Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 04 Tháng Mười Một, 2026, 05:34:50 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Trường Sa - Tập văn thơ  (Đọc 39888 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
phonglan
Thành viên
*
Bài viết: 500


Nụ hoa và cây súng


« Trả lời #30 vào lúc: 17 Tháng Mười Một, 2009, 03:48:38 pm »


Mọi việc phân công xong, anh trở lại vị trí chỉ huy để điều hành công việc. Xa xa chiếc hàng không mẫu hạm CV-61 đã dừng lại buông neo cách vị trí pông-tông chừng hai hải lý. Trước mặt anh, 3 chiếc xuồng của hàng không mẫu hạm đang lướt nhanh trên mặt sóng tiến về phía pông-tông. Hường lại trao đổi với Có vài tín  hiệu và trả lời khi lên tàu CV-61 và giao cho Có bắt đầu điều hành 29 người vượt biên xuống 3 xuồng. Anh bước lại thang dây và bắt đầu trèo lên máy bay, ba người Mỹ ra cửa  máy bay đón Hường. Họ yêu cầu anh gọi tên từng người một lên máy bay: Hường đồng ý và ra cửa máy bay gọi  vọng xuống. Sau khi tổ chức cho 3 xuồng chở người tị nạn rời khỏi pông-tông, đồng chí Quang lên máy bay trước, tiếp đến đồng chí Hiền, lên sau cùng là đồng chí Có. Theo lệnh của Hường, Nguyễn Hữu Hiệp trèo lên thang dây. Hiệp vừa trèo lên hai bậc thang thì tự nhiên thấy thang dây cứ vật đi vật lại liên tiếp làm Hiệp chóng mặt. Khi toàn thân Hiệp mỏi nhử thì thang rút lên rất nhanh. Tới cửa máy, ba người Mỹ ra đỡ Hiệp vào nằm ở khoang máy bay đã chuẩn bị sẵn. Cứ như vậy tất cả mọi người khi lên tới máy bay đều bất tỉnh. Theo dõi việc chuyển người lên máy bay vừa rồi, Hường hiểu ngay là họ sợ các anh sẽ cướp máy bay nên phải quăng quật cho tất cả mệt nhoài trước khi bước  vào khoang máy bay của họ. Khi tất cả mọi người bắt đầu  tỉnh thì máy bay rồ máy nâng lên cao, rồi bay về hàng không mẫu hạm. 

...

Lại nói về đất liền. Ngay sau khi nhận được tin các cán bộ chiến sĩ bị nạn ở đảo chìm Đá Nam, tư lệnh cùng các phó tư lệnh Hải quân và các sĩ quan tham mưu triệu tập họp khẩn cấp bàn các phương án tìm kiếm. Ngay đêm xảy ra tai nạn, các biên đội tàu đang hoạt động ở khu vực Trường Sa được lệnh đi tìm. Sáng hôm sau, nhiều biên đội tàu khác được lệnh rời cảng, hành trình khẩn cấp về các tọa độ dự kiến trên các hướng. Cùng lúc các máy bay trực ở sân bay ven biển cũng được lệnh rời đường băng. Mặc dù sóng to, gió lớn, nhưng vì sinh mạng đồng đội, các biên đội tàu đi tìm vẫn cần mẫn lao trong sóng gió tiến về các hướng. Sang ngày thứ 12 các tàu và máy bay đi tìm chưa phát hiện được vết tích gì của chiếc pông-tông và các cán bộ, chiến sĩ bị nạn. Cuộc tìm kiếm bắt đầu sang ngày thứ 13...

*
* *
Logged

Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
phonglan
Thành viên
*
Bài viết: 500


Nụ hoa và cây súng


« Trả lời #31 vào lúc: 17 Tháng Mười Một, 2009, 03:50:40 pm »


Chiếc trực thăng hạ cánh xuống đường băng của hàng không mẫu hạm CV-61. Hường cùng anh em lục tục bước xuống. Trước mặt các anh là hai viên sĩ quan và 20 thủy binh ở đội nghi lễ cả hàng không mẫu hạm đứng đón. Anh em ta đáp lại nghi lễ của tàu bằng những nụ cười tươi và ánh mắt thiện cảm. Theo hướng dẫn của người sĩ quan trực, các anh cùng đi vào một phòng chờ ở chân cầu thang tầng 1. Phút sau, một sĩ quan khác có lẽ là sĩ quan tham mưu của tàu tới gặp.
- Xin các anh cho biết ý định và nguyện vọng của các anh ?
Hường nói đĩnh đạc:  
- Chúng tôi có nguyện vọng duy nhất là tất cả anh em tôi và 29 người dân tị nạn sẽ được đưa tới một nước nào gần nhất và có đại sứ quán của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Khi tàu này hành trình về nước đó, đề nghị các anh cho kéo theo chiếc pông-tông của chúng tôi và yêu cầu niêm phong pông-tông nguyên dạng như hiện nay.
- Để tôi báo cáo ý  kiến này về Bộ chỉ huy hàng không mẫu hạm.  

Hai phút sau, người sĩ quan quay lại nói:
- Cấp trên của chúng tôi đã O.K (đồng ý). Nước có đại sứ quán Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở gần đây nhất là Philippin; hiện tại pông-tông của các anh đã trôi cách philippin hơn 40 hải lý về phía đông bắc rồi. Nơi đây là đường hàng hải quốc tế thuộc Thái Bình Dương. Hàng không mẫu hạm của chúng tôi đang đi làm nhiệm vụ ở Thái Bình Dương, không có nhiệm vụ đi vào lãnh hải của  Philippin. Vả lại chiếc pông-tông của các anh sắp bị chìm.Nếu có thể chỉ kéo đi thêm 3 hải lý nữa, là chìm hẳn. Do vậy, bây giờ các anh tự quyết định xử lý chiếc pông-tông của các anh.

Hường trao đổi với anh em một lát, rồi nói: Chúng tôi đề nghị đánh chìm pông-tông và đánh dấu tọa độ pông-tông chìm lên hải đồ. Tiến trình từ đầu tới lúc pông-tông chìm hẳn, tất cả chúng tôi cũng được theo dõi và chứng kiến.

Người sĩ quan Mỹ tỏ ý nhất trí hoàn toàn những lời đề nghị của Hường và anh em. Tiếp đó người sĩ quan mời các anh sang phỏng xem phim để trực tiếp xem camêra việc thực hiện đánh chìm pông-tông. Khi các anh ngồi chưa nóng chỗ thì trên màn ảnh hiện ra một chiếc xuồng chở ba người nhái lướt nhanh tới pông-tông. Khi tới pông-tông, ba người lặn xuống các vị trí trọng yếu cua pông-tông đặt thuốc nổ. Sau khi kiểm tra tỉ mỉ, ba người nhái lên xuồng trở về hàng không mẫu hạm. Chưa đầy 4 phút sau một cột nước bốc lên cao kèm theo một tiếng nổ dữ dội. Chiếc pông-tông tù từ chìm xuống. Theo dõi qua camêra đến đoạn  này tất cả anh em cùng ôm nhau khóc nức nở. Bởi chiếc pông-tông kia chính là ngôi nhà thân thiết mà các anh đã  sống trên đó bao ngày đêm giữa đại dương... Anh em kéo nhau ra khỏi phòng viđêô trở về phòng chờ chưa đầy 1 phút sau, có hai người mặc áo blu trắng có lẽ là bác sĩ tới mời anh em về phòng nghỉ. Nơi nghỉ của anh em là khu  vực bệnh viện của tàu. Hai người Mỹ dẫn từng người vào  từng giường tiếp đó họ phát cho mỗi người một bộ quần áo dài, một bộ đồ lót rồi hướng dẫn anh em đi tắm. Sau khi tắm xong, anh em vừa trở về phòng nghỉ thì hai người mặc áo blu trắng yêu cầu các anh đi khám sức khỏe. Anh em lần lượt kiểm tra sức khỏe ở đủ 5 phòng khám. Họ khám rất tỉ mỉ, hết thử máu lại nghe, rồi chiếu, chụp, và lại nghe. Sau khi kiểm tra sức khỏe xong, họ lại yêu cầu từng người vào phòng tiêm. Trong lúc anh em đang nghi hoặc và lưỡng lự về việc tiêm phòng thì có 3 quân nhân của hàng không mẫu hạm người nhỏ nhắn tới gặp anh em nói: "Ba chúng tôi đều là người Việt Nam. Gia đình chúng tôi sang Mỹ ở đã lâu, chúng tôi đang làm nghĩa vụ quân sự theo  hiến pháp của nước Mỹ và luật quân sự của quân đội Mỹ. Đây là thuốc tốt, các anh cứ tiêm, đừng ngại. Tất cả những ai cứ bước chân lên tàu đều phải kiềm tra sức khỏe và  tiêm phòng". Nghe người cùng màu da của mình nói vậy, Hường cùng anh em thứ tự bước vào nơi tiêm phòng. Tiêm phòng tay trái, còn tay phải họ tiêm hai phát thuốc bổ một phát vào bắp, một phát vào ven.

Bữa ăn đầu tiên ở hàng không mẫu hạm CV-61 là cơm  và các món ăn Việt Nam. 15 ngày chịu đói khát, bây giờ dược thưởng thức các món ăn ngon, anh em vừa động viên  nhau ăn vừa nói chuyện vui vẻ. Mọi người được biết chiếc hàng không mẫu hạm CV-61 này là chiếc tàu sân bay lớn nhất, nhì của Hải quân Mỹ, tàu này có lượng dãn nước  trên 15 vạn tấn, từ mặt boong trở lên, tàu có 17 tầng, từ mặt boong trở xuống hầm tàu còn sâu hàng chục mét có hàng trăm khoang hàng, khoang vũ khí, hầm chứa máy bay, chứa xăng dầu và trang thiết bị. Hiện tại tàu biên chế  5.000 sĩ quan và thủy thủ. Tàu đang chở 70 máy bay chiến đấu các loại .

- Khá nhỉ! Tàu to gấp hàng nghìn lần chiếc pông-tông của ta mà thỉnh thoảng còn duềnh lên duềnh xuống thế này nữa là chiếc pông-tông bị giữa vòng xoáy cuộn của dông...!

Trong lúc anh em đang trò chuyện to nhỏ, thì người sĩ  quan trực của tàu Mỹ thông báo: 19 giờ tối nay, hạm trưởng của hàng không mẫu hạm sẽ tới nói chuyện với các anh. Còn nguyện vọng của các anh sẽ được thực hiện. Lúc 14 giờ chiều nay, chúng tôi đã điện về căn cứ Hải quân  Clác của Mỹ ở Philippin thông báo tình hình cứu nạn và  đề nghị căn cứ Clác thông báo cho Đại sứ quán Việt Nam ở thủ đô Manila về số người bị nạn trên tàu CV-61.
- Xin cám ơn sự giúp đỡ của các ông - Hường nói với  người sĩ quan trực của tàu.

19 giờ kém 5 phút, người sĩ quan trực tới mời các anh về phòng họp. Đúng 19 giờ, hạm trưởng tàu CV-61 bước vào phòng họp. Đi cùng với hạm trưởng có 3 sĩ quan tùy tùng và 2 người lính phiên dịch Việt Nam.

- Xin chào hai ngài sĩ quan và các thủy binh Hải quân Việt Nam. Tôi tới gặp các bạn hơi muộn, nhưng trong 1 giờ đông hồ này cũng đủ thời gian để chúng ta tâm sự với nhau.

Hạm trưởng nói tới đâu, hai người lính Việt Nam cùng phiên dịch tới đó. Sau khi mời anh em ta dùng cô ca cô la và bánh sữa, hạm trưởng vui vẻ nói: Chắc chúng ta còn nhớ  ngày này cách đây 25 năm. Đúng vào cái giờ phút cứu được các bạn lên tàu hôm nay thì cũng đúng vào cái giờ phút xảy ra trận chiến đấu quyết liệt giữa ba tàu phóng ngư lôi  của Hải quân Việt Nam và khu trục hạm Ma Đốc của Mỹ  25 năm về trước. 25 năm đã trôi qua đi, chúng ta nhắc lại  để cùng nhau nhớ sự kiện ấy. Bây giờ tôi muốn nói với các  bạn một điều là tình thế lúc bấy giờ phải như vậy, mong các bạn thông cảm để quên đi những gì mà hải quân hai  nước chúng ta đã phải tiến hành vừa qua. Kể từ sau khi  chính quyền Sài Gòn sụp đổ tới nay đã 14 năm. Hơn một thập kỷ qua nhân dân hai nước chúng ta cùng mong muốn quan hệ bình thường với nhau, nhưng vì có nhiều lý do  chưa thông cảm với nhau được, nên hai nước Mỹ và Việt Nam chưa xích lại gần nhau được như mong muốn. Nhưng chính nhân dân và quân đội và các bạn đã làm cho nhiều người Mỹ chúng tôi khâm phục, quý trọng. Chỉ nói riêng việc đối sách trên biển, chính Hải quân Nhân dân Việt Nam đã hai lần cứu giúp các lực lượng Hải quân Mỹ bị nạn trong khu vực quần đảo Trường Sa. Lần cứu giúp gần đây  nhất là mùa hè năm 1988. Chắc tất cả chúng ta còn nhớ, nhưng nhân đây tôi vẫn nhắc lại để khỏi phụ lòng các bạn Việt Nam. Đó là lúc 11 giờ 30 phút trưa hôm ấy chiếc máy  bay vận tải hạng nhẹ của Hải quân Mỹ bay từ Singapo về căn cứ không quân Xubích, Philippin. Khi bay tới ngang đảo Đá Lớn thuộc quần đảo Trường Sa thì bị tai nạn. Máy  bay rơi xuống biển. Tàu săn ngầm số hiệu HQ-11 của Hải quân Việt Nam đang hoạt động ở gần đó đã lao tới đưa 3 xuồng ra cấp cứu an toàn 3 phi công của chúng tôi. Sau đó  theo đường ngoại giao, Nhà nước Việt Nam đã trả 3 phi  công bị nạn đó trở về Mỹ sum họp với gia đình. Khi trở về  Mỹ, 3 phi công bị nạn đó đã quả quyết là hôm ấy không có Hải quân Việt Nam cứu giúp thì không bao giờ họ được gặp  lại gia đình nữa. Trong đoàn phi hành hôm ấy có 1 nữ phi  công. Lúc đó chị đang mang thai 3 tháng. Chị kể lại rằng:  Hải quân Việt Nam đối xử với tổ phi công cua chị rất tận tình và nhân đạo. Sắp xếp cho họ ở phòng sang trọng nhất  của tàu, và mặc dù biết tàu HQ-11 hoạt động ở Trường Sa đã lâu, nhưng cả tàu đã quyên góp giúp đỡ họ đủ đường, sữa, thuốc men, quần áo, mì tôm, thuốc lá... Tàu HQ-11 còn phân công 1 sĩ quan tên là Nguyễn Huy Tuấn nói giỏi tiếng  Anh và tiếng Nga tới tâm sự và trao đổi các vấn đề với tổ phi công. Tàu HQ-11 còn cử 1 quân y sĩ chăm lo sức khỏe và một nhân viên chuyên lo việc ăn uống cho 3 người. Tại tàu, cả 3 phi công đều được tiêm thuốc dưỡng sinh. Ngày hôm sau, tàu HQ-187 nhận được lệnh chở tổ phi công của chị về thành phố Hồ Chí Minh - Việt Nam. Đi hộ tống cho tàu HQ-187 chở tổ phi công là hai tàu HQ-613 và HA-965.Suốt chặng đường từ Đảo Đá Lớn về thành phố Hồ Chí Minh, sĩ quan và thủy thủ tàu HQ-187 đã hết lòng giúp đỡ, chăm lo cho sinh mạng 3 phi công của chúng tôi. Theo lời hứa của chị ấy, trước lúc rời sân bay Tan Sơn Nhất là: "Khi sinh cháu, tôi sẽ đặt cháu theo tên tàu của Hải quân Việt Nam. Đây là đứa con của Hải quân Nhân dân Việt Nam". Tháng giêng năm nay chị đã sinh cháu trai và chị đã đặt tên cháu HQ-11-87...
« Sửa lần cuối: 17 Tháng Mười Một, 2009, 03:59:26 pm gửi bởi phonglan » Logged

Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
phonglan
Thành viên
*
Bài viết: 500


Nụ hoa và cây súng


« Trả lời #32 vào lúc: 17 Tháng Mười Một, 2009, 03:51:47 pm »


Hôm nay, tàu CV-61 chúng tôi cứu nạn các bạn trên biển không phải là để trả ơn các bạn, mà cái chính là chúng ta tự nghĩ về nhau, để hiểu nhau hơn. Chúng tôi sẽ làm tròn trách nhiệm cứu hộ nhân đạo khi gặp tàu thuyền bị nạn trên biển. Còn ngày mai, đúng 8 giờ. máy bay của  tàu CV-61 sẽ chở các bạn về căn cứ Hải quân Philippin thuộc tỉnh Xê: tiếp đó chúng tôi sẽ chở 29 người dân tị  nạn tới giao cho nhà chức trách cửa nước sở tại. 

Sau đó hạm trưởng hàng không mẫu hạm CV-61 đã  thăm hỏi tình hình gia đình và riêng tư của anh em. Trong  lời đáp của mình, Hường thay mặt anh em cảm ơn hạm trưởng cùng toàn thể sĩ quan, thủy thủ, nhân viên tàu CV-61 đã cứu giúp các anh qua nạn. Anh nói với hạm trưởng tàu CV-61 là khi trở về Tổ quốc, anh sẽ báo cáo  với Bộ Tư lệnh Hải quân Việt Nam về mọi việc đã xảy ra.

Trước lúc trở về vị trí chỉ huy của tàu, hạm trưởng tàu  CV-61 nói trân trọng: Theo báo cảo của các sĩ quan và nhân viên dưới quyền tôi trong 7 giờ qua, chúng tôi rất khâm phục về tinh thần kỷ luật và nếp sống của các bạn. Chúc các bạn trở về Tổ quốc mạnh khỏe, bình an. Sau đó  hạm trưởng đi bắt tay từng người rồi cùng các sĩ quan tùy tùng rời khỏi phòng họp.

7 giờ 40 phút ngày hôm sau, một. sĩ quan trực của tàu CV-61 vào phòng nghỉ mời anh em ra máy bay. Khi ra tới  đường băng, các anh đã trông thấy đông đủ các sĩ quan và  đội nghi lễ của tàu đứng chờ tạm biệt: Đúng 8 giờ, chiếc máy bay lên thẳng rời đường băng bay về hướng Tây. Sau 1 giờ đồng hồ bay trên biển, đến 9 giờ máy bay hạ cánh  xuống sân bay của căn cứ Hai quân thuộc tỉnh Xê của Philíppin. Việc bàn giao các cán bộ, chiến sĩ Hải quân Việt Nam cho nhà chức trách tỉnh Xê được thực hiện nhanh chóng. Tại căn cứ này, việc đầu tiên của các anh là tắm rửa, kiểm tra sức khỏe, tiêm phòng và nhận một bộ quần áo dài, một bộ đồ lót, sau đó được hướng dẫn về nơi ở. Trong căn cứ này, họ sắp xếp sĩ quan ở riêng, thủy thủ ở riêng. 19 giờ hôm đó, có một thượng tướng an ninh của  Philippin tới gặp gỡ thăm hỏi anh em và thông báo 8 giờ  sáng ngày hôm sau sẽ có cán bộ đại sứ quán ta tới đây  trực tiếp đón anh em về thủ đô Manila. Đêm đó đã diễn ra   một vài cuộc gặp gỡ ngoài kế hoạch. Vì mệt và đang sống  trên miền đất lạ nên anh em ít tham gia chuyện, chỉ chủ yếu cảm ơn về sự giúp đỡ của chính quyền tỉnh Xê và căn cứ Hải quân sở tại.

10 giờ sáng hôm sau anh em đã có mặt tại Manila. Sống giữa tình thương của cán bộ, nhân viên đại sứ quán ta, anh em thấy mình như đang sống ở nhà. Qua 2 ngày nghỉ ngơi, anh em nhận quần áo thuốc men và các món quà đại sứ quán ta và nhân dân Philippin gửi tặng. Sau đó một chuyến máy bay riêng chở cán bộ, chiến sĩ ta rời thủ đô Manila (Philippin) về hạ cánh an tòan xuống sân bay Tân Sơn Nhất thành phố Hồ Chí Minh. Những ngày gặp nạn trên biển đã qua. Các anh đã trở về với gia đình và vòng tay yêu thương của đồng đội. 



                                                                                                                    T.H.N 

Logged

Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
phonglan
Thành viên
*
Bài viết: 500


Nụ hoa và cây súng


« Trả lời #33 vào lúc: 17 Tháng Mười Một, 2009, 03:54:47 pm »


Khuất Quang Thụy 


 
HÀNH TRÌNH THUẬN CHIỀU 



                                                                                                                   Bút ký


TẢN MẠN TRƯỚC MỘT CHUYẾN ĐI
Trước hết, tôi xin phép được giải thích đôi chút về cái "tít" hơi có vẻ kỳ quặc của bài viết này. Chẳng là, trong hai số tạp chí Văn nghệ Quân đội đầu năm nay (số 2 và số 3) tôi đã đưa đăng bài bút ký "Hành trình ngược chiều"  đó là một bài bút ký điều tra về những hiện tượng phạm tội trong hoạt động kinh tế của một vài người trong ngành Hàng không dân dụng. Theo phân công của Tòa soạn, tôi đang say sưa với cuộc "Hành trình ngược chiều" của mình  để, "truy tìm" bọn tội phạm (dĩ nhiên chỉ bằng con đường của một nhà văn). Trên bàn làm việc của tôi còn xếp một chồng hồ sơ các vụ án mà Cục điều tra hình sự cho mượn về nghiên cứu. Cuộc "hành trình" này quả là chẳng vui vẻ gì nhưng tôi cũng hy vọng sẽ góp được một tiếng nói vào  sự nghiệp đổi mới của đất nước và của quân đội thông qua  việc nhìn thẳng vào sự thật, dù là những sự thật "ngược chiều" với bản chất, truyền thống của quân đội ta. Nếu  cuộc hành trình đó của tôi mà "thuận buồm xuôi gió" thì  bạn đọc còn có dịp đọc thêm những bài bút ký điều tra nữa trong những số báo tới. Nhưng... bỗng đùng một cái "biển Đông nổi sóng", sự kiện Trường Sa nổ ra đã gây nên sự xúc động lớn cho cả nước. Lần đầu tiên báo đăng danh sách 74 chiến sĩ thân yêu cua chúng ta bị mất tích trong các cuộc chiến đấu trên biển. Như thường lệ, tòa soạn của chúng tôi lại sôi sục lên. Và... tôi nhận được lệnh hãy để  bọn tội phạm hình sự đấy chuẩn bị cho một chuyến đi viết về nhưng người chiến sĩ anh hùng của chúng ta đang chiến  đấu bảo vệ Trường Sa.

Thế là tôi lại được phóng về hướng thuận chiều, hướng quen thuộc, hướng đi đến với những con người đại diện cho  phẩm chất truyền thống anh hùng của quân đội ta. Kể  cũng thú vị. Giống như một con lắc đang ở cực này văng  sang cực kìa. Sự "chuyển gam" như vậy có lẽ cũng rất có  ích đối với tôi nhưng sẽ vất vả. Bởi, lần này không phải chỉ là sang Cục điều tra hình sự mượn tài liệu về đọc hay  nghe các đồng chí cán bộ điều tra kể chuyện, mà sẽ phải có một chuyến đi xa. Nhưng khi gặp các chiến sĩ Trường Sa, tôi cũng sẽ có nhiều chuyện kể với họ, tôi sẽ kể cho  họ nghe về bọn tội phạm, về cuộc đấu tranh chống tiêu  cực, chống bảo thủ để đổi mới đang diễn ra quyết liệt trên  đất liền, làm trong sạch lại bầu không khí xã hội. Tôi nghĩ  rằng, những điều đó sẽ giúp cho những người lính ở phía  trước tin tưởng hơn ở hậu phương thân yêu, tin tưởng hơn vào Đảng vào dân mà vững vàng thêm tay súng.

Trong những ngày tháng tư này ở khắp đất nước mọi người đều nói tới Trường Sa, đều băn khoăn, lo lắng. Ở Hà Nội cũng vậy. Báo chí đã đưa tin đối phương chiếm mất một số đảo. Nhiều người băn khoăn tự hỏi "Liệu chúng ta có giữ vững được lãnh thổ và lãnh hải của mình không?". Nhân dân khắp nơi, thông qua các cơ quan đoàn thể đều tìm cách biểu hiện sự quan tâm của mình tới Trường Sa bằng cách gởi nhiều quà biếu cho chiến sĩ Trường Sa. Nhưng tôi tin rằng ít người biết hết, hiểu hết được nỗi gian khổ, hy sinh của những người lính Trường Sa. 

Đọc trên báo Nhân dân, trong bản danh sách những  người mất tích tôi thấy có tên một người cùng quê; anh Kiều Văn Lập ở thôn Phú Long, xã Long Xuyên, huyện Phúc Thọ, Hà Nội. Làng Phú Long của anh chỉ cách làng  tôi một cánh đồng. Những năm chiến tranh, trường cấp III Phúc Thọ đã sơ tán về đây, hàng ngày tôi vẫn đi qua cánh đồng đó đến lớp. Tôi không biết anh, nhưng tôi biết khá rõ về cái làng nhỏ ở ven đô sông Hồng ấy. Khi báo chí đưa tin về những người mất tích, Hội phụ nữ Hà Nội và một vài cơ quan chính quyền ở địa phương đã tới thăm và an ủi gia đình anh. Nhưng, không ai có thể trả lời được rằng liệu anh có còn trở về nữa không. Không ai trả lời được. Những người có lương tri trên thế giới bắt đầu lo ngại nhìn về Thái Bình Dương.

Cũng phải nói rõ thêm một sự thật khác, rằng ở hậu phương không phải không có những người chẳng hề quan tâm tới sự kiện nóng bỏng này. Họ cứ ngỡ rằng Trường Sa xa lắm! Trên biên giới phía Bắc súng nổ ình ình quanh  năm còn chẳng ăn nhằm gì nữa là nhăm nhe mấy cái đảo đá tít mù ngoài khơi. Lại nghe nói có những cái đảo chỉ  nhỏ như cái sân bóng, lại còn chìm dưới nước hoặc chỉ nổi  lập lờ khi triều xuống! Thế thì... béo bở gì mà phải giữ cho mệt? Nhưng phải nhắc lại rằng, hầu như tất cả mọi cuộc xâm lăng của kẻ thù vào đất nước chúng ta chẳng đã bắt đầu từ biển vào đó sao? Thời đại ngày nay, khoảng cách mấy trăm hải lý đâu đã phải là một khoảng cách an toàn? Cha ông ta từ xa xưa cũng đả nghĩ tới những hòn đảo tiền đồn này rồi, phên dậu nước nhà cần phải được củng cố  vững chắc mọi hướng. Với một dải bờ biển kéo dài tới 3.500 km thì chiến lược phòng thủ Tổ quốc trong tương lai phải được xây dựng trên từng ngọn sóng của hải phận. Mỗi hòn đảo trong hải phận của Tổ quốc sẽ trở thành một tiền đồn. Ấy là chưa kể đến nguồn lợi kinh tế mà những kẻ xâm lược luôn luôn thèm muốn trên thềm lục địa của nước ta.

Vì vậy tôi nghĩ rằng Trường Sa rất gần gũi với mọi người. Hãy nghĩ tới những người lính của chúng ta đang đứng chơi vơi nơi đầu sóng, đối mặt với một hạm đội mạnh có tới gần sáu trăm tàu có trang bị tên lửa và pháo 130 ly với âm mưu thâm hiểm và tham vọng biến biển Đông thành ao nhà của họ. Hãy nghĩ tới 74 chiến sĩ mất tích và hàng trăm chiến sĩ khác đã anh dũng hy sinh trên mặt biển và trên những hòn đảo san hô.

Trong mấy năm qua, tình hình kinh tế của đất nước sút kém, đời sống đang khó khăn, lòng tin bị xói mòn, kỷ cương lỏng lẻo, lẽ công bằng bị xâm phạm... Từng ấy thứ đã khiến chúng ta có lúc nghĩ tới "chủ nghĩa anh hùng Việt Nam" như một cái gì đó có vẻ "tô hồng". Thậm chí có người đã nghi ngờ nó và cho rằng đó chỉ là sản phẩm của một thời lãng mạn đã qua. Từ một hiện thực phức tạp người ta đi đến sự hoài nghi cả quá khứ. Có lẽ đó không phải là tâm lý lành mạnh.

Vì vậy, cuộc hành trình theo chiều thuận này trước hết là có ích với bản thân tôi. Đó là hành trình để nhận thức lại về bản thân mình về dân tộc mình.

Logged

Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
phonglan
Thành viên
*
Bài viết: 500


Nụ hoa và cây súng


« Trả lời #34 vào lúc: 17 Tháng Mười Một, 2009, 03:57:17 pm »


NƠI CON TÀU RỜI BẾN 


Nói tới biển có nghĩa là nói tới những người thủy thủ và những con tàu. Nói tới Trường Sa cũng có nghĩa là nói tới trách nhiệm nặng nề thiêng liêng mà Tổ quốc trao cho Hải quân nhân dân. 

Chúng tôi tới Hải đoàn M28 và nhập ngay vào không khí chiến đấu sôi sục. Sở chỉ huy Hải đoàn vắng ngắt, tất cả đều đã ra biển hoặc đang ở trên cảng, tham gia vào việc chuẩn bị cho những con tàu rời bến. Tới đây chúng tôi mới hiểu cuộc chiến đấu ở ngoài khơi xa kia phụ thuộc vào đất liền biết bao. Đất liền không phải chỉ nơi thường xuyên chi viện cơ sở vật chất, từ giọt nước tới viên đạn, mà còn là niềm tin, là chỗ dựa cho người lính đang chốt giữ trên các hòn đảo san hô giữa trùng khơi. Đất liền vững vàng và hùng mạnh thì người lính đảo càng chắc tay súng, đất liền sống trong sáng đẹp đẽ thì lòng người lính đảo cũng thanh thản vô tư.

Những ngày vừa qua, đọc trên báo thấy địa phương nào, đoàn thể nào cũng có những hoạt động hướng về Trường Sa, nhiều địa phương, cơ sở sản xuất đã quyên góp ủng hộ các chiến sĩ Trường Sa. Tôi đã thử làm một con số thống kê căn cứ vào những bài đăng trên báo và ngạc nhiên khi thấy con số giá trị đã lên đến hàng trăm triệu đồng.

Nếu tất cả những số tiền và hàng hóa có đến được tận tay những người lính bảo vệ Trường Sa thì thực sự có một sức mạnh. Trước hết, người lính đảo sẽ yên tâm rằng đất liền luôn nhớ tới họ, tin tưởng và hy vọng ở họ. Hàng   ngày, đứng trên những đảo đá san hô chỉ nhỏ như những quả trứng trước đại dương mênh mông, những người lính giữ đảo luôn hướng về đất liền mà trông đợi. Họ reo lên sung sướng mỗi khi nhìn thấy bóng dáng một con tàu. Và, mỗi khi tàu cập đảo thì thực sự là một ngày hội. Có những đảo xa, sáu bảy tháng mới có một lần tàu cập đảo. Người trên tàu, người trên đảo vừa ôm nhau vừa rưng rưng nước mắt!

- Các anh từ cảng nào đến với chúng tôi vậy? 

Đó là một trong những câu hỏi đầu tiên mà các thủy thủ thường phải trả lời những người giữ đảo. Đất nước ta  có tới 3.500km bờ biển. Từ bất cứ miền nào dọc theo cái  hình chữ S ấy cũng có thể xuất phát một con tàu. Nhưng nếu là con tàu ấy xuất phát từ những nơi gần quê hương mình hơn thì vẫn thích hơn chứ.

Chúng tôi đang ở một trong những nơi xuất phát những con tàu ấy.

Bạn đọc có thể ngạc nhiên nếu tôi nói ngay rằng đây là một đoàn tàu làm kinh tế biển, một đoàn tàu đánh cá của hải quân nhân dân chứ không phải là một đoàn tàu chiến hùng hậu... Nhưng... hãy khoan, ở đây tôi không định  kể chuyện cá mú, mặc dù cũng có rất nhiều điều thú vị xung quanh đề tài này. Chúng ta đang nói chuyện về những ngày tháng sôi sục vừa qua ở Trường Sa. Đây là câu chuyện về những người thủy thủ đã một sớm một chiều từ người lính đánh cá trở thành lính chiến, giành giật từng hòn đảo san hô với địch như thế nào ?

Trung tá, Phó đoàn trưởng về chính trị Triệu Đức Hiển đã dành thời gian để kể cho chúng tôi nghe về quá trình hình thành và phát triển của hải đoàn M.28. Sau chiến tranh chống Mỹ, do chủ trương kết hợp kinh tế với quốc phòng mà đoàn M28 được thành lập dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Cục kinh tế, Bộ Tư lệnh Hải quân. Đoàn M28 có nhiệm vụ vừa đánh cá vừa kết hợp tuần tra, kiểm soát trên biển bằng các loại tàu nhỏ có vũ trang. Sau mấy năm làm ăn, đoàn đã chuyển dần từ bao cấp sang hạch toán kinh tế. Nghĩa là những người lính đã có thể khai thác tài nguyên trên biển để tự nuôi nhau và nuôi những con tàu của mình. Nói thì đơn giản, nhưng hãy thử hình dung mỗi tháng đoàn phải kiếm cho ra gần bốn triệu đồng tiền lương và cũng tương đương một số tiền như vậy để nuôi tàu. Mỗi khi có một con tàu phải lên đốc sửa chữa là hàng triệu đồng đi đứt. Những trường hợp phải đại tu thì tốn phí có thể tới hàng chục triệu. Duy trì được một đoàn tàu đánh cá là cả một kỳ công. Ngay các xí nghiệp đánh cá quốc doanh của nhà nước được đầu tư lớn được quyền chủ động trong kinh  doanh mà vẫn còn đang toát mồ hôi ra vì thua lỗ. Có lẽ vì thế mà một thời gian ở các cơ quan trên Bộ, người ta đã đề xuất phương án "xóa sổ" các đơn vị hải quân làm kinh tế trên biển. Những luận cứ của quan điểm này cũng không phải không có lý - Muốn quân đội tiến lên chính quy, hiện đại thì "quân đội phải ra quân đội", chứ không thể cứ du kích, nửa ngư dân nửa lính thuỷ được! Nhưng, Bộ tư lệnh Hải quân nhân dân và những người lãnh đạo, chỉ huy bộ đội Hải quân làm kinh tế trên biển đã căn cứ vào tình hình thực tiễn của đất nước và kinh nghiệm của hải quântrong kháng chiến chống Mỹ cứu nước đi đến kết luận rằng: phương hướng kết hợp kinh tế với quốc phòng là phương hướng đúng và cần thiết trong giai đoạn hiện nay để bảo đảm cho Hải quân vừa xây dựng, củng cố lực lượng vừa bảo vệ được lãnh hải của Tổ quốc. Hải quân của ta chưa mạnh, chưa có đủ những đoàn tàu chiến hoạt động dài ngày và có sức cơ động lớn trên biển, lãnh hải của ta lại rộng lớn, vì vậy chỉ có cách duy trì  những đoàn tàu nhỏ, sức dãn nước vài trăm tấn, tiêu hao nhiên liệu ít, có thể hoạt động liên tục dài ngày trên biển, vừa đánh cá tự nuôi mình, nuôi tàu, vừa làm nhiệm vụ tuần biển, rèn luyện thuỷ thủ; thì mới có thể hoàn thành được sứ mạng  của Hải quân nhân dân mà Tổ quốc đã giao cho là bảo đảm an toàn lãnh hải của Tổ quốc. Các đoàn tàu chiến của ta  \chưa nhiều. Vả lại, trong điều kiện đất nước còn nghèo, bảo đảm cho một đoàn tàu chiến hoạt động trên biển không phải là chuyện đơn giản. Một tàu tuần biển loại vừa, chưa phải loại hiện đại, hoạt động một giờ trên biển đã đốt hết hàng chục tấn dầu, chưa kể tới những chi phí khác. Với nhiên liệu ấy, một tàu đánh cá vũ trang cỡ nhỏ có thể hoạt động hàng tuần trên biển.

Nhưng, điều đáng nói nhất là, thông qua hoạt động kinh tế kết hợp với quốc phòng trên biển, bộ đội Hải quân đã đào tạo được một đội ngũ thuyền trưởng và thủy thủ dày  dạn với sóng gió, quen thuộc biển cả, luồng lạch. Để có những thủy thủ và thuyền trưởng cự phách như vậy, không một trường huấn luyện nào có thể làm nổi. Những người lính dày dạn sóng gió và thuộc biển như lòng bàn tay ấy vừa qua đã trở thành những người anh hùng trên biển. Chính họ đã làm nên những kỳ tích.
 
Tôi đã nhận thức ra điều đó trong những ngày làm việc ở đoàn M28. Con số 1037 tấn cá và 626 ngàn lít nước mắm đoàn sản xuất được trong năm 1987, tạo ra 15 triệu đồng tiền lãi, không phải là không hấp dẫn. Nhưng hấp dẫn hơn cả là thông qua quá trình lao dộng, rèn luyện trên biển cả, đoàn M28 đã tạo dựng nên những người lính biển dày dạn, dũng cảm và trong sáng. Điều đó thật khó mà có thể "hạch toán" được.

Sự kiện Trường Sa được cả nước biết đến kể từ sau ngày 14 tháng 3, khi máu đã thực sự đổ ra trên biển. Nhưng cuộc chiến đấu của những người lính hải quân bao vệ Trường Sa đã bắt đầu từ lâu. 

Tôi muốn trở lại một cái mốc thời gian gần nhất, đó là cuối tháng 10 năm 1987.

Vào thời điểm này, ý đồ của nhà cầm quyền Bắc Kinh xâm chiếm một số đảo trên quần đảo Trường Sa của ta đã lộ rõ. Hạm đội Nam Hải của Trưng Quốc đã có mặt quanh khu vực Trường Sa và trên Vịnh Bắc Bộ. Bộ đội Hải quân ta đã phải sẵn sàng chuẩn bị để bước vào chiến đấu. Một loạt tàu đánh cá, tàu vận tải của Hải quân ta hoạt động khắp nơi dọc theo bờ biển của đất nước đã được lệnh báo động, một số tàu đánh cá được gọi gấp về căn cứ nhận nhiệm vụ mới. Trong số những con tàu ấy có hai con tàu số 701 và 712 của đoàn M.78 mà giờ đây tên tuổi đã trở nên quen thuộc với tất cả chúng ta.

Đang đánh cá ở vùng biển Cát Bà, hai tàu 701 và 712 vội vã trở về căn cứ. Vừa cập cảng, hai thuyền trưởng quần áo vẫn còn tanh mùi cá, đã nhận được lệnhchuẩn bị gấp để lên đường ra chi viện cho Trường Sa. Lệnh bốn ngày phải nhổ neo. Bốn ngày, hàng ngàn công việc phải chuẩn bị cho con tàu. Bốc cá lên, sửa chữa sơ qua những chỗ hỏng hóc, nạp nhiên liệu, nước ngọt, hàng chi viện cho đảo, lương thực, thực phẩm, súng đạn... Không ai có thời gian để nghĩ đến mình, đến gia đình. Thuyền trưởng tàu 712, Nguyễn Văn Thuỷ vợ sắp đẻ đến nơi rồi nhưng anh cũng không có thời gian để giúp vợ chuẩn bị "nằm ổ". Trung úy Hoàng Minh Thao thợ máy, được lệnh điều động gấp xuống tàu trước ba tiếng khi tàu nhổ neo. Đến xếp lại cái ba lô cũng vội, chưa nói gì đến chuyện  riêng tư. Mà trong những ngày tháng này, mỗi người đều có bao nhiêu điều phải lo nghĩ bao nhiêu điều còn phải để lại trên bờ. Hoàng Minh Thao đang làm nhiệm vụ trên biển thì được tin mẹ mất, Nguyễn Văn Thủy nhổ neo sáu ngày thì vợ đẻ con trai - lại một thuỷ thủ tương lai. Nhưng quyền lợi của dân tộc, của đất nước lúc này đã được đặt lên trên hết. Chính vì vậy mà tất cả các con tàu đều nhổ neo đúng giờ quy định. Như đã nói ở trên, để những người lính trên biển hoàn thành nhiệm vụ, đất liền phải cố gắng rất nhiều, phải xứng đáng hơn.

Ở đây tôi đang nói về đất liền, nói về nơi những con tàu rời bến. Tôi chưa kể về hành trình của những con tàu. Vì vậy, chúng ta hãy vui lòng lướt qua một quãng thời gian để tới đêm giao thừa Tết Mậu Thìn vừa qua.

Đêm ba mươi Tết, cơ quan đoàn bộ M28 đang chuẩn bị cho buổi đón giao thừa thì có lệnh gọi đoàn trưởng Lê Văn Giá và đoàn phó Triệu Đức Hiền lên cơ quan cấp trên nhận  nhiệm vụ gấp. Hai tiếng sau, khi hai thủ trưởng đoàn trở  về thì mọi người được biết rằng trên biển đã diễn ra những sự kiện hết sức quan trọng và xúc động. Tàu 601 do biên đội trưởng Nguyên Văn Tân và thuyền trưởng Hà Văn Thái chỉ huy đã lao lên đảo Đá Lớn, hy sinh con tàu để khẳng định chủ quyền của Tổ quốc đối với hòn đảo này trước mũi một biên đội tàu chiến của đối phương đang lăm le định lên chiếm đảo. Bộ Tư lệnh đã lệnh cho đoàn phải sửa chữa gấp tàu 709 để khẩn cấp lên đường đi chi viện.

Thế là buổi đón giao thừa lập tức biến thành buổi giao ban tác chiến để bàn thực hiện nhiệm vụ. Khi tiếng pháo nổ giòn khắp các thôn xóm, báo hiệu sự bắt đầu của một năm mới thì phương án sửa chữa, khôi phục con tàu, phương án biên chế tàu và các phương án bảo đảm khác cũng đã hình thành. Ngay lập tức, các cơ quan đoàn bộ phóng người đi thu gom anh em thủy thủ, thợ máy đang nghỉ tết ở các địa phương về để đi nhận nhiệm vụ. Ban kỹ thuật của đoàn lập tức triển khai phương án sửa chữa tàu.
Logged

Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
phonglan
Thành viên
*
Bài viết: 500


Nụ hoa và cây súng


« Trả lời #35 vào lúc: 17 Tháng Mười Một, 2009, 04:13:44 pm »


Cũng phải nói qua một chút về tàu 709. Đây là loại tàu đánh cá 400 mã lực, sức dãn nước khoảng 350 tấn, được thiết kế và đóng tại Trung Quốc theo đơn đặt hàng của Việt Nam từ những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Thời hạn sử dụng theo thiết kế đã hết từ lâu, thời hạn kéo dài sử dụng "để tiết kiệm" cũng đã hết... Con tàu đã hoàn thành vẻ vang nhiệm vụ của mình và đã "về hưu". Nghĩa là đã được đưa tới bãi thải, chuẩn bị thanh lý. Tàu đã ngừng hoạt động hơn một năm, đoàn thủy thủ của tàu đã mỗi người mỗi ngả đi nhận nhiệm vụ khác.

Với một điều kiện như vậy, mà tàu 709 phải bằng mọi giá "hồi sinh" trong vòng một tuần lễ để đi chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, thì thật là một điều kỳ diệu ! Và... 709 đã hồi sinh. Trước hết là đoàn thủy thủ, tối mồng một tết thì cả mười hai người, từ thuyền trưởng đến các thủy thủ, thợ máy đã được triệu tập về đủ. Trong khi đó trạm sửa chữa của đoàn bắt đầu công việc của mình, anh em thợ của trạm chia làm ba ca làm việc liên tục để hồi sinh con tàu. Tất cả cán bộ từ đoàn trưởng, đoàn phó đến trợ lý các cơ quan được huy động để tham gia công tác đảm bảo hậu cần cho tàu. Từ viên đạn, hạt gạo, lít nước ngọt, bó rau xanh đều được đưa xuống tận cầu cảng.

Trong khi ấy cả nước đang đón xuân. Tết năm nay mưa gió suốt mấy ngày trời, người ta ít ra khỏi nhà hơn mọi năm, lượng rượu thịt, cà phê, thuốc lá... vì thế có lẽ cũng được tiêu thụ nhiều hơn mọi năm. Có một ông giám đốc công ty khoe với tác giả của bài viết này rằng, tết năm nay ông ta vừa tròn sáu chục tuổi, được anh em trong công ty thương yêu rất mực nên tổ chức một lễ mừng thủ trưởng "lên lão", rất sang trọng, với hai chục mét pháo mừng, hơn năm mươi chai rượu ngoại và bảy két bia.

Trong khi đó con tàu 709 đang được hồi sinh. 

Trong khi đó thủy thủ của tàu 701 chốt trên con tàu của mình vừa tự mình đánh chìm trên đảo Đá Lớn, lênh đênh giữa trời nước, cũng đang đón xuân với hào phóng khí trời và nước biển. Nắm hương của họ mang đốt lên trên mũi con tàu dã cháy hết, họ nhìn về đất liền và tự hỏi "không biết ở trong kia năm nay người ta ăn tết có vui không?".

Trong khi đó, ở nhiều đảo trên quần đảo Trường Sa các chiến sĩ của chúng ta không nhận được hàng tết. Họ sẽ không trách đồng đội, khi họ biết rằng nhiều tàu đang chở hàng tết ra cho đảo đã đột ngột được lệnh thay đổi nhiệm vụ đi chốt giữ nhưng nơi hiểm yếu trên biển.

Nhưng đồng đội ở đất liền luôn nghĩ tới họ. Và vì họ mà con tàu 709 đã hồi sinh vào ngày mồng năm tết, ngày Quang Trung vào thành Thăng Long. Và, ngày mồng 6 tết tàu 709 đã rời đốc, nổ máy ra khơi luôn, không một giờ chạy thử. Con tàu đã chấp nhận mạo hiểm. Mười hai thủy thủ trên con tàu đã chấp nhận mạo hiểm! Có lẽ, trên thế  giới này, chỉ có những người thủy thủ Việt Nam mới dám chấp nhận ra khơi xa với những con tàu nhỏ rách nát ọp ẹp như vậy. An ninh Tổ quốc đang bị đe dọa và đồng đội của họ ngoài khơi xa kia dang mỏi mắt ngóng chờ. Vì vậy, phai ra khơi. Trên bến cảng chỉ có những người lính đưa tiễn những người lính.

Vào cuối tháng 3, đoàn thủy thu của tàu 701 đã trở về căn cứ. Họ đã trở về nguyên vẹn, không thiếu một ai, trừ con tàu mà họ đã để lại trên đảo Đá Lớn như một tấm bia chủ quyền. Đồng chí tư lệnh hải quân đã tới thăm hỏi họ và nghe họ kể về những giờ phút quyết định nhất, khi họ chấp hành mệnh lệnh lao tàu lên đảo Đá Lớn. Nghe xong, ông vui vẻ kết luận: "Chúng ta đã hành động đúng vào những giây phút quyết định đó. Mất một con tàu nhưng chúng ta đã bảo vệ được chủ quyền của một hòn đảo.

Sau ít ngày nghỉ ngơi, đoàn thủy thủ tàu 701 lại được lệnh tiếp nhận một con tàu mới. Lần này là một con tàu lớn sức dãn nước tới 1.500 tấn. Nhưng... cũng lại là một con tàu đã đến tuổi thanh lý từ lâu. Nó có tên là Sông Thao, do công ty vận tai biển III bàn giao cho. Con tàu này được chế tạo tại Hunggari theo thiết kế của Liên Xô, đã được hạ thủy từ năm 1960. Nghĩa là đã có tới 28 năm thâm niên hoạt động trên sông biển. Cùng xêry với nó có 2 con tàu khác, cũng được Liên Xô chuyển nhượng cho ta một lần, đều đã được thanh lý. Riêng Sông Thao vẫn kiên cường hoạt động theo phương châm tiết kiệm của Việt Nam. Nó cũng đã già lão, ọp ẹp. Khi mới nhìn thấy nó trên cảng, anh em thủy thủ tàu 701 cũng thấy khoái mắt. Tàu Tây hẳn hoi cơ mà. Nhưng, khi bắt đầu làm thủ tục tiếp nhận nó, hiểu hết ngóc ngách của nó, sự già lão của nó, mới thấy đáng sợ. Nhưng trong lúc nước sôi lửa bỏng như thế này, có được một con tàu có sức chở lớn như vậy cũng là  quý rồi.

Đoàn M28 lại sôi sục lên vì con tàu mới. Mệnh lệnh là phải khẩn trương, tiếp nhận sửa chữa củng cố, học thao tác, sử dụng trong vòng... nửa tháng, để chuẩn bị ra khơi. Thế là, lại như mấy ngày tết chuẩn bị cho 709 lên đường, toàn đoàn M28 lại làm việc quên ngày quên đêm. Một đồng chí trợ lý ở cơ quan đoàn bộ đã tóm tắt nỗi vất vả ấy thành một câu:

Từ ngày có cái Sông Thao
Râu ria ông nào cũng thấy dài ra!

Logged

Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
phonglan
Thành viên
*
Bài viết: 500


Nụ hoa và cây súng


« Trả lời #36 vào lúc: 23 Tháng Mười Hai, 2009, 10:48:50 am »


CHUYẾN ĐI BIỂN CUỐI CÙNG CỦA TÀU 701


Trước khi bắt đầu cuộc hành trình của tàu Sông Thao chúng ta hãy trở lại cuộc hành trình cuối cùng của con tàu 701 anh hùng trên hải phận của Tổ quốc.

Từ căn cứ của hải đoàn, tàu 701 cùng tàu 712 hình thành một biên đội do đại úy Nguyễn Văn Tân làm biên đội trưởng, đại úy Đặng Ngọc Thuần làm phó biên đội trưởng về chính trị, đi làm nhiệm vụ ở vùng biển phía nam. Nhưng vào tới Cam Ranh tàu 712 bị hỏng máy phải sửa chữa nên tàu 701 chuẩn bị lên đường ra tiếp tế cho Trường Sa với tàu 671. Biên đội ghép này vẫn do đại úy Nguyễn Văn Tân chỉ huy. Lần này ra đảo, hai tàu 701 và 671, ngoài cơ số lương thực, thực phẩm, nước ngọt của mình và nhưng hàng hóa vật liệu chở ra đảo theo nhiệm vụ còn mang theo cả nhu yếu phẩm và hàng tết cho anh em trên đảo trong đó có cả bò và lợn, gà. Nhiệm vụ trên giao vẫn như vậy, vừa làm nhiệm vụ vận tải vừa trinh sát tuần biển và sẵn sàng cơ động khi cần thiết.

Ngày 31 tháng 1 biên đội xuất phát. Ra đến Trường Sa Lớn, biên đội gặp một biên đội bạn, hai bên cập mạn trao đổi tình hình. Biên đội trưởng Nguyễn Văn Tân gặp các thuyền trưởng của hai tàu bạn và biết rằng hiện nay tàu đối phương đã neo ở bãi Đá Chữ Thập rất nhiều chiếc tàu khác đang lảng vảng quanh các đảo của ta. Chính họ đã bị hai tàu chiến này đuổi theo, áp hai bên mạn khiêu khích liên tục một tiếng đồng hồ.

Theo lịch trình, biên đội tiếp tục phải đi đến Nam Yết để trả hàng và đưa mười cán bộ, chiến sĩ đi công tác trở về đảo. Nhưng, trước tình hình đó trên đã điện ra cho biên đội, ra lệnh đi đảo Đá Lớn ở vĩ độ Bắc 10 độ 04 phút 30 giây và kinh độ Đông 114 độ 0'00'' Nhiệm vụ, trinh sát và sẵn sàng chiến đấu bảo vệ đảo.

Từ nhiệm vụ vận tải, biên đội lập tức chuyển sang trạng thái sẵn sàng làm nhiệm vụ chiến đấu. Theo lệnh của biên đội trưởng Nguyễn Văn Tân cả hai tàu 701 và 671 chuyển hướng, nhằm đảo Đá Lớn mà đè sóng lướt tới. Gió mùa đông bắc về. Mưa suốt ngày. Mặt biển sục sôi, sóng cấp 6 cấp 7. Đã được rèn luyện nhiều trên biển nên hầu hết thủy thủ trên hai tàu vẫn tỉnh táo. Chỉ có điều gió lớn không đun nấu gì được, anh em phải ăn uống thất  thường nên sức khỏe có giảm sút đôi chút. Hai giờ chiều  ngày 6 tháng 2 năm 1987 biên đội đến đảo Đá Lớn. Quan  sát trên mặt biển không thấy bóng tàu đối phương, biên  đội trưởng Nguyễn Văn Tân ra lệnh cho tàu 701 neo ở Nam đảo, tàu 671 neo ở Bắc đảo. Triển khai xong, báo cáo về Bộ chỉ huy và nhận được mệnh lệnh: "Chốt lại giữ đảo cho đến khi có lệnh mới!".

Đảo Đá Lớn là một hòn đảo nằm án ngữ phía tây cụm đảo phía bắc của quần đảo Trường Sa. Đảo có chiều dài hai chục kilômét, chiều ngang hơn một ngàn mét. Toàn bộ hòn  đảo còn chìm dưới sóng nước, chỉ nổi lên mặt nước chừng hơn một mét vào những giờ thuỷ triều xuống thấp nhất. Vào những giờ triều lên đảo nằm sâu dưới một mét tám mươi phân nước. Trong tương lai, do những biến động của vỏ trái đất, khi đảo hoàn toàn nổi lên trên mặt nước thì đảo này sẽ là một hòn đảo lớn, có vị trí hết sức quan trọng và có tiềm năng kinh tế lớn. Trên đảo có một hồ rộng, hình miệng núi lửa, rất đẹp và nhiều cá. Đá Lớn là hòn đảo đã được khẳng định chủ quyền của Việt Nam từ lâu  nhưng ta chưa đủ lực lượng để chốt giữ. Vì thế, trong tình  hình căng thẳng này, hai tàu 701 và 671 phải làm nhiệm vụ của những người lính canh giữ đảo. 

Tết nhất sắp đến rồi. Nhìn thấy đống hàng tết của anh em trên một số đảo vẫn còn nằm trên tàu mà sốt ruột. Nhưng... biết làm sao được? Giữ đảo là trên hết, hàng tết  có đến chậm hẳn anh em mình cũng rộng lượng mà thể tất cho. Trên tàu 701 có một chú bò. Do không dự kiến  được tình hình đột xuất này nên tàu không dự trữ đủ cỏ khô cho chú ta. Ăn hết cỏ khô, chú bắt đầu rống suốt ngày vì đói ăn. Bí quá, anh em thuỷ thủ trên tàu nghĩ ra cách cho chú nhai thử bìa các tông của các kiện hàng đồ hộp. Thứ này quả là không hấp dẫn gì với họ nhà bò. Nhưng đói quá chú nhai tuốt. Đến khi ... không còn một mảnh bìa các tông nào cho chú nhai nữa, anh em thủy thủ nghĩ rằng  người ăn cơm mà sống được tại sao bò lại không thể ăn cơm nhỉ? Thế là nhà bếp được báo thêm một suất nữa cho ông khách quý hóa này... Nhưng... vì thiếu chất tươi và  vì sóng to gió lớn, chú bò thân yêu đã lăn đùng ra chết. Con lợn có vẻ chịu sóng gió tài hơn, nó đã sống được cho đến khi phải "hy sinh vì nhiệm vụ". 

Biên đội chốt trên đảo Đá Lớn cho đến ngày 14 tháng 2. Buổi chiều hôm đó có ba tàu chiến của đối phương tiến vào phía nam đảo. Chúng chạy đi chạy lại chờn vờn, giương oai diễu võ gần tàu 701 của ta. Thủ đoạn của chúng là để dọa, nếu ta non gan nhổ neo là lập tức chúng sẽ lao lên chiếm đảo.

Lệnh sẵn sàng chiến đấu được truyền cho các tàu. Thông tin trên tàu trực canh, liên tục giữ liên lạc với Sở chỉ huy và với cụm đảo.

Đêm 14 tháng 2. Gió lớn. Mưa rền rĩ trên biến. Sóng cấp 7. Biển tối đen như mực. Tàu đối phương vẫn lảng vảng đâu đó. Hình như chúng tắt đèn, thả trôi, chờ thời cơ lên chiếm đảo của ta.

21 giờ. Lệnh của Sở chỉ huy: Lợi dụng thủy triều, đưa tàu lên mặt đảo. Nhắc: Chú ý bảo đảm an toàn, bằng giá nào cũng phải lên được mặt đảo, không được để tàu lật hoặc va vào đá vỡ tàu. Nếu tàu lật hoặc vỡ tàu sẽ lập tức bị sóng cuốn ra biển, sự hy sinh con tàu sẽ trở nên vô ích và tất cả các thành viên trên tàu cũng rất ít khả năng sống sót.

Biên đội trưởng Nguyễn Văn Tân ở trên tàu 701 lập tức thông báo mệnh lệnh của Bộ chỉ huy cho tàu 671 và cùng thuyền trưởng tàu 701 Hà Văn Thái bàn phương án lên đảo. Chi bộ Đảng trên tàu lập tức được triệu tập để nghe thông báo quyết tâm của người chỉ huy và bàn cách thực hiện quyết tâm ấy. Cả bảy đảng viên của chi bộ đều biểu lộ quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ. Mọi người trở về vị trí của mình và thông báo cho thủy thủ trên tàu biết nhiệm vụ và quyết tâm của chỉ huy và chi bộ tàu. 

Lệnh nhổ neo. 

Biển động dữ dội. Tàu lần theo mép đảo, lúc nào cũng có nguy cơ bị hất vào đá. Nước triều chưa lên cao, loay hoay hơn một giờ tàu vẫn chưa tìm được luồng lạch thuận lợi để lao lên đảo. Thuyền trưởng Hà Văn Thái quyết định cho tàu lùi ra để tính toán lại luồng lạch.

1 giờ 30 phút, thuyền trưởng và biên đội trưởng quyết định cho tàu lao vào lần thứ hai. Nước triều đã bắt đầu xuống, bụng tàu bị sóng đập thình thình trên đá. Biết chắc  chắn là đáy tàu sẽ bị vỡ nhưng nhưng người chỉ huy vẫn kiên quyết cho tàu lao tới. Cuối cùng, tàu đã lên được mặt đảo. Một con sóng lớn hất văng tàu quay mũi ra phía biển, trưởng tàu có nguy cơ bị sóng hất ra, nhưng may sao, tàu  rơi đúng vào một gộp đá, mắc cứng lại. 

Thế là tàu 701 đã vĩnh viễn nằm lại tên đảo Đá Lớn. Nước bắt đầu ào vào, chìm hết khoang hàng và boong tàu. Thuyền trưởng Hà Văn Thái ra lệnh cho thủy thu dọn đồ đạc đem lên ca bin chỉ huy và điện báo về đất liền xin phương tiện cấp cứu anh em trên tàu.
 
Lệnh của Sở chỉ huy: Để lại một tổ chốt trên đảo còn toàn bộ thủy thủ của tàu 701 bơi ra tàu 671 tiếp tục nhiệm vụ bảo vệ đảo. Tàu 671 cũng đã lên đảo an toàn vì tàu nhỏ và cơ động thuận hơn nên Sở chỉ huy đồng ý cho 671 rút ra để đón anh em trên tàu 701.

7 giờ 30 phút sáng (27 tết) ba tàu chiến của đối phương trong đó có một tàu chiến loại lớn mang số hiệu l64 tiến vào đảo. Chiếc tàu này yểm trợ cho hai chiếc tàu loại nhỏ hơn mang số 551 và 552 tiến sát vào tận mép đảo. Lúc này nước triều đã xuống, đảo Đá Lớn đã nổi lên trên mặt đại dương. Bọn xâm lược nhìn lên và giật mình kinh ngạc khi thấy trên đảo đã có một con tàu của Việt Nam đứng sừng sững. Chúng lồng lộn, quay cuồng một lát rồi vội vã kéo nhau đi.

Đêm hôm sau, vào quãng 10 giờ tàu 671 đã tới được khu  vực tàu 701. Thuyền trưởng Nguyễn Đình Cúc và các thủy thủ bơi vào đảo, căng dây cho anh em trên 701 lần theo bơi ra tàu trong đêm tối mênh mông. Thuyền trưởng Hà Văn Thái cùng bốn thủy thủ gồm các đồng chí Đỗ Quang Hòa, Nguyễn Tiến Lừng, Trần Văn Bôn và Nguyễn Văn Phúc (báo vụ) tình nguyện chốt lại trên con tàu bây giờ đã trở thành một chiếc lô cốt, trở thành bia chủ quyền trên đảo Đá Lớn. 

Đây là một trận đánh thực sự tuy không phải nổ súng, chấp nhận đương đầu với sóng gió, với đêm tối và đại dương có nghĩa là các anh đã sẵn sàng chấp nhận sự hy sinh thân mình. Vào những giây phút quyết định lao tàu lên đảo, tính mạng của mười lăm con người đã thực sự treo trên đầu sợi tóc. Cơ may thành công không phải là nhiều. Nhưng các anh đã thành công, sự thành công ấy không chỉ là kết quả của lòng dũng cảm, trí thông minh, sự dạn dày sóng gió và kinh nghiệm đương đầu với hiểm nghèo trên đại dương, mà trong đó còn có cả sự may mắn.

Tàu 701 và tàu 671 đã được tặng thưởng huân chương Quân công hạng ba và được đề nghị tuyên dương là những đơn vị anh hùng. Tổ quốc đã đánh giá đúng lòng dũng cảm và tinh thần sẵn sàng hy sinh của các anh.

Vào những ngày cả nước vui vẻ đón xuân thì các anh đã trải qua cuộc chiến đấu một mất một còn ấy. Sau khi đồng đội rời đảo trở về tàu 671, trên đảo còn năm con người tình nguyện trụ lại. Họ lấy con tàu làm điểm tựa, sẵn sàng chấp nhận chiến đấu nếu địch đổ bộ lên đảo. Khi triều xuống, đảo nổi lên, con tàu nằm trơ trên bãi đá, khi triều lên cả đảo chìm trong sóng nước, con tàu chỉ còn lại cabin chỉ huy không ngập nước. Thuyền trưởng Hà Văn Thái và các chiến sĩ của anh ăn ngủ, sinh hoạt trên cái cabin chật hẹp đó. Và cũng như mọi người dân Việt Nam trên khắp đất nước, họ cũng chuẩn bị đón xuân. Cả tàu còn lại một con gà. Thái quyết định để dành cho bữa liên hoan đón giao thừa. Nhưng rủi thay chiều ba mươi tết, những người lính dũng cảm của chúng ta đã run tay khi cắt tiết chú gà duy nhất ấy. Tay dao vừa rơi ra, chú gà liền vùng dậy và ... chồm xuống biển. Sóng lập tức vồ lấy và cuốn ra khơi làm vật hiến tế thần biển anh linh. Năm chiến sĩ ngơ ngác nhìn nhau, không nói nên lời.

Đã gần đến giờ giao thừa. Biên đội trưởng Nguyên Văn Tân và thuyền trưởng Cúc cùng thủy thủ của hai con tàu  đang chuẩn bị bữa liên hoan đạm bạc của mình trên tàu  671 thì bỗng nghe có tiếng gọi ... từ dưới biển, rồi bên mạn tàu nhô lên một cái đầu ướt rượt. "Trời ơi Bôn! Cậu bơi ra đây làm gì thế?" - Biên đội trưởng Tân hốt hoảng kêu lên anh nghĩ có chuyện gì xảy ra trên đảo. Thủy thủ Trần Văn Bôn vừa thở vừa trình bày lý do cuộc mạo hiểm của mình: Gà bay mất, anh em trên đảo không có gì liên hoan đón giao thừa nên... Nhìn ra mặt biển đêm tối đen, ầm ì sóng dữ. Biên đội trưởng xúc động không nói nên lời, không nỡ phê bình quở trách chiến sĩ của mình. Anh vội bảo anh em lấy hai gói kẹo, một chai rượu và... một thẻ hương trao cho Bôn và dặn: "Từ giờ trở đi tuyệt đối không được bơi ra tàu trong đêm tối như thế này nữa nhé!". 

Bôn trở về đảo vào lúc sắp giao thừa. Thuyền trưởng Hà Văn Thái trịnh trọng đốt mấy nén hương. Mọi người đều im lặng và không ai bảo ai, đều lặng lẽ quay về hướng đất liền. 

Tôi không dám hỏi các anh xem vào giờ khắc thiêng liêng ấy, giữa biển khơi mênh mông các anh đã nghĩ gì. Vì tôi tin rằng, không ai có thể diễn tả được tình cảm của họ trong giờ khắc ấy. Còn chúng ta, cũng xin đừng suy diễn. Bởi nếu suy diễn sẽ lập tức dẫn đến những khái niệm sáo rỗng, tầm thường. Nếu có thể được, mỗi chúng ta hay thử dùng trí tưởng tượng để hình đung hoàn cảnh của các anh lúc ấy và hãy thử dũng cảm (dù là trong tưởng tượng) tự đặt mình vào khung cảnh ấy. Nếu cuộc “trắc nghiệm" ấy thành công hẳn chúng ta sẽ đều đi đến một kết quả duy nhất, trong ta sẽ nảy sinh lòng biết ơn và một đôi chút hổ thẹn nếu đã có lúc chúng ta đã sống tầm thường. 
Logged

Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
phonglan
Thành viên
*
Bài viết: 500


Nụ hoa và cây súng


« Trả lời #37 vào lúc: 23 Tháng Mười Hai, 2009, 10:49:53 am »


BẰNG MỒ HÔI VÀ MÁU 



Chủ quyền lãnh thổ của một đất nước được khẳng định không phải bằng nước bọt của các chính khách nhiều tham vọng cũng không phải chỉ bằng những cuộc "xâm lăng họa  đồ" như những người cầm quyền ở đâu đó xưa nay vẫn làm. Chủ quyền lãnh thổ của một đất nước bao giờ cũng phải được khẳng định bằng mồ hôi và máu thông qua quá trình khai khẩn, chinh phục thiên nhiên đối với các vùng lãnh thổ do dân tộc đó phát hiện và tiến hành từng bước việc quản lý theo cơ cấu Nhà nước.  

Dân tộc ta đa khẳng định chủ quyền của mình trên quần đảo Trường Sa bằng con đường đó. Tứ rất xa xưa, những đoàn thuyền chiến của các triều đại phong kiến Việt Nam cũng đã nhiều lần chiến thắng sóng dữ để tới những quần đảo san hô này mặc dù lúc đó Hoàng Sa và Trường Sa chưa có một "thần dân" nào. Đây, không phải là một cuộc "du ngoạn" của các tướng lĩnh, mà đó là những cuộc tuần du được thực hiện thường xuyên theo chiếu chỉ của các nhà vua để cài chắc thêm phên dậu nước nhà. Để thực  hiện thành công những cuộc tuần thám như vậy, những người lính thủy Việt Nam từ thuở xa xưa đã phải vượt qua biết bao nhiêu gian khổ hy sinh. Ta cũng biết rằng, dưới các triều đại phong kiến, sinh mạng của một người lính thật chẳng bõ để các nhà chép sử ghi vào sử sách. Đối với họ, lịch sử là lịch sử của những ông hoàng bà chúa, của  các triều đại kế tiếp nhau. Tuy vậy các nhà sử gia phong kiến vẫn buộc phải ghi lại trong sử sách tên một viên cai đội đã từng chỉ huy một đội tuần tiễu đã tiến hành thành công cuộc tuần thám của họ trên vùng biển Hoàng Sa và  Trường Sa, đó là viên cai đội Phạm Quang Ảnh. Đội Ảnh đã thực hiện cuộc tuần binh của mình vào năm 1815. Chắc chắn đây không phải là người lính Trường Sa đầu tiên của thủy quân Việt Nam. Trước đội Ảnh, đã có biết bao nhiêu người lính vô danh đã đổ mồ hôi và máu cho sự nghiệp bảo vệ và khai khẩn những vùng đất mới của Tổ quốc.

Cán bộ và chiến sĩ hải quân nhân dân hôm nay rất tự hào về những người đồng đội đã đi tiên phong trong sự  nghiệp bao vệ Tổ quốc trên đại dương ấy. Nhưng, ở đây tôi không định viết một luận văn lịch sử mà chỉ muốn nhắn lại rằng chúng ta cần phải thừa kế như thế nào một "tầm nhìn xa" như vậy về chiến lược phòng thủ Tổ quốc của cha ông chúng ta. Ở vào thời đại chúng ta, Trường Sa đã trở nên vô cùng thân thuộc và gần gũi. Trên quần đảo đã có một hòn đảo mang tên một thuyền trưởng của hải quân nhân dân, đó là thuyền trưởng Phan Vinh, người đã từng chỉ huy một con tàu không số đưa vũ khí vào miền Nam trong những năm chống Mỹ cứu nước và đã hy sinh tại hòn đảo này. Con đường mòn trên biển mang tên lãnh tụ Hồ Chí Minh đã được cả nước biết tới và đã nổi tiếng trên thế giới, một chặng trên con "đường mòn" ấy là quần đảo Trường Sa. Thiết tưởng, riêng điều đó cũng đủ bảo đảm tính chất hợp pháp về chủ quyền lãnh thổ và lãnh hải của Việt Nam trên vùng biển và hải đảo này rồi, đã là một đoạn đường mòn thì còn có gì là xa lạ?

Biết bao nhiêu mồ hôi và máu của các thế hệ người Việt Nam đã đổ vì quần đao thân yêu này? Hôm nay kẻ thù lại dẫn xác tới đoạn đường mòn thân yêu của đất nước ta, và như một tất yếu, máu và mồ hôi lại thêm một lần tuôn chảy. Đợt công tác ngắn ngủi và gấp gáp vừa qua đã giúp tôi nhìn nhận ra nhiều điều mới mẻ. Trong đó có cả những điều tưởng như đang bị lãng quên, đang dần mòn mỏi trong cuộc sống vất vả và dung tục của ngày hôm nay. Tôi đã cố gắng đến được một vài đơn vị đã đổ nhiều mồ hôi và xương máu nhất trong những tháng vừa qua để thêm một lần khẳng định lại chủ quyền đất nước đối với quần đảo Trường Sa, một trong những đơn vị như vậy là đoàn công binh Sông Mã, một đơn vị đã dược tuyên dương anh hùng năm 1975 vì những chiến công mà đoàn đã lập được trong những năm đánh Mỹ .

Trong chiến dịch mang tên "chủ quyền 88", những Người lính thợ của đoàn công binh Sông Mã đóng một vai trò xứng đáng với truyền thống của mệnh. Họ là những người lính thợ, có nhiệm vụ chủ yếu là xây dựng những công trình sinh hoạt và chiến đấu cho những đơn vị bảo vệ đảo, lấy lao dộng sáng tạo làm phương tiện chủ yếu để cống hiến cho Tổ quốc. Nhưng khi kẻ thù xuất hiện, những người lính thợ ấy, lập tức trở thành lính chiến, họđã chiến đấu dũng cảm như bất kỳ một người lính nào trước kẻ thù mạnh hơn gấp bội. Gương chiến đấu của người chiến sĩ công binh trẻ tuổi Nguyễn Văn Lanh trong ngày 14 tháng 3 trên đảo Gạc Ma là một ví dụ điển hình.

Khi tôi đến đơn vị thì Nguyễn Văn Lanh vẫn còn nằm điều trị tại quân y viện. Nhưng tôi đã gặp được nhiều đồng đội của anh, những người đã cùng anh đứng đối mặt với kẻ thù để bảo vệ lá cờ cua Tổ quốc. Họ đã kể về những hành động của anh một cách chân thực, giản dị như kể về những công việc quai búa đóng cọc, dựng nhà vậy. Hầu như ai cũng bắt đầu bằng một câu giản dị "hôm đó chúng tôi đi trên tàu 604 ra làm nhà cho anh em mình trên đảo Gạc Ma...".

Họ đi làm nhà, đúng thế. Trên tàu 604 có hai đội công binh đo hai đồng chí Trần Văn Phòng và Nguyễn Sĩ Minh chỉ huy. Khi họ đang dùng xuồng chở vật liệu vào đảo thì  đối phương từ ba chiếc tàu chiến kéo tới ào ạt đổ bộ lên. Thấy đối phương đổ quân lên đảo quá đông, một đồng chí chỉ huy trên tàu hô lớn: "Đồng chí nào bơi giỏi hãy bơi vào hỗ trợ cho anh em giữ đảo, bảo vệ cờ". Hàng loạt chiến sĩ công binh đang trên tàu đã lao xuống biển bơi vào đảo phối hợp với số anh em công binh đang chở vật liệu và tổ chốt đảo do thiếu úy Trần Văn Phương chỉ huy. Cuộc vật lộn đã thực sự bát đầu. Chưa có lệnh của cấp trên, các chiến  sĩ của chúng ta kiên trì chưa dùng súng mà chỉ dùng tay không để chống trả, quây thành một vòng tròn, xây lưng với nhau để bảo vệ lá cờ của Tổ quốc.

Nhưng ... họ đã nổ súng. Cùng một lúc chúng nổ súng vào các chiến sĩ ta trên đảo và dùng đại bác cỡ lớn bắn vào ba tàu vận tải của ta: tàu 604 neo cạnh đảo Gạc Ma, tàu 505 neo bên cạnh đảo Cô Lin và tàu 605 neo cạnh đảo Lan Đao. Tàu 604 bị thương nặng, chìm tại chỗ, tàu 605 bốc cháy, tàu 505 cung bị trúng dạn chưn.g thuyền trưởng Nguyễn Ngọc Lễ đã kịp thời ra lệnh kéo neo cho tàu lao lên bãi cạn của đảo Cô Lin.

Tất cả các thủy thủ và anh em công binh còn lại trên tàu 604 đã hy sinh và mất tích.  

Máu đã đổ như vậy đó. Nhiều tình tiết về sự kiện này đã được kể lại trên các báo. Trong khi đó các tàu chiến của đối phương thường xuyên vây hãm khu tàu đắm, ngăn trở các tàu cứu hộ Việt Nam vào làm nhiệm vụ. Tuy vậy, tàu 671, một tàu vận tải nhỏ của hải quân, đã từng có mặt trong đoàn tàu không số trong những năm kháng chiến chống Mỹ vẫn tìm cách vượt qua được vòng đai phong tỏa của tàu chiến của đối phương vào được đảo Cô Lin để đưa các chiến sĩ bị thương về đảo Sinh Tồn cấp cứu. Đó cũng là một hành động anh hùng. Bởi vì chỉ cần một viên đạn đại bác từ các tàu chiến kia bắn tới là con tàu nhỏ nhoi đó sẽchịu chung số phận với tàu 604. Sau này khi gặp lại tàu 671, tôi hơi bất ngờ vì sự nhỏ bé của nó so với những con tàu đi biển xa. Sức chở theo thiết kế của nó cũng chỉ có 50 tấn. Đó là loại tàu được thiết kế riêng cho đoàn tàu không số để có thể luồn lách trong các kinh rạch, các cửa sông của Nam Bộ trước mũi những đội Giang thuyền của Mỹ - ngụy. Điều thứ hai khiến tôi ngạc nhiên là đội thủy thủ của tàu quá trẻ, thuyền trưởng, thượng úy Nguyễn Đình Cúc mới hơn ba mươi tuổi. Vậy mà chính anh, đêm 28 tết  Mậu Thìn vừa qua đã chỉ huy con tàu của mình cùng với tàu 701 lao lên giữ đảo Đá Lớn. Phải là một con người đi biển tài giỏi và dũng cảm mới thực hiện thành công được nhiệm vụ khó khăn đó và đưa con tàu trở về an toàn. Tôi bỗng so sánh cái dáng vẻ hiền lành, khiêm tốn của anh với những tay thuyền trưởng tàu Viễn Dương khụng khiệng điệu đàng, tiêu tiền như rác và cũng khinh người như rác mà tôi đã được gặp một vài lần. Bỗng dưng tôi băn khoăn tự hỏi, không lẽ những người tốt cứ lặng lẽ làm việc, lặng lẽ chiến đấu và hy sinh, nhưng cũng cứ lặng lẽ mà chịu  thiệt thòi? Tiện thể cũng xin kể luôn đến trường hợp của một thuyền trưởng tài ba khác, thuyền trưởng Nguyễn Xuân Thủy, thượng úy, chỉ huy con tàu tiếp nước 931. Hầu như Thủy và đồng đội của anh phải đi biển liên tục. Nhiệm vụ của anh là mang nước ngọt, dòng sữa của đất liền, tới cho tất cả các đảo chìm và đảo nổi, tất cả những con tàu neo đậu. ngoài các đảo. Trong những tháng vừa qua chiếc tàu chở nước của Nguyễn Xuân Thủy là một tàu chịu nhiều căng thẳng nhất, vì các anh phải đi lại nhiều, trên tất cả các luồng lạch của quần đảo, lần nào cũng bị tàu của đối phương chặn đường dọa dẫm, nhiều lần chúng cho tàu cặp sát mạn tàu. 931, chĩa tất cả các loại súng pháo sang rồi gọi loa dọa dẫm. Nhưng chưa lần nào tàu 931 chịu lùi bước. Nếu hỏi bất kỳ một thuyền trưởng nào của hải quân, bất kỳ một chiến sĩ cán bộ nào trên các đảo ngoài Trường Sa rằng, con tàu nào được họ yêu mến, mong đợi nhất thì họ se trả lời đó là 931. Các thuyền trưởng nhất định sẽ công nhận thuyền trưởng tàu 931 là một thuyền trưởng đi biển  nhiều nhất, thuộc luồng lạch và dũng cảm nhất. Nếu lấy Thủy ra mà so sánh với các thuyền trưởng tàu buôn dân sự ta sẽ vô cùng tự hào vì quân đội ta có được những thuyền trưởng giỏi như vậy, năm nay anh mới có 36 tuổi, quân đội còn sử dụng được anh ít nhất là mười năm nữa. Nhưng chúng ta cũng lấy làm buồn khi phải thừa nhận rằng, quânđội nuôi những thuyền trưởng với một chế độ quá chật hẹp. Em trai Thủy cũng là chiến sĩ hải quân đang phục vụ trên tàu 513 ở khu vực cụm đảo Sinh Tồn - một gia dình có hai anh em trai đang ở Trường Sa. Vậy cha mẹ, gia đình họ sống ra sao? Thiết tưởng chúng ta cũng nên ngoái nhìn về "hậu phương thân yêu" của họ một chút. Bố Nguyễn Xuân Thủy cũng là thương binh, hiện đang điều dưỡng và nghỉ ngơi ở Hải Phòng, mẹ Thủy sống một mình ở Thanh Hóa với tuổi già sức yếu, hai anh em thì lênh đênh trên biển, chưa dịp "buông neo" ở đâu để mẹ có con dâu mà nhờ cậy. Mẹ già một mình một bóng nơi quê nhà. Trước tết vừa  qua, mẹ đi quét lá khô về nấu cám, không may trong đống lá có lẫn một viên đạn lép. Khi gặp lửa, viên đạn nổ tung, mẹ bị thương phải đưa đi cấp cứu tại bệnh viện. Hai anh em nhận được bức điện báo tin dữ khi chiến dịch đang ở  vào giai đoạn căng thẳng, vì thế không anh nào có thể về để phụng dưỡng mẹ được. Biết mẹ ở nhà đang vô cùng thiếu thốn nên sau một chuyến đi biển về, Nguyễn Xuân Thuỷ vừa vay vừa tạm ứng lương được một khoản tiền hơn chục ngàn bạc gửi về cho mẹ để mẹ thêm tiền mà thuốc thang, bồi dưỡng. Ba tháng sau Thủy nhận được thư mẹ báo tin rằng, mẹ đã nhận được giấy báo từ lâu, nhưng ba bốn lần ra bưu điện đều được trả lời là chưa có tiền mặt. Mẹ khuyên anh nếu có tiền thì đừng gửi về cho mẹ qua bưu điện nữa, mẹ tuổi già sức yếu không thể cứ chống gậy đi mà đòi tiền suốt ngày này qua ngày khác dược. Nghe những chuyện đại loại như thế về hậu phương của người lính, nghĩ thật buồn. Nhưng ngay trong quân đội chúng ta cũng chưa biết quý trọng nhau, chưa biết tạo ra sự công bằng và đấu tranh để giành lấy quyền lợi chân chính và xứng đáng với mồ hôi và xương máu của người lính thì ta còn biết oán trách ai?

Bây giờ chúng ta hãy trở lại với các chiến sĩ đoàn công binh Sông Ma để hiểu người lính của chúng ta đã lao động và cống hiến cho Tổ quốc như thế nào ?  
« Sửa lần cuối: 23 Tháng Mười Hai, 2009, 01:48:59 pm gửi bởi phonglan » Logged

Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
phonglan
Thành viên
*
Bài viết: 500


Nụ hoa và cây súng


« Trả lời #38 vào lúc: 23 Tháng Mười Hai, 2009, 10:51:44 am »


Trong danh sách 74 người mất tích thì riêng đoàn công binh Sông Mã đã có 32 cán bộ và chiến sĩ. Một tổn thất  như vậy không phải là nhỏ đối với một đơn vị công binh, những người vốn tự coi mình là lính thợ. Chiều ngày 16-3 tin anh em hy sinh và mất tích trên biển đã được chính thức thông báo. Đối với anh em chiến sĩ trẻ, chưa từng trải qua chiến đấu, thì đây là một cú "sốc" lớn. Đảng ủy và Ban chỉ huy đoàn đã tỏ ra băn khoăn, lo lắng không ít về tinh thần và tư tưởng của bộ đội. Nhưng sự lo xa của những người lãnh đạo, chỉ huy đơn vị đã nhanh chóng được giải đáp. Ngay buổi chiều hôm đó, hai đội công binh được lệnh tiếp tục ra đảo. Tất cả các chiến sĩ được phân công đều vui vẻ lên đường, không một ai từ chối nhiệm vụ, không một ai do dự băn khoăn. Ai cũng biết đồng đội của họ vừa hy sinh, ai cũng biết rằng, rất có thể khi ra khơi họ sẽ đụng độ với tàu chiến đối phương. Nếu chúng điên khùng nổ súng thì họ chỉ có mỗi một con đường quyết tử. Vì thế, buổi tiễn đưa anh em ra biển chiều 16-3 có màu sắc, không khí của một buổi tiễn đưa các chiến sĩ cảm tử quân năm xưa. Ban chỉ huy đoàn đều ra bến cảng tiễn anh em ra đi. Bắt tay nhau, kẻ ở người đi vẫn hẹn ngày trở lại, nhưng trong thâm tâm ai cũng nghĩ tới khả năng họ không còn được nhìn thấy nhau nữa. Ngồi trên xe ôtô trên đường ra cảng, các chiến sĩ trẻ vẫn hát vang bài hát "Vì nhân dân quên mình", bài hát đã xưa cũ nhưng trong khung cảnh này bỗng lại thấy thiêng liêng, khiến nhưng người chỉ huy tóc  đã bạc cũng phải rưng rưng nước mắt. Dân tộc ta có lẽ vẫn còn vượng, vẫn còn hào khí vì sau tất cả mọi điều, chúng ta vẫn còn giữ được ngọn lửa thiêng liêng trong lòng đối với Tổ quốc, và vẫn còn những thế hệ, những người trai trẻ sẵn sàng hy sinh thân mình vì độc lập tự do và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước. Nếu để thế hệ ấy mất lòng tin, nếu để thế hệ ấy buồn nản mỗi khi nghĩ đến những bất công của xã hội, nếu để thế hệ ấy cảm thấy mình bị bạc đãi để cuối cùng thế hệ ấy nghĩ rằng những hy sinh của mình trở nên vô ích, thì Tổ quốc và nhân dân sẽ phải trả giá. Có một số người thuộc thế hệ những người lính đánh Mỹ, lớp cha anh họ đã buộc phải nghĩ như vậy sau mười năm giải phóng do những sơ hở và sai lầm của bộ máy hành chính quan liêu bao cấp. Điều đó cần được báo động để tạo nên sự tin tưởng của mỗi người cầm súng. Những người chiến sĩ trẻ sẵn sàng lao vào nơi hiểm nguy và gian nan hôm nay không phải không biết tới nhưng thực tế đáng buồn đó, không có một thủ đoạn chính trị hay nghệ thuật tuyên truyền nào có thể bịt được mắt họ. Nhưng, họ vẫn vui vẻ ra đi, vì họ vẫn còn niềm tin và điều quan trọng hơn, họ vẫn còn nghĩ tới quyền lợi và danh dự của dân tộc.

Khi đơn vị sắp xuống tàu thì có một sự cố. Những người chỉ huy đã phát hiện được bốn chiến sĩ không có tên trong danh sách ra đảo lần này nhưng vẫn khoác ba lô đi theo đơn vị. Đó là các chiến sĩ: Nguyễn Viết Khánh, Phan Thành Chung, Nguyễn Thanh Hùng, Phạm Ngọc Anh. Sau một hồi "làm công tác tư tưởng" những người chỉ huy mới giải thích được cho ba chiến sĩ "thông cảm", mà quay trở về doanh trại. Một người trong số bốn anh chàng "xé rào" ấy đã gặp may, đó là Nguyễn Viết Khánh. Anh được đi thay cho một đồng chí đã bị đau chân nhưng vẫn ỉm đi, không báo cáo đơn vị trước khi đi biển. Anh chàng "láu cá", này đã buộc phải trở về đơn vị.

Kể chuyện này vào giữa năm 1988, tôi cứ băn khoăn tự hỏi mình, liệu người ta có tin vào những điều tốt đẹp như vậy hay không? Liệu có bao nhiêu người khi đọc những dòng trên đây sẽ mỉm cười và buông một câu: "Ôi, mấy cái thằng dở hơi. Nếu đi Tây đi Tàu gì thì còn có lý. Chứ tình nguyện, nhảy vào cái nơi nước sôi lửa bỏng như thế thì thật... hấp!". Và tôi cũng lo khi viết chuyện thực này ra, khéo có người bảo tôi: "Lại tô hồng!". Hồi đánh Mỹ, khi cả nước một lòng, Nam Bắc đều sục sôi, những chuyện đại loại như lấy máu viết đơn xin đi chiến đấu, bỏ đá vào túi cho đủ cân để được đi bộ đội và khóc như trẻ con khi bị bỏ lại trong hậu cứ trong khi đơn vị đi chiến đấu... đã từng là điều dễ hiểu và quen thuộc. Nhưng ngày nay... khi cuộc sống ở phía sau người lính đang ngổn ngang trăm mối, khi người ta đang hàng ngày tính lời bằng "cây" bằng "chỉ”, khi người ta đang chạy đôn chạy đáo hết cửa này đến cửa kia để chen cho được một suất đi lao động ở nước ngoài; khi những "ông bự" đang xây biệt thự và tìm cách tuồn những cậu ấm cô chiêu vào những chỗ thơm trong biên chế nhà nước... thì hành động của bốn chiến sĩ trẻ trên đây quả là những sự lạ lùng đối với họ. Nhưng đối với người lính chúng ta thì đó là điều dễ hiểu, điều thuận chiều, điều đã từng làm nên phẩm chất và vinh quang của "Anh bộ đội Cụ Hồ" và Anh giải phóng quân năm xưa, và đó cũng là thực chất của tinh thần dân tộc ta.  

***

Bây giờ tôi muốn kể về lao động trên biển cả của những người lính. Trước khi kể về điều này, tôi muốn nhắc lại rằng, chúng ta đang sống trong thời đại "ăn đấu làm  khoán". Đã có lúc chúng ta nói đến khoán sản phẩm trong lao động như biểu hiện của sự công bằng xã hội, như một phát minh, như một chìa khóa vàng... Theo cơ chế quản lý này người lao động có được quyền quyết định tương đối về sự hưởng thụ của mình trong lao động. Đó chính là văn minh, là tiến bộ, hơn hẳn cái thời còn quản lý bằng cái kẻng và bằng những cuộc họp bình công chấm điểm. Bây giờ ai làm ra sản phẩm nhiều, vượt khoán nhiều thì sẽ được hưởng nhiều. Chúng ta hoan hô chế độ khoán! Vì nó đề cao vai trò của người lao động chân chính, nó bớt đi được ảo tưởng về tinh thần tự giác trong lao động mà chúng ta vẫn tưởng rằng chúng ta đã trang bị xong xuôi cho môi người lao động trên toàn quốc.

Bộ đội cũng có chế độ khoán, nhưng không phải để làm nhiều thì hưởng nhiều; mà làm nhiều làm nhanh làm tốt là để ... làm nhiều hơn nữa, nhanh hơn nữa, tốt hơn nữa vì lợi ích của Tổ quốc. Khái niệm khoán trong các đơn vị quân đội chỉ có nghĩa là giao nhiệm vụ có định mức thời gian ngặt nghèo (dĩ nhiên ở đây tôi không nói tới các đơn vị làm kinh tế trong quân đội và các xí nghiệp quốc phòng). Theo quy định của cấp trên, đến ngày ấy, tháng ấy, đơn vị anh phải hoàn thành công việc. Nếu vượt thời gian thì rất hoan nghênh (có thể kèm theo một cái bằng khen), còn nếu không hoàn thành nhiệm vụ thì có thể  nhận một cú kỷ luật, nhẹ nhàng cũng phê bình khiển trách. Đơn giản như vậy thôi. Nếu cấp trên hào hiệp thì sau một đợt lao động vượt khoán, có thể ra lệnh cho hậu cần ngả một con lợn để lính làm một bữa tươi tỉnh. Sau đó lại lên đường. Cố nhiên, đã vượt định mức khoán rồi thì chớ có tụt lại phải cố mà vượt nữa, vượt nữa.

Trong những ngày tháng sôi sục vừa qua, do đối phương mở chiến dịch lấn chiếm các đảo trong quần đảo Trường Sa của ta, nên ta phải lập tức tăng cường rào dậu (dĩ nhiên nếu ta tích cực rào dậu từ trước thì hơn là mất bò mới lo làm chuồng). Do đó, nhu cầu bảo đảm nhà ở và các công trình phòng thủ trên các đảo bỗng tăng vụt lên. Gánh nặng đó, trước hết chất lên vai những người lính công binh hải quân.

Nói đến đảo, trên quần đảo Trường Sa có nghĩa là nói đến cả ba loại đảo: đáo đá nổi, đảo nửa chìm nửa nổi (nghĩa là những đảo có nhô lên chút đỉnh khi thủy triều xuống thấp nhất), và đảo chìm, nghĩa là ngay cả khi thủy triều xuống ở mức thấp nhất cũng không nhô lên được khỏi mặt sóng. Với các đảo nổi thì mọi việc đơn giản hơn nhiều, nhưng với hai loại đảo còn lại, nhất là với các đảo chìm thì việc xây dựng các công trình sinh hoạt và chiến đấu cho bộ đội trở nên vô cùng khó khăn. Với một đất nước tiềm lực kinh tế thấp kém và trình độ kỹ thuật lạc hậu như nước ta thì khó khăn trở nên gấp bội. Người ta thiết kế riêng những ngôi nhà dành cho những đảo chìm, lính ta vẫn gọi nôm là “nhà cao cẳng”, nghĩa là nó có nguồn gốc xuất thân từ cái chòi kéo vó bè! Tất cả mọi cấu kiện của ngôi nhà đã được gia công sẵn từ đất liền rồi chất lên tàu, mang ra đảo. Công binh có nhiệm vụ dựng nó lên. Nói một câu như vậy nghe thật ngon lành, nhưng trên thực tế để dựng được một ngôi nhà như vậy giữa mênh mông đại dương, với sóng gió, với giá lạnh mùa đông và nắng lửa mùa hè, với điều kiện ăn uống sinh hoạt kham khổ và với sự đe dọa thường xuyên của những chiếc tàu chiến của đối phương luôn lởn vởn ngoài khơi, không phải là chuyện dễ dàng gì.

Trước hết là việc vận chuyển vật liệu ra đảo, mỗi ngôi nhà như vậy có tổng trọng lượng tới hàng trăm tấn với gần hai chục cây cột xi măng có trọng lượng khoảng sáu trăm  cân một cột, ngoài ra còn có vài chục chiếc dầm gỗ có trọng lượng cũng gần như vậy thêm nữa còn vài chục tấn cấu kiện sắt thép khác. Nếu dùng các loại tàu có sức chở 50 tấn thì phải vài chiếc gắng sức mới chở hết vật liệu cho một ngôi nhà kiểu này. Khi ra đảo các chiến sĩ công binh đều phải dùng xuồng để chuyển tải tất cả khối lượng vật liệu đó lên đảo, cự ly chuyển tải có khi hàng ngàn mét. Thông thường họ đều phải chăng dây nối cố định giữa tàu và đảo rồi lần theo dây mà kéo xuồng chở vật liệu. Sóng yên biển lặng còn dễ, sóng to gió lớn thì thật vô cùng gian khổ, đánh vật với sóng gió để chuyển được cái đống vật liệu đó lên đảo đã hết hơi rồi. Vậy mà cần phải dựng cái đống sắt thép xi măng, gỗ... ấy lên thành nhà, làm sao cho nó đủ sức chống chọi với sóng gió đại dương. Mỗi chân cột phải đào thật sâu, dựng những chiếc cột bê tông, rồi tìm cách đổ bê tông cố định chân cột (mỗi ngôi nhà đều có nhiều cột như vậy). Sau khi dựng cột cố định bằng bê tông rồi thì bắt đầu đưa các dầm gỗ lên tạo ra bộ khung nhà, sau đó tiến hành chống chéo gia cường để tạo độ giằng giữa những chiếc cột. Tiếp đó là giai đoạn lát sàn và làm phần mái.

Một khối lượng công việc to lớn và nặng nhọc như vậy mà thường xuyên phải thi công trong điều kiện dầm mình dưới nước biển thì vô cùng gian khổ và khó khăn. Các bạn đọc của tôi hẳn nhiều người đã được hưởng cái thú tắm biển. Thú vị thật đấy! Nhưng với điều kiện chỉ tắm vài chục phút rồi lên bờ, đi tắm lại bằng nước ngọt, sau đó làm một li nước giải khát. Chứ không phải là dầm nước biển cả ngày, cả tuần, cả tháng mà không thể xa xỉ đến mức dùng nước ngọt mà tắm sau một ngày dầm nước biển. Nước ngọt trên đại dương quý như máu, sức mang của tàu có hạn, phải dùng tiết kiệm đến mức tối đa, thông thường các thuyền trưởng là người trực tiếp quản lý két nước ngọt. Đấy, chúng ta hãy thử dùng trí tưởng tượng của mình mà hình dung ra khung cảnh lao động của những người lính trên biển cả; để tạm thời quên đi những gian lao của cuộc sống trên đất liền, trong những ngày tháng này; bởi vì dù có khó khăn, thiếu thốn đến đâu, cuộc sống và lao động của chúng ta trên đất liền cũng còn lâu mới có thể so sánh được với những lao động của những người lính trên quần đảo Trường Sa.

Một ngôi nhà như tôi vừa phác họa trên đây, trong những ngày tháng vừa qua được cấp trên khoán cho công binh theo công thức: 1 nhà dùng 35 người, phải hoàn thành trong 20 ngày. Đó là một định mức đã được các cơ quan lập kế hoạch tính toán theo tinh thần tranh thủ thời gian tối đa, trống không còn kẽ hở nào để có thể đây nhanh tốc độ lên được nữa. Ban chỉ huy đoàn Sông Mã cũng lo sốt vó về chỉ tiêu này và đã làm mọi việc để có thể thực hiện được chí tiêu thời gian do trên quy định. Vì trong lúc đối phương đang tăng cường lấn chiếm như thế này "thời gian chính là lực lượng"...
« Sửa lần cuối: 23 Tháng Mười Hai, 2009, 01:50:19 pm gửi bởi phonglan » Logged

Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
phonglan
Thành viên
*
Bài viết: 500


Nụ hoa và cây súng


« Trả lời #39 vào lúc: 23 Tháng Mười Hai, 2009, 10:52:18 am »


Đội công binh do trung úy Hà Quốc Vĩnh chỉ huy được giao nhiệm vụ làm ngôi nhà đầu tiên trên đảo Đá Lát, một hòn đảo chìm. Vĩnh và đồng đội của anh ra biển trong đợt gió mùa đông-bắc, trời rét đậm, sóng to. Đứng trước hòn đảo chìm trong sóng nước trước thời tiết khắc nghiệt như vậy không mấy ai tin rằng các anh có thể vượt được thời gian. Nhưng bất chấp giá buốt, bất chấp sóng dữ và sự đe dọa thường xuyên của tàu chiến đối phương, các anh đã  hoàn thành ngôi nhà đầu tiên trong vòng 12 ngày. Cả đoàn công binh Sông Mã xôn xao trước tin ấy. Thế là đã có cơ sở để mà tin rằng có thể hoàn thành được nhiệm vụ theo yêu cầu ngặt nghèo về thời gian của cấp trên rồi. Nhưng... chỉ ít ngày sau, kỷ lục này của đội công binh Hà Quốc Vĩnh đã bị đơn vị bạn phá. Một đội công binh của đoàn 31 đã rút chỉ tiêu thời gian xuống còn 7 ngày. Bảy ngày để làm một công trình như vậy trên biển thì thật quá sức tưởng tượng! Biết tin ấy, Hà Quốc Vĩnh vô cùng băn khoăn, không phải vì cay cú mà vì anh cảm thấy hình như trong quy trình lao động của mình còn có những khâu chưa thật hợp lý. Anh vùi đầu vào tính toán lại, anh đã tìm ra những "kẽ hở". Và, anh nóng lòng chờ dịp "phục thù". Ngày 5-4-1988 Hà Quốc Vĩnh lại được lệnh dẫn đội công binh của anh ra làm nhà trên đảo Thuyền Chài, cũng một đảo chìm. Anh đã báo cáo phương án của mình với chỉ huy và xin rút bớt đi sáu người, chỉ cần đưa 29 người ra biển. Sợ anh phiêu lưu, Ban chỉ huy yêu cầu anh trình bày rõ hơn phương án của mình. Sau khi nghe xong, Ban chỉ huy đoàn đã chấp nhận phương án đó. Bởi vì nếu rút được đi sáu người là một phương án tối ưu rồi, thêm một người ra biển là thêm biết bao nhiêu khó khăn về ăn ở, bảo đảm sinh hoạt. Khi tiễn các anh ra biển, Ban chỉ huy đoàn chỉ yêu cầu các anh cố giữ tiến độ cũ. Với hai mươi chín người mà thời gian thi công vẫn chỉ 12 ngày đã là một thắng lợi lớn rồi. Vĩnh cũng hứa như vậy, nhưng thâm tâm anh đã tính toán khác.

Ít ngày sau, tin đội công binh của Hà Quốc Vĩnh hoàn thành ngôi nhà cao chân trên đảo Thuyền Chài trong vòng ... năm ngày đã khiến mọi người, từ chiến sĩ đến tư lệnh quân chủng ngơ ngác vì ngạc nhiên. Từ Sở chỉ huy, các đồng chí chỉ huy quân chủng lập tức điện ra, yêu cầu đơn vị bảo vệ đảo kiểm tra lại chất lượng ngôi nhà do đội công binh của Hà Quốc Vĩnh vừa bàn giao. Cho đến khi đích thân đồng chí Lê Trình, thiếu tá, tham mưu phó đơn vị giữ đảo điện về xác nhận lại một lần nữa chất lượng của công trình, mọi người mới hoàn toàn tin rằng các chiến sĩ công binh lại lập thêm một kỳ tích nữa trong lao động.  

Chúng tôi đã đến đoàn Sông Mã gặp Hà Quốc Vĩnh. Thú thực khi nghe đồng chí chủ nhiệm chính trị quân  chủng nói về các anh và thông báo về kỷ lục này, tôi cứ  ngờ ngợ rằng hoặc có sự lầm lẫn, hoặc có sự "tuyên truyền" theo cái lối "xây dựng điển hình" mà ta vẫn từng  làm xưa nay. Vì vậy, khi đến tiểu đoàn 2, tôi và anh Viết  Thái, phóng viên báo Phú Khánh, đã yêu cầu phó tiểu đoàn  trưởng Cù Duy Tài thuyết minh kỹ cho chúng tôi từng  công đoạn trong quy trình xây dựng kiểu nhà cao chân  này đồng thời chỉ rõ cho chúng tôi thấy những "kẽ hở" mà Hà Quốc Vĩnh và đồng đội của anh đã phát hiện ra để hợp lý hóa toàn bộ quy trình một cách tối ưu. Sau đó, chúng tôi mới bắt đầu tiếp xúc với Hà Quốc Vĩnh và đồng đội của anh. Qua những gương mặt xạm đen vì nắng gió, những bàn tay chai sạn và bằng cách diễn tả giản dị chân thực, không chút khoa trương của các anh, tôi đã hình dung được năm ngày lao động vô cùng khẩn trương và căng thẳng của các anh trên biển cả. Kỷ lục đó của các anh hiện nay là đỉnh cao, khó ai có thể vượt qua. Chính các anh cũng thừa nhận rằng, chưa chắc lần sau đi làm nhà ở những hòn đảo khác chúng tôi đã đạt tới cái kỷ lục kỳ diệu này. Đó là cách nói hiện thực và khiêm tốn. Ở đây tôi chỉ suy nghĩ về một điều, nếu như ở bất kỳ đâu chúng ta cũng có những con người lao động tự giác và hết mình, luôn hướng tới những đỉnh cao như thế, có lẽ từ lâu chúng ta đã không còn lõm bõm trong tình trạng trì trệ, lạc hậu và nghèo đói như hiện nay.  

Bằng máu và mồ hôi, các chiến sĩ đang hoạt động trên quần đảo Trường Sa đã khẳng định thêm một lần nữa chủ quyền thiêng liêng của đất nước đối với quần đảo này, khẳng định thêm một lần nữa phẩm chất cao quý cua anh bộ đội Cụ Hồ, khẳng định phẩm giá của những người chân chính.
« Sửa lần cuối: 23 Tháng Mười Hai, 2009, 01:51:37 pm gửi bởi phonglan » Logged

Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM