chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #40 vào lúc: 04 Tháng Mười, 2009, 04:14:22 pm » |
|
Ông ta đã chuẩn bị để gửi cho đô đốc d’Argenlieu, đề ngày 2 hay 3/10, một tư liệu chính trị quan trọng, trong đó chủ yếu ông viết:
1. “Người Việt Nam... Sau khi chiến đấu dưới hình thức du kích chống lại quân đội Nhật Bản, Việt Minh vào hồi tháng 7 chưa phải là ghét Pháp và vẫn tìm cách điều đình với Pháp cho mãi đến ngày 10/8.
“Chính sự diễn biến bất ngờ ngày 09/8 (ngày 06/8 Mỹ ném bom nguyên tử xuống Hirosima; ngày 08/8 Liên Xô tuyên chiến với Nhật Bản; ngày 09/8 Mỹ ném bom nguyên tử xuống Nagasaki - Chính phủ Trùng Khánh (Trung Quốc) tuyên bố sẽ đưa quân vào miền Bắc Việt Nam nhận sự đầu hàng của Nhật (LND)) đã tạo cơ hội cho họ lợi dụng sụ vắng mặt tinh thần cũng như thực tế của nước Pháp tại Đông Dương và sự chậm trễ của quân đội Trung Quốc (chưa kịp vào miền Bắc Việt Nam)... để cướp chính quyền và tuyên bố độc lập.
“Bây giờ đây, chính phủ cách mạng Việt Nam còn nằm trong tay Việt Minh. Việt Minh sẽ còn giữ đa số trong vài ba ngày hoặc vài ba giờ nữa. Trung Quốc đang xúi giục đảng Đồng Minh chống lại Việt Minh.
“Việt Minh đã biết chính quyền sẽ lọt khỏi tay họ. Từ vài tuần nay, họ không còn làm chủ được những cuộc phản ứng của quần chúng mà họ đã kích động lên và họ cũng nhận biết rằng bộ chỉ huy quân đội Trung Quốc sẽ đập tan quyền bính của Việt Minh một cách không thương xót. Như vậy sự thất bại của Chính phủ cách mạng Việt Nam sẽ có lợi khôngphải cho Pháp mà cho Trung Quốc - nước láng giềng gần gũi còn đáng sợ cho họ hơn là nước Pháp xa xôi...
“Trong giờ phút hiện tại, thì thắng hay bại theo ý nghĩ của tôi, chỉ tồn tại một đảng Việt Nam duy nhất đáng quan tâm. Các lãnh tụ của nó, dù có thất bại chăng nữa trong những điều kiện mà chúng ta phải thừa nhận là cực kỳ khó khăn này, trước sau vẫn là những người duy nhất do lòng chân thành, tinh thần liêm khiết và lòng tin của họ, có khả năng theo đuổi một đường lối chính trị. trong tương lai, như họ đã từng làm trong quá khứ. Trong mọi trường hợp, họ là những kẻ duy nhất chiếm được lòng tin sâu sắc của quần chúng. Họ sẽ còn giữ được lâu dài cái tai, cái mắt của những đám đông dân chúng đó.
“Nói tóm lại, những chuyện bạo hành, cướp bóc, cả những vụ tàn sát nữa đã xảy ra dưới Chính phủ Việt Minh không thể quy là do sự tiêu cực của người lãnh đạo, mà phần lớn do cái vũng bùn mà phong trào đã quấy lên, đồng thời cũng do hành động của một số đảng phái khác nhau bị những phần tử khiêu khích của Nhật Bản xui giục và thoát ra ngoài vòng luật pháp Việt Minh...
4. “Muốn chiếm lại được chỗ đứng của mình tại Đông Dương, nước Pháp phải chọn một trong hai giải pháp: chiếm lại một mình, hay là nhờ sự giúp đỡ của một đồng minh.
“Nếu chọn giải pháp thứ nhất, thì Pháp phải trở lại Đông Dương thật mạnh và với vũ khí trong tay. Kết quả của cuộc tái chinh phục này nếu được mở màn vào thời điểm thuận lợi, thì không còn nghi ngờ gì nữa. Chỉ trong vài tuần là mọi ý định kháng chiến của những người yêu nước Việt Nam sẽ bị quét sạch bong và nhân dân trở lại phục tùng như cũ. Đông Dương sẽ được tái chinh phục về mặt thực tế, về mặt vật chất, nhưng mà sẽ vĩnh viễn mất đi về mặt tinh thần...
“Vậy thì nếu vũ khí của Pháp vần phải thật mạnh trên mảnh đất Đông Dương này, thì trước hết nó cần phải khôngđược sử dụng đến, có nghĩa là ta phải chọn giải pháp thứ hai: trở lại Đông Dương với sự giúp đỡ của một đồng minh”...
Sau khi nghiên cứu lần lượt những cái lợi và cái hại của các đồng minh Mỹ và Trung Quốc, Stainteny kết luận:
“Chỉ còn lại người Việt Nam. Tôi không ngần ngại mà nói rằng chính người Việt Nam phải là các đồng minh tự nhiên của chúng ta trong vấn đề chúng ta trở lại Đông Dương.
“Sự giao hòa Pháp - Việt sẽ đập tan trước con mắt của thế giới tất cả những lý do nhân đạo hoa mỹ bênh vực cho một sự chiếm đóng của Trung Quốc hay một sự xâm nhập của Hoa Kỳ.
“Mặc dù có những thỏa hiệp bề ngoài, hình như mối thù vạn cổ của người Việt Nam ấp ủ trong lòng đối với người Trung Quốc vẫn còn nguyên vẹn. Chỉ cần một vài hành vi quá đáng thông thường của các đội quân chiếm đóng là đủ để thổi bùng ngọn lửa căm thù lên nhanh chóng. Nếu người Pháp biết lợi dụng tình thế này một cách khôn khéo thì không loại trừ khả năng chính người Việt Nam sẽ yêu cầu được sự hỗ trợ của vũ khí Pháp.
“Tôi đã có thể xác nhận, qua nhiều cuộc hội thảo với các nhà lãnh đạo, Chính phủ cách mạng Việt Nam không bỏ lỡ dịp nào để nhấn mạnh rằng họ khâm phục và quý mến những người Pháp của nước Pháp cũng như sự gắn bó của họ đối với nền văn hóa Pháp.
“Nếu như chữ “độc lập” là cái điều kiện sơ bộ của tất cả mọi cuộc đàm phán thì cũng có một thực tế rất thực là những kẻ đi tiên phong đấu tranh cho độc lập đã quên tự hỏi mình nội dung độc lập là gì hay ít ra cũng chưa xác định rõ cái tầm quan trọng của nó. Họ cần nói đến chữ “độc lập” là đủ. Đừng quên là chúng ta đang liên quan đến một dân tộc thi thư. Nếu những người lãnh đạo hiện nay của Chính phủ Việt Nam bị lật đổ và trục xuất khỏi quyền bính thì có lẽ rất nên tiếp tục duy trì với họ một mối quan hệ rất mật thiết lần này, và cũng với họ trong lúc họ bị cách ly, chuẩn bị cho họ trở lại nắm quyền với sự giúp đỡ của Pháp; bởi những con người thanh niên trung thực ấy, tôi tin chắc như vậy sẽ nhanh chóng trở thành những bạn đồng minh tốt nhất của chúng ta”.
Cầm trong tay những chỉ thị của ông đô đốc Pháp mà nội dung chỉ tóm gọn trong một chữ “giữ” và phản ánh những phương châm chỉ đạo mới nhận được tươi rói của De Gaulle đối với Chính phủ cách mạng Việt Nam, Stainteny vòng qua Côn Minh trở về Hà Nội ngày 8/10. Ngày 6, tại Hà Nội, Pignon cũng đã gặp ông Hồ Chí Minh một lần nữa.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #41 vào lúc: 04 Tháng Mười, 2009, 04:16:41 pm » |
|
Một vấn đề kép Tại Paris và Chandernagor, người ta cho rằng tính chất quốc tế của vấn đề Đông Dương chi phối tất cả: trước hết, phải thương lượng với người Anh để họ cho phép người Pháp được đặt chân lên lại ở Nam Kỳ và cung cấp phương tiện vật chất cho họ thiết lập quyền bính trở lại ở phía Nam vĩ tuyến 16. Nhưng ở đây, sự ngờ vực của De Gaulle dường như không có căn cứ. Quân Anh chuyên chở các lực lượng vũ trang của Pháp và đặt vào tay họ những phương tiện mạnh. Họ tập trung, giải giáp rồi chuyển hết quân Nhật đi, nhưng không điều đình với người Việt Nam; cuộc ngưng bắn đã nhanh chóng bị phá vỡ. Leclerc đến Sài Gòn ngày 05/10, không mất thời giờ bàn luận. Những biến đổi của cuộc ngưng chiến ngắn ngủi ấy đã thuyết phục được ông ta rằng chừng nào người Việt Nam chưa ý thức được sức mạnh của Pháp thì sẽ chẳng có việc gì thành. Trong một bức thư gửi cho De Gaulle (ngày 13/10) ông ta đã viết: “Sẽ là một điều sai lầm tuyệt đối nếu chúng ta điều đình với đại diện Việt Minh trước khi chỉ cho họ thấy sức mạnh của chúng ta”. Và De Gaulle trả lời cho Leclerc (27/10): “Bạn thân mến, chúng ta chẳng có gì để ký kết với người dân bản xứ, chừng nào chúng ta không có sức mạnh. Cho đến lúc đó, chúng ta có thể thận trọng và tùy thời cơ thuận lợi mà có vài cuộc tiếp xúc với họ; nhưng chỉ vậy thôi”. Những nhóm đầu tiên của tập đoàn Massu thuộc sư đoàn 2 chiến xa đến ngày 23/10. Với đơn vị ấy, Leclerc sẽ có thể xông trận. Ngày 26, trong một bức thư gửi De Gaulle, d’Argenlieu, vẫn ở Chandernagor, viết: “Leclerc đã hoàn toàn bị thu hút vào cái mộng “tái chinh phục” của ông ta. Nó mạnh hơn cả ông ta. Tôi nghĩ rằng cần phải gạt cái mộng ấy đi. Chúng ta đến đây không phải để phô trương những cành nguyệt quế mới nhờ những trận chiến đấu gay go chống lại quân thù. Chúng ta cần phải lập lại trật tự một cách quả quyết trong lòng những nhân dân bạn bè, mà chỉ một bộ phận quay lưng lại với chúng ta do sự đồng lõa không tốt của quân Nhật và những phần tử quốc gia chủ nghĩa cực đoan Việt Nam”... (22)
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #42 vào lúc: 04 Tháng Mười, 2009, 04:17:40 pm » |
|
* * * Vấn đề ở miền Bắc Đông Dương một ngàn lần không đơn giản như ông đô đốc ngồi tại đại bản doanh của ông ta tại Chandernagor tưởng lầm. Dĩ nhiên phải điều đình với Trung Quốc để thuyết phục họ rút nhanh quân của họ ở Bắc Đông Dương về và để cho quân Pháp trở lại đó 1. Nhưng lúc này tại Bắc Bộ đã hiện lên một mớ bòng bong khó mà tin là có thật. Trước hết, người ta thấy hình như Trung Quốc, với tư cách là một quốc gia, muốn thực hiện một sự trả thù lại nước Pháp với hai duyên cớ: một là từ một thế kỷ nay, nước Pháp đã thành một đế quốc chiếm hữu thuộc địa, là điều mà Trung Quốc khó lòng chấp nhận. Hai là không những Trung Quốc muốn nước Pháp trả lại cho mình những đất đai của Trung Quốc đã nhượng cho Pháp trước đây (Thượng Hải, Hán Khẩu v.v...) và lãnh thổ Quảng Châu Loan, mà Trung Quốc còn muốn Pháp nhượng lại cho mình cả đoạn đường sắt Vân Nam, muốn hủy bỏ quyền lãnh ngoại của Pháp tại Trung Quốc (đặc quyền giảng đạo và tài phán), đòi quyền quá cảnh Bắc Bộ và một chế độ tối huệ quốc cho Trung Hoa tại Đông Dương. Sự có mặt của quân đội Trung Quốc tại Bắc Bộ và Trung Bộ Việt Nam tăng sức nặng cho những yêu sách của chính phủ Trùng Khánh trong đó không phải không có những người nuối tiếc thời xa xưa cho rằng Trung Quốc có thể lập lại ở Việt Nam một hình thức bảo hộ theo kiểu nước chư hầu ngày trước. Các phần tử quốc gia chủ nghĩa Việt Nam (Đồng minh, Việt Nam quốc dân đảng) tỏ ra sẵn sàng thực hiện một sự liên kết chặt chẽ với Trung Quốc - tất nhiên với sự đồng tình của một vài cơ quan của Mỹ - nhằm tránh bất cứ một sự tiến công trở lại nào của “chủ nghĩa thực dân” Pháp. Rắc rối hơn nữa là quân Trung Quốc tranh giành nhau chiếm đóng đất nước và chiến lợi phẩm. Trong khi Lư Hán - kẻ ngay từ đầu đã tuyên bố bác bỏ 14 điểm của Trùng Khánh - mong muốn có một “trusteeship” (độc quyền buôn bán) của Trung Quốc hay Vân Nam trên đất Việt Nam và Trung Quốc giúp Việt Nam giành lại độc lập, thì chính phủ trung ương chỉ đặt vấn đề kiểm soát, có nghĩa là có thể tống tiền điều cam kết của mình... Mặt khác, đối đầu với Mao Trạch Đông, Trùng Khánh không ưa gì thấy xuất hiện tại Bắc Bộ, ở hậu phương của mình, bất cứ một chính quyền cộng sản nào. Trong các lực lượng vũ trang Trung Quốc đến chiếm đóng miền Bắc Đông Dương, có những tướng tá, thủ lĩnh và những đơn vị thuộc mọi cơ cấu (trừ cộng sản) rất phức tạp, nhưng tất cả đều nặng đầu óc quyền lợi vật chất. Làm sao người Pháp có thể vận động dễ dàng được trên một bàn cờ phức tạo như vậy? Tuy vậy, một cuộc điều đình Pháp - Trung vẫn được mở ra ở cấp chính phủ vào tháng 10, tại Trùng Khánh. Cuộc điều đình tiến hành rất chậm chạp; các chi phí sẽ tùy thuộc vào những biện pháp tài chánh và tiền tệ của các nhà chức trách Pháp ở Sài Gòn 2 và phục thuộc vào quá trình diễn biến của tương quan lực lượng giữa các đảng phái Việt Nam. Tính chất “quy tụ đồng chiều” của các quyền lợi của Pháp và Việt Minh mà Sainteny đã nhấn mạnh ngày 03/10, sẽ bộc lộ ngày càng rõ ràng. Ở miền Bắc, ngoài những việc hằng ngày de dọa và xâm phạm đến tính mạng và tài sản của người Pháp, điều gì đang đe dọa Đông Dương đã hiện lên một cách rõ ràng, ai cũng trông thấy và cũng cảm nhận một cách cụ thể. Miền Nam không như vậy, yên tĩnh đã trở lại với Sài Gòn. Ở miền Nam, Leclerc đã chuyển sang tấn công. Trước tiên, và ngay từ giữa tháng 10, ông ta đã nắm chắc được Campuchia, loại trừ ra khỏi Phnôm Pênh chính phủ Sơn Ngọc Thành thù địch, do đó bảo đảm được việc tiếp tế cho Sài Gòn. Với tập đoàn Massu, ông ta đã nhanh chóng làm tan rã bộ máy quân sự non trẻ của Việt Minh tại Nam Bộ và chiếm được tất cả các thành phố ở châu thổ sông Mêkông. Việt Minh bắt buộc phải thực hiện chiến tranh du kích. Chính sách “tiêu thổ kháng chiến” tai hại của họ đã ly gián lòng dân khá nhiều. Ngày 30/10 đô đốc d’Argenlieu đến Sài Gòn. Tại đây, vài hôm sau, ông ta đặt ra “chính phủ liên bang” như đã dự định trong tuyên bố 24/3 mà chẳng cần phải nói là chính phủ “lâm thời” gì cả. Vậy nhưng cái “chính phủ” ấy chỉ gồm toàn những công chức người Pháp mà chẳng có lấy một mống nào người bản xứ. Ông đô đốc vội vàng mở ngay những cuộc đàm phán với Canlpuchia của vua Sihanuc; cuộc đàm phán ngày 7/1/1946 đã dẫn tới một “tạm ước” thỏa thuận cho Campuchia được quyền tự trị nội tại. Cuối tháng 1/1946, Nam Bộ và cả miền Nam Trung Bộ (với Đà Lạt, Ban Mê Thuột và Nha Trang) có vẻ như đã được bình định xong, hay ít ra cũng đã nằm dưới sự kiểm soát của quân Pháp. Người ta bàn chuyện khoác cho Nam Bộ, thuộc địa Pháp, một quy chế chính trị theo tinh thần bản tuyên bố ngày 24/3, nhưng với những người dân Nam Bộ nào? Như vậy, việc lập lại chủ quyền Pháp trên đất Đông Dương có vẻ thuận chiều. Tuy nhiên, ở miền Bắc, trái với những dự đoán u ám của Sainteny và Pignon, chính quyền của Việt Minh đã được củng cố. Sợ quân Trung Quốc, họ đã hết sức tránh những chuyện khiêu khích; họ còn tìm cách làm dịu các chỉ huy quân đội Trung Quốc bằng nhiều tặng vật. Để chạy đua thời gian với các đảng quốc gia kình địch và với ý định tạo cho mình một hình thức dân chủ hợp pháp càng sớm càng hay, Việt Minh đã quyết định ngay từ ngày 08/9, sẽ tổ chức phổ thông đầu phiếu bầu một quốc hội lập hiến và bằng sắc lệnh ngày 17/10, quyết định tổng tuyển cử vào ngày 23/12. Việt Minh đã tranh thủ được sự đồng tình ủng hộ chế độ của các giám mục công giáo và các giám mục đã đệ thì lên Giáo hoàng Pie XII xin cầu nguyện cho Việt Nam độc lập. Việt Minh đã xác định một chương trình cải cách chính trị và xã hội. Quả thật là họ đã kiệt quệ sức lực và các ngân khố quốc gia đều rỗng không. Nhưng họ cũng đã biết thực hiện với bộ chỉ huy quân đội Trung Quốc những mối quan hệ tuy “hai mặt” nhưng mà rất bổ ích, và họ cũng đã biết khéo lợi dụng những “sáng kiến” của Pháp ở miền Nam. Bộ trưởng Chiến tranh Trung Quốc Hô Ying Chin đến thăm Hà Nội từ ngày 13/10 đã quyết định, sau khi đã xem xét cái cách thức quân Pháp tái chiếm Sài Gòn ngày 23/9, sẽ không cho phép quân đội Pháp - mà chỉ huy sẽ là tướng Salan thay chân tướng Alessandri - đặt chân trở lại Bắc Đông Dương, cho đến khi có lệnh mới; cũng không cho phép tái vũ trang những cựu tù nhân cũ của Pháp hiện đang có mặt tại Hà Nội. ______________________________________ 1. Từ ngày 9 đến 13/10 d’Argenlieu đi Trùng Khánh gặp các nhà lãnh đạo cao cấp nhất Trung Quốc, được họ vỗ về xoa dịu. Mặt khác, cuối tháng 9, De Gaulle tại Paris tiếp T.V. Xoong, chủ tịch chính phủ Trung Quốc. 2. Quân Trung Quốc yêu cầu Pháp chi cho việc bảo dưỡng quân Trung Quốc một trợ cấp hằng tháng 210 triệu đồng bạc. Pháp chỉ đồng ý 96 triệu. Ngày 17/11, Sài Gòn ra lệnh hủy các giấy bạc 500$. Quân Trung quốc điên lên vì họ tích trữ loại giấy này khá nhiều.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #43 vào lúc: 06 Tháng Mười, 2009, 05:21:42 pm » |
|
-V- HÀ NỘI VÀ SÀI GÒN BỊ DỒN VÀO THẾ PHẢI LỰA CHỌN (8/10/1945 - 13/02/1946) Sainteny trở về Hà Nội, vận dụng những phương châm chỉ đạo của d’Argenlieu; ngày 12 và 15 tháng 10, ông ta gặp lãnh tụ Đồng Minh Hội Nguyễn Hải Thần. Chẳng thấy có kết quả gì bề ngoài. Các lãnh tụ quốc gia, phẫn nộ vì cái cách thức Việt Minh cướp chính quyền, chỉ có một ý nghĩ trong đầu giành giật lại chính quyền. Nhưng Siao Wen, cố vấn chính trị của bộ tham mưu Trung Quốc, ra sức thuyết phục họ rằng họ cần thiết phải hợp tác với Việt Minh để thành lập một mặt trận thống nhất chống Pháp. Nguyễn Hải Thần yêu cầu ông Hồ Chí Minh nhường chỗ cho ông ta trong Chính phủ và dọa, nếu ông Hồ không nghe, sẽ dùng bạo lực. Việt Minh bịt tai làm ngơ; một chiến dịch chống Việt Minh nổ ra quyết liệt. Ông Hồ phải nhượng bộ: ngày 23/10, ông Hồ ký với một nhóm của Đồng Minh Hội (mà ông đã thuyết phục được) một thỏa hiệp hợp tác. Nhưng rồi người ta thấy ngay đây chỉ là một “trò giả trang”; Việt Minh đã phỉnh đối phương của họ nhằm mục đích duy nhất là chứng tỏ với quân Trung Quốc thiện chí của mình. Nói về những sự kiện này, ngày 28/10 Pignon đã báo cáo về Chandernagor như sau: “… Không nên khinh suất trong vấn đề xử sự với Việt Minh. Việt Minh là một nhóm thiểu số, đúng vậy, nhưng sự ra đời của nó, những biểu hiện của nó lúc ban đầu đã chinh phục được cảm tình của quần chúng nghèo khổ ở thành thị cũng như ở nông thôn...
“Tuy nhiên, trên phương diện thực tế, tình hình vô cùng lộn xộn, đường giao thông bị đứt đoạn, lũ lụt đã làm ngập hàng trăm ngàn héc ta đồng ruộng... nạn đói bắt đầu hoành hành, các công sở đình đốn, công chức không có lương...
“Trong nội bộ Chính phủ cách mạng, có nhiều biểu hiện mất đoàn kết trầm trọng... Sự thống nhất Việt Minh và Đồng Minh, tuy được công bố rùm beng, trước mắt vẫn chỉ giản đơn là một lời đề nghị về nguyên tắc. Cuộc đấu tranh vẫn tiếp tục âm ỉ giữa hai phe và trong thành phần Chính phủ chưa hề có một sự thay đổi nào.
“Đứng trước những yếu tố phức tạp đó, chưa thể nào đánh giá nổi thực chất vấn đề nước Pháp: về mặt công khai - do nỗi kinh hoàng mà các Ủy ban cách mạng gây ra trong nhân dân - chưa một ai ủng hộ chúng ta. Trong thâm tâm thì chắc chắn những tầng lớp khá giả đều cầu mong chúng ta trở lại, để họ được an hưởng cuộc sống giàu sang. Trong đám quần chúng nhân dân từ lâu đời nổi tiếng là không có cá tính, những lời tuyên truyền chống Pháp đã có nhiều tác dụng. Mấy ông thanh niên “Thổ Nhĩ Kỳ” (ý nói thô thiển tàn bạo - LND) chỉ đạo các ủy ban cách mạng xã và huyện... đã lôi cuốn được chủ yếu là các tầng lớp thanh niên và phụ nữ. Họ tiếp tục một cách kiên trì cuộc đấu tranh chống lại ảnh hưởng của chúng ta.
“Mặc dù vậy, và bất chấp tất cả những nhận định bi quan nói trên, rõ ràng là thời gian đã ủng hộ chúng ta. Tính chất giáo điều quá khích của các ủy ban địa phương, sự đàn áp hàng loạt, sự rã rời kinh tế, đã mang lại một sự ác cảm trông thấy của nhiều người đối với phong trào cách mạng. Những biểu hiện đầu tiên của một sự chuyển hướng bắt đầu bộc lộ.
“Mặt khác, sự chiếm đóng của quân Trung Quốc làm tiêu tan hy vọng của bao nhiêu người Việt Nam. Chính sách tiền tệ của bộ chỉ huy Trung Quốc đã thực tình móc sạch túi nhân dân cả nước. Bọn lính Trung Quốc tỏ ra với người Việt Nam một thái độ trịch thượng và thô bạo khiến cho người Việt Nam ngày càng căm ghét chúng.
“Con bài Mỹ mà một số người lãnh đạo (Việt Minh) sẵn sàng sử dụng cũng làm cho người ta thất vọng. Cái lập trường mà Washington đã xác định không củng cố được cái hy vọng mà người ta đặt vào lời tuyên bố đầy thiện cảm, tại chỗ của tướng Gallagher1 và một số cấp dưới cha ông ta.
“Những người đứng đầu Chính phủ cách mạng biết rất rõ cái ngõ cụt mà họ đang đi vào. Không đồng minh, không tiền, hầu như không cả vũ khí, họ biết phong trào của họ đang đi vào một sự thất bại chắc chắn. Nhưng những phần tử cực đoan vẫn quyết liệt từ chối bất cứ một sự thỏa ước nào đối với Pháp. Nỗi sợ những trận trừng phạt, nỗi căm thù chồng chất trong bao nhiêu năm trong các nhà tù khổ sai chính trị, kích động họ cứng rắn thêm trong một thái độ chiến đấu quá khích và tuyệt vọng. Họ được phục vụ một cách mù quáng bởi tất cả những hạng người mà phong trào Việt Minh coi là bộ hạ của mình, những kẻ “chai sạn” thực sự biết mình sẽ bị tù khổ sai hoặc xử tử do những tội ác và những hành vi sai phạm của họ. Vì trót dấn thân quá sâu rồi không thể rút lui mà chạy trốn nữa, họ coi thường mọi sự việc đột xuất thực tế và bám chắc lấy một khẩu hiệu thể hiện tư tưởng chủ đạo trong công tác tuyên truyền của họ: “Hai triệu đồng bào ta sẽ còn chết đói trong mùa đông này ư? Không sao! Miễn chúng ta giành được độc lập!”.
“Dù lập trường cuối cùng của Chính phủ cách mạng Việt Nam đối với chúng ta là lập trường nào đi nữa, thì chúng ta có thể tính trước, không suy đoán chút nào, rằng ngày mà chúng ta được kéo quân vào Bắc Đông Dương, chúng ta sẽ phải đương đầu với một bộ phận quyết tâm đánh lại chúng ta bằng mọi phương tiện. Hành động của họ dĩ nhiên sẽ kém hiệu lực và kém nguy hiểm nếu như trước đó những phần tử Việt Minh, mà chắc chắn là các đại biểu của các đảng phái hay xu hướng khác sẽ bám theo, không thừa nhận cánh tả của họ và đồng ý dàn xếp.
“Về phương diện quân sự cũng như về phương diện dư luận quốc tế, có một điều rất cơ bản là làm sao thành lập được một đảng thân Pháp để nó kêu gọi và ủng hộ chúng ta mang vũ khí tới giúp họ. Những yếu tố của một đảng như vậy đã có, nhưng họ hết sức dè dặt. Tâm lý quán xuyến của họ là rất sợ sệt. Cho nên cần bảo đảm cho những người thuộc phe chúng ta được sự giúp đỡ của một số nhân vật đang có quyền hành và sau này có trong tay những phương tiện hành động. Đưa đến sự tan rã của ê kíp cầm quyền, hay đúng hơn của Việt Minh, phải là mục tiêu chính của mọi cố gắng của chúng ta.
“Thái độ chúng ta vẫn giữ lâu nay - tức biểu lộ thiện chí và ước mong điều đình trực tiếp với nhau - đã mang lại kết quả. Không thể hy vọng gì ở một giải pháp hoàn toàn hòa bình, chắc chắn thái độ ấy sẽ dẫn chúng ta - trừ khi nó vấp phải ác ý của phía quân Trung Hoa hoặc một biến cố đẫm máu mà hậu quả không thể hạn chế nổi bằng sự can thiệp của các phần tử ôn hòa trong chính phủ - đến chỗ giảm bớt đi một cách trông thấy số lượng những phần tử bất trị cần phải tiêu diệt bằng vũ lực và khép chúng ngay trước mặt đồng bào chúng vào tội phiến loạn” (1). ______________________________________ 1. Trưởng phái đoàn Mỹ ở Hà Nội bên cạnh tư lệnh trưởng quân đội Trung Quốc tại Bắc Đông Dương
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #44 vào lúc: 06 Tháng Mười, 2009, 05:24:12 pm » |
|
Sự bất khả thống nhất các phe đối lập Ngày 02/11, Nguyễn Hải Thần tự thấy mình “bị lu mờ” bèn tố cáo thỏa hiệp 23/10, rồi cùng với lãnh tụ Việt Nam quốc dân đảng vừa tới Hà Nội, ông ta quyết định tăng cường cuộc đấu tranh chống lại Việt Minh. Cả hai đảng (Đồng Minh Hội và Việt Nam quốc dân đảng) ra sức lên án sự bất lực hoàn toàn của Chính phủ Việt Minh cũng như tính chất cộng sản của chính phủ đó. Họ nhấn mạnh rằng Trung Quốc không thể chấp nhận cho thành lập sát sườn mình một nước cộng hòa cộng sản. Ngày 08/11, Nguyễn Hải Thần đòi Việt Minh phải nhường chỗ cho những “phần tử quốc gia chủ nghĩa thật sự”. Ngày 10/11, từ miền Nam, hai lãnh tụ Việt Minh ở Sài Gòn Trần Văn Giàu và Phạm Ngọc Thạch ra Hà Nội. Rút kinh nghiệm từ sự thất bại của mình, hai người thừa nhận lực lượng quân Pháp hiện đại mạnh lắm, đến mức độ người ta chỉ có thể làm cuộc chiến tranh trường kỳ dưới hình thức du kích. Nhưng muốn thực hiện được du kích chiến (và cuộc “kháng chiến trường kỳ”), cần thiết phải có nền móng vững vàng. Có nghĩa là tuyệt đối phải cứu lấy Hà Nội và nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương họp ngày 10 và 11 tháng 11, quyết định giải tán đảng - mà các mục tiêu đều được tuyên bố “thực hiện hoàn thành” (2) và các đảng viên nào muốn tiếp tục theo đuổi việc học tập lý luận thì xin mời gia nhập một “Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác”. Sự việc này chắc chắn đã trấn an Trung Quốc; ông Hồ đã không ngớt nhắc đi nhắc lại với người Trung Quốc rằng: ông không phải là cộng sản mà ông chỉ theo đuổi thực hiện những lý tưởng và chương trình của Tôn Dật Tiên (3). Đồng thời, ông Hồ Chí Minh, qua trung gian ông Hoàng Minh Giám, tổng thư ký Chính phủ, đã tiếp xúc với người Pháp. Trong một bản giác thư ngày 12/11, lập trường của Việt Nam được xác định như sau: “1. Nước Pháp sẽ thừa nhận không chậm trễ nền độc lập toàn vẹn của Việt Nam.
“2. Chính phủ Việt Nam sẽ thực thi những biện pháp nhằm bảo vệ uy tín nước Pháp và sẽ có những nhượng bộ với Pháp về phương diện kinh tế và văn hóa.
“3. Nhằm tạo ra được một không khí thuận lợi cho việc đàm phán, các nhà chức trách Pháp sẽ cho chấm dứt ngay những chiến sự ở Nam Bộ và trong suốt thời gian của cuộc đàm phán, ngưng vận chuyển đến Đông Dương quân đội và vũ khí” (4). Pignon cho rằng văn kiện này không có cơ sở, không chấp nhận được. Nhưng người ta quyết định vẫn duy trì sự tiếp xúc (5). Phía đối lập giờ đây đã kết thành một khối “quốc gia” và tăng cường hoạt động chống Việt Minh. Họ tính toán sẽ dựa thế quân Trung Quốc, đe dọa dùng vũ lực trục xuất những người cộng sản ra khỏi chính quyền. Việt Minh lúc này đã nhận đàm phán; cuộc đàm phán bắt đầu ngày 17/11. Nhưng cũng ngày hôm đó, với mục đích làm cho tình hình tiền tệ trở nên lành mạnh sáng sủa hơn, (nó trở nên quá tồi tệ vì lạm phát trong thời kỳ Nhật chiếm đóng), Chính phủ Liên bang Sài Gòn đã quyết định hủy bỏ tất cả các tờ giấy bạc 500 đồng - phần lớn, ở miền Bắc cũng như ở miền Nam, đang nằm trong tay người Hoa. Biện pháp này gây ra một cuộc khủng hoảng ngay giữa lúc tại Hà Nội, Pháp và Trung Hoa vừa khó khăn lắm mới đạt được một thỏa thuận về “chi phí lưu trú” và “bảo dưỡng” của quân đội Trung Quốc. Quả nhiên quân Trung Quốc không chấp nhận quyết định, yêu cầu Pháp phải đổi nguyên xi những giấy bạc năm trăm đồng lấy những giấy bạc nhỏ hơn. Ngân hàng, nhận chỉ thị của Sài Gòn, từ chối! Thế là, tại Hà Nội, hết chuyện ám sát đến chuyện rối ren bất trắc liên tục xảy ra làm cho người Pháp bị hăm vào tình thế hoàn toàn thiếu an ninh. Quan hệ Pháp - Trung đồng thời căng thẳng đến cực độ. Việt Minh tạm thời đoàn kết với quân Trung Quốc và ủng hộ chiến dịch chống Pháp quyết liệt đang diễn biến tại miền Bắc. Một lần nữa, người ta đòi hỏi phải thống nhất mọi đảng phái với nhau. Ngày 19/11, Siao Wen triệu tập lãnh tụ các đảng họp và ký kết với nhau một cuộc ngừng bắn và một thỏa ước chính trị. Việt Minh từ chối không chịu bỏ dự án tổng tuyển cử đã chuẩn bị cho ngày 23/12. Nhưng Việt Minh nhận thành lập ngay tức thời một “chính phủ thống nhất quốc gia” và đề xuất nghiên cứu một đường lối chính trị chung và một quân đội chung. Giải pháp này vẫn chưa thỏa mãn được phe chống đối: họ dòi hoãn cuộc bỏ phiếu vô thời hạn. Được tin biết một vụ bạo động đang được chuẩn bị chống lại mình, Việt Minh quyết tâm chiến đấu, vận chuyển về nông thôn các tài liệu lưu trữ của mình và chuẩn bị phát động chiến tranh du kích, dự liệu cả một chiến lược tiêu thổ kháng chiến.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #45 vào lúc: 06 Tháng Mười, 2009, 05:26:05 pm » |
|
Một cuộc tiếp xúc mới Chính trong hoàn cảnh đó, Việt Minh đã chủ động tiếp xúc một lần nữa với người Pháp. Ngày 01/12, ông Hồ Chí Minh, ông Giám, và ông Giáp bí mật gặp Sainteny, Pignon và Caput 1. Vấn đề đặt ra là nước Pháp đồng ý thừa nhận hay không nền độc lập của Việt Nam. Chính phủ cách mạng Việt Nam không muốn đoạn tuyệt với Pháp mà họ còn mong có sự giúp đỡ. Ông Hồ còn nói ông mong muốn sẽ sớm được gặp đô đốc d’Argenlieu. Hai bên hẹn sẽ gặp lại nhau, sẽ dự thảo một đề án hiệp định mà hai bên sẽ cùng thảo luận. Ngày 04, ông Giám nhấn mạnh về sự cần thiết phải đưa cuộc đàm phán đến hiệu quả thực tế vì Trung Quốc đang đe dọa dồn dập và bí mật khó mà giữ kín lâu được, do chính phủ đang bị kiểm soát chặt chẽ. Trên thực tế, khó lòng bố trí được một cuộc tiếp xúc chính thức giữa ông Hồ Chí Minh và d’Argenlieu. Ngày 07/12, phía Pháp trao cho phía Việt Nam một bản dự án. Người Pháp nói họ sẵn sàng “trao cho dân tộc Việt Nam một nền độc lập tương hợp với Việt Nam một mặt có chân trong Liên bang Đông Dương mặt khác vẫn nằm trong Liên hiệp Pháp”. Chính phủ cách mạng Việt Nam nói rằng “Những giải pháp đưa ra phải vừa đáp ứng nguyện vọng độc lập chính đáng của dân tộc Việt Nam vừa thừa nhận những quyền cũng như những lợi ích chính đáng của nước Pháp”. Tóm lại, sẵn sàng thừa nhận một nền độc lập thực tế nào đó chứ không phải là đồng ý một cách tổng quát. Pignon không giấu giếm rằng, nếu Chính phủ cách mạng Việt Nam không cố gắng lên chút ít, một cách nghiêm túc, để xích quan điểm hai bên lại gần nhau hơn, thì những cuộc đàm phán nhất định sẽ thất bại. Nhưng ông Giám thì nói rằng: vấn đề cơ bản là “mở” những cuộc đàm phán, và công bố cho mọi người, chẳng hạn bằng một lời tuyên bố của Cao ủy thông báo rằng ông có ý định tìm một giải pháp hòa bình và mong muốn nối lại những quan hệ hữu nghị truyền thống với dân tộc Việt Nam, bằng cách đề nghị mở ngay những cuộc hội đàm trên cơ sở nền độc lập dân tộc. Hà Nội sẽ trả lời ngay tức khắc. Pignon đáp lại: Sài Gòn không thể cam kết khi không có gì làm bảo đảm và cần phải có sự thỏa thuận của Paris trước. Ông Giám thú nhận rằng Chính phủ cách mạng Việt Nam đang sợ một vụ bạo lực từ phía đối lập và quân đội Trung Quốc, rằng muốn tránh vụ bạo lực thì lại phải có những nhượng bộ mới nữa; nhưng ông muốn biết trong trường hợp đó ông có thể tin cậy vào sự ủng hộ của Pháp hay không? Pignon vẫn lẩn tránh câu trả lời, nên ngày 09/12 ông Giám báo cho Pignon biết cuộc đàm phán không thể tiếp tục, tuy nhiên ông vẫn hy vọng có thể đi đến một thỏa hiệp với Pháp miễn có ghi nhận “nguyên lý độc lập” (6). Lúc này tiếng đồn “đang có những cuộc đàm phán với Pháp” được lan truyền ra tại Hà Nội làm cho mọi người ai ai cũng đều vui mừng, dĩ nhiên trừ những kẻ đối lập. Kể từ ngày 08/12, Caput đã gửi thư cho đô đốc d’Argenlieu trình bày rằng chỉ có Chính phủ Hồ Chí Minh và Việt Minh là có đủ tư cách đại diện cho dân tộc Việt Nam; rằng “họ vẫn là những người có đủ khả năng hơn cả để lôi cuốn được mọi người theo một hiệp định Pháp - Việt”; vậy Pháp sẽ có lợi nếu “giúp” Chính phủ cách mạng Việt Nam chống lại phe phái đối lập và quân Trung Quốc – “là những kẻ thù chung của chúng ta”. Những cuộc điều đình có thể nhanh chóng đi đến kết quả - Caput nói - với điều kiện là Pháp chấp nhận “nguyên lý độc lập” - Bằng không, Hà Nội sẽ quay trở lại với Trung Quốc, vì người Việt Nam mong muốn có “độc lập từ tay Pháp”, nhưng nếu không thể như vậy được thì họ sẽ nhận độc lập từ tay Trung Quốc đã, sau đó có thế nào sẽ liệu (7) Về phía mình, Pignon cũng gửi báo cáo cho ông đô đốc. “Liệu người ta có nên mong cho Việt Minh bị lật đổ dưới sức ép của quân Trung Quốc và sự phân tán của các đảng phái đối lập? Câu hỏi dường như không mang sẵn một câu trả lời chắc chắc. Có điều không ai nghi ngờ nữa là Việt Minh bao gồm những nhân vật nổi bật nhất và vô tư nhất, và như vậy, có thể coi như những nhân vật nguy hiểm nhất nhưng cũng là những kẻ kiên định nhất, do đó, đối với chúng ta, có khả năng sẽ tôn trọng những lời cam kết của họ hơn cả.
“Không ai chối cãi được rằng cái tính cách chân chính duy nhất là tính cách ông Hồ Chí Minh. Một giải pháp cho ông Hồ đưa ra và đi đúng hướng dư luận quần chúng thì chắc chắn được quần chúng chấp nhận ngay. Không một lãnh tụ của một đảng phái nào có khả năng làm như vậy.
“Nhưng điều cần ghi nhớ luôn luôn và mặc dù rất quan trọng, vấn đề Việt Nam vẫn là thứ yếu mà vấn đề Trung Quốc vẫn là vấn đề chủ yếu. Chính là tùy thuộc những giải pháp áp dụng cho vấn đề Trung Quốc mà chúng ta sẽ tìm ra giải pháp cho vấn đề Việt Nam”... (8 ) _________________________________________ 1. Bí thư khu Bắc Kỳ của đảng xã hội Pháp (SFIO).
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #46 vào lúc: 06 Tháng Mười, 2009, 05:31:32 pm » |
|
Con bài Trung Quốc Không khí căng thẳng ở Hà Nội giảm bớt xuống với việc hôm 06/12, Ngân hàng Đông Dương lại mở cửa và Sài Gòn chấp nhận phương thức chuyển đổi những tờ giấy bạc năm trăm đồng. Sự kiện này sẽ là cơ hội tốt chủ yếu cho người Hoa thực hiện những vụ buôn tiền rất có lãi. Nhưng ngày 09/12, d’Argenlieu nhận của đại sứ Pháp tại Trung Quốc, Pechkoff gửi, một bức diện báo tin rằng thống chế Tưởng vừa tuyên bố: Trung Quốc sắp sửa rút quân khỏi Bắc Đông Dương. Ông đô đốc rút ra một kết luận là vấn đề Trung Quốc sắp sửa giải quyết xong rồi và không nên cam kết gì với người Việt Nam cả. Sẽ xem xét sau cần phải làm gì đối với người Việt Nam một khi Pháp trở lại miền Bắc Đông Dương bằng quân sự. Trong lúc tiếp Pignon tại Sài Gòn ngày 16/12, ông đô đốc có nói với Pignon rằng bản dự án ngày 07/12 đã tóm tắt nội dung tư tưởng của ông. “Xuất phát quan điểm của chúng ta... là bản tuyên bố ngày 24/3. Nội dung sứ mệnh của tôi trước tiên là thiết lập lại chủ quyền của Pháp dưới hình thức một Liên bang (đổi mới) của năm nước thành viên, mỗi nước gia nhập một cách hoàn toàn tự nguyện vào Liên hiệp Pháp”. D’Argenlieu đồng ý về một “chế độ tự trị nhưng là trong giới hạn cụ thể của Liên bang và Liên hiệp đặt ra”. Nước Pháp điều đình với Trung Quốc, và trong lúc này, đó là vấn đề quan trọng hơn hết. “Ở Bắc Bộ, tôi nghĩ rằng về phần chúng ta, trước khi quyết định về tương lai, nên khôn ngoan xem xét kết quả của cuộc tổng tuyển cử tiến hành vào ngày 23/12”... Pignon cho Việt Minh sẽ thắng lợi, nhất là ông Hồ Chí Minh. Nhưng ông đô đốc thì giữ ý kiến là không nên hấp tấp, vì các đảng phái khác của Việt Nam sẽ bộc lộ lực lượng của họ. Hơn nữa, tình hình đang sáng sủa ra: Leclerc bình định miền Nam; quân đội Anh sắp sửa rút và quân Trung Quốc thì loan báo việc họ sắp đi. D’Argenlieu kết luận rằng Sainteny cần giữ mối tiếp xúc với Chính phủ cách mạng Việt Nam và với các đảng phái Việt Nam. Bản thân ông đô đốc cũng sẵn sàng gặp ông Hồ Chí Minh và yêu cầu bố trí cho ông hội kiến bí mật và chớp nhoáng với ông Hồ Chí Minh khoảng ngày 23 - 25 tháng 12, trên chiếc chiến hạm “Richelieu” sẽ đến đậu trước cửa Đồ Sơn gần Hải Phòng (9). Pignon trở về Hà Nội ngày 20/12. Đề nghị đã được chuyển tới ông Hồ. “Chính phủ cách mạng Việt Nam vội vàng nhận lời mời”, tuy nhiên, cũng đặt ra điều kiện là ít nhất phải bảo đảm được một kết quả tích cực trong cuộc gặp gỡ ấy. Chính phủ cách mạng Việt Nam cũng lưu ý đề phòng một sự phản đối của Trung Quốc chắc chắn sẽ xảy ra. Dự kiến ấy đành phải bỏ (10). Dù thế nào chăng nữa, cái điều kiện quan trọng nhất đối với d’Argenlieu cũng như với Leclerc giờ đây là làm sao có được càng sớm càng hay sự đồng ý của Trung Quốc cho quân đổ bộ vào Bắc Kỳ khoảng cuối tháng 2 đầu tháng 3. Vì lý do đó mà tướng Salan được phái lên phương Bắc và ít lâu nữa sẽ tới Trùng Khánh. Tuy vậy, cái tin Trung Hoa sắp sửa rút nay mai làm cho Hà Nội có những quyết định dồn dập. Đối với phe đối lập và bạn hữu của họ, họ muốn thôn tính ngay lập tức Việt Minh đi và thành lập một chính phủ thân Trung Quốc có khả năng chống lại Pháp. Trước áp lực của phe kình địch của mình, Việt Minh nhận định, ngày 19/12, chấp nhận tại chỗ nào còn có thể, hoãn ngày tổng tuyển cử 23/12 đến ngày 06/01/1946 - họ nói vậy - để phe đối kháng có thời giờ để cử người của họ. Ngày 22/12, một mệnh lệnh của Chính phủ trung ương Trung Quốc chỉ thị cho Bộ tham mưu Hà Nội phải tránh mọi hành vi bạo lực và giải quyết vấn đề ngay lập tức bằng những biện pháp chính trị. Lý do được viện đến: Tại Trung Quốc, cuộc xung đột giữa quốc dân đảng và cộng sản đảng ngày càng quyết liệt; những vụ lộn xộn ở Bắc Bộ sẽ tạo nên một mối nguy cơ lớn, vì người Pháp có thể lợi dụng tình thế để đổ bộ quân lên, và quân đội Trung Quốc hiện nay chưa có thể nào gửi viện trợ qua Bắc Bộ được. Sau nữa, người ta đang chờ đón một phái đoàn Nga tại Hà Nội, và Trùng Khánh không muốn làm căng thẳng mối quan hệ của nó với Liên Xô, khi mà quân Nga vẫn còn chiếm đóng Mãn Châu. Ngay từ ngày 22, đại bản doanh Trung Quốc yêu cầu Nguyễn Hải Thần thỏa thuận khẩn trương với ông Hồ Chí Minh. Những cuộc thảo luận ngày 23 và 24 đã dẫn đến, tối ngày 24, một sự thỏa thuận giữa ông Hồ Chí Minh (Việt Minh), Nguyễn Hải Thần (Đồng Minh Hội) và Vũ Hồng Khanh (Việt Nam Quốc dân Đảng). Ba bên đã quyết định thành lập ngay một chính phủ đoàn kết dân tộc (các bộ sẽ được phân chia cho các đảng) do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch và Nguyễn Hải Thần làm phó chủ tịch. Chính phủ này sẽ chính thức thực thi nhiệm vụ vào ngày 01/01/1946 và sẽ nghiên cứu không chậm trễ Pháp những điều khoản sẽ tức thời được ký kết với Trung Quốc, chữ ký của chính phủ mới là điều kiện tiên quyết cho mọi sự giúp đỡ của Trung Quốc đối với Việt Nam. Chính phủ này sẽ là một chính phủ lâm thời. Chính phủ chính thức sẽ thành lập sau tổng tuyển cử, sau khi quốc hội, do tổng tuyển cử bầu ra, khai mạc. Trong quốc hội ấy, căn cứ tình hình thực tế, sẽ có 70 ghế bảo đảm dành cho phe đối lập; đáp lại, phe đối lập hứa hẹn sẽ không tẩy chay hoặc chống phá cuộc bỏ phiếu. Ông Hồ Chí Minh và Việt Minh đã nhất thời cứu vãn được lập trường của họ; nhưng từ đây họ bị rằng buộc vào chiếc xe Trung Quốc và đi vào quỹ đạo kinh tế, chính trị của Trung Quốc và Mỹ. Chúng ta nên nhớ rằng lúc này, tại Trung Quốc, tướng Marshall đang bắt tay thực hiện những bước đầu sức mệnh làm trung gian của Mỹ. Trong tình hình đó, phái đoàn Xô Viết (hầu hết các cơ quan của Pháp đều sẽ không biết đến sự tồn tại của phái đoàn này) đến Hà Nội làm hai đợt, đợt đầu ngày 20 và đợt hai ngày 23/12. Tại sân bay, họ được người Trung Quốc, Anh và Việt Nam đón tiếp, nhưng họ chỉ làm việc với một mình Chính phủ cách mạng Việt Nam, và quan hệ của họ với Việt Nam có chiều “rất thân mật” (11). Người Nga đã nói gì với người Việt Nam? Hình như họ bảo cho Việt Nam biết để đề phòng nguy cơ bị rơi vào quỹ dạo của một đảng quốc dân (Trung Quốc) thân Mỹ. Vì trước mắt, Liên Xô chưa làm gì được cho Việt Nam, nên Việt Nam cần phải nằm trong quỹ đạo của Pháp. Làm sao thực hiện được “bước ngoặt” ấy sau bao nhiêu công sức tuyên truyền chống Pháp? Lời khuyên của phái đoàn Xô Viết sẽ làm cho bước ngoặt đó được những phần tử “cứng rắn” của Việt Minh chấp nhận. Từ đây, không được biểu thị một thái độ chống Pháp có tính hệ thống nữa, mà tìm cách phân biệt, theo phương pháp biện chứng, giữa các người Pháp. Nước Pháp đang có chiều hướng chuyển sang tả. Đảng Cộng sản Pháp ngày càng mạnh hơn lên và De Gaulle sắp sửa thôi chức. Phải dựa vào Pháp để chống lại những phần tử phản động Trung Quốc và Mỹ. Ngay từ ngày 30/12, Hà Nội công bố một bản thông cáo rất có ý nghĩa: “Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẽ hân hạnh được hội đàm với đại diện của nước Pháp; nhưng như vị chủ tịch của chính phủ đã tuyên bố, nếu Chính phủ Pháp muốn trao đổi ý kiến với chúng tôi thì phải thừa nhận nền độc lập của Việt Nam như một thực tế đã có” (12). Trong một bản báo cáo đề ngày 24/1/1946, Pignon báo cáo cho Sài Gòn biết rằng Chính phủ cách mạng Việt Nam, qua nhiều trung gian khác nhau: “Đã bắt đầu, từ cuối tháng 12, có một sự diễn biến thuận lợi cho nước Pháp. Sự diễn biến này có thể coi như một biểu hiện của nguyện vọng cùng nước Pháp nối lại những cuộc điều đình đã bị gián đoạn”...
“Phải đương đầu với một tình hình chính trị, hành chánh kinh tế và tài chính thảm hại, ông Hồ Chí Minh kêu gọi truyền thống tự do và nhân đạo của nước Pháp và lợi dụng những tình cảm đó để lại hướng trở về với nước Pháp và chờ nhận được ở Pháp một sự giúp đỡ tối đa...
“Vì lẽ ấy mà ít hôm sau ngày 23/12 - ngày đạt được sự thỏa thuận với các đảng thân Trung Quốc sự tuyên truyền của Chính phủ cách mạng Việt Nam đổi giọng, đoạn bắt đầu thêu dệt thêm một chủ đề mới sau đây: cần phải có sự phân biệt về người Pháp, giữa một bên là những người Pháp thực dân và đế quốc còn một bên là những Pháp kiều và những người Pháp lưu vong. Đối với hạng thứ nhất, Việt Nam phải tiếp tục chiến đấu đến cùng, còn đối với hạng thứ hai thì người Việt Nam phải tỏ ra khoan hòa”...
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #47 vào lúc: 06 Tháng Mười, 2009, 05:35:14 pm » |
|
De Gaulle: “Chúng ta là những kẻ mạnh nhất” Dù sao thì đô đốc d’Argenlieu tự cho mình đã nắm đủ bằng cứ để có thể, ngay từ ngày 28 tháng 12, gửi cho tướng De Gaulle một “bản tin về các đảng phái Việt Nam” (trong đó ông ta không nói đến bản thỏa hiệp ký kết ngày 23/12 giữa ông Hồ Chí Minh với các đối thủ của ông). Trong bản tin đó, người ta đọc được như sau: “1. Chúng ta không thể tìm được một mảnh đất thỏa hiệp giữa Cao ủy với lãnh tụ các đảng lớn của Việt Nam (Hà Nội) nếu không căn cứ vào đường lối chính trị của Trung Quốc... Cái trục xoay của đường lối chính trị ấy - mà chúng ta đã chứng kiến hậu quả tại Đông Dương - là cuộc đấu tranh của chính phủ trung ương Trùng Khánh chống đảng cộng sản”.Và ông đô đốc nhấn mạnh rằng chính vì lý do ấy mà Bộ chỉ huy quân đội Trung Quốc tại Hà Nội. “1. Nghi ngờ Việt Minh vì nguồn gốc và những mối liên hê cộng sản của nó, và thúc ép ủng hộ các đảng phái căn bản thân Trung Quốc là những đảng bài ngoại quyết liệt và chống lại Việt Minh. Trung Quốc có đủ lực lượng tại chỗ.
“2. Chính phủ Cách mạng Việt Nam với lãnh tụ là ông Hồ Chí Minh không mong gì cái việc cắt đứt quan hệ với Chính phủ Cộng hòa (Pháp). Chính phủ cách mạng Việt Nam biết rõ rằng mối cảm tình tích cực của một số nhân viên Hoa Kỳ cũng sẽ không đi tới mức độ khiến Hoa Kỳ gửi lực lượng vũ trang tới Đông Dương đâu. Chính phủ đó có tính chất chống Trung Quốc nhưng chưa đến nỗi bài ngoại. Mặc dù họ đả kích mạnh mẽ những người Pháp thực dân đế quốc (lập trường độc đoán của đảng), họ vẫn giữ những mối liên hệ sâu sắc với Pháp. Họ thú nhận trong những cuộc hội đàm không chính thức rằng, để tồn tại, họ cần có sự nâng đỡ của một cường quốc và xét cho cùng thì họ thấy nước Pháp xứng đáng nhất với vai trò cường quốc đó.
“3. Sau nữa, Chính phủ Cách mạng Việt Nam chắc chắn mong muốn tránh một hành động quân sự mãnh liệt và đi đến một hiệp định với nước Pháp mà giờ đây - tôi nói: giờ đây - đã bắt đầu được nhìn bằng một con mắt thiện cảm của một phần nhân dân Bắc Bộ. Do đó mà họ đang tăng cường những cuộc tiếp xúc với người của chúng ta. Nhưng các thành viên của Chính phủ cách mạng Việt Nam đang bị theo dõi sát sao bởi những phần tử cực đoan và những phần tử đối lập. Họ buộc phải hành động giấu giếm. Đó là lý do vì sao trước đây và ngay trong hiện tại vẫn cần giữ hoàn toàn bí mật những quan hệ của họ với các đại diện của Chính phủ Pháp...
“4. Có một chữ “nhưng” khác nhấn mạnh về điều cản trở chúng ta trên con đường tiến tới một thỏa thuận:
“Nếu như, theo bản tính người châu Á, để khỏi mất thể diện, các lãnh tụ Việt Minh sẵn sàng chấp nhận một tạm ước với người Pháp, thì mặt khác họ càng thấy không thể nào bỏ qua được chữ “độc lập”... Chữ “độc lập” mang một ý nghĩa rất rõ ràng - người ta tuyên bố vậy - cái nghĩa đó là “làm chủ tại nhà mình”...
“Dĩ nhiên sẽ rất có lợi cho chúng ta về bình diện quốc gia cũng như quốc tế nếu ký được một hiệp nghị hoặc một cuộc ngưng chiến với các đảng phái chống đối chúng ta tại Bắc Bộ hoặc với đảng mạnh nhất chống lại các đảng phái đối lập bởi vì các đảng phái này chống nhau một cách trắng trợn vô liêm sỉ lắm...
“Nếu khi quân đội ta đến Bắc Bộ mà xảy ra một cuộc xung đột vũ trang đẫm máu nghiêm trọng thì sẽ mang lại một hiệu quả tai hại đối với dư luận nhân dân thế giới và ngay cả đối với dư luận nhân dân Pháp, tôi đoán trước như vậy.
“Để thoát ra khỏi mê cung này một cách xứng đáng, để kết thúc một cách có danh dự những cuộc thương nghị dài dòng, hoặc chúng ta phải tìm ra một công thức mới mẻ, hoặc chúng ta phải tạo ra sự kiện mới để cùng với cái bốc do sự kiện mới gây ra mà tạo nên một sự hòa hoãn bên trong thì sẽ làm dễ dàng cho việc ký kết một tạm ước hay một cuộc ngưng chiến và bên ngoài thì sẽ xoa dịu dư luận quần chúng”. D’Argenlieu kể ra một vài công thức, ví dụ: “độc lập trong lòng Liên bang Đông Dương”, “độc lập trong lòng Liên hiệp Pháp”, “độc lập tương hợp với sự duy trì Liên bang Đông Dương một bên và Liên hiệp Pháp một bên”, “tự trị trong Liên bang Đông Dương mà Đông Dương lại hưởng nền độc lập rộng rãi nhất trong Liên hiệp Pháp”; và ông tự hỏi: “Liệu những từ ngữ như vậy có bị tiên thiên bác bỏ bởi Chính phủ Pháp hay không?” và ông nói thêm ngay: “Ta hãy nhấn mạnh rằng: không một công thức nào trong các công thức trên đây, dù gần dù xa, có dính dáng gì tới cái thuyết về nước Việt Nam vĩ đại cả”. Ông ta nói tiếp: “Sự chống đối của nhiều người và không phải là những người bé nhỏ nhất – là: một khi chữ “độc lập” đã buông ra rồi, thì những kẻ ủng hộ sẽ lợi dụng ngay tức khắc bằng cách giả vờ không biết những giới hạn đã được ghi nhận rõ ràng. Chúng ta có thể bác bỏ lập luận này rằng: “Hãy coi chừng, cái cử chỉ bộc lộ quá muộn màng thì như vậy có vẻ không chân thực, không tự nguyện và như vậy các người sẽ mất đi bao nhiêu cái lợi đấy”. Còn về “sự việc mới, thì đó có thể là sự xuất hiện trên chính trường của một nhân vật Việt Nam có khả năng thay thế cho lãnh tụ Việt Minh mà không làm mất uy tín của Việt Minh - lúc đó đã bị mất tín nhiệm - và, ngoài cái đạo quân cổ điển ô hợp gồm những tên bất mãn, tham lam và ti tiện còn lôi cuốn cả một nhóm, tuy ít mà rất cơ động, những nhân vật lỗi lạc và cuồng tín”. Ông ta không muốn “nhắc đến tên tuổi một ai” (vì lộ một chút xíu bí mật là có thể làm cho mưu đồ này thất bại) 1 (14). Ông đô đốc gửi kèm theo bản “thông báo tin tức” ấy một bức ủy nhiệm thư gửi cho De Gaulle đề ngày 2/1/1946 trong đó ông ta vừa báo tin rằng có thể ông tạt về Paris vào cuối tháng 1, vừa nhấn mạnh: “1. Đọc xong bản tin tôi gửi cho Ngài, Ngài sẽ thấy rằng chúng ta đang đi đến một bước ngoặt quan trọng: hoặc những cố gắng kết hợp của chúng ta bên cạnh Bộ chỉ huy quân đội Trung Quốc tại Trùng Khánh và tại Hà Nội và bên cạnh các lãnh tụ Việt Nam tại Bắc Kỳ cho phép chúng ta thay thế quân đội Trung Quốc mà không có vấp váp gì đáng kể, hoặc chúng ta sẽ phải dùng vũ lực để đưa quân chúng ta vào...
“2. Tôi dự đoán rằng ý định đi thăm Đông Dương của Ngài vẫn nằm trong kế hoạch những công việc Ngài phải quan tâm. Ngài biết chúng tôi sẽ đón tiếp Ngài với một tấm lòng như thế nào. Tuy nhiên, tôi thấy cũng cần lưu ý Ngài rằng một vị Chủ tịch Chính phủ Lâm thời Cộng hòa Pháp đến Đông Dương mà không có một cuộc đón tiếp chính thức tại Hà Nội thì không nên. Hà Nội là trung tâm thực thi chủ quyền của chúng ta. Nếu như người ta có thể hy vọng, chúng ta lại trở về đặt nhiệm sở chúng ta vào cuối tháng 2 tại Hà Nội, thì cái thời điểm thuận lợi nhất cho chuyến đi thăm của Ngài là trong khoảng tháng tư... (15). Bức thư và bản tin được giao cho thiếu tá Mus 2 (rời Sài Gòn đi Paris ngày 3/1). Mus phải đưa tận tay cho De Gaulle, nhưng có bản sao gửi cho Soustelle, Bidault và Michelet. Nhưng trước khi Mus đến Paris thì ở Sài Gòn ngày 5/1, người ta được tin ông hoàng Vĩnh San bị thiệt mạng ngày 28/12 trong một tai nạn máy bay tại AEF (Châu Phi xích đạo thuộc Pháp) (Oubanghi – Chari) trên đường bay về đảo Réunion. D’Argenlieu sẽ ghi: “Sự việc mới vậy là tan tành mây khói, như một giấc mơ” (16). Cuối cùng, Mus đã trao tài liệu cho De Gaulle 3, đang rất buồn phiền vì cái chết của Vĩnh San. Sau này, ông ta kể lại rằng sau khi đã xem các tài liệu ông mang đến, “De Gaulle đã đứng thẳng người lên và tuyên bố giọng rất quả quyết:
Chúng ta sẽ trở lại Đông Dương, vì chúng ta là những kẻ mạnh nhất” (17). _______________________________________ 1. Đây nói đến ông hoàng Vĩnh San - tức cựu Hoàng đế Duy Tân bị chính phủ thuộc địa truất ngôi năm 1916 và đày đi La Réunion - tham gia “Nước Pháp tự do” năm 1942. Tháng 6/1945 ông được đưa sang Pháp, được phiên chế vào DIC (Sư đoàn Đông Dương) trú quân tại Đức. Được thiếu tá De Boissieu giới thiệu, Duy Tân được tướng De Gaulle tiếp ngày 14/12. Ông tán thành nước Việt Nam độc lập và thống nhất, đồng minh của nước Pháp. Hình như De Gaulle có nói đến việc đưa ông trở lại ngôi vua vào mùa xuân. Dù thế nào thì cũng được thực hiện một chuyến thăm dò về Việt Nam. Nhưng trước khi đi Sài Gòn, ông muốn về thăm gia đình ông La Réunion. De Gaulle thì không nói gì cho d’Argenlieu biết về việc này. D’Argenlieu được biết về sự kiện này nhờ đó De Langlade (D’Argenlieu: Thời sự biên niên Đông Dương, trang 113) 2. Thiếu tá Mus từ tháng 8/1945 là cố vấn chính trị của tướng Leclerc. 3. Tướng Boissieu có kể rằng De Gaulle đã tuyên bố: “Nước Pháp quả là không may” và sự kiện đó càng làm cho ông thêm thất vọng trong cuộc thử thách sức mạnh với các đảng phái.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #48 vào lúc: 06 Tháng Mười, 2009, 05:36:33 pm » |
|
Cuộc chia bài mới tại Bắc Bộ 1. Những ngày đầu tháng 1/1946 đánh dấu một bước ngoặt tại Bắc Bộ. Ngày 1/1, “Chính phủ Liên hiệp dân tộc lâm thời” bắt đầu nhậm chức. Việt Minh sắp sửa phải đối phó với những bộ trưởng mới và cộng tác viên của họ. Ngày 6/1, cuộc tổng tuyển cử được tiến hành không có chuyện gì nghiêm trọng xảy ra trên toàn bộ lãnh thổ do Chính phủ cách mạng Việt Nam kiểm soát. Dĩ nhiên, các ứng cử viên của Việt Minh đã giành được thắng lợi áp đảo khắp mọi nơi: ông Hồ Chí Minh được 98% số phiếu tại Hà Nội, ông Giáp được 97% số phiếu tại Vinh, Bảo Đại được 90% số phiếu tại Thanh Hóa, v.v... Như người ta có thể đoán trước, Việt Minh sẽ chiếm đa số trong Quốc hội sắp tới. Các đảng phái khác cũng được tham gia nhờ số 70 ghế giành riêng cho họ không phải bầu; nhưng Việt Minh đã có “tính chất hợp pháp dân chủ” của họ. Trước triển vọng này, và nhất là trước triển vọng một sự xích lại gần nhau giữa Việt Minh với người Pháp, phe đối lập giận điên lên. Do đó hàng loạt những vụ ám hại người Pháp xảy ra, mà đỉnh cao là vụ ám sát ông Baylin, giám đốc địa phương của Ngân hàng Đông Dương, ngày 9/1, do hai tên khủng bố. (Khi bị bắt hai tên này tự khai là “dân buôn” bị tước đoạt). Tiếp đó, ngày 10, 11 và 12/1 nhiều vụ bạo lực ác liệt tiếp tục xảy ra do những phần tử “ngoài vòng kiểm soát”, “tự trị” vừa người Hoa vừa người Việt gây ra. Sự an ninh của người Pháp tại Hà Nội bị đe dọa nghiêm trọng, vì cảnh sát Trung Quốc tỏ ra chẳng có khả năng cũng chẳng nhiệt tình gì trong vấn đề lập lại trật tự. Nhưng trong lúc những biến cố này xảy ra, người ta nhận thấy các nhà đương cục Việt Minh có một thái độ rất ôn hòa đúng mức; phần lớn quần chúng nhân dân Việt Nam cũng có thái độ như vậy. Tại nơi ở của Sainteny, người ta có nêu lên: “Sau những vụ người Hoa tấn công người Pháp, chính phủ đã thay đổi thái độ đối với người Pháp. Nhân viên cảnh sát thành phố đã nhiều lần can thiệp để giải tỏa và bảo vệ cho họ. Những người đi xe đạp và lái ô tô đi lại các ngả đường yêu cầu quần chúng giải tán đi và để cho người Pháp được yên ổn (18 ). Sự bất an của người Pháp ở Hà Nội từ đây được Sài Gòn quan tâm. Do đó mà có sự phản đối mãnh liệt đối với các nhà chức trách Trung Quốc - những nhà chức trách này bảo đảm một cách cụ thể rằng những chuyện bất trắc ấy sẽ không còn xảy ra nữa và họ sẽ thi hành những biện pháp nghiêm khắc để bảo vệ trật tự an ninh. Về phía người Pháp, tại Sài Gòn, Leclerc cho chuẩn bị “một cuộc can thiệp tức khắc” (của lực lượng com măng đô nhảy dù) nhằm cứu người Pháp tại miền Bắc Đông Dương trong trường hợp cấp bách. Đồng thời ông ta báo cho tướng Juin ở Paris yêu cầu Juin xúc tiến ngay với Trùng Khánh để có một quyết định cứng rắn về việc quân đội Pháp thay chân quân đội Trung Quốc tại Bắc Bộ. Leclerc cho Juin biết rằng tướng Valluy, tư lệnh sư đoàn thứ 9 DIC (sư đoàn Đông Dương) đã được ông đô đốc phái qua Paris nhằm cùng với chính phủ nghiên cứu những việc chuẩn bị quân sự và ngoại giao cho cuộc đổ bộ. Mặt khác, gửi thư cho Salan cũng đang điều đình về vấn đề này tại Trùng Khánh, Leclerc yêu cầu Salan tìm cách thuyết phục Trùng Khánh đồng ý cho người Pháp ở Hà Nội được tái vũ trang để đảm bảo an ninh thành phố. Về điểm này, Salan sẽ vấp phải một sự từ chối rất lịch sự nhưng mà kiên quyết. Người Trung Quốc (và Việt Nam) sợ rằng một khi được tái vũ trang rồi, người Pháp ở Hà Nội cũng sẽ lại “tái bản” một “vụ Sài Gòn”, sẽ tìm cách bắt Chính phủ Việt Minh và gây nên một vụ đảo lộn và một cuộc đối đầu mới nữa. Người Trung Quốc biết rõ rằng Chính phủ cách mạng Việt Nam sẽ chống đối quyết liệt. Leclerc, cũng như Sainteny, nghi ngờ các nhà đương cục Trung Quốc muốn gây không khí căng thẳng “hoặc nhằm bắt buộc chúng ta phải điều đình, hoặc nhằm tạo ra những biến cố nghiêm trọng biện hộ cho sự chiếm đóng của Trung Quốc đối với miền Bắc Đông Dương” (19). Nhưng Sainteny dường như có nhận thấy rằng d’Argenlieu quá tin vào lực lượng quân sự của Pháp, không loại trừ một hành động bạo lực trong trường hợp Trung Quốc không sẵn sàng để cho Pháp thế chân như đã dự tính. Ông ta sẽ kín đáo bảo cho ông đô đốc biết mà đề phòng bằng cách làm cho ông đô đốc lóa mắt trước một triển vọng khác. Trong một công hàm khoảng giữa tháng 1, Sainteny thấy cần khẳng định rằng “Bắc Kỳ trở lại dưới chủ quyền của Pháp chỉ có thể thực hiện được với sự đồng ý của Trung Quốc”, vì Trung Quốc giờ đây “đang thực sự là người làm chủ tuyệt đối tình hình”.
“… Trung Quốc sẽ phản đối bất cứ một sự tiếp cận Pháp - Việt nào không được họ chuẩn y và không thực hiện qua trung gian của họ.
“Ngược lại Trung Quốc sẽ sẵn sàng làm người môi giới cho một hiệp định trong đó họ được nhiều cái lợi.
“Chỉ duy nhất một cuộc can thiệp vũ trang được tiến hành với những vũ khí cực kỳ có hiệu lực mới có thể miễn cho chúng ta sự trung gian đó. Thực ra thì chưa có bằng chứng nào khẳng định rằng chúng ta đã có những phương tiện ấy và càng ít hơn nữa rằng chúng ta đã quyết định chấp nhận những nguy cơ mà việc sử dụng những phương tiện ấy sẽ mang lại không thể nào tránh khỏi.
“Cứ cho rằng chúng ta mạo hiểm làm việc ấy đi, liệu có chắc chúng ta sẽ tốn kém ít hơn cuộc mặc cả mà Trung Quốc đang đẩy chúng ta vào?
“Sau nữa không nên tự giấu mình rằng dù cho Trung Quốc có lùi chân trước một cuộc xung đột vũ trang với nước Pháp, thì những đơn vị quân bất thường của họ sẽ dành mọi sự ủng hộ cho các lực lượng cách mạng Việt Nam, qua vùng biên giới mà ai cũng biết là rất dễ dàng xâm nhập.
“Như vậy có nghĩa là, nếu người ta cố khôi phục chủ quyền của Pháp tại Bắc Kỳ bằng sức mạnh của vũ khí thì chúng ta phải sẵn sàng đương đầu với một cuộc xung đột quy mô rất to lớn.
“Trái lại, nếu chúng ta quyết định sẽ sử dụng đường lối hoạt động ngoại giao thì xem ra những cuộc điều đình kinh tế được chỉ đạo một cách khôn khéo có thể:
“1. Trả lại Bắc Kỳ cho chúng ta mà không phải đổ máu; 2. và nhanh chóng hơn là bằng vũ lực; 3. cho phép chúng ta ngay từ bây giờ khai thác trở lại một cách có lợi một đất nước đang mỗi ngày mỗi trượt nhanh vào tình trạng tuyệt đối vô chính phủ; 4. thực hiện một bước đầu xích gần lại với Trung Quốc và chủ yếu với các tỉnh Tây - Nam mà hậu quả và triển vọng có thể vô cùng to lớn.
“Chính cái điểm cuối cùng này phải làm mục tiêu cho toàn bộ những cuộc điều đình sắp sửa mở ra...
“… Thị trường Trung Quốc sẽ không phải là một thị trường độc chiếm của Mỹ như cách đây vài tháng người ta từng lo sợ...
“Dù chúng ta có bắt buộc phải từ bỏ hoặc nhượng bộ gì đi chăng nữa, thì vấn đề Bắc Kỳ cũng không được coi như là một thất bại mà là một dịp bất ngờ không những để nối lại quan hệ kinh tế với Trung Quốc mà còn phát triển những quan hệ đó lên tới những mức độ có thể phong phú vô cùng.
“Bắc Kỳ giờ đây là và về sau sẽ là sợi dây tối cần thiết nối liền vùng Tây - Nam Trung Quốc với thế giới. Sợi dây nối đó dù có trả bằng giá nào đi nữa, chúng ta vẫn cứ phải làm chủ.
“Chính là để theo đuổi mục đích đó, chứ không phải chỉ vì cái ý muốn duy nhất “giữ uy tín” trong giới hạn một lãnh thổ Bắc Kỳ, mà chúng ta phải tiến hành những cuộn đàm phán.
“Ván bài khó đánh, đúng vậy, nhưng khả năng và hy vọng thật là vô biên. Nếu biết nhìn bao quát và mạnh dạn, tôi tin chắc ván bài cứ phải đánh và sẽ thắng” (20). Trong lúc đó, không khí hòa dịu giữa người Pháp và người Việt Nam được củng cố. Ngay từ ngày 6/1, tức ngày tổng tuyển cử, ông Hồ Chí Minh, với những lời lẽ rõ ràng, trong sáng, đã nói rõ, cụ thể lập trường của Việt Nam với nhà báo Pháp P.M. Dessinges: “Chúng tôi không hề thù ghét gì nước Pháp và nhân dân Pháp. Chúng tôi rất khâm phục họ và chúng tôi không muốn cắt đứt những mối quan hệ chặt chẽ nối liền hai dân tộc chúng ta. Nhưng chúng tôi yêu cầu nước Pháp đi bước đầu chân tình và cụ thể. Chúng tôi càng mong muốn như vậy nhất là khi chúng tôi thấy có nhiều nước tìm cách nhúng tay vào những công việc hoàn toàn nội bộ của chúng tôi. Hai dân tộc chúng ta không nên để các nước kia có dịp lên lớp đạo đức cho chúng ta. Chúng tôi muốn, chúng ta phải thu xếp giữa hai nước chúng ta với nhau. Nhưng ông nên biết rằng: Chúng tôi quyết tâm chiến đấu đến cùng, nếu người ta bắt buộc chúng tôi phải chiến đấu” (21). Pignon báo tin là bắt đầu từ ngày 12/1, báo chí đã hạ giọng một cách rõ ràng đối với Pháp. Tờ nhật báo của Việt Minh - Cứu Quốc - nêu lên sự phân biệt giữa “những người Pháp tốt của nước Pháp” với những “người Pháp xấu của Nam Kỳ”, còn ông Hồ thì khuyên nên đối xử “quân tử” với những người Pháp ở Đông Dương. Giữa tháng 1, một nhà lãnh đạo của MRP (phong trào Cộng hòa bình dân), Max André, cựu thống đốc Ngân hàng Pháp - Hoa, đến Đông Dương. Ông ta gặp ông Hồ tại Hà Nội ngày 16 và 21/1. Ông ta sẽ báo cáo lại với d’ Argenlieu rằng theo ý ông ta thì “ông Hồ Chí Minh gắn bó với cái vỏ bên ngoài ít hơn là với cái thực chất bên trong của từ “độc lập”, có nghĩa là với cái nội dung của quy chế mới về quan hệ Việt - Pháp. Điều mà ông ta mong muốn thiết tha nhất là một sự hợp tác bình đẳng với nhân dân Pháp. Tóm lại, ông Hồ mong muốn có một Chính phủ Việt Nam làm chủ đất nước của mình và một tổ chức hành chánh, một nền kinh tế, một hệ thống tài chính, một quân đội và sau nữa một nền ngoại giao độc lập”. Theo Max André, vậy là đòi hỏi quá nhiều. Ngày 21/1, ông Hồ nhấn mạnh “để nước Pháp ra một bản tuyên bố trịnh trọng có lợi cho nền độc lập của Việt Nam, dĩ nhiên. Không có bản tuyên bố đó thì mọi cuộc đàm phán sẽ giảm bớt uy tín của ông Hồ trước con mắt nhân dân Việt Nam...” (22).
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #49 vào lúc: 06 Tháng Mười, 2009, 05:38:51 pm » |
|
Biến chuyển ở Paris và những triển vọng mới Trong khi d’Argenlieu, điềm tĩnh, vẫn luôn luôn coi “yếu tố Việt Nam là thứ yếu so với yếu tố Trung Quốc” thì sáng ngày 21/1, ông ta được tin De Gaulle đã rời bỏ chính phủ. Ông ta rụng rời. Đây là một cú sốc mạnh đối với ông kể cả khi De Gaulle gửi cho ông một bức điện cá nhân bảo đảm sẽ giành cho ông một tình bạn thân thiết của mình và bảo ông “tiếp tục”, ông đô đốc không sao giữ nỗi xúc động và ông đã ghi trong nhật ký của mình: “Chính là quyền uy của quốc gia vừa mới hồi sinh đã ra đi. Với tôi, sự rút lui này không đánh dấu một cuộc khủng hoảng nội các mà là một sự biến hình của chế độ” (23). Từ nay sẽ đi đến đâu? Ông sẽ không nhận được câu trả lời của Paris về bức công hàm ngày 28/12. Ngày 24/1, chủ tịch Quốc hội Félix Gouin, một đảng viên đảng Xã hội được bầu làm “Chủ tịch chính phủ lâm thời của nước Cộng hòa”. Gouin thành lập ngày 27 một chính phủ ba phái trong đó phong trào cộng hòa bình dân (MRP) với Bidault và Michelet, giữ bộ Ngoại giao và quân đội, nhưng Bộ pháp quốc Hải ngoại (bộ Thuộc địa cũ) lại về tay một đảng viên xã hội, Marius Moutet. Moutet ngay hôm 26, đảm bảo với d’Argenlieu vẫn tín nhiệm ông ta. Tất nhiên Langlade vẫn là Tổng thư ký của Ủy ban Liên bộ về Đông Dương (Cominindo); nhưng vì ông ta đã được De Gaulle cho thôi chức ngày 15/4 để trở về với công việc riêng tư, cho nên vấn đề chưa chắc chắn. Ủy ban Liên bộ về Đông Dương họp đúng vào ngày 26/1 với đại diện các bộ (chính phủ chưa được chính thức thành lập). Ủy ban nghe tướng Valluy báo cáo về cuộc đổ bộ Bắc Kỳ và nhấn mạnh đến sự cần thiết phải có ngay một quyết định vì hạn định rất cấp bách (cuối tháng 2 đầu tháng 3). Chiến dịch sẽ chứa đựng nhiều nguy hiểm. Nó phải được thực hiện với sự thỏa thuận của các nhà chức trách Trung Quốc, vì vậy cần phải xúc tiến ngay những cuộc điều đình, nhất là ở Trùng Khánh, cả ở Hà Nội nữa. Cần phải trả giá như thế nào đây để có được sự thỏa thuận ấy? Việc ấy sẽ do Chính phủ quyết định. Theo ý riêng ông, Valluy thảo ra một công hàm đề ngày 3/2, trong đó ông ta viết: “… Chúng ta không nên tự giấu mình rằng chiến dịch này, về mặt kỹ thuật, sẽ khó khăn. Chúng ta ở trong tình thế phải tiến hành và chỉ đạo chiến dịch một cách rất khẩn trương. Nhưng nhất là đừng để cho nó xuất hiện dưới hình thức một hành động quân sự thuần túy, vì nó có thể:
- Sẽ đồng thời động chạm đến người Trung Quốc và người Việt Nam;
- Sẽ gây ra, trong một thời gian đầu, những vụ sát hại người Pháp tại Hà Nội và Hải Phòng (chưa kể ở Huế và Vinh);
- Sẽ “cầm cố” một cách nặng nề cả tương lai công cuộc hợp tác của chúng ta với nhân dân Bắc Kỳ;
- Sẽ kéo dài bằng một cuộc chiến tranh du kích trường kỳ và khắc nghiệt mà, giả thiết dù quân chính quy Trung Quốc không công khai cầm súng chống lại chúng ta đi nữa thì những quân không chính quy của họ cũng sẽ tham gia vào tại vùng biên giới;
- Chắc chắn sẽ gây ra, trên bình diện nội địa cũng như trên bình diện quốc tế, những sự phản ứng không hay.
“Chiến dịch ấy bắt buộc phải che giấu.
“Chúng ta có thể có, nếu không phải là những cuộc hội đàm, thì ít nhất cũng là những cuộc tiếp xúc cá nhân với các nhà lãnh đạo Việt Nam nếu đó là ông Hồ Chí Minh và những nhân vật tiến bộ của Việt Minh nói chung, có tinh thần văn hóa Pháp.
“Ông Hồ Chí Minh, là người mà chúng ta có thể tiếp xúc. Giờ đây, ông Hồ đại diện cho toàn thể các đảng phái của Chính phủ Liên hiệp và không tin ở Trung Quốc. Những cuộc tiếp xúc bắt đầu và được duy trì với ông sẽ không tránh khỏi những cuộc chiến đấu với một số băng nhóm khác, nhưng sẽ ngăn chặn được khi chúng ta đến, lời kêu gọi đầu một cuộc chiến tranh thần thánh và sẽ cho phép chúng ta đóng quân tại những điểm cơ yếu từ đó mà tỏa dần ra để bình định cả nước...
“Quân Trung Quốc ở Bắc Kỳ tìm cách vừa bảo vệ lấy “xương sườn” của họ (đặc biệt chống lại cộng sản) vừa mưu đồ những mối lợi vật chất...
“Khẩu hiệu trước mắt của họ hình như là chấp nhận sự trở lại của quân Pháp với điều kiện là Pháp trả cho họ một số tiền bồi thường trước và cam kết sẽ làm việc tối đa cho quyền lợi của họ trong tương lai...
“Điều chúng ta phải tìm kiếm là tạo nên một không khí như thế nào đó, để khi quân ta vào một cách đột ngột sẽ không biến thành một tiếng sét giữa trời xanh... Có thể hy vọng rằng những quyền lợi kinh tế mà chúng ta sẵn sàng chấp nhận cho Trung Quốc để đổi lấy sự chấp nhận của họ đối với các quyền lợi của chúng ta và nguyên lý của việc chúng ta sẽ trở lại Đông Dương sẽ được chỉ định đủ rõ ràng để họ vui vẻ ra đi.
“Con đường ngoại giao, qua Trùng Khánh, và hoạt động trực tiếp bên cạnh các tướng tá Trung Quốc ở Hà Nội phải lấy những phương thức thay quân làm mục tiêu lý tưởng”... Thời gian hối hả... (24) Trong lúc đó, trên bình diện quốc tế, sự việc bắt đầu “động đậy”. Một mặt, quân Anh hoàn thành xong nhiệm vụ rồi, rút lui cuối tháng 1, có nghĩa là để quân Pháp ở lại hoàn toàn làm chủ miền Nam. Ngoài ra, tại Trùng Khánh, Salan đã được cấp giấy phép cho quân Pháp ở Trung Quốc được trở về Lào thế chân quân đội Trung Quốc (lệnh do chính Tưởng Giới Thạch ký ngày 24/1). Nhưng quân Trung Quốc vẫn cứng rắn: không có quân Pháp tại Bắc Kỳ, kể cả ở vùng người Thái. Trong một bức thư gửi Salan ngày 24, Leclerc yêu cầu Salan giờ đây hãy về Hà Nội để “thúc đẩy thêm một lần nữa” những cuộc hội đàm với ông Hồ Chí Minh đang trì trệ gần như “sắp tới điểm chết” (25). D’Argenlieu trong bài diễn văn mừng Tết nguyên đán (1/2) khẳng định trở lại lập trường của ông: “Chúng tôi cầu chúc rằng không lâu nữa nhân dân Việt Nam sẽ có thể tự quản lý và tự cai trị lấy mình. Bằng một câu, chúng tôi chúc mừng nhân dân Việt Nam trở thành người chủ trên đất nước chỉ với một điều kiện thôi là thực hiện được một trật tự công cộng bảo đảm, không phân biệt dân tộc hay giai cấp, sự tôn trọng cũng như sự an ninh của người và của một cách đầy đủ.
“Chúng ta hãy nói thêm rằng, để thực hiện lý tưởng ấy một cách công bằng và bảo đảm cho nó được ổn định, nước Việt Nam vẫn còn đang cần trong một thời gian nữa và vì lợi ích của chính họ, đến một sự giúp đỡ và một kinh nghiệm của nước ngoài. Nước Pháp tình nguyện cung ứng hai điều ấy cho Việt Nam với tất cả tinh thần hữu nghị... (26) Ông đô đốc vừa mới đi Phnôm Pênh về sau khi đã dự lễ mừng tình hữu nghị Pháp - Khơmer tiếp theo việc ký kết bản “tạm ước” ngày 7/1. Ông thông báo sự sắp sửa thiết lập tại Sài Gòn một Hội đồng tư vấn của Nam Kỳ. Sắc lệnh thành lập Hội đồng này được ký ngày 4/2. Hội đồng gồm 4 thành viên người Pháp và tám thành viên người bản xứ sẽ do chính ông đô đốc khai mạc vào ngày 12/2.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|