiên của hai chỉ huy hai bộ phận gây được ấn tượng vui vẻ ngay từ ban đầu. Rồi anh em cùng lao vào bốc hàng, củng cố nơi ăn ở và thông báo tình hình cho nhau. Bữa cơm đầu tiên của anh em cũng là một bữa liên hoan của toàn căn cứ nổi. Ngoài thịt hộp, cá khô như ngày thường, bữa nay còn có rau xào, bí đỏ nấu và rượu cam được chuyển từ đất liền ra.
- Nào chúng ta cùng nhau nâng bát.  

Ngày đầu tiên gặp mặt vui vẻ ấy làm cho anh em từ đất liền vừa ra hòa nhập ngay với cuộc sống của người lính đảo.

Sáng sớm hôm sau, việc khảo sát độ sâu, chất đáy của  khu vực bãi ngầm để chuẩn bị xây thêm một ngôi nhà nổi  lâu bền của đảo được cán bộ, chiến sĩ công binh tiến hành khá thuận lợi. Sau 20 ngày đo đạc tính toán, Hường cùng anh em thuộc căn cứ nổi lại được học thêm cách tính toán và dự trù cát, đá, xi măng, sắt thép, nước ngọt xây dựng công trình trong lòng nước mặn.  

Thêm một ngày bình thường nữa đã tới. Công việc của  căn cứ nổi thì nhiều nên Hường và Có cùng anh em cứ  lẳng lặng làm. Nhưng từ 7 giờ sáng tới giờ những đợt sóng  lừng dàn hàng ngang liên tiếp trườn qua khu vực này, rong rêu, hoa biển trôi lềnh bềnh, mùi tanh tưởi bốc lên làm  Hường chú ý. Sóng lừng xuất hiện. Anh nhận định phía xa  đang có các trận cuồng phong ngầm. Nếu một giờ nữa không giảm thì nguy cơ sẽ xuất hiện dông bão hoặc sóng thần. Thấy người chỉ huy lo lắng đứng nhìn từng mảng mây lớn đang lướt nhanh trên nền trời xám đục, các chiến sĩ của căn cứ nổi và cán bộ, chiến sĩ công binh cũng dừng tay nhìn trời, thoáng nỗi lo âu. Những kiến thức về mây, mưa, dông, bão mới học được hôm nào bây giờ được anh  em đưa ra nhận định, phán đoán. Hiền và Hạ cả quyết chỉ  một giờ nữa cả vùng này sẽ chìm trong vòng xoáy cuộn  của một cơn dông cực lớn, vì từ phía chân trời hướng Tây  Nam, những áng mây vũ - tích hình cái đe trên đầu viền  một lớp sáng bạc kia trong lòng nó đang xảy ra một chuyển  động xoáy... Trong lúc anh em vừa bàn luận, vừa cố định  lại các đồ vật trên mặt pông-tông thì Hường và Có kéo nhau ra một góc pông-tông bàn bạc. Hai anh thống nhất với nhau là cả căn cứ nổi này chỉ có hai anh em là đảng viên. Tất tật mọi việc hai anh đều cùng bàn bạc thống nhất và chịu trách nhiệm trước cấp trên về sinh mạng của anh em ở đây. Sau khi thống nhất nhận định và đề ra phương án phòng chống, Hường ra lệnh:  
- Tất cả về vị trí, phòng chống dông bão cho pông-tông !    
« Sửa lần cuối: 17 Tháng Mười Một, 2009, 04:07:26 pm gửi bởi phonglan » Logged

Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
phonglan
Thành viên
*
Bài viết: 500


Nụ hoa và cây súng


« Trả lời #28 vào lúc: 17 Tháng Mười Một, 2009, 03:45:42 pm »


Những bàn chân gằn nghe âm âm. Tất cả đã sẵn sàng ở vị trí theo phương án đã luyện tập. Cuộc chiến đấu với  dông bão sắp bắt đầu. Tiếng xích neo kêu loảng xoảng. Cuộn dây cáp lớn được gỡ ra, một đầu buộc sẵn vào thân các cọc xích, các đầu dây kia buộc vào các tấm bê tông lớn  để sẵn trên boong. Mười sáu dây neo của pông-tông được  thu căng để thêm lực giữ. Tất cả mọi vật trên mặt boong,  trong các khoang đều được cố định chặt. Tất cả anh em  mặc đầy đủ phao áo. Toàn bộ tài liệu được đưa vào hòm sắt nắp kín lại. Hệ thống dây chằng từ tâm pông-tông với các vị trí quan sát được nối liền, dây mồi cấp cứu cũng được sẵn sàng, phao cứu sinh được bơm căng. Tất cả đang chờ đợi cơn thịnh nộ của thiên nhiên đổ xuống.

Sự chờ đợi không lâu, năm phút sau, cơn dông cực lớn ập tới. Sóng, gió, mưa như cùng bao vây lấy chiếc pông-tông, như cùng muốn tung lên cao rồi lại cùng muốn dìm xuống tận đáy sâu của biến cả. Tiếng sóng đập vào thành pông-tông nghe như tiếng búa máy. Mặt biển sôi lên ùng ục gió lớn bứt tung một số thiết bị trên boong cuốn xuống biển.

9 giờ 25 phút, một đợt sóng lớn tràn qua pông-tông, nếu không có hệ thống dây chằng buộc chặt vào từng người, có lẽ tất cả anh em đã bị cuốn xuống biển.

 9 giờ 45 phút, một đợt sóng cực lớn, như những dãy núi lừng lững tiến nhanh trong xoáy cuộn của mưa gió bổ nhào  tới, nâng bổng chiếc pông-tông lên không trung. Sức nâng  mạnh và đột ngột làm đứt luôn 10 cuộn dây xích neo của pông-tông. 

- Thả các tấm bê tông xuống quanh pông-tông!
 
Dứt mệnh lệnh của Hường, từ các vị trí, anh em vừa  lần theo đường dây, vừa đẩy các tấm bê tông lớn xuống nền san hô để tăng thêm sức ghì kéo pông-tông.

9 giờ 55 phút, một đợt sóng cực lớn thứ hai chồm tới. Trong xoáy cuộn mịt mùng, mọi người chỉ thấy toàn thân mình bị tung lên cao rồi cứ lao theo dòng nước trôi vun  vút trên đỉnh sóng. Đợt sóng lớn thứ hai giật đứt phăng các dây xích còn lại và cuốn chiếc pông-tông đi theo vòng xoáy cuộn của cơn dông. Từ vị trí chỉ huy của pông-tông, ba phát tín hiệu đỏ liên tiếp bay vút lên yêu cầu cấp cứu. Từ ngôi nhà lâu bền ở phía đông đảo, ba phát tín hiệu xanh cũng bay vút lên báo tin nhận được tín hiệu cấp cứu khẩn cấp của pông-tông. Lúc ấy là 10 giờ trưa.

Tín hiệu của pông-tông bắn lên yêu cầu cấp cứu cũng  vô ích. Giữa cơn xoáy cuộn cua dông tố, tàu có lượng dãn  nước 20 nghìn tấn cũng không dám vào, chứ đừng nói đến các tàu thuyền nhỏ. Hơn nữa, pông-tông chỉ như cái hóp sắt không chèo, không máy, không lái. Khi bị nước cuốn trôi như diều gặp gió, tàu nào dám xông vào mà cứu nạn.  Hường cố dò dẫm từng bước lần theo các đường dây chằng  trên boong đi kiểm tra xem ai còn, ai mất. Nhưng anh  không thể nào tiến thêm một bước, vì khi đã đứt hết dây neo, chiếc pông-tông như con ngựa bất kham lúc phóng nhanh, lúc chồm lên, ngụp xuống. Có lúc lại tung lên cao  quay tròn như chong chóng. Đúng là trên đời này mạnh nhất thủy. Hường chợt nghĩ vậy, rồi lợi dụng từng đợt sóng  gió nhỏ, anh gọi tên từng người. May sao cuộc chiến đấu  với cuồng phong từ đầu tới giờ chưa ai bị sứt mẻ. Thế là thắng lợi bước đầu. Anh thấy vững tâm về sinh mạng anh em, nhưng lại lo cho sức chịu đựng của pông-tông bị quăng quật trong dông gió. Kể từ lúc bị nạn tới giờ, pông-tông vẫn phóng vèo vèo trên đỉnh sóng: Chẳng có máy móc để đo, nhưng Hường dự kiến tốc độ cuốn trôi của  pông-tông có lẽ tới 40 km/giờ. 

*


Đến 17 giờ, sóng gió giảm đần, nhưng vì trước đó 10 đợt sóng cực lớn tràn qua pông-tông cùng với  hàng ngàn đợt sóng lừng, sóng bạc đầu cấp 8  cấp 9 đổ liên hồi xuống làm bên mạn phía mũi pông-tông thủng nhiều lỗ, nước lại tràn vào khoang hai, khoang ba, tất cả anh em lại tiếp tục tát nước, bịt rò. Nhưng bịt được chỗ này thì chỗ khác bên thành pông-tông lại có nguy cơ bục ra. Tình thế thật nguy nan, Hường ra lệnh tiếp tục tìm mọi cách chống chìm pông-tông và chuẩn bị phao cứu sinh phòng khi nước nào nhiều bị lật nghiêng. Anh phân công anh em khỏe thay nhau tát nước rồi dùng giẻ rách, xi-măng trám những chỗ bị rò, một số anh em khác chuẩn bị giấy tờ, tài liệu bọc kỹ ni lông cho vào hòm kín và đưa xuống đáy pông-tông.

2 giờ sáng ngày hôm sau, khi việc tát nước bị rò tạm ổn cũng là lúc anh em kiệt sức. Cũng may, mưa gió giảm hẳn sóng chỉ còn độ cấp 4, cấp 5 nên bớt say. Xa xa đường chân trời một mảnh trong xanh của vòm trời ban đêm hiện ra. Đã nhìn thấy một vài ngôi sao nhấp nháy. Bỗng từ mũi pông-tông. Hạ reo to:
- A, nhìn thấy chòm sao Thần Nông ở phía sau. Như vậy là chúng ta đang bị trôi lên phía đông bắc.   

Mọi người cùng nhìn về phía chân trời phía Nam. Những tảng mây đen đặc tan dần càng lộ rõ vòm trời đầy sao trong đêm mùa hạ. Đúng là pông-tông đang bị trôi lên phía đông bắc. Làm cách nào báo cho đất liền biết vị trí và hướng trôi pông-tông, vì phiên liên lạc cuối cùng với đất liền mới nói được câu: “Mười giờ ngày 21 pông-tông đảo Đá Nam bị gặp nạn" thì sóng đã đánh tung máy vô tuyến điện rồi dập xuống, cộng với nước biển tràn vào làm tất cả máy  chính, máy dự phòng đều bị hỏng. Sau khi cử người cảnh giới và trực canh các khoang bị thủng. Hường và Có bàn nhau triệu tập một cuộc họp quyết định những vấn đề then chốt nhất. Khi đông đủ anh em, Hường nói: "Máy thông tin bị hỏng không liên lạc được với đất liền, pông-tông của ta không có máy và lái nên chúng ta phải chấp nhận pông-tông tự trôi. Nếu pông-tông bịt rò tốt, trôi tới một nước láng giềng thân thiết nào đó là điều tốt. Nếu không may trôi vào đất địch thì anh em nghĩ thế nào? ". Nhiều tiếng luận bàn sôi nổi, lát sau cuộc họp thống nhất ý kiến: Phải bảo đảm an toàn tuyệt đối giấy tờ, tài liệu mật. Nếu pông-tông trôi vào đất địch hoặc gặp địch thì kiên quyết chiến đấu không để giấy tờ, tài liệu rơi vào tay địch. Nếu pông-tông trôi vào các nước khác, dù có bị quyến rũ thế nào cũng kiên quyết xin trở về Việt Nam, không cư trú chính trị. Nếu gặp tàu, thuyền nước ngoài cứu trợ nhân đạo thì phải tỏ rõ phong thái, tư thế quân nhân...

Sau khi tóm tắt các nội dung, Hường nói: Những điều đã bàn bạc thống nhất, tất cả cứ thế tiến hành. Chúng tôi có trách nhiệm với anh em, nhưng anh em cũng phải có trách nhiệm với công việc của chính mình. Chúng ta đã thề với nhau: Gian khó cùng chia...bây giờ là lúc gian khó, anh em ta cùng nhau khắc phục.

Pông-tông trôi tới hai ngày sau thì hết nước ngọt. Trưa hôm đó có một vài trận mưa nhỏ, anh em tranh thủ hứng được đầy một thùng phuy. Một thùng phuy dùng cũng chẳng được bao lâu. Hường và Có phát động mọi người tìm cách pha chế nước ngọt nhưng chưa đạt được kết quả.

Sang ngày thứ năm theo kinh nghiệm, anh em tìm được công thức pha chế bằng chất liệu có sẵn ở pông-tông, cứ 1 lít nước mưa, pha thêm 5 lít nước biển, cho vào hai loại nước đó 13 lọ thuốc đánh răng sẽ được 6 lít nước lợ. Thế là tất cả số thuốc đánh răng còn lại được huy động pha chế nước. Sau đó thì hết thuốc đánh răng, anh em lại tiếp tục bàn để tìm ra công thức pha chế mới, vì lương thực dự trữ của pông-tông thì không đáng ngại, đủ ăn một thời gian nữa, nhưng thiếu nước ngọt thì rất gay go.

Đang lúc bàn bạc sôi nổi thì chiến sĩ công binh Lê Văn Tính làm nhiệm vụ trực canh chạy vội vào khoang báo: cách pông-tông về phía tây khoảng 3 km có một chiếc thuyền đang lao về phía chúng ta. Thế là tất cả cùng ùa ra quan sát. Hường nhắc anh em cảnh giác đề phòng bọn cướp biển, đồng thời lệnh cho tổ kiểm tra thuyền lạ chuẩn bị sẵn sàng làm nhiệm vụ.

Hơn 20 phút sau một chiếc thuyền máy bằng gỗ nửa nổi nửa chìm cố sống cố chết lao vào rồi đi song song với pông-tông. Hường dùng cờ tay đánh tín hiệu hỏi: "Các anh thuộc quốc tịch nào?”. Từ chiếc thuyền gỗ, hai người đàn ông lực lưỡng đứng lên mũi thuyền trả lời ngay bằng tiếng Việt: Chúng tôi là người tị nạn Việt Nam bị gặp nạn. Thế các ông?

Hường nghe câu trả lời và câu hỏi lại của họ, anh đoán ngay là thuyền vượt biên gặp nạn. Hường và Có bàn bạc Chúng ta đã gặp nạn, nhưng pông-tông của chúng ta chưa có khả năng chìm ngay. Họ là dân vượt biên, vì không thiết tha với Tổ quốc, hoặc vì một sự kích động nào đó mà bỏ Tổ quốc ra đi. Hiện họ cũng là  người đang bị nạn, vả lại họ cũng là những con người...

Trong khi hai anh đang trao đổi thì một cơn sóng bất thần xô tới cuốn thuyền của họ ra xa làm một số người đang đứng bên mạn bị hất ra khỏi thuyền.

- Cấp cứu thuyền bị nạn ! - Hường ra lệnh.

Từ trên mặt pông-tông, 5 chiến sĩ khoác theo dây và phao bơi rồi lao vút xuống biển. Khó khăn lắm các anh mới bơi được tới thuyền bị nạn, buộc được dây để anh em trên pông-tông kéo thuyền vào, tiếp đó các anh lại bơi ra cứu hết những người đang chơi vơi giữa luồng nước xoáy. Sau khi đưa được hết 29 ngươi vượt biên trái phép lên pông-tông thì chiếc thuyền của họ bị nước vào đầy cũng từ từ chìm xuống. 29 người vượt biên có 16 nam, 8 nữ và 5 trẻ em. Các anh cho 16 người đàn ông ở riêng một chỗ dưới khoang rồi cử người canh gác đề phòng họ cướp pông-tông còn 8 phụ nữ và 5 trẻ con cho vào phòng ở trên mặt boong. Lo cho các chiến sĩ của pông-tông ăn uống đã gay go, bây giờ lại lo cho thêm 29 người vượt biên ăn, uống lại càng gay go thêm.
Logged

Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
phonglan
Thành viên
*
Bài viết: 500


Nụ hoa và cây súng


« Trả lời #29 vào lúc: 17 Tháng Mười Một, 2009, 03:47:22 pm »


Từ lúc có thêm 29 người vượt biên trên pông-tông, sóng gió lại nổi lên ngày càng to, những chỗ đắp xi măng bên thành pông-tông lại bị rò và bục ra, nước chảy vào đầy ắp cả khoang 1 và nửa khoang 2. Mũi pông-tông bị chúc xuống và vì vậy pông-tông chỉ trôi vòng quanh, chứ không nhích thêm một mét nào.

Thế rồi nước vào đầy tiếp khoang 2 và một phần khoang 3. Nước vào quá nhiều, tát không xuể, pông-tông bị nghiêng về bên phải hoàn toàn. Tình thế trở nên nguy cấp. Anh em xúm lại bàn bạc và quyết định dịch chuyển các vật liệu trong khoang để cân bằng pông-tông. Các anh huy động thêm cả người vượt biên cùng bốc vác các khối đá từ mạn phải sang mạn trái, và bốc số hàng nhẹ từ mạn trái sang mạn phải để cân bằng pông-tông và huy động toàn lực tập trung tát nước, bịt rò cả 3 khoang phía mũi pông-tông.

Lúc 10 giờ, Hạ đang nấu cơm, lại một cơn sóng bất thần giội lên hất tung một thùng dầu và toàn bộ nồi, xoong, cơm  canh xuống biển. Sóng làm một thùng dầu khác đổ xuống, bật nắp, đầu chảy ra bén vào bếp lửa. Chỉ chậm hai phút,  lửa sẽ bén vào khu vực chứa dầu và khoang chứa đạn củapông-tông. Gần 11 giờ mới dập tắt được ngọn lửa và múc được hết nước ở khoang 2, khoang 3 của pông-tông. Gay nhất là bây giờ không còn nồi, niêu, xoong chảo để nấu cơm. Hạ nghĩ ra cách dùng xô nhôm làm nồi nấu cơm. Đến 12 giờ thì Hạ nấu xong một xô chè cho quân ta và cả người vượt biên cùng ăn.

Sang hôm sau, mặt trời như mọc sớm hơn mọi ngày. Hường giở sổ nhật ký chiến đấu ghi chép và nhẩm tính: Từ hôm pông-tông bị nạn tới nay đã sang ngày thứ 12. Bao biến cố xảy ra trong từng giờ mà anh em phải vật lộn và đã chiến thắng. Giờ đây lương thực đã cạn, vì một số thực phẩm bị dầm trong nước mặn thối và mốc hết và vì phải nuôi thêm 29 người vượt biên mới được cứu vớt lên  pông-tông. Nước lợ phải dè sẻn làm mới đủ dùng. Nhưng  từ hôm nay trở đi không còn nữa. Lại còn sinh mạng của 29 người vượt biên này giải quyết thế nào? Tuy không đo đạc được chính xác nhưng anh ước tính pông-tông đã vượt ra khỏi vùng biển Việt Nam rất xa. Máy bay và tàu cứu  hộ từ đất liền không thể ra tới vùng biển này được. Vả lại  đã 12 ngày đêm rồi dù đất liền không bỏ rơi các anh  nhưng cũng không biết pông-tông trôi về đâu mà tìm. Giờ này chắc cả nước đã biết tin anh em bị nạn: Gia đình, vợ con lo lắng và mong tin các anh đến chừng nào...

Suy nghĩ một lát, Hường chủ động tới bàn với Có để cùng đề ra hướng khắc phục trong những ngày tới. Sau khi thống nhất ý kiến, Hường ra lệnh cho anh em lau chùi, bảo quản vũ khí sẵn sàng chiến đấu, còn anh và Đoàn Văn Có, tập trung 29 người vượt biên về phía mũi pông-tông tình hiểu thêm hoàn cảnh của họ để tứ đó có hướng giải quyết.

Qua những lời trình bày, các anh được biết họ chủ yếu là người ở Quảng Ninh, Hải Phòng, có một số người ở miền Trung do bị kích động lôi kéo của một số kẻ muốn đi tới một phương trời xa lạ tìm một cuộc sống an nhàn, nên họ đã nhẹ dạ ra đi. Tiền của họ mang theo bao nhiêu, các anh cũng chẳng điều tra làm gì, chỉ thấy khi thuyền của họ sắp chìm anh em quăng lên pông-tông được bốn phao bơi bằng xăm ôtô, một máy cô-le, mười sáu rìu chặt củi, địa  bàn và một số quần áo, chăn màn. Lương thực, dầu mỡ, nước uống của họ không còn một giọt. Sau khi đã hỏi rõ ý nguyện cua từng người, Hường nói:chúng tôi không phải là người vượt biên như lúc đầu các anh chị tưởng đâu, chúng tôi là cán bộ, chiến sĩ Hải quân đang làm nhiệm vụ ở quần đảo Trường Sa thì bị nạn trôi tới đây. Giữa lúc “ốc không mang nổi mình ốc" thì lại phải đeo mang thêm các anh các chị. Cơ sự đã thế rồi, chúng tôi xin nói rõ là nếu gặp địch hoặc bọn cướp biển anh em chúng tôi sẽ chiến đấu tới cùng. Nếu gặp được tàu thuyền nước khác cứu trợ nhân đạo thì chúng tôi để họ cứu và sau dó xin trở về Tổ quốc Việt Nam.

- Báo cáo, có tiếng máy bay - Chiến sĩ công binh Phạm Văn Hạnh làm nhiệm vụ trực canh nói dõng dạc. Hường và Có hướng dẫn 29 người vượt biên trở vào vị trí quy định  rồi lao về vị trí chỉ huy. Tiếp đó anh ra lệnh toàn pông-tông sẵn sàng chiến đấu và cử người đốt một ngọn lửa to ở giữa một boong để báo hiệu pông-tông bị nạn. Đống lửa vừa bùng lên, một chiếc máy bay trên thân có  một ngôi sao lướt qua đầu. Bẵng đi hai phút lại thấy ba máy bay nữa lướt qua. Hường vừa ra lệnh đốt đống lửa to hơn, vừa tự tay cuộn tất cả tài liệu, giấy tờ đưa vào ống nhựa bịt kín để có sao thì dễ xử lý. Cùng lúc đó, Đoàn  Văn Có chuẩn bị xong khối thuốc nổ đưa xuống đáy pông-tông sản sang điểm hỏa nhấn chìm pông-tông khi gặp  tình huống xấu.

Mọi việc vừa chuẩn bị xong thì một chiếc máy bay trực  thăng bay tới. Sau 8 vòng bay chéo cách mặt pông-tông chừng 10 mét. Từ trong máy bay một chiếc thang dây từ từ thả xuống, kế theo là một người cao to mặc bộ đồ bay lần theo thang dây bước xuống. Khi người đó xuống cách pông-tông chừng một mét thì dừng lại. Hường ra hiệu cho Có chỉ huy thay anh, rồi Hường đi tay không tiến về vị trí người ở thang dây. Tới nơi anh chào bằng tiếng Nga. Người trên thang dây đáp lại bằng tiếng Anh, và tiếp đó họ mời Hường lên máy bay. Theo từng bậc thang dây, Hường lên  tới cửa máy bay thì anh phát hiện ra người, máy bay và cờ của Mỹ, Hường đang định quay xuống thì những người máy trên máy bay vội ngăn lại và nói: "Chúng tôi là lực lượng ở hàng không mẫu hạm CV-61 của quân đội Mỹ tới cứu các anh bị nạn. Thế các anh thuộc lực lượng nào? Vì sao lại có mặt ở đây?". Hường nghe kỹ câu hỏi của người chỉ huy máy bay Mỹ rồi trả lời: "Chúng tôi là sĩ quan, thủy thủ Hải quân Nhân dân Việt Nam đang thực hiện nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền Việt Nam ở quần đảo Trường Sa thì bị nạn. Phương tiện của chúng tôi không điều khiển được sự điều động nên bị trôi dạt đến đây
- Các anh có bao nhiêu người ? 
Chúng tôi có x người. Cách đây 3 ngay chúng tôi đã  cứu được 29 dân Việt Nam bị trôi dạt trên biển.
- Hàng không mấu hạm CV-61 sẽ cứu nạn tất cả. Anh xuống thông báo cho mọi người cùng biết. Chuyến máy bay này chúng tôi chở các sĩ quan và thủy thủ Hải quân Việt Nam, còn 3 chiếc xuồng từ hàng không mẫu hạm CV-61 đang tới sẽ chở 29 ngươi dân bị nạn cùng về tàu.

Anh chào 3 người Mỹ trên máy bay rồi leo thang xuống  mặt pông-tông. Anh vừa bước xuống, tất cả anh em xúm lại và hỏi tình hình. Hường thông báo cho mọi người biết  những điều anh và ba người Mỹ vừa nói, rồi anh ra lệnh cho anh em tháo hết khóa nòng súng bó thành những bó giấu vào khoang chứa dầu. Kính ngắm ĐKZ, B.40, B.41 ...tháo ra cất kỹ nơi khô ráo của pông-tông. Tiếp đó cất giấu các tài liệu mật và thống nhất quy ước liên lạc với nhauđề phòng khi lên hàng không mẫu hạm CV-61 không được  ở cùng phòng với nhau. Riêng hệ thống điểm hỏa có liên  quan tới khối thuốc nổ đã gắn ở chỗ kín dưới đáy  pông-tông vẫn đế nguyên sẵn sàng sử dụng khi  cần thiết.Tiếp đó, Hường phân công trung úy Đoàn Văn Có, binh nhất Nguyễn Văn Hiền và Võ Bích Quang rời pông-tông sau cùng. Còn khi lên hàng không mẫu hạm CV-61, mọi việc để anh và Có lo liệu. Ai không có nhiệm vụ, không  được trả lời ngoài các nội dung đã quy định. Sau khi thống  nhất ý kiến với anh em, Hường tới gặp 29 người vượt biên thông báo các vấn đề liên quan và quy định số lượng người xuống từng xuồng.
Logged

Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM