Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 04 Tháng Mười Một, 2026, 06:00:30 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Trường Sa - Tập văn thơ  (Đọc 39902 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
phonglan
Thành viên
*
Bài viết: 500


Nụ hoa và cây súng


« Trả lời #50 vào lúc: 23 Tháng Mười Hai, 2009, 01:22:40 pm »

 
  Nguyễn Đình Tú  
 
  
TRƯỜNG SA, MAI VÀNG, MÙA GIÓ CHƯỚNG  


 
                                                                                                                 Bút ký
 
Vào năm tôi học lớp 10, một lần từ trường trở về nhà, lúc ngang qua nhà bà cụ Nghĩa hàng xóm, tôi thấy có nhiều người ra vào, cả các chú bộ đội nữa, mặt ai cũng buồn buồn. Bà cụ Nghĩa mắt đỏ hoe, vừa đưa khăn lên chấm mắt, vừa mếu máo khóc không thành tiếng, trông đến tội. Sau này tôi mới biết đó là ngày nhà bà cụ Nghĩa nhận tin buồn: Anh Hoạch, cháu đích tôn của bà cụ, vừa hy sinh ở ngoài đảo Trường Sa.

"Thằng cháu nó vốn ở với tôi từ nhỏ, rất hợp với bà, đi bộ đội vẫn thư về cho bà luôn, mới tuần trước đây thôi, bố nó bảo cháu nó ra đảo chuyến này nữa về là ra quân, con đã xin được cho cháu vào đội vận tải của Xí nghiệp lương thực rồi, thế là cháu nó sắp được về gần bà. Ai ngờ nó chẳng bao giờ còn về được nữa...". Tôi nghe bà cụ Nghĩa nói chuyện với những người hàng xóm thế. Cũng lơ mơ hiểu rằng đất nước vẫn còn chiến tranh, và những người như anh Hoạch đã anh dung hy sinh ở một vùng biển đảo nào đó rất xa xôi. Một hôm bà cụ Nghĩa gọi tôi sang, hỏi nhỏ :  
 - Này, cháu có biết Trường Sa là ở đâu không?  
  Tôi bảo:  
- Cháu học ở trong sách địa lý, thấy Trường Sa ở mãi trong miền Nam cơ, mà lại ở ngoài biển Đông.  
Bà cụ lại hỏi:  
- Thế có gần bờ không?  
Tôi bảo:  
- Nhìn trên bản đồ thì thấy gần nhưng đi chắc phải mấy ngày mới tới.  
Nghe tôi nói thế, bà cụ lại sụt sịt:  
- Thế thì làm sao sóng nó đánh xác thằng Hoạch nhà bà dạt vào bờ được ? Mấy hôm nay bà cứ nằm mơ thấy nó suốt. Nó nằm bên bờ biển ấy. Bà đang định vào trong đấy tìm nó, nhưng thế nàythì biết tìm ở đâu?

Lúc ấy tôi chang biết động viên bà cụ Nghĩa như thế nào cả. Tôi mới chỉ là một cậu học sinh lớp 10, giá tôi trưởng thành hơn chút nữa thì có lẽ tôi đã nói được điều gì đấy để bà cụ yên lòng. Phải mãi đến 13 năm sau, tức là vào những ngày cuối cùng của năm Tân Tỵ (đầu năm 2001 dương lịch) tôi mới có cơ hội được đặt bước tới Trường Sa. Tôi đã trở thành đồng đội của anh Hoạch, chỉ có điều tôi là một anh lính trên cạn, đây là lần đầu tiên tôi ra với biển.  

Chuyến tàu ra đảo lần này có nhiệm vụ mang hàng tết từ đất liền ra cho cán bộ, chiến sĩ và đưa những người đã thực hiện xong nghĩa vụ trở về bờ. Vì thế có thể nói đây là chuyến tàu được lính đảo mong đợi nhất. Cũng vì thế mà  sự chuẩn bị có vẻ chu đáo, cẩn thận nhất. Không cẩn thận sao được khi con tàu mang trên nó từng chiếc lá dong,  từng hạt đỗ xanh, từng lọ cà muối vượt qua đại dương với mức tàn hại khủng khiếp của nước biển để mang tết đến  cho bộ đội. Không cẩn thận sao được khi cái tết đồng  nghĩa với sự thiêng liêng, sẽ vô cùng là hối hận nếu sự thiêng liêng ấy không được bù đắp đầy đủ cho người lính. Trong những ngày chờ bốc hàng lên tàu, tôi có dịp được đi dạo quanh bán đảo Cam Ranh. Tại bưu điện huyện tôi gặp rất nhiều những gương mặt lính trẻ. Họ đứng, ngồi tràn cả ra hành lang, trên ghế, dưới sân nhẫn nại chờ đợi. Tôi tới ngồi cùng với hai chiến sĩ trên chiếc ghế đá dựng ở bên phải sân bưu điện. Một chiến sĩ tên là Mạnh, quê ở Cẩm Phả - Quảng Ninh, còn một chiến sĩ tên là Tuyên, nhà ở quận 10 - Thành phố Hồ Chí Minh. Tôi nhìn thấy cả hai đều đeo lon hạ sĩ. Họ vừa học xong lớp pháo thủ tăng và mấy ngày tới sẽ theo tàu ra đảo nhận nhiệm vụ. Hạ sĩ Mạnh bảo với tôi: "Bọn em ra đây gọi điện nhưng đông quá phải chờ anh ạ". Tôi hỏi: "Em gọi điện cho ai ?". Mạnh bảo: "Em gọi cho mẹ em và bạn gái. Mẹ em thì gọi được rồi, còn bạn gái em thì phải chờ tới hơn mười giờ cô ấy mới đi học về, cô ấy đang học trung cấp tài chính - kế toán ở tỉnh". Tôi lại hỏi: "Gọi cho mẹ, em nói những gì?". Mạnh bảo: "Ngày trước ở nhà em hay đi chơi, thấy em gầy mẹ em cứ  lo em mắc nghiện. Mẹ em nói nhiều quá, em mới bảo: Con sẽ xung phong đi bộ đội để mẹ khỏi nghi ngờ. Vừa rồi gọi điện về cho mẹ, em bảo con sẽ ra đảo hai năm, thế là mẹ yên tâm nhá, giữa đại dương mênh mông làm gì có hêrôinmà hút hít: Mẹ em chửi yêu: Tiên sư anh, anh có thân thì anh lo chứ anh lại định thách mẹ à ! Nói thế thôi, chứ mẹ em thương em lắm. Mẹ em còn bảo bao giờ ra quân mẹ sẽ xin cho vào làm thợ mỏ và lúc ấy mới được... lấy vợ!". Tôi quay sang Tuyên: "Còn em? Em gọi điện cho mẹ sẽ nói gì ?" Tuyên cười bẽn lẽn: "Bố mẹ em đều là bộ đội, công tác ở Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng khu vực phía Nam. Cách đây ít ngày mẹ em bảo sẽ xin em về công tác ở Sài Gòn nhưng em bảo để ra đảo một chuyến đã, đời bộ đội cũng nên biết biển đảo là thế nào. Mẹ em có vẻ lo lắng lắm, nhưng em là con trai, lo gì ?". Tuyên nói đến đây thì có bạn gọi vào buồng đàm thoại. Lần này Mạnh sẽ ra Trường Sa Đông, còn Tuyên ra đảo Sơn Ca. Cả hai gọi điện xong, quay ra rủ tôi:  
- Anh đi chơi với bọn em không?  
 Tôi hỏi:  
- Đi đâu? Mạnh bảo:  
- Anh cứ theo bọn em tới một chỗ, hay lắm !  

 Tôi liền theo Mạnh và Tuyên đi ngược vào những triền đồi rải cát trắng mấp mô. Mạnh đưa tay chỉ vào những vạt cây lúp xúp trước mặt, bảo: "Anh đã nhận ra cây gì kia chưa? Mai đấy. Cả một rừng mai vàng nhá. Em với thằng Tuyên mỗi đứa sẽ bẻ một cành để mang ra đảo. Anh thấy có đẹp không?". Tôi sửng sốt. Quả là một rừng mai vàng đang ở trước mặt. Chúng tôi đi vào giữa những cụm mai cao ngang ngực chạy dài trên những triền cát trắng vi vu gió thổi. Cụm nào cũng nhiều cành. Lá mai hơi cằn, đang bắt đầu ngả từ màu xanh sang màu vàng. Hoa mai ra từng chùm có nhiều nụ, mỗi nụ nở thành năm cánh vàng tươi.  Lẫn trong những khóm mai là những thân dao mọc ký sinh. Nếu ta quen nhìn thấy dao quấn quýt bên những khóm quỳnh thì ở đây sẽ thấy dao xoắn xuýt bên những cội mai già, cành khẳng khiu màu xám mốc. Mùa xuân đã xuất hiện nơi bán đảo này rồi. Rồi mùa xuân sẽ ra với đảo xa. Tôi cũng bẻ một cành mai cho vào ba lô để hôm sau mang xuống tàu. Hôm sau tôi sẽ không còn được gặp Mạnh và Tuyên nữa. Hải lộ sắp tới của tôi không ghé qua Trường Sa Đông và Sơn Ca. Tại cầu cảng trước lúc tàu rời bến tôi đã cố nhìn trong số những gương mặt lính trẻ ra đảo nhận  nhiệm vụ lần này xem có nhận ra họ không nhưng không thấy. Họ bước xuống những con tàu khác, còn tôi, tôi bước xuống tàu HQ-521.

Trong suy nghĩ của tôi, mỗi con tàu cũng giống như một cái nhà tầng ở thành phố, và sự phức tạp trong quản lý điều hành thì cũng giống như đối với một cơ quan hành chính nhỏ lẻ vậy. Vì thế khi gặp những thuyền trưởng, thuyền phó của tàu HQ-521 tôi cứ thấy có điều gì đó lấn cấn trong lòng. Sao họ lại trẻ thế nhỉ ? Thuyền trưởng, đại úy Hà Quốc Chấn, thuyền phó chính trị - đại úy Nguyễn Hải Thanh mới có 33, 34 tuổi, còn thuyền phó quân sự, trung úy Huỳnh Đức Dũng lại còn chưa bước sang tuổi 30 nữa kia. Thế mà con tàu gần nghìn tấn này được trao vào tay họ. Thế mà hàng trăm cán bộ sĩ quan, hạ sĩ quan chiến sĩ được trao vào tay họ. Khi ra ngoài biển khơi vai trò của họ sẽ quyết định đến toàn bộ con tàu. Khi gặp địch cũng chính họ sẽ là những người tổ chức chiến đấu. Cái đầu óc trì trệ của tôi vẫn quen nghĩ rằng, với những việc quan trọng như thế, thường phải trao vào tay những người đànông bốn, năm mươi tuổi kia, tầm ấy mới đủ bản lĩnh đủ độ chín mà chèo lái con tàu, mà tổ chức hành quân trên biển cho hàng trăm con người chứ. Ai ngờ ... ". Thì cũng như dân lục quân các anh ra trường làm trung đội trưởng rồi cứ thế leo lên đại đội, tiểu đoàn. Chúng tôi ra trường lái tàu nhỏ, rồi cứ thế dần dần chuyển lên lái những tàu to hơn".  Thuyền trưởng Chấn bảo. Và anh cho biết anh làm chỉ huy tàu có tới hơn chục năm nay rồi, từ năm 1990 anh đã đi  hết các đảo thuộc quần đảo Trường Sa, còn bây giờ thì anh thuộc đến cả các điểm đảo. Tôi bao: "Thế thì câu khẩu hiệu "Tàu là nhà biển cả là quê hương" quả là rất đúng với anh". Anh cười: “Vậy mà vợ mình dám vặn vẹo câu khẩu hiệu ấy đấy, cô ấy bảo nói như thế là sai, là phi lôgíc, là không thấu tình đạt lý, là vân vân và vân vân, kinh thế chứ!". Tôi ngạc nhiên.  
- Chị ấy vặn thế nào?  
Thuyền trưởng Chấn bảo:  
- Thì còn thế nào nữa, tàu là nhà thì để vợ con ở góc nào trong nhà? Biển cả là quê hương thì đất liền là nước ngoài à? Là nơi gửi chân vài bữa để rồi lại về với quê hương à? Cô ấy còn bảo sửa lại "Tàu như nhà biển cả như quê hương" thì cánh chị em có chồng làm thủy thủ mới vui vẻ chấp nhận và không thắc mắc gì nữa".

Câu chuyện mà thuyền trưởng Chấn kể thật dí dỏm và thú vị. Tiếng cười của chúng tôi vừa chấm dứt thì tàu ra đến cửa Vịnh. Mặt trời như vừa rụng xuống biển. Chỉ cách đây vài phút mũi tàu nhằm thẳng theo hướng mặt trời mà tiến, bây giờ biển chỉ còn là một khoảng không đen ngòm. Tôi cảm thấy nôn nao. Bắt đầu nếm mùi sóng gió đại dương đây! Tôi vịn vào hàng lan can tìm về phòng. Tôi ở cùng phòng với thuyền phó quân sự Huỳnh Đức Dũng. Cái sự say sóng đến hỏi thăm tôi ngay sau vài cú lắc đầu tiên của con tàu như con ngựa lắc bờm chuẩn bị phi nước đại. Say sóng thật lạ. Con người cứ giống như cái bao nước vậy, lúc dềnh đầu này, lúc dồn góc kia, ngực thì tức, bụng luôn căng cứng, họng tràn đầy dịch, ngồi không được, đứng không xong, nằm nghiêng cũng không ổn, chỉ có tư thế nằm ngửa là khả dĩ dễ chịu nhất. Và tôi cứ nằm ngửa như thế chẳng biết bao nhiêu lâu, ánh sáng cứ đi qua rồi bóng tối lại ập đến phía ngoài ở cửa chớp. Cho đến một lần tỉnh lại, thấy người thư thái nhẹ nhỏm hẳn, gió đại dương lùa qua ô cửa, thoáng đãng, mát mẻ, và như xa xôi đâu đó trong không gian bao la vẳng đưa tới một thứ âm thanh là lạ, chưa thể xác định dược. Loong coong... leng keng... coong keng ...Lạ nhỉ, chính thứ âm thanh này đã đánh thức tôi dậy, nó xuất hiện cùng ánh ban mai và gió sớm đại dương. Nó nhẹ và trong, như lẩn khuất, xa vắng mà lại rất gần gũi đâu đây thôi. Một cơn gió lại lùa qua ô cửa chớp và tiếng coong keng lại phát ra thành chuỗi âm thanh dài, lần này thì rõ hơn và tôi cũng nhận ra "nó” là ai và đến từ đâu. Nó chính là chiếc chuông gió được treo ở trên trần, thẳng hướng với ô cửa chớp. Bây giờ tôi mới có dịp ngắm nhìn căn phòng của chàng trung úy thuyền phó. Phòng không rộng lắm nhưng kê được giường, tủ, bàn, giá sách. Trên thành giường có treo một bức tranh lụa to vẽ bình con tàu Titanic và đôi tình nhân do cặp diễn viên Leonardo di Caprio và Ka te Winslet thủ vai. Phía dưới bức tranh có hàng chữ "Nothing on earth could come between them" (Không có gì trên trái đất này có thể chia rẽ được họ). Chà, thơ mộng quá! Trên trần, chiếc chuông gió treo lơ lửng. Phần trên của chiếc chuông có hình vô lăng bằng gỗ bóng. Bên dưới có 6 thanh đồng dài ngần khác nhau ru quanh một tấm nhôm nhỏ. Một sợi dây màu đỏ chạy từ tâm vô lăng qua tấm nhôm, thả vào khoảng không lửng lơ một mảnh gỗ hình ô van có khắc mấy câu thơ cổ. Dũng bảo: “Chuông của vợ em đấy, bọn em mới cưới nhau tháng trước, đây là chuyến đi biển đầu tiên của em sau tuần trăng mật”. Bố Dũng là người Bình Định tập kết ra Bắc từ  năm 1954. Dũng sinh ra ở ngoài Bắc nhưng lại lớn lên ở  phương Nam. Sau khi tốt nghiệp Học viện Hải quân Dũng xuống tàu làm thuyền phó. Tôi đã nhìn Dũng tác nghiệp cùng thuyền trưởng ở trên boong lái, đã xem Dũng chỉ huy thuỷ thủ đoàn buông neo, hạ xuồng, cầu hàng. Lính sông nước có vẻ như già dặn hơn lính trên cạn. Dũng nắm khá chắc về thời tiết biển. Dũng bảo, ở Trường Sa hàng năm có tới 131 ngày có gió mạnh từ cấp 6 trở lên, phân phối không đều cho các tháng. Thời kỳ gió mạnh thường xuất  hiện từ tháng 11 năm trước đến tháng 2 năm sau. Tháng 4 là tháng ít có gió mạnh nhất, đây là thời kỳ chuyển tiếp từ gió mùa Đông Bắc sang gió mùa Tây Nam, gần như sóng yên biển lặng rất thuận lợi cho việc đi biển. Còn giông ở  trên biển thì gặp quanh năm, có thể nói tháng nào cũng có. Tôi nhìn lịch đồng hồ: Mười ba tháng Một. Vậy là chúng tôi ra biển đúng vào mùa giông gió. “Các ngư dân ở  đây còn gọi mùa này là mùa gió chướng nữa", Dũng bảo. "Nghĩa là sao?", tôi hỏi. "Là thứ gió trái với quy luật thông thường của gió biển. Thường thì gió từ ngoài khơi thổi vào nhưng gió chướng lại từ trong đất liền thổi ra, rất độc và hay gây nên những hiện tượng không bình thường".

Đấy là Dũng mới "phẩy" vài nét về thời tiết và khí hậu ở đây. Tôi còn được biết các đảo, bãi san hô và bãi ngầm thuộc quần đảo Trường Sa được cấu tạo bởi các miệng núi lửa. Đỉnh các miệng núi lửa này nhô lên gần mặt biển, có dạng hình vành khăn hoặc hình êlíp. Phía trong là các vùng nước nông. Phía ngoài là mép trên của sườn núi lửa. Ra khỏi sườn dốc sẽ gặp ngay độ sâu từ vài trăm mét đến hai, ba nghìn mét. Tàu thuyền hoạt động ở khu vực quần  đảo này rất khó khăn. Các luồng ở đây thường chật hẹp, độ sâu cũng thay đổi theo mùa sóng gió và có nơi nông sâu đột ngột. Ở phía ngoài các bãi đá san hô thường có độ sâu lớn, nhưng khi vừa đến rìa bãi thì tàu có thể va vào san hô và bị mắc cạn ngay.
« Sửa lần cuối: 23 Tháng Mười Hai, 2009, 02:26:51 pm gửi bởi phonglan » Logged

Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
phonglan
Thành viên
*
Bài viết: 500


Nụ hoa và cây súng


« Trả lời #51 vào lúc: 23 Tháng Mười Hai, 2009, 01:26:46 pm »


"Tàu đã đến đảo Phan Vinh rồi, chỉ chờ nước lên nữa là các anh sẽ vào đảo", Dũng thông báo cho tôi như vậy. Thì ra tàu đã dừng và neo lại. Thảo nào tôi thấy người tỉnh táo và nhẹ nhõm. Cảm ơn tiếng chuông gió của chàng trung úy thuyền phó. Tiếng chuông gió giữa biển Đông để nhắc nhở tôi vừa vượt qua một hải trình hơn 300 hải lý dể đến với "Quần đảo bão tố". Bây giờ thì Trường Sa đang ở trước mặt tôi kia. Trường Sa (hay Spratley, Nam Sa, Đại Trường Sa, Bãi Cát Vàng, Vạn lý Trường Sa) mà gần 200 năm trước (1816) vua Gia Long đã thân chinh vượt biển cắm cờ, tuyên  bố chính thức thực hiện chủ quyền, "lập những đội trưng truyền và một trại quân nhỏ để thu thuế của người nước ngoài đồng thời bảo trợ người đánh cá bản quốc", đã ở trong tầm mắt tôi. Háo hức quá, muốn lên đảo ngay nhưng phải chờ con nước thủy triều dâng ngập bãi san hô mới cập xuồng vào được. Năm xưa Lê Quý Đôn chép rằng: "Xã An Vĩnh, huyện Bình Sơn, phủ Quảng Nghĩa, ngoài biển về phía Đông Bắc có nhiều đảo núi linh tinh trên 110 hòn. Giữa núi là biển, từ hòn này sang hòn kia đi một ngày đường hoặc một vài canh thì đến. Trong các đảo có Cồn Cát Vàng dài ước hơn 30 dặm, bằng phẳng, rộng lớn, nước trong suốt đáy. Trên đảo có vô số tổ yến, các thứ chim có hàng nghìn hàng vạn, vật lạ rất nhiều ốc hoa, ốc tai voi, bụng có hạt to bằng đầu ngón tay, sắc đục như ngọc trai, vỏ có thể đẽo làm tấm bài hoặc nung vôi, có ốc xà cừ làm đồ trang sức, lại có ốc hương, rất thơm, thịt các thứ ốc đều có thể ướp muối để làm thức ăn. Có đồi mồi lớn, có ba ba biển tục gọi là con trắng bông, cũng giống như con đồi mồi nhưng nhỏ hơn, mai mỏng, có thể khảm đồ dùng, trứng giống như đầu ngón tay cái. Lại có con hải sâm, tục gọi là đột đột... ". Bây giờ trên đảo như thế nào nhỉ? Có giống như thời cụ Lê Quý Đôn chép trong sử sách không?

Buổi tối hôm đó tôi cứ mân mê mãi cánh hoa ốc biển, không biết thứ ốc này đã được chép trong "Phủ biên tạp lục" chưa? Còn thiếu úy Hùng, người đưa tôi xem cành hoa ốc gọi chúng là ốc trinh nữ. Còn nhớ lúc chập tối, khi chúng tôi "đổ bộ" được lên đảo thì đảo tối om. Đã hàng tháng nay máy nổ của đảo bị hỏng, nhân dịp này tàu ra, có  máy thay, đảo mới lại có ánh điện. Khi ánh điện vừa bừng lên, lập tức phòng Đảo phó chính trị Bùi Văn Vương tràn ngập anh em lính đảo chen chúc chờ nhận thư. Chính đảo phó Vương cũng hồi hộp mong tin nhà vì đã 10 tháng nay anh chưa nhận được thư vợ. Lần này anh nhận được 2 lá. Thư con gái báo tin vừa được giải nhất thi hát dân ca toàn thành phố, anh mừng lằm, khoe với tôi: "Cháu nó hát hay là vì theo ghen bố, tôi làm cán bộ chính trị nên cái món đàn hát cũng khá ". Nói xong anh hát luôn bài "Đảo Phan Vinh mến yêu" do anh tự sáng tác. Tôi ngạc nhiên khi thấy người nhận thư đã hết mà trên bàn vẫn còn một chồng thư lớn "Thư của ai đây sao không tới nhận?", tôi hỏi anh Vương. "À, đấy là thư của các em, các cháu học sinh ở đất liền gửi ra cho các chú bộ đội ở Trường Sa. Số thư ấy sẽ phát cho từng bộ phận để bộ đội đọc dè trong mấy ngày. tết". Tôi tò mò cầm lên một lá anh Vương vừa xem dở, thấy ghi: "Tập thể học sinh lớp 6A trường THCS xuân Trường kính gửi các chú hải quân ở đảo Phan Vinh kính mến!. Thế là cái lạnh của mùa đông đã bắt đầu tràn về. Ngoài đường, những chiếc lá cuối thu vàng úa rơi nhè nhẹ trong gió. Trong cái khoảnh khắc chuyển mình của mùa thu và mùa đông, chúng cháu chợt nhớ đến các chú, những người lính hải quân đang ở trên biển xa canh giữ vùng biển Tổ quốc để cho chúng cháu có thể yên tâm học tập... ".

Lá thư viết khá dài, ấm áp và cảm động. Cuối bức thư là chữ ký của em Lê Thị Kiều Oanh, thay mặt tập thể lớp 6A trường THCS Xuân Trường - Nam Định.

Cả đảo đang tranh thủ đọc thư nhưng không phải ai nhận được thư cũng vui. Thiếu úy Hùng, người làm ra những cành hoa từ ốc biển đã không còn cơ hội để tặng hoa cho người mà anh yêu nữa. "Đây, anh xem, em phải đọc tới 3 lần mới hết lá thư này, Hùng đặt vào tay tôi hai trang giấy đặc kín chữ. Tôi nhìn vào dòng đầu tiên: "Hùng con !".
- Sao lại mẹ con ở đây, tưởng thư của người yêu chứ!
- Người yêu đi lấy chồng rồi anh ạ, mẹ cửa người yêu  viết thư xin lỗi con rể hụt vì đã "không giữ được em Thu cho con".

Tôi cố đọc hết lá thư, cảm giác buồn lây theo Hùng. Hùng là y sĩ thuộc kíp quân y của Viện 5-QK3. Hùng mới ra nhận công tác ở đảo được 6 tháng. Trước khi đi người yêu còn chuẩn bị chu đáo, dặn dò cẩn thận, thề non hẹn biển. Vì thế chàng thiếu úy quân y ra đến đảo là nghĩ ngay đến việc tìm ốc tết thành những cành hoa chờ dịp gửi về cho người yêu. Thứ ốc được chọn để làm hoa là ốc trinh nữ. Vỏ ốc trinh nữ có hình như nụ hồng bắt đầu hé nở. Cành hoa được làm từ những cọng thép mềm bọc ni lông màu xanh. Lá được làm từ những bao bì bỏ đi. Nếu sinh nhật người yêu ở tuổi 23 mà gửi về 23 bông hoa được làm từ ốc trinh nữ như thế này thì thật tuyệt. Hùng đã chờ đợi đến ngày tàu ra để gửi những cành hoa đó về đất liền, nhưng ngày tàu ra cũng lại là ngày "đất liền" bội phản. Hùng buồn lắm, buồn đến mức tôi có cảm giác sờ tay vào được Nhưng biết làm thế nào bây giờ? Hình ảnh người lính luôn đẹp nhưng giữa đời thường ngày hôm nay chưa hẳn đã là mẫu người thời đại để các cô gái lựa chọn. Cái  thời cả đất nước đợi chờ chung thủy, cái thời mà hình ảnh người lính duy nhất chiếm giữ trái tim các cô gái đã qua rồi. Lấy một người lính đẹp về nhân cách nhưng cứ đi biền biệt năm này tháng khác, lại chỉ quẩn quanh với thao trường, súng ống, nhìn vào đồng lương thì thấy việc mua  nhà, mua xe là quá xa vời, thử hỏi bao nhiêu người có đủ can đảm khi họ có quyền lựa chọn khác? Ra biển lần này, tôi thấy cái mất mát lớn nhất của những người lính hải quân không phai là những thiệt thòi về vật chất, xương máu hay cái chết mà là tình cảm gia đình. Cùng đi chuyến tàu ra đảo với tôi có thiếu tá Nguyễn Hữu Lục. Anh ra đảm nhiệm chức vụ Cụm trưởng Cụm B đảo Sinh Tồn. Mấy ngày trên biển cứ thấy anh buồn buồn, hết nằm lại ngồi dậy mở tập ảnh hai con ra xem. Tôi ngờ ngợ như đã quen anh ở đâu. Cuối cùng tôi nhận ra anh chính là người được một phụ nữ đưa tiễn ở cầu cảng trước lúc tàu rời bến. Tôi còn giữ mãi ấn tượng người phụ nữ ấy đã khóc nấc lên khi con tàu rút ba hồi còi chào tạm biệt đất liền. Nếu người phụ nữ dó là vợ anh thì anh phải là người hạnh phúc mới đúng chứ vì hàng trăm sĩ quan ra đảo đợt này có mấy ai được đưa tiễn đến tận bến tàu? "Đúng, cô ấy đã từng là vợ tôi nhưng bây giờ thì chúng tôi đã chia tay nhau rồi - Anh Lục kể - Tháng trước tôi vừa đưa cháu gái lớn về Nghệ An ở với ông bà nội, còn cháu trai bé ở với mẹ. Ngày xưa chúng tôi cũng có một tình yêu đẹp, bây giờ chúng tôi cũng chia tay nhau khá đẹp". Tôi ra đảo lần này là tăng hai. Đời  lính một năm chỉ về được với vợ có một tháng, có khi hai ba năm mới về nghỉ phép dồn một lần. Không phải người  phụ nữ nào cũng chờ đợi được vì thế cô ấy đã chủ động xin chia tay tôi sau khi đã thực lòng xin lỗi về cái sự không giữ nổi mình trong suốt những năm tháng dặc dài thiếu vằng chồng. Chúng tôi ra tòa rồi. Và tết này tôi lại ra đảo, lại xa đất liền, xa hai con và lại trở về là một người đàn ông "mồ côi vợ". Cô ấy đưa tiễn tôi đến tận cầu cảng, nói rằng rất thương tôi nhưng không đủ can đảm để làm vợ tôi, và khóc. Tôi bảo cô ấy hãy về và đừng khóc nữa. Khóc làm gì ? Cho tôi, cho cô ấy hay cho cả hai ? Bây giờ tôi chỉ thương con, chúng còn bé quá, tôi có chụp ảnh chúng lên đốc lịch để mang ra đảo treo".

Logged

Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
phonglan
Thành viên
*
Bài viết: 500


Nụ hoa và cây súng


« Trả lời #52 vào lúc: 23 Tháng Mười Hai, 2009, 01:33:41 pm »


Bây giờ thì tôi đã hiểu vì sao ở đây có nhiều "đá mồ côi" thế. Đá mồ côi thường nằm một mình, xen kẽ giữa đám san hô, tròn tròn, đen biếc. Đá mồ côi chính là vật cản khó chịu nhất khi xuồng cập đảo. Xuồng chỉ cập đảo được khi nước dâng ngập bãi san hô. Đảo bao giờ cũng nằm ở phần cao nhất của bãi, muốn vào được phải theo đúng luồng. Sai luồng, lập tức xuồng sẽ va phải vô số đá mồ côi và bị sóng đánh bật trở ra. Chúng tôi đã vào đảo bằng cái  cách duy nhất ấy. Cái cảnh ngồi trên xuồng được ví như những con kiến bám trên mảnh lá tre dập dềnh giữa trùng khơi thật chẳng lấy gì làm quá.Đêm ở đảo Phan Vinh thật khó ngủ. Đảo phó Vương  bảo: "Các anh hãy vì chúng tôi mà thức cố thêm một tí  nữa đi. Đối với những người lính ở đảo thì hôm nay là giao thừa, bởi chỉ có đêm nay mới có thêm người lạ lên đảo, chỉ đêm nay đảo mới sống trong cái sự không bình thường. Mà không bình thường, bồn chồn, rạo rực thế này, là tết chứ còn gì nữa! Tôi đã ở đây nhiều tết tôi biết, đêm giao thừa giống như mọi đêm khác, như ba mươi đêm của tháng, mấy trăm đêm của năm, Chẳng khác gì, cũng chẳng có gì đặc biệt hơn. Nó là một đêm bình thường như bao đêm, vẫn nước lên ngập bãi san hô, vẫn sóng đánh vào bờ ầm ầm,  vẫn gác và đốc gác, cho nên với chúng tôi tết là ngày tàu ra và đêm giao thừa chính là đêm nay, khi đảo có mặt khách từ đất liền tới. Khi các anh đi, tàu rút, cũng là hết tết chúng tôi lại trở về với những công việc thường ngày"

Nghe anh Vương nói thế thì chúng tôi còn ngủ làm sao được. Buổi sáng ở đảo có vẻ như sớm hơn ở đất liền. Hơn 5 giờ một chút bình minh đã ló rạng. Phương Đông những gợn mây màu xám bạc dần tan loãng nhường chỗ cho sắc mỡ gà hắt ánh vàng óng ánh lên nền trời. Nước rút ra xa, hòn đảo trở nên rộng lớn với những bãi đá lô nhô. Sóng bạc đầu tới tấp quật vào "mép vành khăn" tung bọt trắng xóa. Con tàu HQ-521 chở chúng tôi ra đây giờ thả neo tít ngoài xa kia trông như một con thuyền nhỏ của những ngư dân đánh cá biển. Tôi tưởng mình dậy sớm nhưng có  những chiến sĩ còn dậy sớm hơn cả tôi. Họ tập tạ ngay bên tháp tăng. Các chiến sĩ ở đảo đều có cơ thể to, khỏe, cường tráng, đều "anh em với Lý Đức cả”. Có một chiến sĩ nằm vắt người lên nòng pháo tăng để nâng tạ tập cơ ngực. Đó  là chiến sĩ cả đêm qua nằm bên tôi mà không ngủ. Ngủ làm sao được vì hôm nay là ngày cậu ta được vào bờ, kết thúc nhiệm vụ ở đảo. Chiến sĩ ấy là trung sĩ Phan Vĩnh Thạch, người Hà Tĩnh. Thạch từng là học sinh chuyên văn, thi đại học báo chí trượt, nhập ngũ tháng 3 năm 1999. Tôi hỏi: "Liệu năm nay có thi nữa không?". Thạch bảo: "Có chứ! Mười năm sau biết đâu em lại quay ra đảo với tư cách là phóng viên như các anh bây giờ". Thạch đã ở đảo hai năm và hướng trọn hai cái tết giữa biển Đông. Cả tháng nay Thạch bồn chồn, náo nức chờ tàu ra. Bây giờ thì Thạch là người vui nhất đảo. Thạch rủ tôi xuống bãi san hô nhặt ốc nhảy và bắt bạch tuộc. Thạch cầm theo một chiếc xiên bằng sắt dài và một xà beng loại nhỏ. Tôi xách theo chiếc xô. Buổi sáng nước biển rút ra xa nên bãi san hô trở thành nơi "đi biển" lý tưởng. "Đi biển" là cách nói của lính đảo chỉ việc khai thác những thứ mà biển dâng hiến cho con người. "Đi biển" đã trở thành điều cấm từ vài năm nay để hạn chế sự ham "đuổi cá bắt tôm" của cánh lính trẻ. Biển cả không thể đùa được. Vì vậy tôi và Thạch phải xin phép chỉ huy đảo mới được xách xô xuống bãi san hô. Thạch quả là tay "đi biển" có hạng. Giữa bạt ngàn các nhánh san hô đủ màu xanh, đỏ, vàng, trắng, xám, bạc Thạch vẫn phát hiện ra từng con ốc nằm nép mình trong kẽ đá. Ở đây có rất nhiều  loại ốc: ốc nháy, ốc càng, xe lọ hoa, ốc nón, ốc trân châu, ốc hương, ốc trinh nữ, chưa kể nhiều loại ốc khác có những tên gọi làm đỏ mặt cánh chị em. Trong khu vực bãi san hô có hai cái hồ. Thạch vẫn thường ra bắt cá ở đó. Cá  mú, cá bò sừng, cá bò bọc thép, cá picátxô, cá hải quân, cá  mao tiên, cá gà (hay còn gọi là cá mặt qủy)... có con ăn được, có con chỉ để chơi. Có lần Thạch bắt gặp một con cá cóc to, Thạch đưa lưỡi dao Thái Lan vào miệng nó, lập tức nó cắn đứt luôn dao. Thạch còn lặn xuống nước để bắn cá. Súng bắn tự tạo được làm bởi một thanh gỗ dài khoảng 60cm, khoét dọc, phía dưới có báng để cầm. Mũi tên bằng sắt, đầu nhọn, được ngậm chặt bởi cò buộc ở đuôi súng. Đầu nòng có dây níu. Khi níu dây vào tên sắt là đạn đã lên nòng, chỉ cần nẩy cò là mũi tên phóng đi, tầm bắn chính xác khoảng 2 mét, ngoài ba mét cũng vẫn có thể bắn trúng cá. Súng thường được dùng để bắn cá nấp trong hang hoặc bán đón đầu. Dùng súng để bắn cá thường phải lặn sâu xuống nước. Như thế phải có kính lặn và ống thở. Kính lặn là một tấm kính hình ô van có diện 14 x 10 cm được nẹp với cao su bao mặt bằng nhôm, có dây đeo. Ông thở làm bằng nhựa, nhỏ như ngón tay cái, dài khoảng 30 cm, một đầu loe ra hình phễu, thân lượn theo hình chữ L. Lần này về bờ Thạch sẽ để lại toàn bộ "đồ nghề đi biển" cho đồng đội ở lại đảo Trên cấm không cho đi biển xa thì sẽ đi biển gần. Lính hải quân mà không sống với biển, không hiểu biển, yêu biển sẽ như thứ phong lan ở rừng, chẳng thế tồn tại nơi đảo xa này được.

Đang đi Thạch bỗng bảo: "Có tổ bạch tuộc, để em bắt anh xem. Thì ra cửa hang bạch tuộc bao giờ cũng có những vệt cát đùn ra, phải tinh ý mới thấy được. Thạch lấy que sắt xiên thẳng vào hang, cố định con bạch tuộc một chỗ rồi dùng xà beng bẩy hang. Từng tảng san hô được cạy tung ra, con bạch tuộc lộ chân tướng, lập tức nó phun ra một vệt mực đen ngòm. Nhưng nó chạy đi đâu thoát được khi chiếc xiên sắt đã giữ nó lại rồi. Thạch thò tay xuống, cả một búi vòi lập tức ngoằng vào tay Thạch, giãy giụa, níu kéo. Với một động tác rất gọn, Thạch vuốt ngược lên, lột lớp da bụng của con tuộc, thế là nó yếu dần, yếu dần rồi rủ vòi xuống như đóa quỳnh vừa nở qua đêm vậy.

 Khi chúng tôi xách đầy một xô ốc với xâu bạch tuộc về  đến đảo thì được lệnh phải ra tàu ngày, có thế vài tiếng nữa sẽ có giông biển. Giông biển thường kéo đến rất nhanh và với thứ giông này, xuồng máy, xuồng chuyển tải sẽ chỉ là thứ mạng nhện trước cơn lũ quét. Vậy mà trong suốt cuộc hành trình chúng tôi thường xuyên phải ngồi trên chiếc xuồng chuyển tải mỏng manh ấy để vào với các đảo nổi, đảo chìm. Ngồi trên tàu dù sao cũng yên tâm hơn, còn ngồi trên xuồng, thú thực lúc nào tôi cũng phải chuẩn bị tinh thần "tiếp nước" bằng chiếc áo phao mỏng như chiếc gilê có cổ. Mấy ngày sau đó chúng tôi liên tục đi lại trên biển bằng xuồng. Đảo Tốc Tan, đảo Núi Le, đảo Tiên Nữ, có đảo một điểm, có đảo hai, ba điểm, điểm nào tôi cũng đến, cũng trèo lên chốt gác cao nhất nhìn ra đại dương mênh mông để thấy cái cảm giác nhỏ nhoi, hữu hạn của con người trước biển cả bao la. Để đến được hết các điểm đảo ấy, chúng tôi phải ngồi ba, bốn tiếng đồng hồ liền trên xuồng chuyển tải để cho xuồng máy kéo đi. Điều khiển xuồng là các thủy thủ của tàu HQ-521, là "quân" của thuyền trưởng Chấn, hầu hết đều rất trẻ và chưa vợ. Làm thủy thủ quả thật vô cùng cực nhọc. Vừa tham gia ca hàng hải, đi ca hành trình, vừa trực boong, gác đêm, vừa trông coi máy nổ, máy phát điện vừa cẩu xuồng, cẩu hàng, cứ thay nhau làm, hết ngày lại đến đêm mặc sóng to, gió lớn, mặc mưa nắng thất thường, giấc ngủ chẳng bao giờ được sâu, khác với lính đảo, lính tàu người nào trông cũng ngăng ngẳng, xương xương. Vậy mà họ làm việc mới chuẩn xác, thành thục làm sao! Những Nhật, Sơn, Chung, Hưng, Huy, Hiển, Hướng, Hùng ... đều như những nghệ sĩ của  biển cả, tung dây, nhảy xuồng, lách luồng, vượt sóng đến là tài tình. Vậy mà họ lại sợ một điều tưởng như rất buồn cười, ấy là ... ế vợ! Thì cứ lênh đênh trên biển suốt, về đến bờ lại trực tàu, năm được mấy chục ngày phép, đặt vấn đề với cô nào cũng ngại. Mới hay đã là bộ đội thì dù thời chiến hay thời bình đều gian khổ, vất vả và cả một chút thiệt thòi nữa. Chẳng lẽ lại cứ phải nghiễm nhiên chấp nhận một điều tưởng như phi lý ấy mãi hay sao? Chịu, tôi không thể trả lời được câu hỏi này.

Rời đảo Tiên Nữ tàu tiến về đảo Len Đao. Sau nửa ngày ở trên đảo chìm, tàu lại thẳng hướng về phía đảo Cô Lin. Chúng tôi được thông báo tàu đang tiến vào khu vực đã từng xảy ra "Sự kiện CQ-88".

Tôi bàng hoàng, không tin vào mắt mình. Vậy là tôi đã đến đúng cái nơi mà "anh cu Hoạch" nhà bà cụ Nghĩa hàng xóm chiến đấu và hy sinh mười ba năm về trước. Tôi chạy ra boong tàu thì đúng lúc tàu dừng. Tôi nhìn vào bản đồ tác nghiệp thấy ghi: Kinh độ 11407'5E, Vĩ độ 09o46'5N. Lúc này hàng trăm cán bộ sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ đã quân phục chỉnh tề đứng nghiêm trang bên mạn trái của tàu để làm lễ tưởng niệm. Phút mặc niệm bắt đầu khi ba hồi còi được kéo lên cùng hàng trăm cánh tay đưa lên vành mũ chào. Trên boong lái, giọng thuyền phó chính trị Nguyễn Hải Thanh da diết, cảm động truyền đi trên hệ thống loa phát thanh của tàu:  

"Hỡi các anh! Những người con dũng cảm kiên trung của đất mẹ! Cứ mỗi lần qua vùng biển đảo Cô Lin - Len  Đao mỗi chúng tôi lại nhớ đến các anh, nhớ về cuộc chiến  đấu dũng cảm ngày 14 tháng 3 năm 1988. Các anh đã vĩnh viễn nằm lại với biển vì chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc. Tên tuổi của các anh còn sống mãi, xương máu của các anh hòa với vị mặn mòi cửa biển, hóa những hạt cát Trường Sa ngày đêm bồi đắp cho quần đảo thiêng liêng của đất mẹ Việt Nam".

Sau phút mặc niệm, cán bộ chiến sĩ trên tàu lần lượt thả hoa xuống biển. Tôi vội chạy về phòng lục ba lô lấy ra cành mai vàng bẻ ở bán đảo Cam Ranh trước lúc xuống tàu. Trước khi thả nó xuống biển, tôi lẩm bẩm một mình: "Anh Hoạch ơi, cành mai vàng này dành riêng cho anh, bà cụ Nghĩa vẫn rất nhớ anh, xuân này cụ đã ngoài chín mươi, anh hãy yên nghỉ dưới biển sâu, vùng biển đảo này mãi mãi sẽ được bảo vệ, mãi mãi sẽ là của chúng ta".

Logged

Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
phonglan
Thành viên
*
Bài viết: 500


Nụ hoa và cây súng


« Trả lời #53 vào lúc: 23 Tháng Mười Hai, 2009, 01:34:00 pm »


Sau khi đặt chân lên một loạt đảo chìm, tới đảo Sinh Tồn tôi có cảm giác mình đang ở trên đất liền. Cảm giác ấy được mang lại bởi nơi đây có nhiều cây xanh. Nếu như những đảo chìm có dáng dấp của một cái lò vôi nhú lên giữa biển thì Sinh Tồn là một công viên với nhiều loại cây như phi lao, mù u, bàng quả vuông, phong ba, bão táp, cây nhàu (cà phê dại), dừa, muống biển và các loại cây leo khác như bí, bầu, mướp. Sinh Tồn là một đảo lớn trong số những đảo mà chúng tôi ra thăm lần này, vì thế nhiệm vụ của nó cũng nặng nề hơn. Tôi tìm đến với một khẩu đội pháo phòng không đang sẵn sàng trực chiến. Thượng úy Phân đội trưởng Dương Đăng Sinh dẫn tôi đi. Sinh quê ở  Bắc Giang, tốt nghiệp Học viện Phòng không năm 1996, ra đảo từ 1999. "Việc cưới cheo được chuẩn bị đâu vào đấy thì cỏ quyết định ra đảo - Sinh kể - Em lên báo cáo với trên xin hoãn nhưng không tìm đâu được ra người thay, đành phải hoãn cưới lại, và "ngoằng" một cái, đã hơn hai năm trôi qua". Nói về cái sự muộn duyên của mình mà Sinh lại cứ cười luôn miệng. Hàng ria mép lún phún chưa kịp cạo càng làm cho chàng thượng úy có thêm cái nét hào hoa phong trần rất ưa nhìn. Ngay cả khi nói về việc chỉ huy các khẩu đội sẵn sàng chiến đấu Sinh cũng có cách nói rất "mộc" mà ấn tượng. "Đây, khi đánh nhau thì em sẽ đứng ở đây, chỗ này cao nhất có thể bao quát được các khẩu đội, tiện cho việc phất cờ chỉ huy bắn. Em sẽ là mục tiêu dễ xơi nhất của địch và có thể sẽ là người chết đầu tiên, thay thế em sẽ là khẩu đội trưởng khẩu đội Một...".  "Khiếp, cậu nói gì mà ghê thế - Tôi cắt ngang lời Phân đội trưởng Sinh - Ai lại đi nói chuyện chết chóc, đánh nhau là phải thắng và phải sống chứ". Sinh có vẻ như chợt nhớ ra là đang nói chuyện với nhà báo, mà nhà báo là hay "lên lớp" lắm, không cẩn thận lại bị quy chụp là chưa đánh đã nghĩ đến cái chết thì gay. Thấy Sinh cười bẽn lẽn rồi im lặng tôi chợt thấy hối hận. Sinh nói những điều ấy là hoàn toàn thành thực, hơn nữa cũng là sự xác định nhiệm vụ của mình, thế mà vẫn vui vẻ, vẫn cho đó là chuyện hoàn toàn bình thường, chứng tỏ phải bản lĩnh lắm. Ở phố phường bây giờ người ta ít nói đến hy sinh, đến cống hiến, đến trách nhiệm và nghĩa vụ đối với Tổ quốc, với nhân dân, vì thế ra đây tôi cảm thấy lạ tai khi phải nghe nói về cái chết chăng? Tôi tự nhủ hãy im lặng và lặng nghe những người lính ở đây nói, như thế sẽ hiểu họ hơn.

Khẩu đội trực chiến mà Sinh dẫn tôi tới có gần chục pháo thủ đang đứng ngồi bên tháp pháo. Khẩu đội này năm qua diễn tập bản kẹp nòng luôn đạt thành tích tốt, mục tiêu bị diệt nhanh, tỷ lệ dính đạn cao. Mọi mục tiêu ở tầng cao và tầm xa vài ba cây số đều bị khẩu pháo này xơi tái. Các pháo thủ có một điểm rất giống nhau, ấy là tóc ai cũng như vừa được nhuộm thuốc của Hàn Quốc, vàng vàng, hung hung, mới nhìn thấy lạ, nhìn lâu thấy... tội! Nắng nôi suốt ngày, luyện tập suốt ngày, trực chiến suốt ngày, bảo sao da không đen, tóc không vàng cháy? - Binh nhất Vũ Tấn Nhật, quê ở Hải Dương, pháo thủ số 3 bảo với tôi: "Khổ nhất là lính canh trời bọn em đấy anh ạ, đang ăn cơm mà nghe thấy tiếng ù ù là vội vàng bỏ bát đũa chạy ra vị trí ngay". Tôi ngước nhìn ra xung quanh thấy nhiều cây phong ba xòe tán che chắn cho ụ pháo. Các  chiến sĩ đã khéo léo cho rau muống biển bò lên miệng hầm hào công sự để giảm nhiệt bên trong, đảm bảo cho vũ khí được giữ tốt dùng bền. Chỉ có điều chưa có thứ thuốc nào giữ cho mái tóc của họ mãi xanh cả. Nhật bảo: "Anh nhà báo ơi, anh chụp cho bọn em một kiểu ảnh đứng dưới gốc cây phong ba kia được không? Tôi gật đầu. Chụp xong, Nhật rút bút ghi địa chỉ cho tôi. "Anh nhớ gửi nhanh ra đảo cho bọn em được ngắm mình như thế nào nhá!”. Tôi đùa: "Tớ sẽ dùng mái tóc của các cậu để quảng cáo thuốc nhuộm mang nhãn hiệu Trường Sa". Vậy mà nửa đêm hôm ấy Nhật đã cấm khẩu, liệt nửa người, hôn mê bất tỉnh không còn biết gì nữa. Mới lúc tối Nhật còn bảo: "Anh xuống ngủ cùng với bọn em nhé, bọn em thèm nghe chuyện đất liền lắm". Thế mà trong khi tôi còn đang lang thang với chiến sĩ ở các phân đội khác đã nghe tin Nhật bị trúng phong phải đưa lên quân y rồi. Lập tức hôm sau tàu rẽ sóng về đất liền ngay để kịp cứu Nhật. Khi đưa Nhật ra tàu, ai cũng nghĩ là Nhật nguy kịch lắm, có lẽ không qua khỏi, toàn thể cán bộ chiến sĩ trên đảo quyên góp được gần chục triệu giúp Nhật. Tôi chợt nhớ ra rằng ở đây đang là mùa gió chướng. "Gió chướng rất độc, và thường gây ra những hi ấn tượng không bình thường ..." . Các bác sĩ chẩn đoán Nhật bị tai biến mạch máu não. Biển lại đang động, sóng cấp 7 nhiều lúc nhấc bổng cả đuôi tàu. Cả ba máy nổ cùng được dùng một lúc, tàu cứ thế cắt sóng mà đi. Nếu gió mạnh hơn nữa, biển động hơn nữa thì con tàu sẽ ra sao? Đã có nhiều con tàu chạy cả ngày trên biển mà vẫn âm hải lý. Dù có âm hải lý cũng vẫn phải chạy vì quay mũi  lập tức tàu sẽ lật nhào. Bộ phận phục vụ trên tàu đã rất cố gắng nhưng cũng chỉ nấu được cơm, còn thức ăn thì chịu, sóng hất đi hết. Ở phòng câu lạc bộ thủy thủ Nhật được bác sĩ Nguyễn Đức Anh cùng 5 y tá, y sĩ giữ chặt để truyền huyết thanh. Bác sĩ Đức Anh thuộc Đội điều trị vùng D, anh vừa hoàn thành nhiệm vụ ở đảo Tốc Tan A được về bờ lần này lại xắn tay áo lên vào ngay "ca" mới. Cách đây chưa lâu Đức Anh vừa mới cứu sống một ngư dân người Quang Ngãi. Ngư dân này do lặn lâu dưới biển, lại không theo chu trình lặn (25 mét nghỉ 3 phút, 20 mét nghỉ 2 phút...) để thường xuyên đẩy khí trong máu ra dẫn đến khí tắc ở động mạch gây liệt từ vùng bụng trở xuống. Đức Anh đã dùng thuốc trợ tim, trợ sức kết hợp với châm cứu để nâng cao thể trạng cho ngư dân nọ rồi lại kèm cho anh ta lặn lại. Sau ba lần lặn lại ngư dân kia đã bám tường đi lại được. Về bờ được hơn tháng thì anh ta báo tin ra là đã khỏi hoàn toàn.

Còn lần này, cả 5 y tá, y sĩ đều đã say sóng, gục hết xuống xung quanh bệnh nhân Nhật. Đức Anh cũng mệt phờ người nhưng vẫn cố nhấm nháp vài mẩu mì tôm khô để tỉnh táo mà trông Nhật. Sợ nhất là sóng đánh bật kim ra khỏi ven, không có nước truyền Nhật sẽ chết. Mỗi lần như thế Đức Anh lại lựa theo thế sóng để chọc kim trở lại ven. Sau 7 chai nước truyền kể từ khi rời đảo thì tàu về đến bờ. Ôi chao là mừng khi nét mặt Nhật vẫn hồng, tim vẫn đập, máu vẫn lưu thông. Xe cứu thương chờ sẵn Nhật ở cầu cảng. Ngay tối hôm ấy, chúng tôi được tin một bênh chân của Nhật đã cử động được.

Còn nhiều điều chưa ghi chép hết về Trường Sa. Dẫu sao thì tôi cũng đã được sống những ngày thật ý nghĩa với những người lính hải quân trên một vùng biển đảo nhiều bão tố phong ba nhưng sáng rõ tình người. Ở nơi mà cây không mọc được thì mai mọc được. Ở nơi mà mọi loài hoa không nở được trước gió độc thì hoa mai lại chờ gió chướng về để khoe sắc vàng. Ở nơi tưởng chừng như chỉ có bão  tố thì có làng đảo. Ở nơi mà sự sống tưởng như không tồn tại thì có người lính. Ở nơi mà nhà thơ Trần Đăng Khoa đã từng chiêm nghiệm "có lẽ không ở đâu nước biển mặn như ở đảo chìm - Mặn như máu" là nơi mà chúng ta hiểu tấc đất biên cương quý giá đến nhường nào. 

Tiếng chuông gió trên biển Đông còn theo tôi mãi, nó nhắc nhở tôi nhớ về một nơi - Trường Sa, ở đấy mai nở vàng vào mùa gió thướng.   


                                                                                             Trường Sa - Hà Nội, 2002
                                                                                                          N.Đ.T
Logged

Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
phonglan
Thành viên
*
Bài viết: 500


Nụ hoa và cây súng


« Trả lời #54 vào lúc: 23 Tháng Mười Hai, 2009, 01:36:12 pm »

   
      Thúy An

 
CHUYỆN Ở SONG TỬ TÂY


Năm 2000 ở vùng biển Trường Sa
Nàng Tô Thị không đứng trông
mà cưỡi sóng ra thăm chồng ngoài hải đảo
Dẫu biết Song Tư Tây là rốn bão
Em vẫn theo tầu ra thăm anh  
 Trời trong xanh  
 Biển trong xanh
Không xanh trong bằng tình yêu người lính biển
Ai thắp lửa trong tim loài chim yến
Để cánh nhỏ vẫy vùng giữa biển bao la.
Doi cát hai đầu dịch chuyển theo mùa  
Tầu em vẫn cập bến bờ mong đợi
Ngọn Hải đăng nơi đảo anh chiếu rọi
 Ánh sáng tình yêu xuyên không gian, thời gian.  
Hạnh phúc hhông anh khi trong tim ngọn lửa
Chúng mình truyền cho nhau giữa sóng biển dâng tràn.

                                                                                           Trường Sa tháng 4 năm 2000
 
Logged

Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
phonglan
Thành viên
*
Bài viết: 500


Nụ hoa và cây súng


« Trả lời #55 vào lúc: 23 Tháng Mười Hai, 2009, 01:37:13 pm »

 
    Phạm Ngọc Cảnh


TRƯỜNG SA


Gọi tên hòn đảo ấy
như lời thề trang nghiêm
như chỉ có một lần
bút cầy lên mặt giấy
họ tên mình chôn cất
tổ tiên mình khấn vái
như mẹ ch trang trải
suốt một đời nợ nần
định hình lê Tổ quốc
từ đảo ngoài xa xanh.

Ôi tình yêu xứ sở
có linh hồn đảo nhỏ
máu thịt mình chia ra
chẳng bóng tre Đằng Ngà
mát xuống vai người lính
vậy mà chiều lặng tĩnh
tiếng sáo biết lượn về
cho đất liền đêm nghe
hướng đi từng bợn sóng
hướng lẩn lùi tàu giặc 
dăng quỷ kế rập rình 
dàn bảy trăm thói tục 
chực quẫy vào sóng đục 
nổi lập lờ chênh vênh. 

Khi ngẩng mặt lên tìm
ra ngoài kinh độ vắng
mặt biển chiều sạm nắng
em nghĩ gì đây em
em thương nhiều không em
người lính mình tâm tưởng
khỏa chân trên sóng viền
người linh mình nhắc tên
chừng vừa xong phiên gác
mắt vẫn còn đăm chiêu
áo dẫrn xanh thủy triều
đang nhìn mình đấy nhỉ.

Một nửa cuộc đời thường
trong ta người lính gửi
để dấu chân tuần tra
đặt xanh biển hải giới
và mỗi ngày lắng lại
và mỗi đêm thâm trầm
Trường Sa là tên gọi
Trường Sa là tiếng dội
vang suốt bờ lương tâm... .
Logged

Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
phonglan
Thành viên
*
Bài viết: 500


Nụ hoa và cây súng


« Trả lời #56 vào lúc: 23 Tháng Mười Hai, 2009, 01:39:26 pm »


   Hà Đình Cẩn


THÁNG BA Ở ĐẢO


Tháng ba
Lính đổ bộ lên tàu đổ bộ
Chúng tôi ra khơi xa
Mây trắng qúa lòng trời trống rỗng
Sóng chỉ như là ru rím thôi.

Cái chấm trên ban dồ là đảo của chúng tôi
Nhấp nhô ngọn sóng
Đảo còng lưng như mẹ
Suốt đời dò tìm chiêm trũng quê.

Đảo chìm nổi như chúng tôi chìm nổi 
Khi nhô lên đảo gọi chim về 
Con chim vịt đẻ rơi trên mặt đá 
Chúng tôi ấp iu qua trứng chim trời.
 
Ba cục đá chụm đầu rau
Chúng tôi đứng gác
Ba đoạn dây chụm vào nhau
 Chúng tôi mắc võng 

Võng như thuyền sóng đẩy lên cao
Sợi dây võng nối rừng với biển
Nối đảo xa với dằng dặc đất liền.
Cơ thể lính chỉ có vai là mau lành vết sẹo
Những bờ vai như đá xù xì

Tháng ba
Chúng tôi san nền trên sóng
Làm nhà chênh vênh như chuồng chim 
Lính chưa kịp dọn chiếu giường chim đã  ùa đến ở
Lính như cây chim đậu cả lên đầu.

Tháng ba
Chúng tôi vác đảo lên vai
Tháng tư mưa sùi bong bóng
Thèm nước thì hứng trời
Thèm đất hứng vào đâu được 
Chúng tôi gieo hạt cải càng trong bát cơm ôi 
Lính truyền tay nhau cái mầm rau giữu biển
Lá của đất liền xanh giữa trùng khơi. 


                                                                                                            1998
Logged

Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
phonglan
Thành viên
*
Bài viết: 500


Nụ hoa và cây súng


« Trả lời #57 vào lúc: 23 Tháng Mười Hai, 2009, 01:40:31 pm »


       Phạm Minh Dũng

GẶP BẠN TRƯỜNG SA 


 
Chuyện ở đảo mười năm 
Lời anh nói bay qua ngọn lửa
Bay sang tôi ấm đến nồng nàn. 
 
Ngọn lửa tháp sáng lại thời gian
Hai mươi mùa nắng mưa, giông bão
Nụ cười chàng trai  đảo
Âm vang tiếng sóng trùng khơi .
 
Mái đầu chớm bạc tuổi bốn mươi
Bạn vẫn trẻ như là ngọn lửa. 
 
Tôi như nghe tiếng của mồ hôi 
Suốt mười năm gõ vào mặt dá 
Sắc biển xanh hằn trên nền áo cũ.
 
Anh cười cho ngọn lửa sáng lên
Lửa reo vui, lửa bập bùng, lửa hát
Ngọn lửa mười năm anh nuôi nấng.

Và ngoài kia sóng biển đang reo 
Tôi nắm chặt bàn tay người lính đảo 
Cảm nhận vết chai cao hơn giông bão
Cảm nhận Trường Sa đâu đó rất gần. 

                                                                                                               1997
Logged

Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
phonglan
Thành viên
*
Bài viết: 500


Nụ hoa và cây súng


« Trả lời #58 vào lúc: 23 Tháng Mười Hai, 2009, 01:42:00 pm »


      Ngô Xuân Hội
 
 
CÂY PHONG BA Ở TRƯỜNG SA
   
 
Như là cây nứa cây tre
Xanh tươi rừng núi làng quê đất liền
Cây phong ba mọc bình yên
Trên cát trắng của một miền đảo xa
Sinh Tồn, Nam Yết, Sơn Ca ...
Nhấp nhô sóng biếc la đà bóng cây
Thân khúc khuỷu lá to dày
Nẩy chồi ngay cả những ngày nắng nung
 Còn khi trời biển bão bùng
Hồn nhiên cây đứng trần lưng xây thành
Không trốc rễ không gẫy cành
Vẹn nguyên đến cả những nhành non tươi
Bão tan lại những tiếng cười
Dáng cây trên đảo dáng người vươn cao ...
                                                                                                                1999
Logged

Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
phonglan
Thành viên
*
Bài viết: 500


Nụ hoa và cây súng


« Trả lời #59 vào lúc: 23 Tháng Mười Hai, 2009, 01:43:36 pm »

  
 Duy Thuấn


MƯỜI BẢY KHÚC ĐẢO CA
(Trích đoạn)  

 
PHÁO ĐÀI

Biển khơi mịt mù giông bão  
Pháo đài dựng ở Đá Đông  
Chỉ có một trái tim rực cháy  
Chưa bao giờ ta nản chí đâu  
 
Đây đảo chìm ở dưới biển sâu  
Ta lặn xuống mò tìm đá hộc  
Kê đảo lên cao để dựng nhà
Kê đảo lên cao xây pháo dài bát giác  
Xây cột ăng-ten thu truyền hình qua vệ tinh
Xây mảnh sân trồng một luống rau.
  
Ta đặt cho một cái tên thật cứng
Gọi pháo đài Đá Đông  
Quân thù nghe thì hhiếp sợ  
Em ta nghe sẽ thấy vững lòng.  

Có gì đáng yêu hơn những chàng trai  
Còn trắng trong chưa vướng đời bụi bặm
Cười hồn nhiên cởi mở hết tấm lòng
Họ vững tin và bình dị
Họ chỉ có một ý nghĩ  
Trước mặt là kẻ thù, sau lưng là nhân dân
Có một đêm bỗng nổi gió mùa thu
Thầm nhớ năm tới trường độ ấy
Cô bạn gái cùng bàn giỏi môn địa lý
Vô cớ hờn xin mượn thước nhìn nhau
Khi em vẽ bản đồ
Em tô đều cho đậm để nước sâu
 Bởi em không muốn để mắc cạn những con tàu
Bây giờ anh đi xa quê đã lâu
Có thể em không còn nhớ về quá khứ
Riêng anh thì không quên

Ta vẫn nhớ lời ông cha
"Nếu ta dựng pháo đài đánh giặc
Thì pháo đài ở chính giữa lòng dân ta ..."

Ta lấp biển dựng pháo đài Đá Đông
Pháo đài cao tầng tầng bậc bậc
Tám mặt cửa nhìn ra biển rộng
Mỗi ban mai đều đón mặt trời hồng.

Ta dựng pháo đài để canh giữ biển
Cho ngư dân đánh cá ngày đêm
Cho công nhân mỏ dầu ngày đêm khái thác.

Pháo đài Đá Đông đứng hiên ngang
Trong pháo đài có mười tám chàng trai
Ngày ngày kiểm tra mệnh lệnh
Ngày ngày trên chòi cao quan sát
Bão dông quật không nổi họ
Tất cả sẵn sàng hy sinh nếu quân thù đến cướp
Đứng trên pháo đài hùng vĩ
Họ đã thề quyết tử với cha ông.

Bao pháo đài ta giăng mặt biển
Giữ gìn núm ruột Trường Sa
Tổ quốc ơi muôn lần ta yêu dấu
Ta tự hào nước Việt Nam ta.
Logged

Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM