Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 04 Tháng Mười Một, 2026, 02:36:17 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Trường Sa - Tập văn thơ  (Đọc 39846 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
phonglan
Thành viên
*
Bài viết: 500


Nụ hoa và cây súng


« Trả lời #40 vào lúc: 23 Tháng Mười Hai, 2009, 10:54:03 am »


NHỮNG ĐỢT SÓNG NGẦM  



Tôi muốn dành trọn phần này để nói hộ các chiến sĩ hải quân nhân dân đang hoạt động trên biển và trên quần đảo Trường Sa về những tâm tư nguyện vọng, những băn khoăn lo lắng và đôi khi cả những bất bình phẫn nộ của họ đối với những vấn đề liên quan tới quyền lợi chân chính của bản thân và gia đình họ, liên quan tới đời sống hàng ngày và hiệu quả lao động chiến đấu của họ. Những vấn đề đang khiến "đất liền" nhức nhối thì trên đại dương chính là những đợt sóng ngầm. Hậu quả của nó sẽ không thể nào mà lường được nếu như tình trạng thờ ơ trách nhiệm, bệnh quan liêu và tệ bất công vẫn tồn tại, hàng ngày làm tổn thương lòng tin và tình cảm của những người cầm súng.

Trước hết, tôi muốn trở lại những con tàu. Ở phần đầu của bài bút ký này tôi đã ca ngợi việc chắp vá, hồi phục cấp tốc những con tàu đã quá hạn sử dụng, đã rách nát ọp ẹp để khẩn trương đưa ra biển đi chi viện cho Trường Sa. Trong chiến đấu, việc chấp nhận mạo hiểm là cần thiết. Khi nhiệm vụ đã trở nên khẩn cấp, khi đồng đội ngoài khơi xa kia đang kêu gọi, thì dẫu phải ra khơi với những con thuyền gỗ, những con tàu ọp ẹp, người chiến sĩ hải quân nhân dân cũng sẵn sàng. Nhưng trong điều kiện bình thường thì việc đưa những con tàu không đủ tiêu chuẩn an toàn ra khơi là một việc không thể chấp nhận được. Gần đây, nhà văn Xuân Cang đã viết một cuốn sách trong đó nói về một vụ đắm tàu do sự vô trách nhiệm của các cơ  quan đăng kiểm và các cơ quan quản lý tàu bè hoạt động trên biển. Nhưng tôi ngờ rằng, với trí tưởng tượng của một nhà tiểu thuyết, anh Xuân Cang cũng chưa "tưởng tượng" hết được quy mô của sự vi phạm quy chế an toàn trên biển của tàu bè Việt Nam, trong đó có tàu thuyền của hải quân nhân dân. Khi tới thăm cái tàu của hải quân vừa đi làm nhiệm vụ trên biển về, tôi cứ ngờ ngợ là đang gặp lại cái tàu Sông Tràm của nhà văn này, thậm chí cái "sông Tràm" còn được nhà văn mô tả "tươm tất" hơn những con tàu mà tôi đã gặp nhiều lắm. Trở lại con tàu mang tên Sông Thao mà Bộ Giao thông vừa chuyển nhượng gấp cho Hải quân để  "tất cả vì Trường Sa thân yêu" để làm một ví dụ so sánh.  Con tàu này đã có thâm niên 28 năm hoạt động trên biển và đáng lý đã phải mổ ra làm sắt vụn từ lâu rồi, nhưng đối với hải quân thì đây vẫn là con tàu có sức chở lớn và hiện đại mà nếu không có sự kiện Trường Sa 14-3 thì có nằm mơ thì cũng chưa có nó. Trong mười năm qua, nhiều tỉnh và thành phố có cảng ven biển đều đã mua được những chiếc tàu vận tải có sức chở lớn và tương đối hiện đại, thành phố có hẳn một đội tàu viễn dương. Vậy thì tại sao, với một đất nước có 3.500 km bờ biển, có một hải phận mênh mông phải quản lý, lại có cả một quần đảo tít mù ngoài khơi nữa, vậy mà hải quân lại không có lấy một đội tàu vận tải hiện đại có sức chở lớn? (Tôi chưa nói đến những đoàn tàu chiến lớn). Tàu buôn thì có trang bị ra đa hiện đại, có máy đo sâu hiện đại, điện đài hiện đại, thậm chí ca bin thủy thủ cũng khá hiện đại, vậy mà tàu hải quân thì lại trang bị thô sơ cổ lỗ? Đó là một điều không thể giải thích được?

Trong những ngày tháng sôi động vừa qua ở Trường Sa các thủy thủ tàu đánh cá, tàu vận tải cỡ nhỏ, trang bị thô sơ của hải quân đã làm nên kỳ tích. Nhưng nếu họ có  trong tay những con tàu hiện đại hơn, hẳn họ sẽ lao động và chiến đấu có hiệu quả hơn và đỡ tốn mồ hôi xương máu hơn. Tôi đã gặp ở một quân cảng chiếc tàu 712 vừa hoạt động ròng rã sáu tháng trời trên biển về. Trông con tàu thật tang thương, boong, mạn tả tơi, máy móc cọc cạch, để đưa nó về nơi sửa chữa đã phải dùng một con tàu khác kèm cặp lai kéo. Anh em thủy thủ trên tàu, nhờ giời, vẫn mạnh khỏe. Khi tôi hỏi thuyền trưởng Nguyễn Văn Thụy rằng, anh nghĩ gì khi đã hoàn thành một đợt đi biển dài ngày như thế, anh lắc đầu cười: "Về đến bến thì mới biết là an toàn". Đúng vậy, với một con tàu như thế này giữa đại dương thì điều gì cũng có thể xảy ra cả.

Chúng ta yêu hòa bình, không chủ trương chạy đua vũ  trang nhưng muốn được yên ổn để mà "yêu hòa bình" thì cũng phải có lực lượng tự vệ đủ mạnh để đủ sức chặn đứng những bước xâm lăng của kẻ thù từ mọi hướng khi cần thiết. Khi kể chuyện với chúng tôi, anh em thuỷ thủ đều uất ức mỗi khi kể về những sự "bắt nạt" trên biển của các  tàu chiến đối phương. Chúng nó có cả một hạm đội mạnh, trang bị hiện đại. Tàu của chúng thường xuyên lao tới chặn đường, dùng vũ lực và cả sức dồi của sóng tàu để ép tàu ta. Anh em mình đã nén nhịn, dũng cảm đương đầu và tránh bị khiêu khích. Bởi vì nếu ta nổ một phát súng trước, địch sẽ lập tức dội tên lửa và đại bác vào tàu của mình ngay. Chiến đấu trên biển, sức mạnh trang bị kỹ thuật không phải là không đáng kể.

Tôi không dám đặt câu hỏi, ai phải chịu trách nhiệm về tình trạng thiếu thốn và lạc hậu về trang bị kỹ thuật đến mức như vậy của hải quân ta. Bởi vì, như thường lệ, sẽ rất khó tìm ra câu trả lời. Có một nguyên nhân to tát và luôn luôn đúng là đất nước ta còn nghèo, mà đã nghèo thì làm sao mạnh được? Nhưng, nếu có một cách nghĩ khác một tầm nhìn khác hơn thì mười năm qua hải quân có lẽ cũng không đến nỗi thiếu thốn về trang bị kỹ thuật đến như vậy. Bên cạnh đó, các nước bạn của ta lại có hải quân vào hàng hùng mạnh của thế giới. Nhưng kinh nghiệm lịch sử cho thấy rằng, trước hết chính mình lo bảo vệ lấy mình đã.

Nói đến tàu rồi phải nói đến con người. Trong đợt đi  thực tế vừa qua tôi đã có điều kiện để hiểu thêm về đời  sống của bộ đội hoạt động trên biển, trước đó chúng tôi đã  có những đợt đi đến với những người lính trên biên giới  phía Bắc, và có thể đi đến kết luận rằng: đã là người lính  thì ở đâu cũng phải chấp nhận sự thua thiệt và chỉ có người lính là không bao giờ mặc cả với Tổ quốc, với Đảng.  Nhưng là người làm báo, có lẽ chúng ta cũng phải báo động một tình trạng có thực, một đợt sóng ngầm đang diễn ra trong lòng những người cầm súng. Đó là tình trạng người lính, nhất là các sĩ quan trong quân đội, đã cảm thấy mình bị đối xử bất công. Chúng ta đều biết rằng, một sĩ quan trung cấp trong quân đội hiện nay không có cách nào mà có thể giải được cái phương trình về đời sống của mình  gồm hai vế: sự tồn tại của mình và sự tồn tại của vợ con mình bằng đồng lương của mình. Anh nào cho là có thể sống được và còn dư để chi tiêu cho kỳ nghỉ phép của mình bằng đồng lương chân chính là nói trạng. Đối với một sĩ quan đóng quân ở Hà Nội và có gia đình ở Hà Nội cũng vậy? Còn đối với các sĩ quan làm nhiệm vụ ngoài hải đảo hay trên biên giới thì lại càng khó khăn hơn gấp bội.

Ở đây tôi chỉ muốn nói đến chế độ lương và chế độ sinh hoạt phí đối với các sĩ quan, công nhân viên và thuỷ thủ hoạt động trên các con tàu và trên các đảo ngoài quần đảo Trường Sa mà thôi. Xưa nay, nói đến thủy thủ, người ta thường hình dung đó là một lớp người lính có cuộc sống phóng khoáng, tiêu tiền như rác. Hiện nay ở nước ta cũng đang hình thành một lớp thủy thủ như vậy, nhưng đó là các thủy thủ hoạt động trên các đoàn tàu buôn, tàu viễn dương. Nếu so sánh cuộc sống của họ với cuộc sống của các thuyền trưởng và thủy thủ tài ba và dũng cảm của hải quân nhân dân thì thật là khập khễnh. Tôi cũng xin nói ngay rằng tôi không mấy băn khoăn về cuộc sống sung túc của các thủy thủ viễn dương, họ đáng được hưởng như vậy sau những ngày lênh đênh trên biển cả, chấp nhận đương đầu với sóng gió đại dương. Điều đáng nói là ở chỗ, cùng hoạt động trên biển, trong đó cán bộ và thủy thủ của hải quân dĩ nhiên phải chấp nhận nguy hiểm nhiều hơn, phải hoạt động trong những điều kiện thời tiết bất lợi nếu có  nhiệm vụ. Vậy mà chế độ ăn uống sinh hoạt của họ lại thua kém quá xa các thủy thủ hoạt động cho các cơ quan kinh tế nhà nước. Trong khi đó, ở các cơ quan kinh tế nhà nước còn có khả năng "tự điều chỉnh" bằng nhiều hình thức kể cả chế độ thưởng tiền và hiện vật mà hiện nay, đối với nhiều cơ sở kinh tế, thu nhập này đã trở nên "nặng đồng cân" hơn lương chính thức. Trong khi đó thủy thủ hoạt động trên biển và các cán bộ sĩ quan công tác trên các đảo ngoài Trường Sa thì "điều chỉnh" vào đâu? Các sĩ quan công tác ngoài đảo sau một năm vào nhận lương để đi phép thì đồng tiền đã "trượt dài", mất tất cả cái phần ưu tiên ưu đãi (cán bộ ở đảo được hưởng thêm 100% tiền ưu đãi khu vực và khí hậu tính theo lương chính) .  

« Sửa lần cuối: 23 Tháng Mười Hai, 2009, 01:59:47 pm gửi bởi phonglan » Logged

Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
phonglan
Thành viên
*
Bài viết: 500


Nụ hoa và cây súng


« Trả lời #41 vào lúc: 23 Tháng Mười Hai, 2009, 10:54:49 am »


Sự kiện xảy ra trên đảo Gạc Ma vừa qua đã khiến cả nước bừng tỉnh. Người lính Trường Sa bỗng trở thành người anh hùng được cả nước biết đến. Trung ương đã huy động cả nước tham gia chi viện cho Trường Sa. Đã có nhiều lực lượng, nhiều địa phương tham gia vào nhiệm vụ này, trong đó có một số tàu của các địa phương cũng được huy động tham gia chi viện cho Trường Sa. Tất cả các con tàu đó đều được các chiến sĩ Trường Sa hoan nghênh. "Bằng con đường nào cũng được, miễn là họ giúp chúng ta một tay". Một đồng chí phụ trách công tác phối hợp các lực lượng chi viện cho Trường Sa đã nói với chúng tôi như vậy. Vì, không phải không có những vị cán bộ đến phối hợp công tác với bộ đội Trường Sa với tâm lý của một kẻ đi làm giúp! Xem như việc bảo vệ Trường Sa là của riêng hải quân, của riêng quân đội vậy!. Những đội tàu được các địa phương huy động đi chi viện cho Trường Sa cũng có  năm bảy loại. Có những đội tàu đến với bộ đội Trường Sa với tinh thần tình nguyện như tàu Thuận An 02 Bình Trị Thiên. Tàu này đã ra Trường Sa chuyến thứ hai trong vòng hai tháng và được bộ đội nhiệt liệt hoan nghênh. Khi tàu Thuận An 02 rời đảo Thuyền Chài lần thứ hai các chiến sĩ trên đảo đã bắn tất cả các loại súng, kể cả pháo hiệu, pháo sáng để tiễn con tàu về đất liền. Nhưng cũng có những đội tàu đến "làm giúp" bộ đội Trường Sa một cách miễn cưỡng. Trước khi đi họ đã mặc cả với địa phương của  họ về đủ mọi điều, từ chế độ đãi ngộ, tiền lương, tiền thưởng đến quyền được đi nước ngoài sau khi hoàn thành chuyến vận tải ra Trường Sa ... Tỉnh đã cho họ ăn mỗi ngày 1.500đồng nhưng họ vẫn chưa thỏa mãn, ngành chủ quản phải huy động tất cả các lái xe trong tỉnh quyên góp để đủ cho mỗi người 6000đồng tiền ăn trong một ngày đi biển. Khi đến với bộ đội hải quân họ còn tiếp tục mặc cả, đòi phải được cung cấp đủ thứ, phải có bò non, gà non đưa xuống tàu, phải có bia 333 và thuốc lá ngoại! Đã thế họ vẫn còn chần chừ chưa chịu nhổ neo khi hàng đã chất lên tàu, làm ảnh hưởng đến tiến độ chung. Một đồng chí chỉ huy bộ đội hải quân viết thư đến nhắc nhở, yêu cầu họ nhổ neo họ còn ngang ngược trả lời: "Tướng của các anh cũng chẳng là cái cóc gì đối với chúng tôi hết!". Đến khi những đồng chí làm nhiệm vụ phối hợp phải làm găng, định báo cáo về tỉnh và trả tàu về cho tỉnh họ mới miễn cưỡng ra đi.

Những hiện tượng "mặc cả" để đi Trường Sa như vậy không phải chỉ diễn ra ở một con tàu, có điều mỗi nơi mỗi vẻ, nơi tế nhị kín đáo hơn, nơi thì vô cùng trắng trợn như vậy. Kể ra những chuyện này là để chúng ta biết quý hơn người lính của chúng ta. Với mức sinh hoạt 36 đồng một ngày trong thời giá hiện nay thì quả là quá kham khổ nhưng họ vẫn vui vẻ lên đường, không một lời mặc cả. Các vị khách tới phối hợp, chỉ đi một hai chuyến rồi lại trở về để đi viễn dương, còn họ thì năm này qua năm khác gắn bó với Trường Sa. Đất nước và quân đội phải nghĩ đến họ, dù họ không một lời mặc cả.

Nói đến mặc cả thì cũng xin nói luôn, hiện tượng đầu cơ kiếm chác xung quanh vấn đề Trường Sa đã xuất hiện. Nhất là hiện tượng buôn bán vật tư, trang thiết bị và phụ tùng cho tàu thuyền. Do tình trạng tàu bè của hải quân như vậy, nên trong thời gian tăng cường hoạt động vừa qua đã phải sửa chữa thường xuyên. Hiện tượng khan hiếm phụ tùng đã tạo nên cơ hội cho bọn đầu cơ kiếm lời. Để hoàn thành nhiêm vụ, quân đội đã phải mua của họ các thiết bị, phụ tùng cho tàu thuyền bằng bất kỳ giá nào. Dĩ nhiên, tiền chi vào ngân sách quốc phòng, nhưng rơi vào chỗ giời ơi đất hỡi, ai không xót.

Cũng còn có những chuyện buôn bán tệ hại hơn ở một vài địa phương khi trung ương có chủ trương giao cho các địa phương gánh vác thêm cho sự nghiệp phòng thủ Trường Sa. Trung ương yêu cầu mỗi tỉnh, trước hết là các tỉnh ven biển hãy làm cho bộ đội Trường Sa một ngôi nhà tình nghĩa. Thế là đẻ ra vấn đề các tỉnh phải tự đưa người, vật tư thiết bị ra làm nhà. Và ở một vài nơi đẻ ra tình trạng thuê người đi Trương Sa với những hình thức thuê mướn rất kỳ cục mà thoạt nghe thật khó tin. Có địa phương cử hẳn một cán bộ đến liên hệ với hải quân xin được thuê chính bộ đội Trường Sa (!) dĩ nhiên với một khoản tiền công rất cao, để làm ngôi nhà tình nghĩa cho địa phương họ, để mà họ có cái mà báo cáo với Trung ương (!) mà cán bộ và nhân dân địa phương không phải nhọc nhằn gì. Ông cán bộ ấy đã được trả lời rằng, bộ đội chúng tôi tuy nghèo thật, nhưng cũng không "dễ mua” đến thế, rằng thành phố các anh, địa phương các anh lắm tiền thật, có thể mua được bất kỳ cái gì, trừ mồ hôi và xương máu của bộ đội chúng tôi.

Tất cả những điều trên đây và còn nhiều điều nhức nhối hơn nữa, tôi nghe được trong chuyến đi công tác vừa qua. Nhiều đồng chí kể những chuyện này xong đều kèm theo một câu "Các anh nghe vậy để biết thôi, chứ... viết ra có khi lại thêm khó dễ cho chúng tôi trong công tác. Vì lúc này là lúc chúng ta phải tranh thủ mọi lực lượng, mọi địa phương tham gia vào sự nghiệp bảo vệ chủ quyền của Trường Sa, nói ra họ không hài lòng, làm việc với họ đâm  phiền phức thêm". Tôi cũng đã thực hiện tinh thần "tự kiềm chế tối đa" đúng như các chiến sĩ của chúng ta đã tự kiềm chế trên biển khi bị khiêu khích. Vì vậy, trong bài này tôi mới chỉ nhắc ra các vụ việc, các hiện tượng mà có lẽ khi đọc bài báo này, các cán bộ và chiến sĩ hải quân tham gia hoạt động trong chiến dịch vừa qua đều có thể ngay lập tức biết tên những con tàu ấy, những vị cán bộ ấy, những địa phương ấy là ai... Phải nhắc để mọi người cùng suy nghĩ, vì sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Trường Sa còn lâu dài chứ đâu chỉ chuyện một sớm một chiều. Điều cuối cùng mà một số cán bộ công tác trên các đảo Trường Sa yêu cầu chúng tôi lên tiếng, đó là sự quan tâm đến đời sống tinh thần của những người lính. Điều này báo chí cũng đã nói nhiều, không hiểu sao ục Chính trị Bộ Tư lệnh hải quân vẫn chưa khắc phục được? Vừa qua khi vào công tác tại căn cứ Cam Ranh, tôi được biết nhiều địa phương đã gửi tặng bộ đội Trường Sa rađiô Casete, theo một đồng chí trợ lý tuyên huấn của vùng 4 hải quân cho biết thì số lượng rađiô Casete quà tặng đã có thể đủ trang bị cho mỗi đảo một chiếc, mong rằng số quà tặng này mau chóng tới Trường Sa góp phần cái thiện đời sống văn hóa của anh em chiến sĩ giữ đảo (theo tôi hiểu, hiện nay quà của cả nước gửi cho Trường Sa vẫn eòn ùn trên bờ và có thể sẽ hư hỏng thất thoát nếu không giải quyết tốt).

Đến công tác ở các đơn vị bộ đội Trường Sa tôi đã được nghe và được gặp một số cán bộ có thâm niên phục vụ trên các đảo hàng chục năm. Theo tôi đó chưa chắc đã phải là một điều hay của công tác cán bộ. Trong lý lịch sĩ quan  của chúng ta thường có một câu rất "độc", ấy là câu: "Chiến trường quen thuộc?". Hãy ghi vào đi, đồng chí đại úy, chiến trường quen thuộc của anh là Trường Sa ư? Thế thì mệt cho anh rồi đấy! Nếu chiến trường quen thuộc của anh là Hà Nội hay thành phố Hồ Chí Minh thì lại là chuyện khác! Không nên để những người đã quen chịu đựng gian khổ hy sinh thì cứ tiếp tục chịu đựng mãi. Ở đây tôi xin kể về một trường hợp, đồng chí Lê Đại Nghĩa, phó tiểu đoàn trưởng chính trị tiểu đoàn 2, đơn vị giữ đảo. Chiến trường quen thuộc của anh là Trường Sa cho nên anh dã ở đảo từ năm 1976 cho tới tháng 1-1987 mới được lên bờ làm phó tiểu đoàn trưởng chính trị một tiểu đoàn công binh chuyên xây dựng đảo! Nghĩa là anh mới có được một chân lên bờ thôi, còn một chân vẫn ở đảo. Hai mươi năm tuổi quân chưa có một cái tết nào được ăn tết với gia đình, trong đó có tám cái tết ăn tết ở đảo. Một thành tích như vậy cũng đáng kể đấy chứ? Nhưng anh Nghĩa cũng chưa phải là người giữ kỷ lục về số năm công tác ở Trường Sa. Ở cái đơn vị có "chiến trường quen thuộc" là Trường Sa, còn có những người có thâm niên ở đảo hơn anh nhưng tôi chưa hân hạnh được gặp. Ở đảo thật gian khổ, vì vậy "hoa thơm" nên để mỗi người ngửi một tí thì công bằng hơn, hẳn nhiều đồng chí cán bộ của bộ đội hải quân đồng ý với tôi về điều này.

Bài viết của tôi đáng lẽ đã có thể chấm dứt nhưng vào cuối chuyến đi đa có một sự kiện quan trọng mà tôi không thể không dành một vài trang để viết nên những ý nghĩ của mình. Xin bạn đọc hãy vui lòng nán lại cùng tôi để chúng ta thắp một nén hương cho những đồng đội thân yêu hy sinh trên biển cả vì sự nghiệp bảo vệ Trường Sa thân yêu.
« Sửa lần cuối: 23 Tháng Mười Hai, 2009, 02:03:08 pm gửi bởi phonglan » Logged

Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
phonglan
Thành viên
*
Bài viết: 500


Nụ hoa và cây súng


« Trả lời #42 vào lúc: 23 Tháng Mười Hai, 2009, 10:55:59 am »


TƯỞNG NIỆM


Tôi và nhà phê bình văn học Hồng Diệu đã quyết định bỏ chuyến bay trở về Hà Nội từ sân bay Thành Sơn để theo đồng chí đoàn trưởng đoàn công binh Sông Mã, trung  tá Nguyễn Văn Tĩnh và đoàn cán bộ của đơn vị ra Đà Nẵng tổ chức lễ truy điệu các đồng chí đã hy sinh và mất tích trên biển trong sự kiện 14-3 ở khu vực đảo Gạc Ma. Đà Nẵng là hậu phương của đoàn công binh Sông Mã. Con em nhân dân tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng có mặt khá đông trong đội hình của đoàn. Trong số những anh em đã hy sinh và mất tích trên biển trong sự kiện 14-3 vừa qua, riêng đoàn Sông Mã có 32 đồng chí trong đó con em của nhân dân Quảng Nam - Đà Nẵng là 10 đồng chí, riêng phường Hòa Cường thuộc thành phố Đà Nẫng có tám trong số mười đồng chí của tỉnh không trở về.

Chính vì vậy nên mặc dù phần lớn đơn vị đang công tác ở phía trước, đồng chí đoàn trưởng vẫn quyết định xin phép quân chủng cho anh được về hậu cứ tổ chức lễ truy điệu anh em và gặp gỡ thân nhân, gia đình những đồng chí đã hy sinh, mất tích cho đúng với đạo nghĩa của người Việt Nam.

Tất cả các gia đình, thân nhân những người đã hy sinh và mất tích đều có mặt theo lời mời của chỉ huy đoàn. Đại diện các cơ quan, chính quyền, đại diện các đơn vị bạn cùng mang vòng hoa tới viếng. Gần một trăm em học sinh của trường phổ thông cơ sơ Lý Tự Trọng do cô hiệu trương Chu Thị Hồng Tuyết dẫn đầu đã có mặt rất sớm tại nơi cử hành buổi tưởng niệm. Hơn hai trăm chiến sĩ trẻ vừa mới nhạp ngũ đang trong thời kỳ huấn luyện tại hậu cứ sắp hàng nghiêm ngắn trước lễ đài.
 
Hương trầm nghi ngút... Tiếng nhạc chiêu hồn tử sĩ vang lên da diết. Các đoàn đại biểu lặng lẽ tiến vào đặt vòng hoa. Sau đó là bài điếu văn trang trọng và đầy xúc động của trung tá Nguyễn Văn Tĩnh. Các mẹ, các chị, các em đều nghẹn ngào cố nén tiếng khóc. Tôi nhìn về phía những thân nhân của những người hy sinh và nhận ra những mái đầu bạc trắng của những người cha, người mẹ những mái tóc hay còn xanh của những người chị, người  em, người yêu, người vợ. Bỗng thấm thía những hy sinh vô cùng to lớn mà những người lính và gia đình họ phải chịu đựng vì sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Tôi được biết trong số những người cha, người mẹ có con hy sinh và mất tích kia có những người đến nay cũng vẫn đang còn trong tình trạng choáng váng, có người cha suốt ngày ra bờ sông tìm con, vì đinh ninh rằng nhất đình nó sẽ phải trở về bằng con đường này, vì nó là chiến sĩ hải quân; lại có những người mẹ suốt ngày đi bới đất để tìm hơi hướng của đứa con thân yêu, có những người vợ mỗi khi có người tới thăm hỏi lại lăn ra bất tỉnh nhân sự. Vậy mà trong phút thiêng liêng này, đứng trong hàng ngũ, trước bàn thờ anh linh của Tổ quốc, tất cả những người thân yêu ấy đã đứng vững, không một ai gục ngã như chúng tôi đã dự kiến. Hình như  các mẹ, các chị, các em đều nghĩ rằng trong lúc này phải gắng mà nén tâm để tiếp sức cho chúng tôi, những người lính. Sự bi lụy và sầu thương đã được nén lại để bảo đảm tính chất nghiêm trang, bi tráng của buổi lễ. Các chiến sĩ trẻ cũng hiểu như vậy và họ đã hiểu họ phải làm gì khi ngày mai ra trận.

Sau buổi lễ, chúng tôi có dịp để tiếp xúc với thân nhân các gia đình liệt sĩ và gia đình những người mất tích. Điều dằn vặt tất cả mọi người chính là cho đến nay chúng ta vẫn chưa thể xác định được chính xác ai là người hy sinh, ai là người mất tích để chính thức báo cho các gia đình. Vì thế cả 74 gia đình có danh sách mất tích vẫn còn trong tình trạng căng thẳng, khắc khoải. Đó là một tội ác mà  nhà cầm quyền Trung Quốc phải gánh chịu. Nếu họ để cho các tàu cứu hộ Việt Nam vào trục vớt những con tàu đắm và công bố danh sách những người chúng bắt giữ hẳn chúng ta đã có điều kiện để trả lời câu hỏi bức thiết và chính đáng của các gia đình nói trên.

Chiều hôm đó, tôi theo tiểu đoàn trưởng Nguyễn Văn Tĩnh tới thăm vợ con của đồng chí Trần Văn Phòng, một trong số những cán bộ mất tích trên tàu 604. Anh Trần Văn Phòng là phó đại đội trưởng về chính trị nhưng lần này đã trực tiếp chỉ huy một đội công binh đi làm nhà ngoài đảo. Vợ anh, chị Lạc, là một quân y sĩ của đoàn. Chị cùng con gái nhỏ chưa đầy hai tuổi sống trong khu tập thể của đoàn ngay cạnh căn cứ. Khi báo công bố danh sách những người mất tích, mặc dù vô cùng đau xót chị đã phải nén lòng, vội vã đưa con gái về quê để an ủi mẹ chồng. Chị vừa trở vào đơn vị nhưng sợ mình không chịu đựng nổi nên chị đã không tới dự buổi lễ truy điệu. Vừa nhìn thấy đồng chí đoàn trưởng, chị đã òa lên khóc nức nở. Chúng tôi ngồi lặng bên nhau và đều rưng rưng nước mắt, không ai biết phải làm thế nào để an ủi chị. Bé Lan còn quá thơ dại, cháu chưa biết gì về tai họa của gia đình nên vẫn cười nói bi bô. Sự thơ ngây của con trẻ đã cứa vào lòng những người lính chúng tôi và tôi phải vội vã quay đi lau những dòng nước mắt vừa trào ra. Sự giản dị đơn sơ của căn phòng mà vợ chồng anh đã sống những năm hạnh phúc ngắn ngủi khiến bất kỳ ai bước vào cũng phải se lòng. Trên bàn thờ là tấm ảnh lồng trong khung kính. Đó là một người thanh niên trẻ, đẹp và cương nghị, năm nay anh mới hai mươi tám tuổi đời.

Cuối cùng, khi không còn chịu dựng nổi tiếng khóc của người vợ mất chồng nữa, anh Tĩnh, người lính từng trải  nhất trong số chúng tôi quyết định đứng lên. Anh bước tới bên giường, nơi Lạc đang than khóc vật vã, bằng tình cảm của một người anh, hơn là một thủ trưởng, anh đã nhanh chóng an ủi chị và cuối cùng Lạc đã đứng dậy được. Chúng  tôi dành thời gian còn lại để nghe chị nói về anh về gia đình anh. Chị kể rằng trong lá thư cuối cùng anh viết cho chị, anh chỉ có một nỗi băn khoăn rằng mình là cán bộ chính trị, trình độ chuyên môn còn yếu, không biết có hoàn thành được nhiệm vụ hay không.

Các anh đã hoàn thành nhiệm vụ, hoàn thành sứ mạng của mình. Máu của các anh đã đổ, máu của các anh đã lên tiếng kêu gọi mọi người hãy cảnh giác với kẻ thù từ mọi hướng. Máu của các anh đã nhắc nhở những người còn sống yên ổn trên đất liền hãy nhớ tới các chiến sĩ đang đứng chơi vơi trên những hòn đảo giữa đại dương, hãy sống lương thiện hơn, có trách nhiệm hơn... và... chớ có cả tin.

Xin châm một nén hương lên bàn thờ tưởng niệm các anh với tấm lòng đồng đội.  


                                                                                                             K.Q.T
  
« Sửa lần cuối: 23 Tháng Mười Hai, 2009, 02:04:34 pm gửi bởi phonglan » Logged

Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
phonglan
Thành viên
*
Bài viết: 500


Nụ hoa và cây súng


« Trả lời #43 vào lúc: 23 Tháng Mười Hai, 2009, 01:07:54 pm »


    Duy Khán  

  
MỘT NGÀY Ở TRƯỜNG SA

 
 
                                                                                                               Bút ký

Mặt trời lên. Tôi khẳng định nơi này là nơi được hưởng tia nắng đầu tiên của một ngày. Chúng tôi ai cũng được nhuộm hồng, ánh nắng chiếu thẳng vào mặt chúng tôi, nhưng lại chiếu vào sau lưng các chiến sĩ trên đảo. Các anh đang đứng giăng hàng ra mép nước đón chúng tôi. Người tung mũ. Người vẫy khăn. Còn tiếng reo hò thì không nghe rõ vì còn khoảng cách và sóng ì oạp. Nếu là một bức tranh, các họa sĩ có thể vẽ thế này: một bãi cát, bãi cát phẳng lì giữa biển làm cái phông. Bãi cát trắng quá đến nỗi nắng sớm mai cũng không nhuộm được cho nó đổi màu. Toàn bộ, không có một cây. Trời cao xanh thăm thẳm. Mặt trời hệt bông hoa hướng dương, dưới đó là sóng cuộn luôn bạc đầu. Hàng quân đứng trái sóng, bóng cao lồng lộng hắt xuống biển. Hằng hà sa số những cánh chim. Những cánh chim hình dấu mũ lộn ngược, và xuôi, và ngang, dọc rợp trên đầu, đầy trước mặt.

Những chiếc xuồng cao su lướt tới tấp như một cuộc đua. Sóng đánh ngả nghiêng. Các chiến sĩ ra đón khách. Khách vừa lên bờ, một cơn lốc, toàn đảo bị phủ một làn bụi cát như sương mù, nhưng không xóa nổi mà chỉ làm nhòe đi những dáng hình ôm ghì nhau, bắt tay nhau. Người khách nào cũng ướt sũng hai ống quần. Tôi ngoái lại nhìn những chiếc xuồng tình nghĩa. Ra đảo người nào đi giày thường là hay bị muộn mằn. Các chiến sĩ lập tức ghé lưng vào, cõng khách lên bờ.

Những người chủ nhà rất tốt, nhưng nghèo lắm. Khi có khách đến thăm, chủ thường khó tránh khỏi một nỗi day dứt trong lòng, dù nói ra hay không nói ra: "Biết lấy gì mà đãi khách phương xa?" - Khách đến, nếu là người tốt, đã trải, thì sẽ nghĩ ngay: "Bạn thương mến, bạn hoàn toàn yên tâm. Tôi đã hiểu lòng bạn từ lâu rồi, đến nỗi tôi hiểu tỉ mỉ cả hoàn cảnh ngặt nghèo của bạn. Tôi đến nếu gây sự phiền phức, băn khoăn cho bạn thì chính tôi có lỗi. Từ phương xa lại, tôi không có gì đem đến giúp bạn thì chớ. Bạn thiếu thốn gian nan hàng bao năm, bao tháng. Còn tôi đến với bạn chỉ là dăm bữa nửa tháng, thời gian ấy có là bao. Sao bạn lại không nghĩ là chúng tôi đến để đồng cam cộng khổ với bạn?". Hai luồng ý nghĩ của chủ và khách nếu gặp nhau thì sẽ thành ngọn lửa ấm, sưởi lên tình người thoải mái, nồng hậu. Do đó họ chơi với nhau được quá lâu bền và đưa nhau tới đích rực rỡ. Bao nhiêu năm tháng khắp các trận địa, khắp các hải đảo xa xôi thường xảy ra những hiện tượng tốt đẹp này. Nhưng cũng không thiếu những ông khách thấy gian khổ quá thì muốn khéo léo tìm cách "xa chạy cao bay". Những ông khách như vậy, chắc bạn sẽ đọc được ý nghĩ họ. Tôi không bao giờ có ý nghĩ có dụng ý thí vị hóa sự gian nan, thi vị hóa những hoàn cảnh ngặt nghèo hoặc ca ngợi sự cam chịu. Khi anh đã thực sự thương yêu con người ở đây, mảnh đất ở đây, anh sẽ cảm thấy thoải mái, thấy được những gì hấp dẫn thực sự.Một bữa cơm rất “giầu có" của đảo đã được bày trên bàn. Nhìn mâm cơm bốc hơi, tôi đinh ninh rằng, bữa cơm này hơn hẳn bữa cơm hàng ngày của đảo; hình như đảo có thức ăn gì, anh em đều dồn vào bữa cơm cho khách: Ruốc cá được xào mỡ. Mì ăn liền được nấu thành canh. Thịt hộp như những khoanh giò trên đĩa. Chính trị viên Khỏa xuýt xoa, đứng thần người trước mâm cơm. Có lẽ anh đang nghĩ xem còn có món gì quên chưa mang ra. Bỗng, anh chạy vụt tới đầu giường của mình, cầm chai rượu bổ, rót ra từng chén mời khách: "Gọi là chén rượu quan hà để tẩy trần". Nếu như ở đất liền, dăm ngụm rượu nhẹ độ này thấm tháp vào đâu. Nhưng ở giữa biển nó làm cho khách say. Say vì nhiều lẽ: Gian nhà trống trải, gió lùa dọc ngang làm người  uống rượu dễ say. Thức nhắm để đưa cay chỉ có một món xào mặn cũng dễ say. Nắng như sắp cháy mái nhà cũng làm cho khách dễ say. Nhưng dễ say nhất là tình cảm của những người chủ. Đảo trưởng Cai từ ngoài cát bỏng tất bật bước vào. Da anh đen cháy tự những ngày nào, đôi ống  quần chưa kịp buông xuống. Anh vừa đi kiểm tra trận địa cùng chiến sĩ đào hào đắp lũy trở về. Anh nhìn qua mâm cơm, nói ngay: "Chao ơi, có thế ni thôi ư? Không mần gì đề cải thiện được thêm à?". Một người khách thân mật nói một câu làm tôi chú ý: "Ông Cai ơi, đừng băn khoăn. Đảo có thức ăn gì cứ để chúng tôi ăn đúng như vậy". Tôi nhớ đến một đảo nọ: Anh em đang bận rộn tối mặt bỗng nhận được điện có một phái đoàn ra thăm đảo. Mọi người reo lên vì mừng nhưng sau đó vấp phải một mối lo. Chủ yếu là lo thức ăn để tiếp đãi. Toàn đảo bận rộn quá về lễ nghi. Ban chỉ huy có tinh thần trách nhiệm và lòng hiếu khách rất cao, thức trắng cả đêm. Mối lo đã choán niềm vui. Nếu không có nỗi lo chiếm chỗ thì niềm vui nguyên vẹn cất cánh và lớn lao biết mấy.

Sau bữa ăn, mọi người tưởng như có thể ngả lưng xuống giường là ngủ được. Nhưng không, chẳng có ai ngủ được. Người người trăn trở, thao thức. Gió lùa qua phên liếp vù vù, lọt vào giường hầm hập. Các ống tre trên mái kêu như sáo diều. Sóng vỗ bốn bề quanh đảo. Tôi chạy ra sân, nắng hoa cả mắt, khi vào nhà nhìn mãi không nhận ra cái áo của mình treo ở mắc. Từ màu xanh quân phục, nó chuyển sang màu vàng như nghệ. Chính cái nắng làm cho tôi vàng cả mắt. Tôi lại nằm xuống, mồ hôi ròng ròng như có con gì bò khắp mình. Tôi nằm thiếp một lúc, nóng từ trong ruột nóng ra khi ngồi dậy vệt lưng ướt đằm in rõ trên  chiếu. Những ống tre treo trên mái nhà thi nhau kêu toang toác Những tiếng ni lông trùng xuống, những miếng tôn vênh lên.

 Sau khi Ban chỉ huy đảo cho nghe tổng quát về tình hình đơn vị, phó chính ủy Trần Văn vỗ ống điếu cày, vỗ mãi, nhồi thuốc rồi quên hút, ngồi im như một pho tượng. Các sĩ quan chính trị tham mưu, hậu cần đi kiểm tra các mặt thuộc phạm vi của ngành mình. Cái đảo bằng "bàn tay", chỉ đảo mắt hai lần có thể biết được công việc của anh em đang làm; chỉ đảo mắt hai lần có thể biết được mọi công trình, nhưng chính vì nó chỉ bằng "bàn tay" mới khiến cho những người đầy trách nhiệm phải nhức óc: làm  cách nào cho cái đảo này thành chất thép và con người tồn tại một cách thoải mái trên đó, chứ tình hình cứ như cũ thì không được. Tất cả anh em đang hy vọng vào hiệu quả  của sự kiểm tra và nghiên cứu, ứng dụng lần này. Và dĩ nhiên, gần ba năm nay, từ ngày giành được đảo có người vẫn ở đây cho đến bây giờ, chưa được hưởng một ngày không khí toàn thắng, và xây dựng ở đất liền. Tất cả họ đã sáng tạo ra mọi cách để sống và sẵn sàng đổ máu cho đảo. Khởi đầu, có chiến sĩ đã phải nằm tạm trên cát. Có chiến sĩ đã nằm trên một chiếc ghế băng gần 300 ngày, khi ngủ  dậy thấy mình lăn xuống chân ghế tự bao giờ không biết, cát rúc vào mũi. Bây giờ, họ đang lao động kịch liệt và sáng tạo mọi công trình cho đảo. Dĩ nhiên "Vật liệu là mẹ công trình". Câu châm ngôn tình cờ tôi nhặt được ở trên đường đất liền ai viết nguệch ngoạc ở trên đống gỗ, thép, xi măng...

Phó chính ủy Văn đang nói gì một mình ở bên bờ giếng: "Tôi sẽ ra đây hẳn ba năm xem thế nào". Tôi hoàn toàn tin  rằng ông nói thật lòng trong bối cảnh đó. Tôi nhìn xuống  đáy giếng, nước trong vắt nhưng cạn. Tôi nhìn xuống biển. Nước giếng ngang mức nước biển. Thủy triều lên đần. Nước giếng cũng lên dần. Hạnh phúc lớn nhất của hòn đảo này là nước ngọt. Riêng điều ấy có thể mát lòng toàn đảo, thần kinh sẽ dịu đi, giọng người thêm êm ái. Có thể gọi giếng ấy theo lối chữ nghĩa là “ngọc tỉnh". Cái tên ấy đúng nhất là ở đảo này. Tôi bỗng thấy xót ruột như bào khi nhớ đến một số hòn đảo không có nước ngọt mà tôi đã qua.

Các sĩ quan đi kiểm tra, ghi sổ, tư duy rồi sẽ họp bàn. Một trong những bí quyết có thể nâng hiệu quả của lần kiểm tra này là: mỗi người hãy thực sự đặt vị trí mình là người ở đây. Anh sẽ ở đây 3 năm chứ không phải ở có nửa tháng rồi về.

Một ý nghĩ lặp lại, tôi cứ sợ nó mòn, nhưng nghĩ thêm thì bao giờ nó cũng rất mới, nhất là ở hoàn cảnh của nước ta. Có những anh chàng hễ chớm bước chân vào gian khổ, vấp phải khó khăn là kêu. Chỉ biết kêu, không cần hiểu thấu đến ngọn nguồn. Vì sao lại thế? Do đâu? Liệu cấp trên và bản thân mình có hết lòng tiêu diệt bớt khó khăn bằng mọi cách được không? Cái lỗi bắt rễ từ đâu, hãy bình tĩnh điều tra cho chính xác.

Nơi ăn chốn ở, cơm áo. Đời sống văn hóa. Thế giới tinh thần, tình cảm chiến sĩ... nếu thuận lợi chừng nào, hòn đảo sẽ bớt xa, bớt vắng và chữ "đằng đẵng" sẽ giảm dần ý nghĩa cho đến khi mất nghĩa.

Mới đặt chân lên đảo, cát vờn quanh chân vấn vít, tôi biết rằng cát muốn níu chân mình. Những ngày ở rừng dây thừng quấn lấy cổ tay, tôi biết rừng muốn nầm tay mình lại. Quả thật, sau thời gian dài, những sợi dây chằng chịt hữu hình và vô hình khi ẩn, khi hiện làm tôi mê mải nên trở về muộn so với thời gian dự kiến ban đầu, ở rừng có  dây, có hoa lá, có đầy người qua lại, có đủ loại chim chóc muông thú. Còn ở đảo trụi trần, đơn điệu. Nó trở thành mối lo cho người đi và sống để viết. Nhưng nắng đốt cháy tan đi những điều lưỡng lự, băn khoăn. Chỉ nửa ngày, đảo trở thành đầy ắp mọi công việc. Công việc no thừa thãi như gió lộng tứ bề. Công việc trùng trùng dâng như sóng lúc thủy triều tràn chân đảo. Công việc nhiều như ốc, như cát, như chim. Công việc vô tận như tâm tình người giữ đảo. Tôi mừng thầm đến khó ngủ, đến nỗi phải khoanh vùng công việc mới có thể thỏa nguyện trong thời gian có hạn.
« Sửa lần cuối: 23 Tháng Mười Hai, 2009, 02:21:17 pm gửi bởi phonglan » Logged

Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
phonglan
Thành viên
*
Bài viết: 500


Nụ hoa và cây súng


« Trả lời #44 vào lúc: 23 Tháng Mười Hai, 2009, 01:10:00 pm »


Trong những năm chiến tranh dài dặc, đất nước này đã sáng tạo mọi kiểu nhà thích ứng: Nhà thùng ở Trường Sơn, Nhà hầm ở Quảng Bình. Nhà được bao quanh bằng ụ ở khắp phố phường, xí nghiệp. Còn kiểu nhà nào khác nữa không thì tôi chưa được rõ. Đến dây, tôi được biết thêm căn nhà vòm nửa chìm nửa nổi. Tất cả các kiểu nhà như vậy ở đất nước này thời nào cũng có, thời nào cũng rất cần. Những ngôi nhà nhằm chống hai loại giặc thường xuyên hoành hành mà muôn đời muôn kiếp chớ ai quên: giặc giã và giặc trời. Thật vô cùng may mắn cho những người nào ở trên thế giới, không gặp phải hai loài giặc đáng căm giận bầm gan tím ruột đó. Ở những vùng ấy, họ xây nhà cửa khang trang hơn. Cố thủ lâu đời hơn. Tùy thích hơn.

Nhà của Tiến và Giáp là một chiếc nhà vòm vừa chìm vừa nổi. Mái được uốn khum lại thành vòm, úp trên cái hầm rộng. Trong đó là những tiện nghi cần thiết nhất của người lính đảo. Siêu đun nước, tích, cốc, chén, bát đũa, bàn mộc, giường đồng thời là ghế. Nền nhà lởm chởm san hô trắng như phấn. Anh em nhường giường cho cán bộ và người lớn tuổi. Vào trong mới biết ngôi nhà thành hai tầng. Tầng trên là những cái thành cát anh em chỉ việc trải chiếu ra mà nằm, nằm xung quanh nhà. Mỗi cơn gió to hoặc lốc, anh em chạy vào, sập cửa lại, gió gào điên cuồng đập cửa như quân cướp. Gió gào trên mái vòm. Gào chán rồi, gió đầu hàng và cút sạch. Những ngôi nhà vòm gớm thật. Anh em đã thắng giặc gió thường xuyên. Lần thử thách cao nhất là lần ấy. Tự nhiên cây nước chọc trời, xám ngoét mọc lên giữa biển - Một lát cơn lốc xoáy tròn vào đảo. Tất cả các miếng tôn đều bay lên rợp trời. Phuy xăng cũng bay lên. Con dao phay và thớt cua anh nuôi cũng bay lên, quay tít. Nồi niêu, xoong chảo loang xoang. Nhưng nhờ những căn nhà vòm, anh em đã chiến thắng. Họ đã thắng cả giặc mưa. Ở đây có thứ mưa đặc biệt, mưa liền chín mươi ngày, nước dâng tràn trên cát. Cho mưa tha hồ mà gõ trên mái tôn, bắn vào cửa. Rồi mưa cũng tan. Trước khi  tan, nó dồn nước xuống như trời úp, trời nghiêng, nước xối xả tối tăm mặt mũi. Có những mái nhà lơ mơ không chống nổi, anh em ngồi trùm ni lông thâu đêm, đợi đến ban ngày  tìm phương cứu chữa. Anh nuôi nấu cơm đã chín, tiếng kẻng báo giờ ăn vang trong mưa, nhưng không ai xuống bếp lấy cơm được. Mưa thường hợp cùng với gió thành một binh chủng hiệp thành tiến công, cứ ghè đảo mà đánh. Người lính từ trong mưa bão chóng trở thành dày dạn. Còn loại giặc giã, loại giặc có đầu, có mình, có chân tay cầm vũ khí, anh em cũng sẵn sàng đọ sức. Từ những chiếc nhàvòm, những con người dạn dày này sẽ nhảy lên, trụ trên chốt, dăng hàng từ mép nước, lưỡi sóng - Một buổi chiều thôi, tôi được biết bao nhiêu là chuyện như thế. Những câu chuyện râm ran trong ngôi nhà vòm mà Tiến và Giáp kể tôi nghe. Siêu nước sâm hết đầy lại vơi. Những bát nước sâm tràn lênh láng, sóng sánh những vị ngọt thiu thỉu hiền lành. Nước sâm sẽ làm người ta ngủ ngon, uống không bao giờ biết chán. Nhưng củ sâm bụ bẫm như những củ sắn được cạo vỏ phơi nguyên củ, hoặc vạc ra từng miếng mỏng rồi phơi như phơi sân. Công việc này đối với hai anh bạn đồng hương Bắc Ninh của tôi thì thuần thục hơn ai hết. Quê tôi là quê sắn, quê khoai, chiều nay, chúng tôi nấu nước bằng sâm khô hoặc sâm tươi tùy thích.

- Sắn quê ta bây giờ ăn được rồi. Ừ, ăn được nhưng là ăn non. Phải để thư thả đến tháng mười, tháng một – Tôi lẩm bẩm thế. Giáp nói luôn: "Tự nhiên lại thèm bánh sắn".

Quê Giáp ở chân núi Thiên Thai, tôi đứng ở đầu làng có thể nhìn thấy trái núi ấy. Câu ca cổ vùng này "Trèo lên trái núi Thiên Thai, thấy hai ông bụt ngồi nhai kẹo vừng". Dưới chân Thiên Thai là chợ. Kẹo vừng vùng này nổi tiếng là ngon và nhiều... Nhiều đến nỗi những hòn đá "bụt mọc"  cũng phải ăn, ăn suốt năm suốt tháng mà không chán, không hết. Ôi những bàn tay mềm mại làm kẹo vừng ấy cũng khéo nuôi con. Lớn lên rồi, con đi tận chân trời góc biển này và bây giờ đang nhắc đến thuở kẹo vừng, đang nhắc đến mùa sắn trên núi ấy, nhắc đến mùa lúa bạt ngàn ôm ấp quanh núi . Thưa mẹ , chúng con từ quê khoai quê sắn ra đi. Chắc trận bão vừa qua, các trại sắn rạp xuống, bật rễ, trơ củ non, cả vùng phải ăn sắn sượng. Những chuyện như vậy, những ý nghĩ như vậy, những người đồng hương gặp nhau ở một vùng tít tắp, kể lại, chỉ cần gợi ra nó có thể rôm rả cả năm canh trên đảo. Người ta keo sơn với nhau chính vì thế, và trở thành sức mạnh. Tiến và Giáp đã nhanh chóng coi tôi như người nhà. Tôi thầm nghĩ "tấm lòng quý mến của họ còn hơn cả tấm lòng mình". Các anh ghi vào sổ của tôi dòng địa chỉ và lời hẹn ngày gặp nhau ở quê. Đi khắp đất nước, lời hẹn đầy quyển sổ, gần như không sót một vùng nào. Tôi tự trách: "Có lẽ trên đời này, tôi là người sai hẹn nhiều nhất' và tôi lại tin, những người thương yêu ấy sẵn sàng tha thứ và họ vẫn nhớ tôi.
- Túi sâm khô dành cho anh ngày về đây.
- Vỏ ốc đủ loại, chúng tôi đã chọn hàng năm nay, mời anh cứ lấy cho thỏa cho thích.
- Đây là cành san hô độc đáo tặng anh.

Những tiếng mời thân thương, hào hiệp, dồn dập. Tôi bần thần: "Để đáp lại tấm lòng chân thành ấy, anh cũng phải thật chân thành. Đã chọn thứ gì, nó phải trở thành kỷ niệm. Đừng có trót đa mang nên phải đèo bòng. Đường xa, gánh nặng anh bỏ rơi nó dọc đường”... Cành san hô đi đường sẽ gãy nhánh. Ốc trăm loại, hãy ra ven đảo nghiên cứu và tự tay mình lấy. Chỉ có con ốc kỳ lạ, nặng đến hai cân to bằng bát canh là hấp dẫn và dễ gì đã có. Con ốc vạn thọ này gợi tôi nhớ tới một nhà thơ lão thành. Phòng làm việc của ông, sát phòng của tôi. Sớm khuya, bước chân ông về, dù tôi đang mải mê làm gì cũng lắng nghe bước chân ấy. Bây giờ, giữa chiều tà, đảo đỏ ửng, tôi ở xa lênh đênh bỗng nhớ ông. Tôi chắc, con ốc vạn thọ này ông sẽ quý.

Trời tối dần. Tôi thực hiện lời hứa, đến từng nhà mà tôi đã nhận lời mời. Đến dãy nhà pháo thủ, tôi sửng sốt thấy những anh chàng nghịch ngợm đang kéo nhau lên ngồi xúm xít đỉnh nóc nhà. Họ lên làm gì vậy? - Mọi người đều vây quanh cái đài bán dẫn. Họ kéo cần ăng-ten, giơ cao thẳng tay, mặt đài hướng về Hà Nội. Đài phát thanh bật đầu tường thuật trận bóng đá giữa đội quân đội và đội nào đó của nước bạn mà bây giờ tôi quên rồi. Cảm ơn các bạn. Cái bạn đã làm cho toàn đảo heo hút này đêm nay được một niềm vui rộn rã. Giữa giờ hai đội giải lao, anh em bàn tán: Có thể hôm nay quân đội thắng. Rõ ràng tăng đầu, đối phương bị tiến công liên tục và khung thành bao phen bị lung lay. Xem ra về thể lực đội bạn hơn đội quân đội. Nhưng lợi hại vẫn là vấn đề mưu mẹo. Tuy thế nếu chủ quan thì tăng hai coi chừng Một anh chàng quê ở Hà Nội, láu táu nói như sợ ai cướp mất lời mình: "Ngày chưa đi bộ đội, mỗi trận thế này ông bô bà bô khổ vì mình; đời thuở nhà ai có phen phải mua chui, vé hạng bét mà đến 20 đồng một cái. Nhưng cũng phải nói là ông bà cũng chiều mình". Một chiến sĩ quê Hà Tây tiếp theo: "Từ bé đến giờ mình chưa biết sân Hàng Đẫy thế nào, nhưng mê xem đấu bóng như mê gái. Mê mấy thì mê chứ 20 đồng thì sợ quá. Hôm đến Hà Nội, mắt mình trông thấy rõ ràng một lão công tử chả biết từ đâu tới, quăng một cái áo vét tông dạ mới nguyên để đổi lấy một cái vé loại A. Một anh chàng khác lại đưa ra cái đồng hồ Pôn zốt đê đổi một cái vé loại B. Mình ở ngoài không tài nào hiểu nổi. Nhưng sau mình đoán: Những thằng cha này ăn cắp được của hoặc chí ít nó cũng phải hái bạc vạn như chơi. Mình thì đến tết mới có những thứ ấy. Mình chả hiểu sao người ta mê bóng đá đến thế nhỉ. Ngoài sự giải trí ra thì còn cái gì?". Chắc nhiều anh muốn tranh luận, nhưng chính tiếng còi bắt đầu tăng hai lại cắt những lời định bênh vực cho nền bóng đá. Mọi người im lặng, hồi hộp... Xa xôi quá, sóng yếu, tiếng dội từ đất liền ra khi nổi khi chìm, khi mờ khi tỏ.

- Khi em bắt đầu ra đảo thì vợ em có thai. Nay đã bảy tháng. Em vừa viết thư về, đặt tên trước cho đứa con. Anh là người văn hay chữ tốt, anh nghe thử có được không? Nếu con trai, em đặt cho nó là Trần Hải Đảo. Nếu con gái là Trần Hải Quy.
Logged

Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
phonglan
Thành viên
*
Bài viết: 500


Nụ hoa và cây súng


« Trả lời #45 vào lúc: 23 Tháng Mười Hai, 2009, 01:11:55 pm »


Dưới trăng khuya, tôi vẫn nhìn rõ nét mặt và nụ cười hóm hỉnh của anh chiến sĩ vừa nói. Tôi thực lòng khen ngợi những cái tên người như thế. Nó ít mòn, ít sáo rỗng và lại xứng với nghĩa. Hình như mỗi chiến sĩ đều yêu da diết cuộc đời biển cả của mình, biểu hiện bằng những dấu ấn sao cho suốt đời mình, đời con phải nhớ và trở thành kỷ niệm tuyệt vời thiêng liêng. Chỉ trong số mươi người này, khoảng nửa giờ trò chuyện, tôi có thể thống kê ra đây những hàng tên dự kiến sẽ tiếp nối các anh: Thủy Triều, Hải Lý, Hải Quy, Đông Hải, Đại Dương, Bình Sa, Viễn Hải, Hải âu, Thanh Ba, Long Hải v.v... Họ nhà biển, họ nhà đảo trùng trùng vô tận, nối tiếp đời này qua đời khác.Những người đẫm cuộc đời với biển, yêu biển đến như vậy đã đành. Có nhưng người ở đất liền, chưa hề biết biển mà cũng yêu biển kính trọng biển đến kỳ lạ. Rất nhiều ví dụ. Một cô gái người Giáy ở tận Lào Cai, tự đặt tên cho mình là Hải Sa. Một cô gái xứ Lạng, khi đến đỉnh Trường Sơn, đổi tên mình là Hải Lý, Trùng Dương.
- Anh mới ở đây một ngày một đêm. Anh thấy cuộc sống chúng em thế nào ? 
Tôi trả lời câu hỏi ấy của một chiến sĩ:
- Không trả lời hết được. Rất xúc động. Nhưng theo cách nói của mình thì tóm tắt trong mấy chữ "đầy". Cái gì cũng "đầy" chứ không ở bậc "trung". Đầy sóng gió, đầy gian khổ, đầy tình, đầy nghĩa và cũng đầy kiêu hãnh, tự hào, đầy dũng khí, đầy lòng hy sinh cao cả...

Tất cả cười vang một góc đảo. Riêng tôi im lặng sau khi một mạch trả lời như vậy.

- Chúng em suy nghĩ thế này, anh xem có đúng không nhá ! Bọn lính đảo chúng em hay nói toạc móng heo và tự tin lắm, chứ không biết nói khéo đâu anh ạ...

Người vừa nói, là Phùng Đại Dương, quê anh ở xã Hải Thành, huyện Hải Hậu, Nam Hà. Mẹ cha anh làm nghề đánh cá, nghèo. Anh được đi học. Thương mẹ cha vất vả, anh trở thành một học sinh xuất sắc. Sau khi tốt nghiệp 10 anh nghĩ: "Có hai trường đại học bầy ra trước mặt. Đại học dưới mái trường và đại học Đại dương. Đại học nào cũng phải qua một kỳ thi qua cuộc tuyển. Đại học dưới mái trường thì dù học giói mấy cũng chưa chắc người ta cho mình trúng tuyển. Đại học Đại đương thì anh cả quyết sẽ trúng tuyển loại ưu". Anh đã làm đúng ý nghĩ. Bây giờ anh đang sống ở đây.

Anh nói tiếp, giọng hùng hồn và có vẻ lý luận. Luận lý nhuyễn như đã được nghĩ kỹ từ lâu, bây giờ mới có dịp giãi bầy, tâm sự:
- Một cán bộ cao cấp (ấy chỗ này lại phải khéo, em hơi phong kiến một tí, em miễn nói tên ông ấy, sợ ảnh hưởng đến uy tín cán bộ. Mặc dầu chỉ là cá nhân ông A hay ông B chứ không phải là tổ chức). Trước hàng quân sắp ra đảo ông ấy động viên, nói là đảo có đèn nê-ông, có nhà ngói, nơi ăn chốn ở đàng hoàng có vườn tược, có cây hoa lá. Thức ăn bơi đầy ven đảo. Chúng em giàu tưởng tượng, thấy đảo xuất hiện như thần thoại hoặc trong phim, trong truyện người ta hay nói đến. Khi đoàn quân đặt chân lên đảo thì nó lại kém cả hôm nay rất xa. Chúng em chả ai trách ông ấy làm gì nhưng có bàn tán. Một là ông ta hoàn toàn không biết cái đảo này thế nào. Hai là ông ta biết nhưng cái tội nặng không thể tha thứ được là nói dối vàcoi thường tinh thần chiến sĩ. Chúng em nói thế, còn anh dám viết ra hay không dám viết ra xin tùy ở anh. Chúng em tin rằng chúng em suy nghĩ đúng đường lối, suy nghĩ đúng ý của Đảng, của Bác Hồ . Chúng em cho rằng trong hoàn cảnh nước sôi lửa bỏng, một mất, một còn của Tổ  quốc một là không nên nói ra, vì nói ra không lợi. Hai là cứ nói rõ sự thật khi mà quần chúng đã nhận thức vững vàng, được thử thách, và đáng tin cậy. Nói thật khi ấy có thể lại là sức mạnh để giục bởi mọi người vượt qua và chiến thắng.

Trường hợp cụ thể của đảo này, chúng em cho rằng: đồng chí ấy có thể nói rõ sự thật. Chúng em xin sẵn sàng đi bất cứ đâu. Ai thoái thác trước yêu cầu của Đảng thì khỏi phải bàn. Họ là người tồi - Hoặc là đồng chí ấy không nói cụ thể về đảo, chỉ cần noi là có yêu cầu cấp thiết, rồi động viên anh em đi. Khắc đi khắc biết - Như vậy cũng là đủ. Ai ngần ngừ, tính toán là người không xứng đáng. Chúng em tin là hoàn toàn sẽ không có ai thoái thác chần chừ. Dứt khoát mệnh lệnh, kỷ luật sẽ được chấp hành nghiêm chỉnh. Trước mặt là cái chết mà bao nhiêu người cha, người anh, đồng đội chúng em và cả chúng em vẫn nhất tề xông lên, nữa là cái đảo này đã thấm vào đâu so với những điều đó. 

Anh ở đây ít ngày, anh sẽ hiểu chúng em hơn - Nhiều anh em thấy khổ cũng có kêu ca đấy, cũng nhớ người yêu, nhớ vợ, nhớ con, cũng buồn đấy. Nhưng chúng em đã bảo  nhau và từ ngày ra đảo, chúng em đã làm chết thôi, không có việc nào là không hoàn thành tốt. Ai ở một năm, ra một  năm, ở ba năm, ra ba năm. Cái gương trước mặt kia chứ  đâu nữa - Thủ trưởng Thừa, tóc đốm bạc rồi mà còn ra thay thế chính trị viên thế thì hết ý rồi chúng em cũng hết nói... 

Dương ngưng lời. Những người xung quanh, đều gật đầu sung sướng.

Phùng Đại Dương ạ, hôm nay tôi trân trọng chuyển đến độc giả của tôi những suy nghĩ của anh. Đoạn văn này là của anh. Đoạn văn đúng như vậy, không thêm, không bớt, chỉ khác là được sắp xếp lại và thể hiện ra bằng chữ. Cảm ơn ác chiến sĩ Trường Sa! Dù nghĩ các anh có thể thay cho ý nghĩ của tôi, và có lẽ cũng là ý nghĩ của hàng chục triệu người đang sống đúng đắn của đất nước ta hôm nay. 

Trăng đỉnh đầu. Không giờ ba phút. Tôi khẽ đặt lưng xuống giường, ánh trăng đã xiên ngang, chiếu tràn đầy mặt. Gió tung màn. Tôi ngủ một giấc ngủ thật ngon ở đảo đêm  đầu tiên.

Sáng hôm sau, mặt trời lên, đẩy lùi mặt trăng đến tận  cuối trời. Sao Mai sáng quắc như một ngọn lửa lơ lửng. Tôi  theo dõi những đàn chim đứng sắp măng trùng điệp hướng  ra khơi. Tất cả, chúng im lặng nghiêng đầu nghe ngóng. Từ đầu đàn, con chim chỉ huy vừa cất lên tiếng "chéc" rất  gọn, lập tức hàng nghìn con vỗ cánh bay vù một lúc. Có khi chúng bay đi xa đến biệt tăm biệt tích. Chúng bay thành hàng ngang trùng trùng như những đợt sóng. Tôi chợt nghĩ những mùa sếu ở quê tôi. Quê tôi quen gọi chúng là cà kếu. Mùa lụt, chúng đậu đầy trên gò. Khi no mồi chúng tập họp, tất cả cũng im lặng nghển cái cổ dài  ngoẵng để nghe lệnh. Từ đầu đàn con chỉ huy cất một tiếng "cà... kếu". Thế là tất cả co chân cà kếu bay lên. Con  đầu đàn bay trước mũi nhọn, đội hình dàn thành hai cánh rất đều như cánh mũi tên. Chúng bay cao tít tắp, tiếng "cà...kếu” khắp trời. Tiếng kêu ngày đêm đến nẫu lòng  người, báo hiệu mùa màng trơn trắng. Vậy là chim đảo và chim đồng có cách bay khác nhau. Ngày ở ngắn ngủi, tôi chỉ quan sát được bốn loại chim: chim cun cút lui thủi, cái   bụng tròn mập. Chim nhạn bay vung vít, bất chấp mùa nào... Hải âu trắng lóp. Và chim vịt giời. Vịt giời ở đây biến dạng: mỏ dài và nhọn, chân cao lêu nghêu, mảng bàn chân dày. Tôi có ấn tượng là lúc nào chúng cũng hay la ó như có chuyện gì sắp xảy ra. Tôi ví chúng như một loại người hay đi tung bừa tin nhảm. Hình như anh em  chiến sĩ trên đảo cũng không cảm tình gì với loại chim này. Từ xưa, người ta đổ trăm tội lên đầu chúng, trở thành ấn tượng xấu. Tin vịt. Hứa vịt giời. Nước đổ đầu vịt, chạy như vịt.

Ấy ở đảo này chim bạt ngàn như vậy, những người lính đảo vẫn thèm một tiếng chim hót. Tuyệt nhiên ở đây không một con chim nào biết hót, biết ca. Chúng chỉ biết kêu, kêu quanh năm ngày tháng đến rợn tai người. Tiếng kêu cũng duy nhất một giọng đơn điệu "chéc"! Thế nên có một lần đảo này xảy ra một câu chuyện mà nơi đất liền không bao giờ có được: một con tàu vừa đậu, một cánh cò trắng lốp vụt bay vào giữa đảo, lập tức tin loan khắp đảo: "Cò trắng, cò trắng". Toàn đảo ra ngắm cánh cò bay lả bay la. Nó bay mãi quanh đảo rồi đậu xuống. Lính ùa ra vây lấy cò. Mọi người bế, ôm. Cò được ăn cá bể no nê. Ngày một ngày hai  thời tiết khắc nghiệt, cò lả dần, đến nỗi bác sĩ Linh cũng bó tay, hết phương cứu chữa. Rồi cò nằm xuống vào một buổi chiều. Toàn đảo mất một niềm vui mặc dầu niềm vui ấy nho nhỏ. Người buồn nhất có lẽ là hai anh lính trẻ vừa qua tuổi thiếu niên: Đức và Minh. Hai cậu ta làm ma cho cò gần giống như ngày xưa thơ bé vẫn làm ma cho bướm và chuồn chuồn... Đảo đã cho các anh những tâm hồn đẹp như thế. Phải chăng, cánh trắng con cò đã làm cho quê hương gần lại.

Ngày ở đây dài lắm. Những anh em đã từng ở Trường Sơn nay ví ba tháng ở đây bằng ba năm ở Trường Sơn ánh sáng ở đây trong suốt hơn bất cứ nơi nào, không một thứ gì có thể cao hơn cái mái nhà vòm, để che khuất. Chớm mai là mặt trời lên. Tận cùng mặt trời xuống. Không gian ở đây tuyệt vời là thênh thang. Một tiếng sáo cất lên ở góc đảo, nó bay vút lên trời tưởng như một sợi tơ tít tắp rồi nó lan ra biển âm thanh độc đáo của sáo không tiếng chim, tiếng sóng nào át nổi. Những chiếc diều vừa rời tay chiến sĩ, được gió, bay lên tận trời xanh. Cát ở đây quý lắm. Anh em giữ cát như giữ thóc phơi ở nhà mình. Mỗi một người đều tính toán và hiểu được chi li: cát phủ mặt đảo có ba mươi phân, dưới đó là san hô lởm chởm. Lúc đảo vẹt, tức là lúc triều lên. Lúc đảo bồi, đảo nổi mỗi chiều thêm được 30 mét rưỡi. Phân chim ở góc đảo phía Tây dày hàng thước. Một con tàu rất tình nghĩa (người ta hiểu rằng đảo quý đất liền đến mức nào), đã chở tặng đảo một ít đất mầu. Anh em đảo dùng tay để vốc đất lên. Ai cũng khen đất mát lạnh cả gan bàn tay, xuýt xoa mãi. Đất được thu vào một mảnh vườn, nơi đó rau sẽ xanh um. Con tàu tình nghĩa quay về, anh em đáp lại thịnh tình: tặng 50 tấn phân chim. Cây cối trên đất liền được bón bằng phân chim thì tuyệt. Cây lớn như có ai thổi lên, bơm lên; ấy thế, nhưng với thời tiết khắc nghiệt ở đảo, bao nhiêu thứ cây ra đây, dù bón phân chim đến ngập góc, vẫn xác xơ và chết dần chết mòn. Dừa non vừa được trồng, sau ba hôm đã thành dừa cụ non; lá bạc dần như đầu bạc, rụng dần như tóc rụng. Cây dừa cạn, hoa vừa xòe năm cánh đỏ trên chậu rồi cũng lụi dần. Toàn đảo chỉ có bốn loại cây, cỏ la sống thoải mái, bụ bẫm mà không cần bất cứ bàn tay nào chăm bón thậm chí "đánh" cũng không chết. Cây sâm đất phơi mình trên cát bỏng, anh em thử băm củ nó ra, chặt cành làm nhiều đoạn, rồi tung trên cát. Không một giọt nước tưới tắm, không một vốc phân chim, chỉ mười ngày sau, chúng thành bạt ngàn mầm non tơ như xuân đến. Rau muốn biển mang màu xanh mát mắt. Hoa nở tím một vùng. Rau sam hồng hào, mới nhìn nó đã thấy vị giôn giốt, đỡ những cơn khát cháy cổ. Loại thứ tư là loại cỏ dại. Loại cỏ biến dạng nên không biết gọi nó là cỏ gì. Nó che cho trứng chim và chim non. Anh em hy vọng và quả quyết: "Biến đảo trắng thành đảo xanh". 


                                                                                                                    D.K
Logged

Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
phonglan
Thành viên
*
Bài viết: 500


Nụ hoa và cây súng


« Trả lời #46 vào lúc: 23 Tháng Mười Hai, 2009, 01:13:29 pm »

  
Nguyễn Bảo  

  
SÓNG GIÓ TRƯỜNG SA  



                                                                                                               Bút ký

Chiếc tàu Ti Tan lừng lững như một ngôi nhà cao tầng của Binh chủng Hải quân bắt đầu nhổ neo. Những bí ẩn của biển khơi, muôn ngàn điều muốn biết về cuộc sống của bộ đội ngoài đảo Trường Sa đối với tôi như một lời vẫy gọi. Song nghĩ đến việc lênh đênh trên biển suốt cả hàng chục ngày cũng rờn rợn. Liệu rồi có say sóng, nôn mật xanh mật vàng ra không đây? Sau năm 1975 tôi từng theo một đoàn tàu đánh cá của dân chài Đà Nẵng ra biển. Được hai ngày họ đã phải gửi tôi qua tàu khác vào bờ. Cả hai ngày tôi không còn có một mong mỏi gì khác hơn: Biển hãy lặng đi ít phút. Trời ơi, giá có một bờ bãi để mình lên đó chốc lát chứ cứ thế này đến chết mất.  
- Anh yên tâm đi - Tàu trưởng tàu Ti Tan vừa nói vừa xua xua hai bàn tay - Tàu anh đi hồi đó nhỏ tin hin. Tàu chúng tôi là tàu cứu nạn. Trừ bão tố, còn sóng vặt chả nhằm nhò gì.  

Anh chỉ tay về phía Trung tướng Lê Hai đang xăm xăm bước lên tàu. Đúng là thế. Thủ trưởng của tôi năm nay đã ngoài 60 còn chả sợ, cùng lúc đó, các cô văn công đi theo đoàn đang tíu tít đưa tay cho bộ đội Hải quân kéo lên tàu không khí chộn rộn giữa những người ra đi và người đưa tiễn đã khiến tôi khuây khỏa phần nào. Người lên tàu cuối cùng khiến tôi chú ý là diễn viên Minh Ngọc, có biệt danh là "Ngọc choắt". Cô vừa biểu diễn cho bộ đội Hải quân tối qua. Cô nhỏ nhưng giọng to và vang. Chúng tôi đã yên vị trên tàu mà cô vẫn cứ chùng chiếng ở bến cảng.
- Chúc đi vui vẻ, đừng say sóng nhé - Một số người trên bờ vẫy tay chào Ngọc.
- Em đi đây. Có mà say các anh í ...
 
 Tiếng cười, tiếng "ái chà" rộ lên cả một khúc sông.  
 
Ngọc "choắt" bỗng có thêm mấy cái nhất: bé nhất, giọng to nhất, nhiều người tiễn nhất, và táo bạo nhất.  

***

Tàu đi yên ả, ngỡ thế này có thể đi tận cùng trời. Mọi người đổ ra sàn tàu để ngắm cái màu xanh mênh mang của biển cả. Hai bên mũi tàu có lúc cá bay lên như những đàn chim. Thoạt đầu, tôi tưởng là chim thật, và lấy làm ngạc nhiên sao lại có những đàn chim sống được dưới mặt nước. Phải ngồi ở mũi tàu, mở căng mắt nhìn mới biết đó là những đàn cá chuồn. Chúng bay trên không một đoạn xa để tránh con tàu. Một thúy thủ trên tàu đứng cạnh tôi, thỉnh thoảng lại kéo lên sàn tàu một con thu bự, nặng trĩu. Anh đưa tôi dây câu và bảo tôi cùng câu cho vui anh dặn:
- Anh phải rút dây thật nhanh. Con mồi dưới nước phải chạy vùn vụt mới lừa được con thu. Nếu để nó phát hiện đó là con cá đã chết, hoặc một miếng mồi, không bao giờ nó thèm.

  Những con thu như thế được luộc lên ê hề. Ai ăn đến đâu tùy thích: Ban đêm, quanh ngọn đèn tỏa bóng xuống nước ở sàn tàu cá mực bâu nhau đến chao liệng, không cần câu mà chỉ dùng vợt xúc lên ... Có đi một chuyến như thế này mới biết sự giàu có của lòng biển. Cơ man những hải sản dưới những con sóng và bắt chúng không phải khó khăn gì lắm. Những con cá khổng lồ như cá voi vốn chỉ được nghe kể hoặc xem ti vi, trong chuyến đi này tôi đã nhìn thấy vài lần. Nó vùng quẫy gần ngay con tàu hoặc cạnh đảo của bộ đội. Còn bộ đội trên đảo nói, lắm khi họ tắm chung với cá mập nhưng có cách vui vẻ với chúng mà vẫn an toàn.

Đối với họ, không gì sung sướng bằng được nhìn thấy tàu, thấy người từ đất liền ra. Tàu chúng tôi hầu hết đều cập được các đảo. Tàu lớn không vào được đã có xuồng của tàu, của đảo đưa đón. Nhưng đến đảo M thì một tình huống đã xảy ra. Mưa gió rùng rình suốt ngày đêm. Tàu lớn đương nhiên không thể vào được vì sợ mắc cạn. Xuồng mon men vào thì bị tung lên cao, ném ra xa. Nhìn thấy tàu lớn, bộ đội tràn ra mép đảo mặc mưa gió, nhảy loi choi trên nước vẫy tay mời gọi rối rít. Trung tướng Lê Hai quyết định phải tìm mọi cách vào đảo. Trên đảo cán bộ, chiến sĩ cũng cho hay sẽ đón đoàn vào đảo bằng được. Tình huống này có hơi mạo hiểm, mọi người khuyên Trung tướng Lê Hai không nên đi, nhưng ông lắc đầu chỉ thị chọn lấy bảy người đại diện cho các cơ quan, đương nhiên phải  cô một suất cho các cô văn công. Để bảy con người này xuống được xuồng cũng là một cuộc vật lộn gian khổ và nguy hiểm. Sóng lớn dồn đến đẩy xuồng vút lên cao mấy  chục mét mạnh như một viên đạn bay ra khỏi nòng. Nếu xuồng đập vào mạn tàu,xuồng sẽ tan tành. Chờ đợi thời cơ từng giờ, từng phút bảy con người nói trên mới rời được tàu lớn. Các chiến sĩ trên đảo cởi trần đánh vật với mưa gió, với sóng từ lúc nào, dăng hàng ở chân đảo để kéo chiếc xuồng vào. Từ đảo được tung ra những sợi dây, chuyền qua tay bộ đội ném lên xuồng. Trên xuồng cũng ném dây cho bộ đội đang nhấp nhô trên mặt sóng. Mỗi lần các đầu dây gần đến được vị trí lại bị sóng đánh bật ra xa vời vợi.

Cuối cùng, Trung tướng Lê Hai cũng đã cùng những người đi theo vào được hòn đảo. Gần một ngày hôm sau vẫn mưa, vẫn gió tơi bời. Trung tướng Lê Hai kể lại rằng đêm hôm đó cả khách, cả chủ không ai ngủ, hết kể chuyện lại nghe ca hát. Riêng ông nhấp nhổm không yên. Ngày con tàu quay vào đất liền gần hết mà đoàn còn bao nhiêu việc cần làm. Đối với cán bộ chiến sĩ trên đảo, mưa gió càng kéo dài càng tốt, họ càng có dịp để vui, để biết chuyện ở đất liền nhiều hơn, và để nghe Ngọc choắt hát không biết chán. Tuy vậy, đọc được nét băn khoăn trên mặt Trung tướng Lê Hai, bất chấp mưa gió, họ lại giăng hàng trên mặt biển giăng dây níu xuồng ra với con tàu. Cùng lúc ấy, trên tàu nhiều cô văn công không rời được căn phòng của mình. Tiếng ọ ọe nôn mửa liên tục. Nhiều chàng trai lừ đừ nằm thượt trong phòng nhắm mắt lại. Tàu trưởng cho biết đây mới là gió cấp 3, chưa ăn nhằm gì với cánh thủy thủ trên tàu. Tươi vui hơn cả vẫn là Ngọc choắt, mình cô đảm nhận cả một đêm diễn ở đảo M. Cô lệ mệ ôm cả một đống hoa, ốc nón do bộ đội tặng, mang lên tàu.

Rời đảo M. đoàn tàu đến đảo Q. Một số đảo lân cận cũng được báo tin có văn công từ đất liền ra biểu diễn ở đảo Q. Nhưng mưa gió vẫn chùng chiềng lúc đi lúc ở, vì thế mà cán bộ chiến sĩ ở các đảo đó không đến được chăng? Khi đoàn chúng tôi đã túm tụm ở chân đảo chuẩn bị lên xuồng bông thấy ba chiếc xuồng nhỏ đang lao vùn vụt từ ngoài xa về phía đảo Q. Tay họ chèo hối hả, mắt  hớt hải. Chúng tôi đưa tay vẫy họ. Họ vẫy lại rối rít. Đoàn đành dừng lại đợi họ. Các cô văn công đề nghị xin được biểu diễn thêm phục vụ cán bộ chiến sĩ vừa đến. Ở chiếc  xuồng đầu tiên, Ngọc choắt như bị hút hồn bởi một chiến sĩ còn trẻ măng, quần áo ướt rượt. Khi chiến sĩ này nhảy lên chân đảo, Ngọc choắt liền chạy đến ôm chặt.
- Hưng, răng Hưng lại ở đây?

Tất cả chúng tôi cười rộ vì câu hỏi vô tư, hồn nhiên của Ngọc choắt. Té ra đây là đôi bạn cùng học với nhau. Hưng học vào loại giỏi nhưng lại thích vào bộ đội. Những ngày cuối cùng ở trường phổ thông trung học, Hưng và Ngọc luôn quấn quýt bên nhau. Đến lúc có thể thổ lộ hết  với nhau về tình cảm của mình thì Ngọc nhận được giấy triệu tập về Trường Cao đẳng văn hóa nghệ thuật Quân  đội. Hưng có lệnh nhập ngũ rồi ra Trường Sa. Họ xa nhau từ đó. Ngọc vẫn chưa hết bàng hoàng sửng sốt. Cô hầu như không biết gì tiếng cười và những cặp mắt đang hướng hết vào cô. Hưng bẽn lẽn, đỏ mặt, tay chân lóng ngóng. Anh chưa bao giờ được một cô gái bộc lộ tình cảm  thắm thiết như thế này. Những chàng lính trẻ vừa rời xuồng với Hưng tỏ ra dạn dĩ hơn. Họ dúi Hưng sát Ngọc hơn, cười rinh rích. Một anh trong họ cổ xúy:  
- Ôm lấy bạn mà hôn đi chứ. Ao ước mãi, bốc phét mãi, bây giờ đứng đực ra thế kia. Cái thằng, có chi mà ngượng.  

Buổi biểu diễn được tiếp tục ngay sau đó. Bạn bè ưu tiên cho Hưng được cầm hoa lên tặng Ngọc. Hoa trên đảo  là những san hô, vỏ sò, vỏ hến được kết dính với nhau rất khéo. Sau mỗi tiết mục, bộ đội thường ào lên tặng hoa và ôm hôn các cô. Vui vẻ nhất và cảm động nhất lắm khi là ở  lúc này. Song trường hợp Ngọc choắt lại khác. Thay vì thầm thì xin phép được hôn như các chàng trai khác, Hưng ghé vào tai Ngọc nói nho điều gì đó. Ngọc khẽ gật  đầu. Sau buổi biểu diễn, Ngọc đề nghị đoàn tối nay đến đảo của Hưng. Người chỉ huy đồng ý. Trời đang ỉu xìu bông hửng nắng. Những gương mặt bừng sáng từ các mái nhà túa ra chân đảo. Họ mừng vui, nhảy loi choi ở mép sóng...
« Sửa lần cuối: 23 Tháng Mười Hai, 2009, 02:23:43 pm gửi bởi phonglan » Logged

Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
phonglan
Thành viên
*
Bài viết: 500


Nụ hoa và cây súng


« Trả lời #47 vào lúc: 23 Tháng Mười Hai, 2009, 01:15:50 pm »


Tối đó, đoàn chúng tôi chia nhau về các trung đội. Tôi theo Ngọc đến trung đội của Hưng. Hai anh chị mới về lán đã thắp đuốc cùng nhau đi ra hồ. Ở giữa trùng khơi này mà có hồ mới lạ. Đó chính là những bãi san hô, những bãi đá có khi rộng mênh mông đi cả buổi chưa hết. Những bãi này được bộ đội gọi là hồ. Hồ rất nhiều cá. Lính ta bắt cá khá dễ dàng. Chỉ cần khuấy nước tung tóe, cá to cá nhỏ vội vã chui vào các hộc đá, kẽ đá, nằm im thít. Ban đêm, cần có đèn, hoặc đuốc để soi. Người đi soi cá cần có một  chiếc xiên cắm ở đầu gậy. Dùng xiên này ấn xuống, các chú cá chỉ còn biết quẫy để rồi ngoan ngoãn nằm gọn trong tay của lính ta. Mới một nhoáng, Hưng và Ngọc đã xiên được cả một xâu cá. Các chiến sĩ khác cũng lục đục kéo về với rất nhiều xâu cá. Họ kháo nhau ầm ĩ. Một đống lửa được nhóm lên giữa lán. Mùi cá nướng thơm ngào ngạt. Một nồi cháo lớn cũng được bắc lên, để xì xụp với nhau và đãi khách đất liền...
- Thế này nhé. Hồi sáng - Một chiến sĩ trẻ nhanh nhẩu định nói gì đó với mọi người đang quây quanh bếp lửa.
- Lại chuyện hồi chiều mày lặn xuống biển lấy ốc nón định kỉnh thằng Hưng suýt nữa thì chết ngoẻo phải không? Thôi đi, mày kể đến chục lần rồi đấy - Một chiến sĩ cạnh đó ngăn lại.
- Hay để tớ kể chuyện sáng nay tớ bẫy chuột ở vườn rau nhé. - Một chiến sĩ khác đề nghị.
- Chuyện ấy mày cũng kể cả chục lần rồi mà nhắc đến rau phát thèm, thôi để thằng Hưng và cô văn công của nó kể chuyện yêu nhau và gặp nhau nghe sướng hơn - Một chiến sĩ khác chen vào.
- Có gì mà kể, thôi em hát tặng các anh một bài vậy hí... Ngọc cười khúc khích dúi đầu vào sau lưng Hưng.
- Được đấy hát đi, nào...
Cuộc vui đang ran biển ran trời thì có lệnh: những người trong đoàn phải nhanh chóng về tàu lớn...

Nghe các thuỷ thủ trên tàu xì xèo, tôi biết trên mặt biển mênh mông này đang xảy ra sự cố gì đó. Tôi mon men đến gần buồng lái. Tàu trưởng đang nói chuyện với một người ở một con tàu khác. Tàu này chở xi măng, đất cát ra ngoài Trường Sa Lớn. Hình như con tàu đang có trục trặc muốn nhờ tàu Ti Tan giúp đỡ.

Tiếng đồng chí Tàu trưởng thân ái:
- Ông cứ chịu khó nằm đó đi. Đằng nào tôi cũng tới nhưng cũng không thể bỏ kế hoạch ở đây được... Tôi đang hò hét mọi người về tàu gấp để đi đây.

Họ còn nói với nhau gì đó nữa, mặt tàu trưởng lúc buồn xuội, có lúc mày chau lại. Khi cúp máy, anh trút một hơi thở dài:"Cái thằng VFP (chính là nói về con tàu của bạn) tham quá đi, bao giờ cung chở quá tải..." 

Đồng chí lái tàu thủng thẳng đáp: 
- Thằng mẹ nào chả tham, không chở thêm nguyên liệu, thức ăn đồ uống thì thêm người, cũng biết là phạm quy ấy, nhưng lại thương anh em trên đảo ... khổ thế.

Liền sau đó, tàu trưởng gọi điện về đảo lớn, mặt anh rạng rỡ, giọng ríu ran. Anh hẹn với anh em trên đảo chuẩn bị lực lượng ngày mai tàu của anh sẽ đến. Anh em trên tàu sẽ có cuộc đấu bóng chuyền giao hữu với bộ đội trên đảo. Lại vẫn giọng chậm rì của đồng chí lái tàu:
- Liệu có thắng được người ta không mà hăng hái thế?
- Cứ phải quyết tâm, còn thắng thua biết thế nào được. Lính đảo dai sức lắm.
- Còn chuyện tàu VFP tính sao ?
- Thì cũng cứ là xong ráo mọi chuyện. Họ nhờ mình, chối sao được? Rồi sẽ có lúc mình lại nhờ họ. Trên biển cả mênh mông này, không dựa vào nhau chỉ có nước "ngoẻo".

Tàu trưởng ra khỏi khoang lái, í ới gọi thủy thủ thông báo ngày mai sẽ đấu bóng chuyền giao hữu với bộ đội ở đảo lớn. Nhiều anh em nhảy cẫng reo hò. Con tàu rậm rịch ồn ã. Đứng cạnh tôi, Trung tướng Lê Hai trầm ngâm:
- Còn các đảo nhỏ, các đảo chìm thì tính sao đây? Ông hỏi một cán bộ tuyên huấn Hải quân.
- Khoản bóng đá bóng chuyền thì đành chịu đấy Thủ trưởng ạ.
- Không! Tôi đi qua mấy cái đảo đó anh em đề xuất rất hay. Mua cho anh em thật nhiều sợi dây. Anh em buộc  bóng lại, vẫn chơi được đấy, bóng không bay ra nước, mà có bay ra, đã có dây kéo lại. Các anh cứ cho làm thử xem nào? 

Trung tướng Lê Hai là một người như thế, vốn trước đây là một nhà lý luận, một nhà báo, nhà giáo nhưng ông lại là một người rất thực tiễn. Việc to việc bé ông đều quan tâm thấu đảo. Mặc dù vậy, trong chuyến đi này cũng đã có việc xảy ra ngoài ý muốn của ông.

Đảo cuối cùng chúng tôi dừng lại là đảo S. Khung cảnh ở đây rất rộn rịp vui vẻ. Nhưng lễ nghi trang trọng; những cuộc giao lưu văn hóa. Cả đảo sôi sục với trăm ngàn hoạt  động của bộ đội, của nhân dân trong công cuộc sản xuất, lao động xây dựng. Ở đây mọi hoạt động của cuộc sống không khác xa mấy so với đất liền.

Tuy nhiên, sự chờ đợi háo hức của cán bộ chiến sĩ ngoài đảo xa vẫn giống nhau ở chỗ: mong được tận mắt nhìn và nghe những nghệ sĩ ở đất liền đến đây biểu diễn. Vì thế, chúng tôi sớm nhận ra: có cái gì khác lạ trên đảo S này.

Trước giờ biểu diễn, không khí ở đây có vẻ trầm lắng hơn các đảo khác. Buổi tối, khi chúng tôi đến, quanh khu vực các diễn viên sẽ biểu diễn có một lớp dây bao quanh làm rào chắn. Khi các tiết mục kết thúc, cán bộ chiến sĩ lên tặng hoa, nhưng gương mặt không vui, không cán bộ chiến sĩ nào ôm hôn các cô văn công. Những pha vui nổ trời thường có ở các đảo đã không xảy ra ở đây. Có một cái gì đó buồn tẻ hẫng hụt bao trùm lên buổi biểu diễn. Hỏi ra, mới hay, trước đó tiểu đoàn trưởng ra lệnh không một người nào được lên ôm hôn các cô gái. Chúng tôi tới gặp vị tiểu đoàn trưởng. Anh ta giải thích: Anh em trên đảo xa  đất liền hàng năm không gặp phụ nữ, khi gặp có những biểu hiện thái quá. Lần trước có cô văn công phải khóc vì bị một anh nào đó cắn vỡ cả khuyên tai. Có cô má bị bầm tím vì bị bộ đội hôn mạnh quá. Chúng tôi không thể đồng tình với vị chỉ huy này. Việc bộc lộ tình cảm thái quá của bộ đội trên đảo có thể nhắc nhở rút kinh nghiệm, chứ không nên vì thế mà ngăn chặn những cuộc vui hiếm hoi của họ. Chúng tôi cũng đã gặp Trung tướng Lê Hai: Ông có vẻ buồn "Rất tiếc là mình không biết trước việc đó. Suy nghĩ, việc làm của chỉ huy đơn vị như vậy là không nên, hoàn toàn không nên...". Ông chỉ nói vậy, nhưng chúng tôi biết ông rất buồn và chúng tôi cũng biết rằng sau cuộc này, ông sẽ làm việc với lãnh đạo chỉ huy đơn vị, để mai sau không còn những chuyện tương tự xảy ra. Có thể nói mệnh lệnh của người chỉ huy về việc trên là không đúng. Nhưng tuyệt vời là bộ đội ta. Họ hoàn toàn chấp hành mệnh lệnh, dẫu mệnh lệnh đó không hợp lòng họ.

Thoắt cái, gần chục ngày đã trôi qua. Tàu chúng tôi đành tạm biệt bộ đội trên các đảo để về đất liền. Mặt ai nấy xúc động. Nhiều cô văn công mát rơm rớm khi con tàu quay đầu về phía đất liền. Tôi hỏi Ngọc choắt: 
Em thấy chuyến đi này thế nào ? 
- Em nghĩ, giá đừng có đảo có khi lại hay.
- Sao lại thế? 
- Bộ đội khỏi phải ra đây giữ đảo, thương họ quá. 

Trung tướng Lê Hai đứng cạnh đó mỉm cười, nhưng khi nói, giọng nghiêm khắc:
- Thương thì thương, ai lại nói như cháu. Rồi Trung tướng giảng giải cho chúng tôi những điều quan trọng của hiện tại, của tương lai, của các nước có đảo trên biển. Những gì con người sẽ khai thác tận dụng tiềm năng của biển, của đảo trong tương lai sắp đến... 
- Mà dẫu không có những của cải vô giá ấy thì một tấc đất của Tổ quốc vẫn phải giữ gìn chứ. - Một cán bộ cạnh đó nói thêm với Ngọc choắt.

Bỗng Ngọc choắt nấc lên một tiếng rồi chạy đến xin lỗi đồng chí Trung tướng.
- Cháu thương mấy anh bộ đội Trường Sa quá nên nói bậy. Thủ trưởng bỏ qua cho cháu nhé.
Trung tướng Lê Hai, đưa tay vuốt tóc Ngọc độ lượng:
- Những hy sinh cống hiến của họ trên các đảo là điều không ai được phủ nhận, nhưng chia sẻ cảm thông kiểu cháu cũng không phải. Họ vẫn vui vẻ lạc quan. Và rất nhiều người hết nghĩa vụ trên đảo vẫn xin ở lại đấy thôi.
- Vâng, cháu biết. Anh bạn cháu ... Anh Hưng ấy, cháu định xin cấp trên cho anh về phép mấy ngày mà có chịu đâu.

Rồi cô bực dọc, cáu kỉnh một cách hồn nhiên:
- Coi biển, coi đảo còn hơn cả người yêu, Người chi lạ!

Tất cả mọi người quanh cô cười rộ lên. Con tàu vẫn lặng lẽ rẽ sóng. 
 

                                                                                                Hà Nội tháng 11-2001
                                                                                                          N.B 
Logged

Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
phonglan
Thành viên
*
Bài viết: 500


Nụ hoa và cây súng


« Trả lời #48 vào lúc: 23 Tháng Mười Hai, 2009, 01:17:34 pm »


 Tô Phương


NHỮNG KỶ NIỆM VỀ TRƯỜNG SA



                                                                                                                Bút ký

Chúng tôi theo tàu T85 từ Cam Ranh ra đảo. 

Nắng buổi sớm mùa thu trải trên mặt biển lấp loáng. Vùng biển của Tổ quốc rộng mênh mông. Con tàu mải miết chạy, mũi tàu hướng thẳng về phía mặt trời đỏ lừ vừa nhô lên. Càng ra xa đất liền nước biển càng xanh đen. Nước trước mũi con tàu dềnh lên cao, để rồi bị gạt lại phía sau sủi bọt trắng xóa.

Hôm trước ở sở chỉ huy, Bộ Tư lệnh Hải quân vùng biển X, các đồng chí cán bộ lãnh đạo dự kiến chở một chuyến hàng đặc biệt ra đảo Trường Sa: 50 tấn đất ở Cam Ranh ra đảo trồng rau và hoa. Nghe tin ấy tôi rất mừng. Trước khi con tàu rời bến cảng, anh Ba - người chỉ huy con tàu từ dưới khoang tàu đi lên. Anh đến ngồi cạnh tôi. Bật lửa châm điếu thuốc lá loa kèn to hơn ngón tay cái. Anh khoe, đứa con trai đầu lòng của anh làm công nhân ở nông trường Sơn Thành biết anh đi Trường Sa chuyến này sẽ ở lại đảo lâu nên đã đem về tặng anh hai ghim thuốc lá loại một. Vừa nhả khói trắng xóa, vừa cười hể hả, anh nói hai ghim thuốc của thằng nhỏ không biết có đủ để các chiến sĩ trên đảo hút mỗi người một hơi hay không. 

Tôi hỏi anh Ba về số lượng đất. Anh nói rằng không thiếu một ký. Bộ Tư lệnh Hải quân vùng biển X đã có kế hoạch sẽ chuyển đất tiếp vào các chuyến tàu sau. Và dường như sẽ cố gắng lấy được đất từ các huyện phía bắc tỉnh Phú Yên để các chiến sĩ đảo Trường Sa có thể trồng được đào lộn hột một cách dễ dàng.

Lòng tôi dào dạt một niềm vui. Trên con tàu hôm nay ra Trường Sa có súng đạn, có quần áo, có lương thực, thực phẩm, có nước ngọt, có sách báo, có thư nhà và có cả những bao đất của quê hương.

Năm 1975, sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, tôi đã ra Trường Sa, ở đó ít có loài cây sống được lâu ngoài cây phong ba và cây bàng có quả vuông gợi nhớ chiếc bánh chưng. Năm ấy có một chiến sĩ quê ở thị xã Tuy Hòa tên là Vũ Khắc Hòa tham gia chiến đấu lâu năm để bảo vệ tuyến đường Trường Sơn. Người yêu của Hòa là một kỹ sư nông nghiệp. Tất cả những lá thư gửi cho Hòa, cô kỹ sư trẻ ấy đều dặn đi dặn lại Hòa khi nào trở về thăm quê nhớ mang cho cô ấy một ít đất đỏ Trường Sơn để cô trồng thí nghiệm một giống lúa. Cô ky sư viết rằng: "Chắc là yêu  anh và thương nhớ anh vô hạn nên em càng yêu và càng nhớ Trường Sơn - mảnh đất mà anh đã sống và chiến đấu ở đó trong nhiều năm, mảnh đất mà tên tuổi đã đi vào lịch sử in đậm vào mỗi trái tim. Em muốn có một giống lúa mới thích hợp với đất Trường Sơn để tặng bà con các dân  tộc trên đó và cũng để đền ơn đáp nghĩa bà con đã hết lòng giúp đỡ anh và đồng đội của anh. Em mong món quà đầu tiên sau ngày chiến thắng anh mang về là những nắm đất Trường Sơn. Anh nhớ nhé! Hôn anh”.

Đơn vị của Hòa rời Trường Sơn, xuống núi truy kích giặc. Vừa đi vừa đánh địch, vượt qua bao nhiêu đèo cao, suối lũ, Hòa vẫn mang đầy một ba lô đất Trường Sơn. Đầu tháng tư năm 1975, Khánh Hòa được giải phóng, Hòa chưa kịp nghỉ vài giờ thì được lệnh đi làm nhiệm vụ mới ở đảo Trường Sa. Những nắm đất Trường Sơn lại theo anh ra Trường Sa. Các chiến sĩ trẻ trong đơn vị phát hiện chiếc ba lô đất đỏ ấy nhưng chưa hiểu rõ ý nghĩa riêng của nó nên liền chia nhau mỗi người đầy một lon vỏ sữa hộp để trồng hoa. Chỉ mấy tháng sau những giống hoa đẹp nhất của Trường Sa đã đâm chồi nảy lộc và ra hoa ở Trường Sa.

Từ dạo ấy đến nay, tôi không gặp lại Hòa nữa, nhưng câu chuyện xúc động về chiếc ba lô đất đỏ Trường Sơn của anh vẫn được các chiến sĩ đảo Trường Sa truyền nhau nhắc mãi. Có lẽ vì vậy mà tôi càng hiểu ý nghĩa sâu sắc của 50 tấn đất hôm nay cùng chúng tôi ra đảo.

Anh Ba tâm sự:   
- Anh đã ra đảo Trường Sa mấy lần rồi nên anh biết đấy. Chiến sĩ ta thiếu thốn nhiều thứ lắm. Biết Tổ quốc còn nhiều khó khăn nên anh em không hề đòi hỏi một thứ gì cả. Nguyện vọng của họ là nhanh chóng cải tạo bãi cát trắng và những ghềnh đá san hô thành những vườn cây ăn quả và những vườn hoa đẹp. Các chiến sĩ chúng tôi yêu đảo, yêu vùng biển biên phòng và yêu Tổ quốc giản dị và thực tế lắm. Họ yêu từ ngọn sóng buổi chiều nước lên vỗ vào thềm san hô trắng xóa. Họ yêu các loài cây cỏ, các loài chim, các loài cá chỉ ở Trường Sa mới có. Họ yêu cả những đường mòn đi tuần tra nên bãi cát và họ nâng niu giữ lại từng dấu chân của người thân ở đất liền ra thăm đảo. Tuổi của chúng ta đã cao, nếp suy nghĩ của từng lứa tuổi có những điểm không hoàn toàn giống nhau, nhiều khi chúng ta chưa thật chú ý chăm sóc, những tình cảm, những yêu cầu mà ta tưởng rằng nhỏ của lớp chiến sĩ trẻ. Thực ra đó là con đường duy nhất làm cho họ coi đảo là nhà, biển cả là quê hương, họ sẵn sàng hy sinh vì nhiệm vụ. Tình cảm  của họ thật trong sáng, có lúc nào đó mình cảm thấy uể oải bỗng dưng mình sẽ giật mình tự hổ thẹn khi nghĩ đến họ. Bộ Tư lệnh Hải quân vùng biển X vẫn giữ đều đặn các chuyến tàu từ đất liền ra đảo. Nhưng có lẽ cán bộ và chiến sĩ đảo Trường Sa trông mong chuyến tàu này nhiều nhất, anh ạ!
- Vì sao vậy? - Tôi hỏi.
 
Anh Ba không trả lời ngay câu hỏi của tôi. Anh quấn tiếp một điếu thuốc lá loa kèn, châm lửa đốt, hút mấy hơi liền rồi rút trong chiếc cặp da ra một tập thư, anh vui vẻ nói:
- Đây là tập thư của các chiến sĩ đảo Trường Sa gửi về Bộ Tư lệnh Hải quân vùng biển X. Mời anh đọc. Tôi đã đọc đi đọc lại mấy lần. Cảm phục và xúc động vô cùng. Thư nào cũng vậy, anh em đều hứa với Bộ Tư lệnh yên tâm ở lại đảo nhiều năm, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ vùng biển Tổ quốc, sẵn sàng hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ. Anh em chỉ yêu cầu Bộ Tư lệnh cố gắng đưa ra đảo nhiều đất, nước ngọt và các loại hạt giống để anh em cải tạo đảo, làm cho cuộc sống ở đảo không quá xa cách với đất liền.

Mặt trời lên cao. Ánh nắng trên biển rát bỏng hơn ánh nắng ở đất liền, vì có độ ẩm của muối. Con tàu đã ra khơi xa, đất liền chỉ còn là một cái gạch ngang mờ nhạt phía chân trời đằng sau. Những đợt sóng ngầm lắc lư con tàu. Trong chúng tôi đã có người bắt đầu cảm thấy nôn nao khó chịu.

Bây giờ tôi mới có dịp nhìn rõ mái đầu của anh Ba đã bạc quá nửa. Gió biển Đông làm cho đám tóc bạc phía trước cứng như rễ tre bay lòa xòa trước vừng trán rộng,  điểm vài nếp nhăn của anh. Anh Ba đã ngoài năm mươi tuổi. Quê anh ở vùng biển Tiên Châu xã An Ninh. Anh theo cha đi bắt cá biển từ lúc mới lên mười tuổi, anh đã biết rõ những luồng lạch của vùng biển quê hương, những ngọn gió nồm báo hiệu luồng cá đi và những ngôi sao chỉ đường cho ghe thuyền vào bến.

Mười lăm tuổi anh đã tham gia du kích cùng các anh, các chị lớn tuổi đào hầm chông đánh giặc Pháp càn quét. Mười bảy tuổi anh là người gác Hòn Bù để quan sát và báo hiệu cho nhân dân biết tàu thủy giặc Pháp sắp đổ quân. Hai năm sau, anh gia nhập quân đội và hên tục công tác ở các đơn vị hải đảo. Vợ anh - chị Hạnh - một phụ nữ trung hậu đảm đang quê ở thị trấn Chí Thạnh. Chị tham gia đấu tranh chính trị bị Mỹ - Diệm giết hại trong vụ Ngân Sơn - Chí Thạnh hồi cuối năm 1954. Ba đứa con trai của anhđược bà con cô bác xóm chài Tiên Châu nuôi nấng trưởng thành. Người con đầu - anh Bình công tác ở nông trường Sơn Thành, người con thứ hai - anh Long - là công nhân cơ khí công tác tại thành phố Hồ Chí Minh, người con thứ ba - anh Vinh - chiến sĩ hải quân đã anh dũng hy sinh vào mùa xuân năm 1975 trong khi cùng đơn vị làm nhiệm vụ truy quét bọn tàn quân Mỹ ngụy ở vùng đảo Trường Sa.

Anh ít nói chuyện về anh. Nhưng các đồng chí ở cơ quan tham mưu của Bộ Tư lệnh nói với tôi những điều đó. Họ còn nói rằng, hơn ba mươi năm tham gia quân đội, anh gắn bó tất cả cuộc đời chiến đấu của mình với đảo và với biển. Chiến sĩ hải quân yêu mến gọi anh là người thủy thủ già 

Anh Ba vẫn ngồi lặng lẽ nhìn bầu trời cao lồng lộng và nhìn biển cả mênh mông. Qua những lời nói ngắn ngủi của anh, tôi nhận ra tấm lòng rất sâu nặng của anh đối với đảo và biển. Nỗi băn khoăn lo lắng của các chiến sĩ hải đảo chính là của anh. Nỗi vui sướng của các chiến sĩ ở hải đảo cũng chính là của anh. Vì anh đã từng là chiến sĩ, cán bộ cơ sở ở đảo Ngọc Vừng, Hòn Mê, Cồn Cỏ...

Anh là một trong những cán bộ trực tiếp chỉ huy đơn vị giải phóng quần đảo Trường Sa trong chiến dịch Hồ Chí Minh. Anh cũng là người được vinh dự cùng đơn vị cắm lá cờ đỏ sao vàng trên đỉnh cột mốc chủ quyền ở quần đảo Trường Sa vào những giây phút thiêng liêng nhất của Tổ  quốc. Và cũng những ngày chiến đấu quyết liệt ấy, người con trai của anh hy sinh. Trong giây phút bàng hoàng của sự mất mát xé lòng, anh vẫn lặng lẽ nén căm thù quân giặc, tiếp tục lao vào cuộc chiến đấu mới, cũng như trước đây anh được tin chị Hạnh hy sinh.

Bây giờ tôi đã hiểu rõ vì sao trước khi con tàu rời bến cảng anh Ba còn đích thân đi kiểm tra lại lần cuối cùng lượng đất của đất liền đưa ra đảo Trường Sa cho chiến sĩ trồng hoa và tăng gia sản xuất, vì sao anh trân trọng và nâng niu từng lá thư của các chiến sĩ đảo Trường Sa gửi đất liền.

Trường Sa là lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam. Chiến sĩ đảo Trường Sa ngày đêm vượt mọi gian khổ hy sinh để làm tròn nhiệm vụ canh giữ vùng biển biên phòng của Tổ quốc. Trường Sa đã in sâu vào mỗi trái tim của cả nước. Cả nước luôn hướng về Trường Sa.

Trái tim tôi bỗng nhiên se lại. Tôi ngập ngừng muốn hỏi anh Ba về trận chiến đấu cuối cùng của Vinh - con trai anh - ở đảo Trường Sa... nhưng lại thôi. Anh Ba đã đi ra đảo Trường Sa nhiều lần, nhưng lần nào anh cũng náo nức, hồi hộp nên mất ngủ mấy đêm liền.

Trường Sa đã gắn bó với anh Ba cả tâm hồn và xương thịt.


***
Logged

Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
phonglan
Thành viên
*
Bài viết: 500


Nụ hoa và cây súng


« Trả lời #49 vào lúc: 23 Tháng Mười Hai, 2009, 01:20:16 pm »


Trường Sa Đông đây rồi.

Chưa tới 5 giờ sáng đã thấy mặt trời mọc từ mặt biển lên. Và 18 giờ 30 chiều mặt trời lặn từ từ xuống chân sóng có màu vàng rực rỡ. Ở đây nắng và nóng. Chiến sĩ trên đảo vạm vỡ, da nâu bóng. Thiên nhiên tạo cho bộ đội Trường Sa một thời gian biểu riêng biệt: 4 giờ 30 phút đã tập thể dục, ăn cơm sáng xong, đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam mới nổi nhạc hướng dẫn tập thể dục buổi sáng.

Anh Ba nói với tôi:
- Cán bộ, chiến sĩ nào trụ được ở Trường Sa hai năm và hoàn thành tốt nhiệm vụ là có thể được khen thưởng rồi anh ạ!

Qua những ngày ở lại Trường Sa Đông, tôi ngẫm thấy ý kiến của anh Ba là đúng. Duy chỉ có một điều nếu thực hiện thì phải khen thưởng rất nhiều người. Bởi vì rất nhiều cán bộ và chiến sĩ ở đảo Trường Sa trên hai năm. Phần lớn cán bộ chỉ huy tuổi đảo đã lên tới 5 năm, 6 năm.
- Số cán bộ và chiến sĩ quê ở tỉnh Phú Yên có nhiều không? - Tôi hỏi.
- Khá nhiều anh ạ!
- Tôi đã gặp trung đội trưởng pháo binh Nguyễn Đình Thảo, 4 năm ở đảo Trường Sa. Thảo có thân hình cường  tráng, cao hơn một mét bảy mươi phân, đầu húi cua, mũi  cao, trán vuông, đôi mày hơi rậm, miệng lúc nào cũng tươi cười. Quê ông bà cha mẹ Thảo ở huyện Tuy Hòa. Những  năm kháng chiến chống Mỹ, cha mẹ Thảo rời làng lên chiến khu và sinh ra Thảo ở huyện Sơn Hòa. Từ nhỏ đến lớn, Thảo quen sống ở rừng núi, lúc mới vào bộ đội, được biên chế về một đơn vị hải quân huấn luyện, chuẩn bị ra đảo, Thảo cứ lo sẽ không chịu đựng được sóng nước. Thế mà bây giờ Thảo là một trong những người ở đảo khá lâu. Anh Ba cho tôi biết khi nào tàu vào sẽ cho Thảo theo vào đất liền.
- Kỳ này đồng chí vào đất liền, đi phép năm luôn chắc? - Tôi hỏi Thảo.
- Cũng là việc đột xuất thôi đồng chí ạ! - Thảo trả lời - Tôi có điện mẹ mất.
- Đồng chí nhận được điện lâu chưa? 
- Mẹ tôi mất hồi cuối năm ngoái vì bệnh sốt rét ác tính. Ở nhà đánh điện ngay, nhưng mấy tháng sau tôi mới nhận được cả điện lẫn thư.
Tôi sửng sốt:
-Vậy sao mãi bây giờ đồng chí mới về?
Thảo trả lời trầm tĩnh: 
- Tình hình sẵn sàng chiến đấu rất khẩn trương? Tôi là trung đội trưởng pháo binh, không có người thay. Tự tôi đã gặp cấp trên và nói rằng đằng nào thì mẹ tôi cũng được bà con chôn cất xong rồi, tôi sẵn sàng ở lại đảo cho đến khi có người thay. Mãi đến gần Tết, Bộ Tư lệnh báo tin là đã có một trung đội trưởng mới ra Trường Sa, tôi có thể theo tàu vào ngay. Tôi đề nghị cấp trên để cho đồng chí ở lại ăn Tết ở đất liền. Cấp trên đồng ý và đến chuyến tàu sau Tết đồng chí ấy mới ra. 

Tôi hỏi: .
- Chuyến này đồng chí về được lâu không? Gia đình còn những ai ở nhà ?
Thảo trả lời, vẫn giọng nói trầm trầm ấm áp:
- Cấp trên cho tôi được nghỉ luôn hai tiêu chuẩn phép. Ở nhà chỉ còn cha già gần 70 tuổi, đứa em gái sắp đi lấy chồng.

Tôi im lặng. Như đoán được tôi đang suy nghĩ về quê hương anh: cha già và cô em gái... Thảo nói tiếp:
- Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, cha tôi mới nghỉ hưu. Do hoạt động cách mạng lâu ngày ở rừng núi, sức khỏe ông cụ cũng yếu lắm. Cô em gái định xây dựng gia đình từ đầu năm ngoái nhưng vì mẹ ốm và mất nên phải lùi lại. Dịp này tôi về phép, định bàn với ông cụ cho các em nó tổ chức luôn. Việc này đối với phong tục quê tôi sẽ gặp khó khăn đấy - mẹ chết phải chịu tang mà. Nhưng cũng phải thuyết phục gia đình. Em gái tôi đã 24 tuổi, còn cậu em rể là bộ đội biên phòng đang công tác ở vùng biển huyện Sông Cầu - Thảo cười xởi lởi nói tiếp - tôi sẽ cố gắng tu sửa lại cho ông cụ cái nhà. Nhà cửa dột  nát. Anh tính, hai tiêu chuẩn phép được ở nhà trên 30 ngày, phải sắp xếp khoa học lầm mới lo xong mấy việc chính đó.

Tối hôm ấy tôi ngủ chung với Thảo.   
 
Đêm trên đảo nghe mênh mông, đầy bí ẩn, sóng cồn ôm lấy hòn đảo tựa như quả bóng nhỏ nổi bồng bềnh giữa hồ rộng. Ánh đèn pin của ác chiến sĩ tuần tra chốc chốc lại lóe sáng và những bước chân đi trên cát lạo xạo. 

Mặt nước biển ban đêm den kịt, bỗng có những vệt sáng sáng kéo dài hàng cây số, rộng vài trăm mét. Chốc chốc nước lại cồn lên nhấp nhô, nhấp nhô như một đoàn tàu từ xa sắp cập vào đảo, Thảo nói với tôi:
- Trời sắp mưa đấy anh ạ!
- Sao đồng chí biết ?
 - Cá he xuất hiện mà. Đó, anh nhìn ra khơi thì thấy.

Khi trông thấy thật rõ nhùng vệt nhấp nhô, nhấp nhô như một đoàn tàu là những đàn cá he xuất hiện, chúng tôimới thật sự yên tâm và mừng rỡ tin rằng trời sắp mưa. Sáu tháng rồi trên đảo chưa có một hạt mưa. Bộ đội phải tiết kiệm từng giọt nước ngọt. Có mưa thật là tuyệt, cả đảo sắp biến thành vũ hội.

Cả trung đội pháo binh của Thao thức cả dậy để quan sát đàn cá he và chuẩn bị đón cơn mưa. Cá he bơi thành từng đàn. Như có hiệu lệnh, bất ngờ chúng vọt lên trên mặt nước. Không khí trên đảo mát rượi, chuyển dần sang ẩm lạnh khi những giọt mưa đầu tiên rơi xuống bãi cát. Chúng tôi nằm trong tiếng mưa triền miên, trong tiếng sóng vỗ vào vách đảo và trong tiếng gió hú vào hốc đá. Mùa ở đảo Trường Sa dữ dội và ào ạt. Nước mưa quyện vào gió, quất thật mạnh vào những mái tôn như có người đổ sỏi lên rầm rầm...

Tôi kéo chăn đắp qua người Thảo, tâm sự:
- Thảo năm nay bao nhiêu tuổi, có gia đình chưa?
- Tôi năm nay 26 tuổi ạ! Còn chuyện vợ con thì éo le lắm.
- Sao vậy, Thảo có thể nói cho tôi nghe được không?
- Tôi và Xuân cùng học một lớp rồi yêu nhau. Tôi đi bộ đội. Xuân trở thành cán bộ ngân hàng công tác tại tỉnh nhà. Trước khi ra đảo Trường Sa tôi được về thăm nhà, có  hẹn với Xuân sau hai năm sẽ về tổ chức lễ cưới. Hai năm trôi qua, chúng tôi vẫn giữ đều đặn vài tháng một lá thư qua lại. Xuân vẫn chung thủy. Trong thư Xuân động viêntôi rất nhiều. Tôi có trình bày câu chuyện ấy với cấp trên, các đồng chí hứa khi nào có tàu ở đất liền ra sẽ giải quyết. Nhưng rồi, chuyến tàu thứ nhất ra vào lúc tôi đang huấn luyện chiến sĩ mới. Binh khí kỹ thuật pháo binh khó nên không thể giao cho đồng chí khác thay thế được. Tôi lo anh em không nắm vững binh khí kỹ thuật, sẽ ảnh hưởng đến chất lượng chiến đấu. Chuyến tàu thứ hai thì tôi đang bị ốm nặng phải nằm trạm xá. Chuyến tàu thứ ba ra đi trong lúc toàn đảo được lệnh sẵn sàng chiến đấu rất nghiêm ngặt. Sau đó một thời gian dài không có tàu nào ra đảo nên tôi không gửi được thư nói cho Xuân thông cảm. Trước Tết tôi nhận được một lá thư của Xuân, toàn những lời nghi ngờ, trách móc. Chưa kịp biên thư trả lời thì vài tháng sau tôi nhận được thư của gia đình báo tin Xuân đã  lấy chồng và đã chuyển công tác theo chồng ở một tỉnh xa. Đó là hậu quả của hơn hai năm không vào được đất liền và của việc biển động lâu ngày tàu không ra được để gửi thư.

Nghe xong câu chuyện, tôi hỏi Thảo:
- Đồng chí nghĩ thế nào về cô Xuân?
Thảo thở nhẹ, nói:
- Tôi không hề trách Xuân gì cả. Cô ấy đã 25 tuổi rồi. Người ta hiểu bây giờ dẫu sao cũng là thời bình, quê tôi lại còn có mấy đồng chí nữa ở Trường Sa vẫn về phép được; rồi tự dưng có đợt "biệt vô âm tín” năm, sáu tháng trời, là những điều khó hiểu đối với Xuân. Tôi chỉ mong Xuân có hạnh phúc.

Đêm nghiêng về sáng, bỗng tạnh mưa. Những đám mây nặng nước trôi đi và hòn đảo sáng vằng vặc trong trăng biển cuối tháng. Đầu hôm đảo chuyển mình dữ dội, sôi sục, bây giờ bỗng hóa bình yên. Hoa san hô vừa được nước rửa sạch cát bụi và phân chim, dưới trăng lung linh như một chuỗi ngọc. Từ nhánh đảo bên kia bãi cát, hương hoa xúc xắc tỏa ra thơm ngát, mát rượi. Bóng các chiến sĩ đi tuần tra trải dài dưới ánh trăng, sóng biển vỗ nhẹ, êm ả đuổi theo, gợi một cái gì đó vô cùng nên thơ.

Sáng sớm Thảo đưa anh Ba và tôi đi thăm trận địa pháo. Ngay từ phía xa chúng tôi đã trông thấy câu khẩu hiệu: "Đảo là nhà, biển cả là quê hương" kê trên tấm tôn treo trên thành công sự. Anh Ba ra lệnh báo động. Bộ đội về vị trí chiến đấu khá nhanh. Anh Ba tiếp tục ra một số tình huống và chỉ thị một số mục tiêu sát với các phương án chiến đấu của đảo. Trung đội trưởng Thảo và trung đội phó Hoàng chỉ huy đơn vị xử trí các tình huống khá chính xác. Nhìn nét mặt, tôi biết anh Ba rất hài lòng.

Anh Ba kiểm tra từng khe ngắm, từng viên đạn. Anh căn dặn đơn vị phải chấp hành chế độ lau chùi bảo quản vũ khí, vì nước biển và cát biển là hai loại phá hoại vũ khí rất ghê gớm.

Thấy hai giỏ phong lan treo lủng lẳng bên cạnh trận địa, hoa nở màu tím như hoa bông giờ, anh Ba hỏi:
- Làm thế nào các đồng chí có hai giỏ phong lan đẹp vậy?
Một chiến sĩ tên Trang có khuôn mặt bầu bĩnh, người tầm thước, nước da đen cháy, trả lời: 
- Báo cáo thủ trưởng! Chúng tôi được kể lại rằng tháng 4 năm 1975 đơn vị X từ Trường Sơn hành quân ra Trường Sa khi thay quân đã kỷ niệm các đồng chí ở lại đảo hai  giỏ phong lan ấy. Tôi là lớp chiến sĩ thứ ba được giao nhiệm vụ chăm sóc hai giỏ phong lan. Có thời kỳ thời tiết quá khắc nghiệt, tưởng chừng phong lan Trường Sơn không sống nổi ở Trường Sa, thế nhưng phong lan Trường Sơn không phụ công chăm sóc của tất cả đơn vị, nên chẳng những duy trì được sức sống mãnh liệt mà còn ra hoa đẹp như vậy đó thủ trưởng ạ! 

Thảo nói: 
- Báo cáo thử trưởng! Chúng tôi thường nhắc nhở nhau, hai giỏ phong lan trở thành vật kỷ niệm vô giá, mọi người trong đơn vị đều phải có trách nhiệm chăm sóc bảo vệ. Ba má đồng chí Trang ở thị trấn La Hai, tập kết ra Bắc sinh Trang ở thủ đô Hà Nội. Ông cụ là cán bộ bộ đội Trường Sơn rất mê phong lan. Những năm đánh Mỹ, việc đi lại ở Trường Sơn rất khó khăn, vậy mà hễ có xe từ Trường Sơn ra Hà Nội là cụ lại gửi phong lan về cho gia đình. Tất nhiên Trang là người chăm sóc. Mấy lần đồng chí ấy gửi về những loại phong lan đặc biệt nhất tặng công viên Lênin được khách tham quan rất hoan nghênh. Hòa bình thống nhất Tổ quốc gia đình đồng chí Trang chuyển vào thị xã Tuy Hòa. Trước khi rời Hà Nội, ba má Trang tặng hết một giàn phong lan của gia đình cho bạn bè chỉ để lại 5 giỏ phong lan màu hồng đưa lên tàu Thống nhất chở về quê.

Anh Ba say sưa ngắm hoa phong lan đang tươi màu trong nắng sớm, hồi lâu anh mới nói giọng xúc động:
- Cuộc sống trên đảo gian khổ vô cùng, các đồng chí đã
khoe phục tất cả, chiến thảng tất cả. Trước đây đảo

Trường Sa chỉ có nhiều cát trắng và đá san hô, nay chẳng những Trường Sa đang chứa đựng tấm lòng và trái tim của những người quân nhân cách mạng, mà còn có cả hoa thơm và quả ngọt. Các đồng chí sống và sẵn sàng chiến đấu rất lạc quan yêu đời làm cho chúng tôi tuy tuổi đã cao cũng cảm thấy trẻ ra. Thảo lại đưa chúng tôi đi thăm một số khu vực trên đảo. Nắng đẹp, phóng tầm mắt xung quanh, chân mây khép kín mặt biển, giữa khoảng nối tiếp có một đường viền nhiều màu sắc. Không có bóng dáng mùa đông trên đảo này. Chỉ có mùa thu mát rượi về đêm và mùa hè nóng bỏng về ngày. 

Chúng tôi dừng lại chỗ phân đội 4. Đồng chí Minh, phân đội trưởng cho biết, hôm nay toàn đơn vì tu sửa lại lán trại và công sự bị hư hỏng sau trận mưa to gió lớn tối hôm qua. Anh Ba hỏi:
- Cơn lốc và trận mưa hôm qua gây thiệt hại nhiều không? 
Minh trả lời: 
- Báo cáo thủ trưởng! Chúng tôi rất mong mưa, có mưa là mừng. Anh em được tắm giặt bằng nước ngọt và có nhiều nước ngọt để dự trữ ăn uống. Nhưng ở đây hễ có mưa to là kèm theo gió to, mà đã gió to thì không hư cái này cũng hỏng cái nọ. Mùa này gió thổi suốt ngày đêm.  Hào giao thông quanh đảo bị cát vụn san hô lấp, qua một tuần lại phải đào lên một lần. Bẵng đi vài tuần nếu không đào vét lại, cát sẽ lấp bằng phẳng lì, xem như không còn dấu vết hầm hào nữa. Đào vét lại công sự là việc làm thường xuyên hằng ngày thủ trưởng ạ ! 

Được tin thủ trưởng đến thăm, cán bộ và chiến sĩ phân đội 4 quây quần lại rất đông. Trong căn nhà hầm chống bảo nửa tối nửa sáng, anh em lấy nhựa mù u làm dầu đốt. Ngọn lửa đầu mù u cháy sáng xanh, thơm phức. Việc đầu  tiên anh em yêu cầu thủ trưởng kể chuyện về những biến đổi ở đất liền. Việc thứ hai anh em nhờ thủ trưởng đưa hộ vào đất liền mỗi người một tập thư.

Tôi gặp rất nhiều chiến sĩ, nhưng không tìm thấy gương  mặt nào mệt mỏi. Biết tôi là người quê ở Phú Yên, các chiến sĩ quê ở Phú Yên quây quần bên tôi hỏi về nhà máy đường Tuy Hòa, nhà máy chế biến bột sắn Sông Hinh, nước khoáng Phú Sen... Tất cả đều hùng lên một không khí náo nức, say mê và yêu đời. Anh em tổ chức một cuộc sống vui vẻ, độc đáo. Những cuộc thi về vườn hoa san hô giữa các đơn vị, những trận đấu bóng đá, bóng thuyền, những đêm thi hát những bài hát mới, những tối biểu diễn văn nghệ tiết mục "cây nhà lá vườn”... khá lôi cuốn và hấp dẫn. Tôi rất xúc động khi đọc một đoạn nhật ký viết cho người yêu của phân đội trưởng Minh: "... Đã mười năm xa gia đình rồi (trong đó có tám năm ở Trường Sơn, hai năm ở Trường Sa) . Em hỏi anh có nhớ nhà không ư? Nhớ! Rất nhớ! Có thể nói nhiều đêm không ngủ được vì nỗi nhớ nhà, nhớ đất liền. Khi mà ở đất liền em đang sống những ngày đoàn tụ, thì anh và đồng đội ở đây, bốn bề sóng nước... Như thế đấy . Nhưng em có hiểu vì sao anh và đồng chí của anh lại đứng được ở đây? Vì sao các anh lại tạc vào vách đá san hô kia dòng chữ: "Đảo là nhà, biển cả là quê hương?”. Bởi một lẽ rất giản đơn thôi: đây là phần đất thiêng liêng của Tổ quốc”.

Tạm biệt các chiến sĩ thân yêu trên đất Trường Sa Đông. Tạm biệt các cán bộ, chiến sĩ quê ở Phú Yên. Tôi  rất tự hào về họ. Con tàu nhổ neo vào buổi sáng. Anh em ùa ra cầu tàu ôm chầm lấy chúng tôi, không muốn rời.

Khoảng cách giữa con tàu và đảo càng xa dần. Chúng tôi bịn rịn đứng nhìn về phía đảo, Trường Sa Đông thon dài như một chiến hạm. Bóng các chiến sĩ cao lộng trên mặt nước sóng nhấp nhô. Hình ảnh của họ mãi mãi in đậm trong trí nhớ của mỗi chúng tôi, son sắt như một lời thề: Trường Sa là bất khả xâm phạm. Tổ quốc chúng ta được bảo vệ vững chắc từ ở vị trí tiền tiêu xa xôi này.

Mặt trời nhô lên cao, đỏ như lửa. Trường Sa Đông càng rực rỡ trong nắng sớm.


                                                                                                                     T.P
Logged

Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM