Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 08:16:41 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Paris Saigon Hanoi  (Đọc 66583 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #60 vào lúc: 12 Tháng Mười, 2009, 11:13:12 pm »


-VII-
SÀI GÒN, ĐIỂM THẮT NÚT CỦA VẤN ĐỀ
(7/3 - 19/6/1946)


Cơn khủng hoảng gay gắt nhất đã qua. Quân đội Pháp đã ở Hà Nội. Paris đã điện:

“Được khởi đầu ngày 18/6/1940, sự nghiệp giải phóng toàn bộ Liên hiệp Pháp đã hoàn tất ngày 7/3/1946” (1).

Tuy nhiên đâu phải đã là sự sảng khoái hoàn toàn. Ngay lúc nhận được tin ký hiệp định phụ, đô đốc d’Argenlieu đã ghi vào nhật ký của mình:

“Hiệp định sơ bộ: ấn tượng tốt. Trái lại hết sức dè dặt về hiệp định phụ...

“Hiệp định này, đến cuối cùng tôi coi như chứa chất bao nhiêu ràng buộc quân sự đè nặng lên nước Pháp và có lợi cho cái “Quốc gia tự do” trẻ tuổi. Nhưng nó đã được tiếp ký. Chúng ta đứng trước một “việc đã rồi”. Làm sao chúng ta lại lâm vào tình trạng này nhỉ? Sự việc khá nghiêm trọng... Tôi đã quyết định:

“Hiệp định sơ bộ nhằm đúng thực chất của các vấn đề chính trị giữa Pháp và Việt Nam, sẽ phải đệ trình nguyên vẹn và không chậm trễ lên Chính phủ lâm thời của nước Cộng hòa. Còn hiệp định phụ là một văn bản quân sự, một sự dàn xếp bình thường giữa hai bộ tham mưu, đòi hỏi phải qua một cuộc điều tra cấp tốc trước khi nó được phổ biến
(2).

Và d’Argenlieu yêu cầu Sainteny cấp bách nói rõ cho ông biết hiệp định phụ ấy đã được quyết định trong những điều kiện như thế nào, do ai chuẩn bị soạn thảo và ông mong muốn “đừng công bố nó”. Đồng thời ông điện sang Paris và lưu ý thủ tướng chính phủ Félix Gouin về văn bản Hiệp định sơ bộ với những nhận định sau đây:

“… Chúng tôi đã ký kết với Chính phủ Hà Nội, với sự quan tâm không bỏ lỡ mất một cơ hội thuận tiện, một bản hiệp định đã được chuẩn bị từ bốn tháng nay và ngày càng trở nên cần thiết.

“Cân nhắc kỹ, tôi thấy đây là một hiệp định tốt nếu nó được đánh giá về cả ba phương diện quốc tế..., khu vực... và quốc gia… Sau khi tiếp cận cái nguy cơ Trung và Bắc Kỳ vĩnh viễn bị chia cắt, hiệp định này đã giữ hai xứ đó lại một cách tự do trong một cái khuôn khổ hẹp của Liên bang Đông Dương và Liên hiệp Pháp.

“Hiệp định này quy định việc thống nhất ba kỳ sẽ thực hiện theo nguyên tắc dân chủ, bảo đảm quân đội ta sẽ được đón tiếp một cách hữu nghị và như vậy ngăn chặn được mọi lời chê trách chúng ta mở đầu những hành động chiến tranh vì mục đích tái chinh phục, đồng thời bảo đảm, trong hiện tại cũng như trong tương lai, những quyền lợi chính trị và văn hóa Pháp...
(3).

Ngay từ 7/3, ông đô đốc được Sainteny báo cho biết rằng bản hiệp định phụ đã được đích thân ông ta cùng Pignon bàn bạc và soạn thảo, hoàn toàn nhất trí với tướng Salan. Tướng Salan đã thông qua từng điều khoản một. Sainteny lại nói cụ thể thêm rằng “nguyên tắc thay quân chỉ được Chủ tịch Hồ Chí Minh đồng ý vào phút cuối cùng với điều kiện phải cụ thể hóa một số chi tiết” được đưa vào nội dung hiệp định phụ. “Không thể nào xét lại vấn đề này mà không đặt lại vấn đề toàn bộ việc ký kết”. Về việc công bố thì ông Hồ Chí Minh đã để cho báo chí công bố rồi (4).

Còn Leclerc thì sau khi được thông báo, đã điện cho ông đô đốc ngày 8/3.

“… Tôi không nói đến Hiệp định sơ bộ, nó chẳng phải là trách nhiệm của tôi. Ngược lại, hiệp định phụ về các vấn đề quân sự thì rõ ràng là chưa hoàn hảo chút nào. Nhưng sau khi suy nghĩ lại, tôi tưởng nó cũng có thể dùng làm cơ sở cho những cuộc thảo luận có ích...

“Nếu chúng ta biết giữ lấy gạo và cao su Nam Kỳ, cảng Sài Gòn và các cảng Bắc Kỳ thì những người cách mạng Việt Nam nhất định sẽ bắt buộc phải dần dần dịu giọng mà thôi...”
(5).

Trước những ý kiến đó, d’Argenlieu yên tâm và quyết định chuyển sang Paris văn bản hiệp định phụ, có thêm lời bình luận dưới đây, cho Bộ Quốc phòng.

“Nếu hiệp định này không được ký vào buổi tối ngày 6/3 thì những hậu quả nghiêm trọng có thể đã xảy ra sau sự kiện Hải Phòng. Tướng Leclerc cũng có một phản ứng như tôi; nhưng xét kỹ mọi mặt, chúng tôi nhất trí cho rằng, chúng ta có thể dựa trên những điều căn bản của hiệp định để tổ chức các lực lượng của chúng ta ở Đông Dượng cho thật sự hoàn hảo” (6).

Tuy nhiên, ông Cao ủy và tướng Leclerc cũng đã giữ một thái độ chung về vấn đề ngưng chiến tại Nam Kỳ.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #61 vào lúc: 12 Tháng Mười, 2009, 11:13:42 pm »


Ngay từ ngày 7/3, Sainteny đã chỉ rõ:

“Ông Hồ muốn cử vào Sài Gòn ngay ngày mai những phái viên có trách nhiệm mang lệnh ngừng bắn tới mọi nhóm du kích còn đang hoạt động tại miền Nam. Tôi đã yêu cầu tướng Leclerc đồng ý” (7).

Nhưng cả Leclerc lẫn d’Argenlieu chẳng ai đồng ý, vì vậy ông đô đốc trả lời Sainteny rằng:

“Tôi đồng ý với câu trả lời hôm qua của tướng Leclerc về vấn đề các phái viên mà chúng ta chẳng biết sử dụng họ làm gì ở Nam Kỳ cả. Chính quyền “thực tế” của chính phủ Hà Nội cho đến hôm nay chỉ có tác dụng ở phía Bắc vĩ tuyến 16. Về “pháp lý”, từ đây về sau, chính phủ đó chỉ có tính chất tạm thời tại Trung Kỳ...” (8 ).

Ngày 8/3, trong một bức điện mới gửi Paris, ông đô đốc tố cáo ý đồ của ông Hồ Chí Minh:

“Ông Hồ Chí Minh định cử ngay những phái viên của mình vào Nam Kỳ để ra lệnh cho người của Việt Minh hạ súng. Rõ ràng đây là một biện pháp khéo léo để tuyên truyền cho cuộc trưng cầu dân ý liên quan mật thiết đến tương lai xứ Nam Kỳ. Người ta đã trả lời ông Hồ, đúng với sự việc thực, là hầu hết mọi băng nhóm đang hoạt động ở miền Nam đều là những băng cướp bóc chứ không phải bộ đội chính quy. Chúng tôi đã bắt đầu hành động hòa bình với những tổ chức rất hiếm hoi của Việt Minh. Chúng tôi sẽ bắt các tổ chức khác hạ vũ khí không cần sự hỗ trợ của các phái viên của ông Hồ. Chỉ nói riêng ở miền Bắc, ông Hồ cũng đã có quá nhiều việc phải làm nhằm thực hiện đúng tinh thần và văn bản các hiệp định đã đước ký kết” (9).

Tuy vậy, mặc dù ông đã an tâm biết rằng Chính phủ đã chuẩn y ngay bản hiệp định sơ bộ qua một bức điện ngày 9/3 (10), ông Cao ủy vẫn phản ứng lại một cách bất lợi với bản thông báo của Paris dự định sẽ cử một số dại diện các bộ hữu quan làm trợ lý cho ông trong các cuộc đàm phán. Và ông thấy cần thiết phải nói rõ thêm không chậm trễ cái tầm quan trọng đúng đắn mà ông gán cho bản hiệp định vừa ký kết. Do đó mà có lời “hiệu chính nghiêm túc” ông điện về cho Paris ngày 12/3 sau đây:

“Trước hết, tôi thấy cần phải nói rõ tính chất của bản hiệp định sơ bộ 6/3/1946.

1. Mục tiêu cơ bản của văn kiện này là tạo nên cái không khí thuận lợi cho việc mở những cuộc đàm phán nhằm đi đến chỗ hoàn toàn nhất trí và ngăn chặn trong chừng mực có thể một sự phản kháng vũ trang của phía Việt Nam đối với việc quân đội chúng ta vào thay thế quân đội Trung Quốc.

2. Hiệp định này bị hạn chế trong thời gian thì cũng bị hạn chế trong không gian. Nó mang tính chất địa phương. Nó được ký bởi ông Ủy viên Cộng hòa Pháp tại Bắc Kỳ với Chính phủ Việt Nam đóng tại Hà Nội; nó ghi rõ ràng bằng văn bản là việc thống nhất ba kỳ sẽ do nhân dân Nam Kỳ và Trung Kỳ quyết định. Do bản chất của nó, nó chẳng khác biệt gì so với bản hiệp định đã ký kết với Campuchia (trong tháng 1)...

“Tôi thấy... cần đặc biệt lưu ý Chính phủ Pháp về sự cần thiết phải tránh tất cả những cái gì mà trước con mắt của một dư luận địa phương không được thông tin đầy đủ, có vẻ khoác cho hiệp định 6/3 và cho những cuộc đàm phán tiếp theo một tầm cỡ mà nó không có. Quyền lợi hiển nhiên của các đảng phái tạo thành Chính phủ Hà Nội là rút ra từ những cuộc đàm phán này một uy tín càng lớn càng hay và lợi dụng uy tín đó để mở rộng ảnh hưởng của mình bằng cách tự đặt mình làm “người bảo vệ” của cả nước Việt Nam và của toàn thể nhân dân ba nước này.

“Càng làm theo mưu đồ của họ, càng khoác cho cuộc hội đàm của chúng ta với Chính phủ Hà Nội một tầm quan trọng và một tính chất mà chúng ta không đặt ra cho những cuộc đàm phán với Campuchia, chúng ta sẽ làm phật lòng nước Campuchia bây giờ và cả nước Lào sau này nữa và chúng ta có vẻ như đã đoán trước được cách giải quyết vấn đề mà việc thống nhất ba kỳ đặt ra...


Ông đô đốc nhấn mạnh rằng trong những tháng gần đây mục đích cơ bản của ông là thuyết phục cho Chính phủ Hà Nội chấp nhận làm một thành viên của Liên bang Đông Dương. Kết quả thu được có thể “bị xét lại nếu như Chính phủ Hà Nội có ý nghĩ rằng từ đây về sau họ có thể điều đình thẳng với đại diện các cơ quan cấp bộ mà Chính phủ chính quốc cử tới”... (11)

Ông đô đốc quyết ngăn chặn chủ yếu không để cho Hà Nội điều đình thẳng với Paris. Ngay từ ngày 11/3, trước Hội đồng về Đông Dương, ông ta đã nêu lên những mối nguy hiểm có thể xảy ra trước cái khuynh hướng của Paris muốn dính dáng vào cuộc đối thoại Sài Gòn - Hà Nội và do đó tạo điều kiện cho “các nước thành viên của Liên bang dễ dàng ra khỏi khuôn khổ của Liên bang, mà đã không có Liên bang thì cũng chẳng còn có Đông Dương nữa” (12).

Vậy là ngay từ ngày 12/3, ý đồ của ông đô đốc đã bộc lộ rất rõ ràng.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #62 vào lúc: 12 Tháng Mười, 2009, 11:14:47 pm »


Những nỗi ngạc nhiên của Paris


Tuy vậy, khi gửi bức điện này đi, ông Cao ủy đâu có dự đoán trước được những phản ứng và những ngạc nhiên của Paris.

Những phản ứng và ngạc nhiên đó được diễn đạt một cách rất rõ ràng trong một công hàm đề ngày 13/3, soạn thao tại Quai d’Orsay để “đệ trình bộ trưởng” (Georges Bidault) do ông Philippe Baudet, Vụ trưởng Vụ Á - Úc chấp bút:

“Hiệp định sơ bộ ngày 6/3 được ký vào phút cuối cùng, giữa ông Sainteny, Ủy viên Cộng hòa tại Hà Nội, với tư cách là đại diện của đô đốc d’Argenlieu và ông Hồ Chí Minh (sic), chứa đựng những điều khoản rất chung chung về ba điểm mà khi Chính phủ Pháp biết thì liền được Chính phủ chuẩn y...

“Các cơ quan của Chính phủ đã áp dụng những biện pháp cần thiết để thực hiện điểm thứ ba (mở đàm phán) thì mãi ngày 12/3 mới có tin điện của đô đốc d’Argenlieu gửi tới cho biết ông Sainteny cũng đã ký một hiệp định phụ về quân sự. Chính phủ Pháp đã rất ngạc nhiên về việc đưa tin quá chậm trễ, càng sửng sốt và xúc động rất nhiều khi đọc đến các điều khoản của hiệp định này, quy định rút quân đội Pháp ra khỏi các miền của Việt Nam mỗi năm là 1/5, liền trong thời hạn năm năm thì hết.

“Việc gạt bỏ quân ta dần dần như vậy đã đặt ra một thời hạn chưa bao giờ chúng ta nghĩ tới cho mọi sự hiện diện của nước Pháp tại Bắc Kỳ, Trung Kỳ và có thể cả ở Năm Kỳ nữa. Cùng một lúc, mọi hệ thống xây dựng trên nguyên tắc “một nước Việt Nam được coi như một bộ phận hữu cơ của Liên bang Đông Dương” có nguy cơ đổ vỡ. Vị trí của chúng ta tại Campuchia và tại Lào cũng vì đó mà sẽ bị giảm sút một cách nghiêm trọng. Hơn nữa dưới áp lực của mọi thứ chủ nghĩa quốc gia bản địa được cả người Việt Nam lẫn người Thái Lan khuyến khích, chúng ta cũng có thể nhanh chóng rơi vào nguy cơ mất hết ảnh hưởng chính trị tại hai nước này. Mới nhìn qua, vấn đề này mang tính chất như một vấn đề Xyri - Libăng mới.

“Ông Bộ trưởng Bộ Thuộc địa, sau khi đã gửi, ngày 9/3 một bức điện chuẩn y và khen ngợi cho đô đốc d’Argenlieu, đã gửi thêm cho ông ngày 13/3, sau khi đã nhất trí với ông Félix Gouin, một bức điện mới nhấn mạnh rằng Chính phủ đang bị đặt trước một việc đã rồi liên quan đến những điểm mà Chính phủ chưa bao giờ được hỏi ý kiến. Ông bộ trưởng còn dặn ông phải “hết sức dè dặt về vấn đề thay quân trong trường hợp mà sự an ninh của Liên bang cũng như những người Pháp và tài sản của họ tỏ ra không được bảo đảm do một sự rút lui quá vội vàng về quân số”.

“Thực ra, trước điều khoản quân sự bất ngờ ấy Chính phủ có quyền tự hỏi xem mình đã đặt lòng tin cậy vào các đại diện của mình tại Đông Dương một cách sáng suốt hay không và Chính phủ phải xem xét đến mức có thể phủ nhận lòng tin cậy đó nếu cần. Quả tình không những địa vị của chúng ta tại Đông Dương bị lung lay một cách nghiêm trọng vì sự kiện đó, sự hy sinh lớn lao mà những hiệp định này biểu hiện về phía nước Pháp cũng tỏ ra là vô hiệu.

“Chính phủ có trách nhiệm trước khi phát biểu quan điểm của mình về vấn đề nghiêm trọng này, phải nghiên cứu những phương tiện chúng ta còn nắm trong tay nhằm duy trì ảnh hưởng của chúng ta và bảo vệ quyền lợi của chúng ta tại Đông Dương trong giả thuyết mà chúng ta tự coi mình như bị ràng buộc bởi chữ ký của ông Sainteny”
(13).

Quả nhiên Moutet đã đánh điện sang cho d’Argenlieu ngày 13/3 như sau:

“… Bức điện của ông thỏa thuận với những hiệp định phụ ngày 6/3 tận ngày 12/3 mới đến tay chúng tôi. Chính phủ giờ đây bị đặt trước một sự đã rồi liên quan đến những điểm mà Chính phủ không bao giờ được hỏi ý kiến. Tôi yêu cầu ông từ rày về sau đừng ký một hiệp định nào với bất cứ tính chất nào khi văn bản của nó chưa được trình lên cho Chính phủ duyệt. Hãy dè dặt cân nhắc trong vấn đề thay quân...

“Người ta báo cho tôi rằng với những con người hiểu biết xứ Nam Kỳ một cách sâu sắc, chúng ta có thể tổ chức một chiến dịch tuyên truyền nhằm cản trở không cho nó sát nhập với Bắc Kỳ, dưới khẩu hiệu “Nam Kỳ của người Nam Kỳ”. Chúng ta có thể đạt một thắng lợi chính đáng kể về phương diện đó”
(14).

Ủy ban Liên bộ Đông Dương trong phiên họp 13/3 đã nghiên cứu tình hình:

“… Bộc lộ ngạc nhiên của mình về việc hiệp định phụ đã có thể thông qua. Nhưng vì không thể phủ nhận việc ký kết của các đại diện toàn quyền của mình, Chính phủ đã quyết định chấp nhận hiệp định ấy làm xuất phát điểm cho một sự điều đình giải quyết thuận lợi hơn.

“Vì vậy Ủy ban sẽ yêu cầu ông Cao ủy cố gắng điều chỉnh ngay lại tình hình mà việc ký kết hiệp định 6/3/1946 đã dẫn đến, đặc biệt là đừng giới hạn quân số của Pháp ở 15.000 người. Ủy ban sẽ chỉ rõ những biện pháp cần phải thi hành để quyền lực quân sự khỏi bị loại trừ ra khỏi lãnh thổ Việt Nam phía Bắc vĩ tuyến 16 trong vòng 5 năm. Những biện pháp ấy chủ yếu là dự định xây dựng và duy trì thường xuyên những căn cứ không quân và hải quân đã được ghi trong bản hiệp định sơ bộ Hồ Chí Minh - Sainteny và bảo vệ chúng bằng những căn cứ lục quân...”
(15).

Những chỉ thị của ông Moutet trở nên rất cụ thể:

“… Để quyền lực cần thiết của nước Pháp được đặt vững trên một cơ sở lãnh thổ, tất yếu chúng ta phải giành lấy:

a) Phía Bắc vĩ tuyến 16: căn cứ Hòn Gai với khả năng xây dựng một sân bay cùng với một khu vực ở xứ Thái.

b) Phía Nam vĩ tuyến 16: các căn cứ Cam Ranh, Sài Gòn - Vũng Tàu với sân bay.

c) Nói chung, cả vùng Tây Nguyên với sân bay”
(16).

Trong một bức điện mới, Moutet nói rõ cho ông đô đốc, ngày 18/3:

“Tại Ủy ban Liên bộ về Đông Dương, chính ông bộ trưởng Ngoại giao đã phản đối kịch liệt bản hiệp định quân sự. Về phần tôi, tôi nhận chịu trách nhiệm về các hiệp định của ông và tôi sẽ bảo vệ trước Quốc hội tất cả những việc gì ông đã làm mà tôi là người liên đới.

Tôi vui mừng được tin quân ta đã vào Hà Nội”
(17).

Ký tên: MOUTET
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #63 vào lúc: 12 Tháng Mười, 2009, 11:15:27 pm »


Hồ Chí Minh muốn đi Paris


Từ ngày ký hiệp định sơ bộ, Hồ Chí Minh đã tỏ ý muốn di Paris càng sớm càng hay. Một bức điện ngày 7/3 của Sainteny gửi d’Argenlieu kể lại.

“Trong cuộc gặp gỡ chiều hôm nay, ông Hồ Chí Minh báo cho tôi biết rằng ông sẽ đề nghị với chính phủ ông chọn Paris làm nơi đàm phán sắp tới. Để chứng tỏ cho nhân dân biết rằng hiệp định sơ bộ không phải là một thủ đoạn của Pháp nhằm đưa quân đội Pháp trở lại Đông Dương một cách dễ dàng, ông mong muốn những cuộc điều đình này sẽ tiến hành trong thời gian sớm nhất. Ông dự định sẽ đích thân dẫn đầu phái đoàn Việt Nam và dĩ nhiên ông mong muốn ông đô đốc sẽ có mặt. Đồng thời ông cũng thiết tha muốn được gặp ông đô đốc trong một ngày gần nhất và gợi ý rằng cuộc gặp gỡ ấy sẽ diễn ra tại Sài Gòn trên đường đi Paris. Tôi chỉ hứa chuyển ngay những đề nghị trên cho ông đô đốc. Theo ý tôi và cũng là ý của Salan, Pignon và của tất cả những người đã theo dõi các cuộc hội đàm và biết rõ không khí ở Hà Nội, là chúng ta không nên để bị lôi cuốn mà tiến hành các cuộc đàm phán tại Hà Nội vì Chính phủ cách mạng Việt Nam vẫn nắm trong tay nhiều phương tiện áp lực và ảnh hưởng của Trung Quốc vẫn còn rất lớn trong một thời gian dài nữa...” (18 ).

D’Argenlieu không chuyển bức điện này về Paris. Ông ta “chế biến” lại và ngày 18/3 đã điện về Paris như sau:

“Ông Hồ Chí Minh có tham vọng muốn nhìn thấy trong thời gian gần nhất cuộc hội đàm dự định được khai mạc tại Paris. Về mọi mặt, chọn Paris làm địa điểm hội đàm sẽ là một sự sai lầm nghiêm trọng. Vì chính phủ của ông ta đã cùng với ông ta quyết định sẽ là thành viên của Liên bang Đông Dương cho nên cần thiết phải giữ ông ta lại trong khuôn khổ này suốt cả giai đoạn sơ bộ. Sẽ là một điều bất công trắng trợn đối với các nhà vua Campuchia và Lào. Vua Campuchia đã giúp đỡ chúng ta những điều tốt đẹp với một tấm lòng rất chân thành từ bao nhiêu tháng nay và vẫn đợi chờ sự đồng ý của chúng ta để sang thăm Paris... Vả lại chắc Ngài cũng đã thấy rằng đây là một mưu đồ rõ rệt để loại trừ quyền hành của ông Cao ủy, đại diện của Chính phủ. Sau cùng thì uy tín mà ông Hồ Chí Minh sẽ đạt được sẽ giúp ông ta củng cố những yêu sách của mình về mặt đại diện ngoại giao...”.

D’Argenlieu yêu cầu Chính phủ nói rằng địa điểm tốt nhất cho cuộc hội nghị đã dự tính là Đà Lạt. Tại đây “hội nghị có thể làm việc trong bầu không khí yên tĩnh và thanh thản, xa mọi cuộc biểu tình tự phát có tổ chức của quần chúng” (19).

Ông đô đốc ngay lập tức nhận được điện cho biết địa điểm Paris đã bị loại trừ, cuộc hội nghị sẽ không tiến hành ở đó nhưng Ủy ban Liên bộ về Đông Dương lưu ý ông rằng trong hiệp định sơ bộ người ta không dự tính chọn Đà Lạt làm địa điểm hội đàm. Chính phủ dự định gửi những đặc phái viên của các bộ sang Đông Dương để giúp cho ông Cao ủy trong các giai đoạn của cuộc đàm phán. Đấy là điều đã gây nên sự phản ứng của ông đô đốc mà chúng tôi đã nói đến trên đây, trước sự can thiệp của quyền lực chính quốc vào công việc nội bộ của Liên bang. Trong bức điện trả lời ngày 12/3, d’Argenlieu khẳng định:

“Điều quan trọng là không nên hấp tấp. Chừng nào mà sự ổn định vị trí của quân đội ta chưa bảo đảm được cho sự an ninh và quyền lợi của người Pháp tại Bắc Kỳ và Nam Kỳ thì Chính phủ Hà Nội vẫn có những dễ dàng để gây áp lực và chúng ta chỉ có thể đàm phán trong điều kiện bất bình đẳng…”.

Ông ta chứng minh cho đề nghị của mình:

“Việc lựa chọn Đà Lạt làm địa điểm đàm phán tỏ ra là tốt hơn cả bởi vì nơi này đã được dự trù sẽ trở thành kinh đô của Liên bang Đông Dương. Tôi mong sẽ có khả năng làm cho Chính phủ Hà Nội chấp nhận điểm đặc biệt này” (20).

Trong thời gian này, tại Hải Phòng Leclerc đang sốt ruột; trong 2 bức điện liền, ông ta nhấn mạnh rằng cần thiết phải nhượng bộ Việt Nam và chấp nhận mở cuộc hội nghị tại Paris. Trong bức công hàm ngày 15/3, ông ta đã viết: “Việc chúng ta tiến quân về Hà Nội có thể gây ra sự bỏ chạy của Chính phủ Việt Nam và gây ra chiến tranh mà phía Trung Quốc dường như đang mong chờ điều này. Tôi chỉ có thể làm đảo lộn ý đồ đó bằng cách phá vỡ mối liên kết Trung-Việt… Vì vậy sẽ là có lợi nếu mời Chính phủ Việt Nam hội đàm ngay tức khắc tại một địa điểm ngoài Đông Dương, tốt hơn cả là Paris” (21).

Trong một bức điện gửi d’Argenlieu ngày 14/3, Sainteny đã vạch ra “tình hình Hà Nội rất lộn xộn từ 24 giờ nay do một chiến dịch báo chí và những tin đồn đại. Người Việt Nam họ chê trách chúng ta kịch liệt: 1. việc trưng cầu dân ý về vấn đề Nam Bộ; 2. việc rải truyền đơn xuống Nam Bộ kêu gọi quân đội Việt Nam nộp khí giới cho chúng ta, 3. thủ đoạn co dãn nhằm kéo lùi đàm phán; 4. việc đài phát thanh Sài Gòn thông báo cả Đông Dương trở lại dưới chủ quyền của Pháp; 5. việc Pháp đã ký hiệp định chỉ nhằm mục đích đổ bộ quân lên một cách dễ dàng. Cuối cùng, lý do chính vẫn là việc chúng ta không chấp nhận Paris làm địa điểm đàm phán. Báo chí Trung Quốc tiếp tục một chiến dịch khiêu khích mạnh mẽ nói là để “mở mắt cho người Việt Nam thấy họ đã bị người Pháp lừa phỉnh...” (22)

Ngày 15/3, sau một cuộc hội kiến với Hồ Chí Minh, Sainteny kể lại rằng “ông Hồ rất lấy làm tiếc về tình hình căng thẳng hiện nay. Ông đang ở trong một tình thế khó khăn do quan điểm của ông. Trước hết vì ông rơi vào thế bị động và bất ngờ khi ký hiệp định, sau nữa bị phe đối lập và báo chí Trung Quốc xúi giục và kích động... Vì mục đích làm dịu tình hình căng thẳng hiện tại, ông Hồ Chí Minh yêu cầu có được khả năng thông báo chính thức chuyến đi của phái đoàn Việt Nam. Tôi nghĩ rằng Chính phủ Việt Nam tha thiết muốn thông báo chính thức ngày đi của phái đoàn hơn là ngày khai mạc cuộc đàm phán đó - chỉ có tầm quan trọng thứ yếu. Dĩ nhiên ông Hồ Chí Minh và các cộng sự của mình tin tưởng vững vàng vào Paris...” (23).

Nhưng d’Argenlieu không chuyển về Paris một bản nào nguyên vẹn trong số những kiến nghị đó.

Tuy nhiên ông ta vẫn căn cứ vào những báo cáo đó, vì ngày 17/3, chắc vì sợ do sai sót của mình mà việc Leclerc đưa quân vào Hà Nội sẽ gặp nhiều rắc rối, ông đã điện sang Paris:

“Tình hình ở Hà Nội rất căng thẳng và thế đứng của ông Hồ Chí Minh đang bị lung lay đến mức độ người ta thúc ép tôi đánh lạc hướng dư luận bằng cách thông báo cuộc đàm phán sẽ khai mạc nay mai tại Paris: về vấn đề này có lẽ Sainteny đã đi quá xa. Đối với tôi điều này luôn luôn và hoàn toàn trái với chỉ định của tôi. Nhưng sẽ rất có ích cho tôi nếu được phép nói rằng: theo tinh thần văn bản những cuộc đàm phán sẽ tiến hành tại Đông Dương với sự tham gia của các đại diện các cơ quan cấp bộ, thì Chính phủ Cộng hòa sẵn sàng mời Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Paris. Vì vấn đề rất cấp bách nên tôi yêu cầu Ngài trả lời cho tôi sớm nhất” (24).

Moutet đã trả lời ngay tức khắc:

…“Đồng ý. Như thế càng hay vì tôi tin chắc rằng ở đây chúng ta có thể có nhiều cái lợi hơn, vì nhân vật chính sẽ được tách rời khỏi ảnh hưởng môi trường của mình. Như thế tất cả đều sẵn sàng chuẩn bị theo dự định của ngài và các đại diện của cơ quan cán bộ, cách giải quyết dứt khoát có thể được tiến hành ngay tại đây” (25)
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #64 vào lúc: 12 Tháng Mười, 2009, 11:16:03 pm »


Hồ Chí Minh và D’Argenlieu: Cuộc gặp gỡ


Trong thời gian đó, ông đô đốc đã hành động. Ông ta đã yêu cầu Sainteny chuyển cho ông Hồ Chí Minh một bức giác thư đề ngày 17/3 trong đó ông ta khẳng định với Chủ tịch Hồ Chí Minh rằng ông ta sẽ rất sung sướng được trực tiếp gặp Người với tất cả nghi thức long trọng cần thiết. Ông ta đề nghị cuộc gặp gỡ diễn ra “trên chiếc tuần dương hạm Emile-Bertin càng gần cảng Hải Phòng càng tốt”. Ông ta nói rõ thêm: “Tất nhiên Ngài sẽ được đón tiếp với tất cả những nghi thức long trọng xứng đáng, có đại bác bắn chào mừng, có hàng rào danh dự, có những tiếng tung hô v.v... D’Argenlieu còn nói thêm rằng ông ta vẫn “luôn luôn lưu ý đến nguyện của Chủ tịch muốn được sang Paris. Chính phủ Cộng hòa đã được thông báo và tỏ ra rất sẵn sàng”. Nhưng ông ta nghĩ rằng một cuộc thăm viếng như vậy cần phải được chuẩn bị và trước tiên nên có những cuộc hội đàm đầu tiên ngay tại Đông Dương. Tuy vậy tham dự những cuộc hội đàm này vẫn sẽ là những vị đại diện của các bộ từ Paris sang. Theo nội dung những cuộc hội đàm này, “Chính phủ Pháp sẽ rất vinh dự được đích thân mời Chủ tịch Hồ Chí Minh đi Pháp một cách chính thức nhằm thiết lập trên một nền móng vững vàng những mối quan hệ hữu nghị với Chính phủ nước Cộng hòa Việt Nam, những quan hệ mà ông cảm nhận trước tất cả giá trị cùng chờ đợi những điều có lợi nhất cho cả hai bên”. Cuộc gặp gỡ đầu tiên này, d’Argenlieu đề nghị vào ngày 24/3 (26).

Ông đô đốc không nhận được thư trả lời sớm sủa như ông mong muốn. Đúng thế, Leclerc và Sainteny quyết định không trao ngay bức giác thư, họ cho rằng: do tình hình căng thẳng, có thể xảy ra một sự đoạn tuyệt hẳn giữa hai bên vào đúng cái ngày mà Leclerc đưa quân tiến vào Hà Nội. Dù sao thì rồi ông Hồ Chí Minh cũng biết được bức giác thư. Ngày 20, ông chấp nhận nguyên tắc của cuộc gặp gỡ. Ông giữ ý kiến phải có Sainteny cùng đi với ông.

Đô đốc d’Argenlieu báo cáo về Paris bằng điện, đồng thời cũng ghi nhật ký về cuộc đối thoại tay đôi của ông ta với Chủ tịch Hồ Chí Minh như sau:

“Cuộc tiếp xúc tâm lý và tinh thần được thiết lập. Đây là thời kỳ cả hai bên đều chinh phục nhau bằng những lời hoa mỹ. Khi tôi nói lên niềm vui của tôi được thấy mối tình bạn truyền thống giữa nước Pháp và nước Việt Nam phục hồi, ông Hồ Chí Minh đáp lại ngay: “Những mối quan hệ bạn bè giữa hai dân tộc, thưa ông Cao ủy, vâng, nhưng mà nó sẽ phải trở thành quan hệ anh em”. Tôi đã gật đầu một cách lịch sự và mỉm cười” (27).

D’Argenlieu nhận thấy cái dự kiến đi Paris của ông Hồ Chí Minh đã chuyển thành ám ảnh. Ông Hồ trình bày với ông ta những khó khăn chính trị và sự cần thiết ông “phải đi ngay Paris với một phái đoàn để ký kết những hiệp định một cách dứt điểm”. Ông đô đốc chứng minh cho ông Hồ thấy người ta không đi Paris theo kiểu ấy được. Dự kiến này “trái hẳn với những chỉ thị rất cụ thể của Chính phủ tôi. Paris giữ vững ý kiến là một cuộc hội nghị chuẩn bị kiểu này cần phải họp không chậm trễ tại Đông Dương”... Cần phải thoát ra khỏi ngõ cụt này và d’Argenlieu đề nghị cho một “phái đoàn Quốc hội Việt Nam đi Paris nhằm mang tới cho Quốc hội Lập hiến Pháp lời chào thân ái của Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Sự kiện này tại thủ đô sẽ làm nổi bật lên, trên bình diện quốc gia cũng như quốc tế, tầm quan trọng mà cả Hà Nội lẫn Paris đặt vào cho những hiệp định chúng ta vừa ký kết và ý muốn của hai bên đi đến một thỏa thuận dứt khoát lâu dài với nhau”.

Hồ Chí Minh, sửng sốt một cách thú vị, đã chấp nhận lời đề nghị trên, nhưng phải vài hôm nữa để bàn nhất trí với nhau về lời văn của bản thông cáo. Hai bên thỏa thuận rằng trong nửa đầu tháng tư, một phái đoàn hữu nghị (good will) gồm 10 đại biểu Quốc hội Việt Nam sẽ lên đường đi Paris và cùng trong thời gian đó khai mạc tại Đông Dương một “cuộc hội nghị trù bị tập hợp lại trong một tiểu ban hỗn hợp gồm một phái đoàn Pháp 12 người... và một phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 12 người...”

“Cuộc hội nghị trù bị sẽ lãnh đạo công việc chu đáo sao cho một phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có thể được lên đường trong thời hạn ngắn nhất, tức trong nửa sau tháng 5, nhằm khai mạc tại Paris những cuộc đàm phán chính thức và dứt điểm”
(28 ).

Cuối cùng và không phải là không có nhiều khó khăn, ông Hồ Chí Minh đã đồng ý cho cuộc hội nghị trù bị họp tại Đà Lạt.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #65 vào lúc: 12 Tháng Mười, 2009, 11:17:37 pm »


Nam Kỳ: một sự bố trí lực lượng an ninh


Vậy là ngày 29/3, trong một bức điện dài gửi Paris, d’Argenlieu muốn “rút ra một nhận định tổng quát” và bộc lộ những cảm tưởng của mình trong đó có pha vào đôi chút nọc độc:

“Chủ tịch Hồ Chí Minh có một bản lĩnh rất vững vàng và có một đội ngũ những cộng tác viên trong đó nhiều người khá thông minh. Ông biết mình muốn điều gì và chỉ đạo hoạt động của mình một cách kiên nhẫn.

“Rõ ràng cái mục đích cuối cùng của ông - cái mà suốt bao tháng nay tất cả công tác tuyên truyền của ông nhằm yêu sách cho kỳ được - chính là độc lập. Tuy vậy, khi ký hiệp định 6/3 ông đã một mặt tìm đáp ứng, như chúng ta, nỗi lo lắng tránh cho nhân dân Việt Nam những hậu quả tai hại kéo theo hành động chiến tranh, mặt khác là nhằm củng cố uy thế của đảng mà ông lãnh đạo đối với Chính phủ Hà Nội và nếu có thể thì đối với tất cả các đảng phái khác ở Việt Nam. Cho nên lập trường của ông là một lập trường chiến thuật.

“Chủ tịch có được cái kỹ thuật của một lãnh tụ cách mạng, cũng là cái kỹ thuật của đảng đã đào tạo nên ông.

“Chính trị của ông giờ đây sẽ là lẩn tránh một cách khéo léo những điều khoản phân biệt cái quy chế quy định trong hiệp định 6/3 (nước tụ do có chân trong Liên bang Đông Dương và trong Liên hiệp Pháp) với nền “độc lập”, ngắn gọn thế thôi.

“Điều cam kết đầu tiên mà ông muốn loại trừ là điều khoản ràng buộc ông vào Liên bang Đông Dương. Về điểm này, không những ông có cả một lập trường tư tưởng mà ông còn có nỗi lo sợ khách quan rằng dưới cái từ ngữ này, người ta sẽ khôi phục lại một phương tiện cai trị của nước Pháp đối với các nước liên bang - nỗi lo sợ, mà tôi đã cố gắng xóa đi.

“Phương pháp chiến thuật của ông là không muốn đàm phán tại Đông Dương nữa, mà phải sang Paris nhằm mục đích đó trong thời gian sớm nhất. Ông hy vọng một khi đến Paris với cả một đội ngũ vững vàng những người đồng chí đồng sự, trở thành một đối tượng cho mọi người tò mò và lưu ý đến mình, làm dấy lên vấn đề quyền lợi của các đảng phái và tiến tới gây áp lực ngay với Chính phủ
1.

“Tôi đã phải quan tâm đề phòng (những nguy cơ bất trắc cho ông) nhưng hành động cực đoan và do một số các nhân vật dân sự và quân sự đã trót hứa hẹn những điều thiếu thận trọng xung quanh chuyến ông Hồ đi Paris giữa lúc khủng hoảng đang ở điểm cao trào, nhằm đưa được quân ta vào đóng trên miền Bắc. Vì vậy mà tôi đã đề xuất cái giải pháp thỏa hiệp đã nói trên đây...”

Ông đô đốc nói đến việc cử đi Paris phái đoàn good will (chính ông đang đề nghị Chính phủ chấp nhận phái đoàn này) và tiến hành khai mạc cuộc hội nghị trù bị mà ông nhấn mạnh cái mục tiêu hạn chế (29). Paris đã đồng ý chuẩn y, ngày 3/4, tất cả những cái gì ông đô đốc đề nghị (30). Dĩ nhiên là ông Cao ủy sẽ chỉ đạo những cuộc đàm phán trù bị. Nhưng Chính phủ nói rõ thêm là “phải hoãn nó lại được chừng nào hay chừng đó ngày lên đường của phái đoàn Việt Nam đi Paris”.

Giờ đây, công việc chuẩn bị đã chạy đều. Tuy nhiên, tình hình vẫn còn căng thẳng. Ngay ngày hôm sau cuộc hội kiến tại Vịnh Hạ Long, tức ngày 27/3, lực lượng quân sự của Pháp tại Hà Nội đã làm chủ được cơ quan Bộ Tài chính của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, với những lý do không rõ ràng, gây nên những mối xúc động lớn và những phản ứng sôi sục. Cuối cùng, tướng Valluy, từ đây là tổng tư lệnh quân đội Pháp ở Bắc Đông Dương, quyết định trả lại ngôi nhà cho Chính phủ Việt Nam, nhưng hai bên thỏa thuận đặt một đội bảo vệ hỗn hợp.

Tuy nhiên, những người Pháp ở Hà Nội vừa thấy khó chịu trước cuộc duyệt binh hỗn hợp tổ chức ngày 22/3, có tướng Leclerc và tướng Giáp dự; lần này, họ tưởng chừng đâu sẽ “quét một nhát” Chính phủ Việt Minh đi. Họ đã thất vọng. Ngày 30/3, tướng Valluy sẽ giải thích vì sao một vụ bạo lực sẽ hết sức nguy hiểm và nhất thiết không nên nghĩ đến. “Chúng ta không đủ sức” (31). Thế nhưng cái sức hấp dẫn của một vụ bạo lực từ đây sẽ cứ tồn tại bất chấp tất cả.

Từ cuộc hội kiến với Chủ tịch Hồ Chí Minh trở về Sài Gòn, ông đô đốc đã quyết định: tại Nam Kỳ, cứ phải tiến mạnh lên phía trước, nhằm xóa mọi sự lập lờ. Ngày 26/3, Hội đồng tư vấn Nam Kỳ đã chỉ định với 8 phiếu thuận và hai phiếu trắng, bác sĩ Nguyễn Văn Thinh đứng đầu một “Chính phủ lâm thời Cộng hòa Nam Kỳ” và ngày 30, Cao ủy đã thông báo cho Hội đồng Liên bang biết về dự án thành lập một Chính phủ lâm thời Nam Kỳ gồm những thành viên người bản xứ. Nhưng ngày 29, một trong các thành viên của Hội đồng tư vấn là ông Phát bị những kẻ khủng bố mưu sát. Người chỉ huy phong trào kháng chiến Việt Minh tại Nam Kỳ, Nguyễn Bình, đứng trước thái độ của Bộ chỉ huy quân sự Pháp, đã quyết định sẽ trở lại thi hành sáng kiến chính trị quân sự lấy sự phân lập làm mục tiêu chính yếu.

Ngày 3/4, Cao ủy điện cho Cominindo:

“Giờ đây, chúng ta đã sắp sửa đi tới đích Sài Gòn và một chính phủ cho Nam Kỳ đã sẵn sàng được thành lập.

“Một cuộc mưu sát trượt và một cuộc mưu sát khác đạt kết quả đối với hai thành viên xuất sắc nhất của Hội đồng tư vấn đã củng cố thêm ý định của một bộ phận dư luận công chúng Nam Kỳ về vấn đề tự trị của đất nước này...

“Cái khó khăn chính đang cản trở chúng ta thực hiện ý định này là ở sự phản ứng gay gắt gần như chắc chắn của Chính phủ Hà Nội.

“Vậy thì cần phải chọn thời điểm thuận lợi để đưa ra thi hành; thời điểm đó là lúc mà những phản ứng nói trên đây tỏ ra ít hữu hiệu nhất. Giờ đây, tôi cho rằng cái thời điểm thuận lợi ấy là khi phái đoàn Việt Nam lên đường đi Paris. Tôi cũng dự kiến sẽ có một phái đoàn Nam Kỳ đi Paris cùng một lúc”...
(32)
_______________________________________
1. Trong nhật ký của mình, ông đô đốc có ghi rằng “sở dĩ Hồ Chủ tịch muốn đi Paris là vì ông có thể, cùng với phái đoàn của mình, tác động mạnh mẽ đến các chính khách phe tả và như vậy có thể gây áp lực đối với Chính phủ Lâm thời. Trước sau, vẫn là một lãnh tụ đảng đi vận động chính trị”. (Niên sử, tr. 240).
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #66 vào lúc: 12 Tháng Mười, 2009, 11:22:04 pm »


Sửa soạn một cuộc đảo chính


Đã thỏa thuận là Sainteny sẽ đi Paris cùng với phái đoàn Quốc hội Việt Nam. Trong lúc Sainteny đi vắng, tướng Valluy sẽ tạm quyền thay cho ông ta. Công việc bàn giao sẽ diễn ra ngày 11/4. Đồng thời viên cố vấn chính trị của Sainteny là Pignon ngày 6/4 đã được bổ nhiệm làm cố vấn chính trị của Cao ủy Pháp thay cho De Raymond, ông này được bổ nhiệm làm Ủy viên Cộng hòa tại Lào. Ngay ngày hôm sau, 7/4, ông đô đốc đã nói rõ thêm, trong một chỉ thị, thái độ mà tướng Valluy cần phải tuân thủ:

“Trong một tương lai gần kề, một chính phủ lâm thời của Nam Kỳ sẽ được thành lập... Tôi đã dự đoán trước một tình hình phản kháng quyết liệt sẽ xảy ra ở Bắc Kỳ, một sự phản kháng do Chính phủ Việt Nam dàn dựng.

“Dứt thoát không thể nào tránh khỏi một sự lên án gắt gay việc vi phạm Hiệp định của chúng ta...”


Tiếp đó, ông đô đốc gợi ý cho tướng Valluy một vài luận điện để đối phó với Hà Nội, nhưng rõ ràng là ông ta chẳng có ảo tưởng nào về hiệu quả của những luận điểm đó. Ông ta viết tiếp:

“Điều quan trọng trong cuộc khủng hoảng mà chúng ta có thể dự kiến trước là, một mặt sự khôn khéo của ngài trong việc thuyết phục cho Chính phủ Việt Nam thấy rõ rằng: họ sẽ phạm một điều dại dột và chịu một trách nhiệm nặng nề nếu họ để mất đi, trong một cuộc đảo chính, cái vị trí thuận lợi mà Hiệp định 6/3 đã đưa đến cho họ, mặt khác và là mặt chủ yếu, là sự kiên quyết của những biện pháp đề phòng mà ngài chuẩn bị sẵn sàng nếu như sự bất đồng có nguy cơ trở thành quyết liệt...

“Tôi đã suy nghĩ kỹ trước khi cho phép tiến hành cuộc biểu tình
1 mà tôi đã thông báo cho ngài2, nhưng tất cả các quan sát viên đều nói rằng đã đến lúc phải thỏa lnãn những đòi hỏi của dư luận Nam Kỳ...

“Để giảm bớt khó khăn cho ngài, tôi nghĩ nên đợi ngày họp hội nghị trù bị tại Đà Lạt hoặc ngày các nhà đàm phán lên đường đi Paris để cho phép tuyên bố ra mắt Chính phủ lâm thời Nam Kỳ...

“Ngài hiểu chắc chắn rằng đã đến lúc chúng ta giành lại sự tự do hành động của chúng ta, khả năng hành quân của chúng ta, ý chí tiến thủ của chúng ta. Tại chính quốc cũng như ở đây, tại Đông Dương, người Pháp sẽ ngạc nhiên một cách có lý là sự việc đã diễn biến theo cách khác, vì ngày nay lực lượng quân sự của ta đã cắm rễ chắc chắn lắm rồi.

“Chúng ta hiên quyết chủ trương hòa bình, chúng ta luôn luôn thấm đượm tinh thần hòa giải và chúng ta đã chứng minh điều đó. Cấm chúng ta, như là một nguyên tắc, không được vận dụng cái “lý lẽ cuối cùng”
3 có thể dẫn tới nguy cơ chúng ta mất Đông Pháp và làm trở ngại nghiêm trọng cho mục đích đầu tiên của sứ mệnh chúng ta là lập lại quyền hành của nước Pháp, không chỉ trên lý thuyết mà trên thực tế.

“Tôi biết rõ sự chuẩn xác của Ngài trong suy nghĩ, sức mạnh của Ngài trong tính cách. Tôi tin tưởng ở Ngài”
(33)

Tướng Valluy không phải đợi ông đô đốc yêu cầu. Ông ta hành động trong một bối cảnh mới. Ngày 1/4, trách nhiệm giữ gìn trật tự tại miền Bắc Đông Dương thực tế đã chuyển từ tay các nhà đương cục Trung Quốc qua tay các nhà đương cục Pháp. Ngày 3/4, một hiệp định quân sự mới lại được ký kết giữa tướng Salan và bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam Võ Nguyên Giáp. Theo hiệp định này, “quân số của Pháp ở phía bắc vĩ tuyến 16o không được vượt quá 15.000 người, trong đó 500 người được dùng vào việc coi tù binh Nhật. Chỗ trú quân tạm thời của quân đội Pháp được ấn định: có tám doanh trại (Hà Nội, Hải Phòng, Hòn Gai, Nam Định, Huế, Đà Nẵng, Hải Dương, Điện Biên Phủ + vùng biên giới với sáu đồn dự kiến: Móng Cái, Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang, Lào Cao, Lai Châu. Tại mỗi doanh trại đó, số quân đồn trú được ấn định cụ thể).

Hiệp định còn ghi rõ rằng: mỗi lần có những việc hành quân đổi phiên, về phía quân Pháp cũng như quân Việt Nam thì ngày tháng, hành trình cũng như phương thức hành quân phải được báo trước cho Chính phủ Việt Nam ít nhất 48 giờ Chính phủ sẽ loan báo cho nhân dân biết trước để tránh xảy ra những chuyện bất trắc được chừng nào hay chừng ấy.

“Những đội quân Pháp và Việt Nam đổi phiên, dưới quyền của bộ tư lệnh tối cao Pháp có sự trợ lực của các đại diện Việt Nam, sẽ cộng tác với quân đội Việt Nam để giữ gìn trật tự và an ninh”.

Một ủy ban liên lạc và kiểm soát hỗn hợp trung ương được thành lập, có trụ sở ở Hà Nội. Ủy ban này sẽ kiểm soát việc thi hành hiệp định.

Sau nữa, một ủy ban đình chiến Việt Nam có thể sẽ đến miền Nam Trung Bộ. Nhưng vấn đề đình chiến ở Nam Bộ thì không bàn đến (34).

Với tư cách là tướng chỉ huy quân đội Pháp ở Bắc Đông Dương và vận dụng một “phương án số 1” rất chung về an ninh, do Đông Dương ký ngày 5/4, Valluy đã ký và ban hành ngày 10/4, một “phương án số 2”, nhận định rằng:

“Tình hình hiện nay... hết sức bấp bênh. Chúng ta có thể bị tấn công bất cứ lúc nào nếu có một chuyện bất trắc nào đó bề ngoài có vẻ ngẫu nhiên và chẳng quan trọng gì xảy ra...

Trong trường hợp như vậy, cần nhất là chúng ta đừng để lâm sự với hai bàn tay trắng. Mục đích những chỉ thị này là nghiên cứu trong tổng thể những phương tiện nào có khả năng mang đến hiệu quả mong muốn đó...

… “Trong mỗi doanh trại, ngay từ khi bước chân tới, người chỉ huy phải bắt tay ngay vào việc thiết lập một kế hoạch an ninh đầu tiên: kế hoạch này phải bao gồm, một mặt là kế hoạch bảo vệ địa điểm trú quân một cách thường xuyên và nhất là một kế hoạch hành động nhằm thực hành trên thành phố đang đóng... Một khi kế hoạch đó đã được đặt ra và hoàn chỉnh trên những nét lớn rồi, cần bổ sung ngay bằng những biện pháp hữu hiện có tác dụng thay đổi dần và biến dần cái màn kịch của một hành vi thuần túy quân sự lúc đầu thành màn kịch của một cuộc đảo chính...
4

“Rất cần thiết phải tập hợp ngay mọi văn kiện có thể có được về các tổ chức người Hoa và người Việt trong thành phố, cũng như về các thủ lĩnh địa phương (lý lịch, thói quen, những chỗ nghỉ đêm thông lệ của họ v. v…)

“Đồng thời những toán đặc vụ được thành lập có thể cải trang để làm việc (như tại Nam Kỳ). Các toán đặc vụ này có trách nhiệm vô hiệu hóa một cách kín đáo các thủ lĩnh và những người cầm đầu ngay khi nào Bộ tư lệnh xét thấy đã đến lúc phải thiết lập một hệ thống an ninh. Chúngphải bao gồm những thành viên đặc biệt và phải được vũ trang đặc biệt và phải luôn luôn được thông tin đầy đủ về hoạt động và lối sống của những cá nhân “cần phải gạt ra một bên”.

“Đối với những cơ quan chiến đấu hợp pháp và không hợp pháp cần phải áp dụng một phương pháp hành động tương tự... Bao giờ những tin tức cho biết đã “khu biệt” được những cơ quan ấy, đồng thời cho biết rõ những tập quán của các thành viên rồi, thì những toán quân “commandos” đặc trách sửa soạn thực hiện vô hiệu hóa chúng một cách bất ngờ”
(35).

Ngày 12/4, Sainteny rời Hà Nội đi Sài Gòn, để Valluy tạm quyền chức vụ ủy viên Cộng hòa và ngày 16/4, phái đoàn Quốc hội Việt Nam đáp máy bay đi Paris, ngày 25 thì đến nơi. Ngày 17, các phái đoàn đàm phán đến Đà Lạt.
______________________________________
1. Một cuộc biểu tình tại Sài Gòn đòi lập một chính phủ lâm thời của nước Cộng hòa.
2. Ở đây, ông đô đốc nói rằng sáng kiến của ông phù hợp với các chỉ thị của bộ trưởng Hải ngoại Pháp.
3. Tiếng La tin trong nguyên văn: ultima ratio.
4. Tác giả gạch chân - LND

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #67 vào lúc: 12 Tháng Mười, 2009, 11:31:36 pm »


Thủ đoạn Trung Quốc


Phía Trung Quốc rất lo ngại trước sự giao hảo Việt - Pháp nhờ Hiệp định sơ bộ mà đang bước vào một giai đoạn mới. Họ định làm cho tình hình thêm phức tạp bằng cách gây ra những vụ rắc rối và ủng hộ những hành vi khủng bố. Nếu xảy ra xung đột thì quả tình phía Việt Nam buộc lòng phải quay sang với Trung Quốc và hai đảng Việt Nam Quốc dân và Đồng Minh Hội là những đảng luôn luôn tố cáo Việt Minh hợp tác với Pháp để phản bội Tổ quốc mình, chắc chắn sẽ là người hưởng lợi.

Ngày lễ Phục sinh, 21/4, một sự kiện rất quan trọng đã khiến cho quân Pháp và quân Trung Quốc đối đầu với nhau; nhưng đối lại với sự khiêu khích của Trung Quốc, quân Pháp đã trả lời bằng sự can thiệp tức thời và rất quyết liệt. Bị thất bại, quân Trung Quốc mất cả thể diện và người dân Việt Nam bây giờ đã thấy rõ sức mạnh thuộc về ai. Tiếp theo sự phản đối tại chỗ của quân đội Pháp, là ngày 25/4, tướng Juin tổng tham mưu trưởng của quân đội Pháp, đến thăm Hà Nội; sự kiện này tạo ra một sức ép mới. Juin vừa từ Trung Quốc đến. Chính phủ Trung Quốc đã tỏ ra tán thành việc rút lui nhanh chóng quân đội Trung Quốc ra khỏi Bắc Kỳ. Do Juin thúc ép, tướng Trung Quốc Lư Hán cuối cùng đành phải chấp nhận rút khỏi Hà Nội trong một ngày rất gần và triệu hồi quân đội về nước. Đồng thời, d’Argenlieu yêu cầu Leclerc chỉ thị cho Valluy phải yêu sách: từ đây quân đội Pháp tại Bắc Kỳ sẽ tham gia vào việc giữ gìn trật tự công cộng vì “cảnh sát Việt Nam vừa tỏ ra quá bất lực”. (36).

Đây sẽ là bước đầu của một sự hợp tác.





Đà Lạt: chủ quyền có giới hạn “kiểu Bidault”


Hội nghị trù bị khai mạc tại Đà Lạt ngày 19/4 và ngày 20/4, giữa phiên họp toàn thể, ông Cao ủy phát biểu với các đại biểu Chính phủ Hà Nội một bài thuyết minh hùng hồn ca ngợi chính sách liên bang.

Một khi nhận thấy từ “Liên bang Đông Dương” gây điều lo ngại cho những kẻ đối thoại của mình, ông ta tìm cách khéo léo để trấn an họ:

“Chính sách Liên bang là một điều đã có từ xa xưa trên thế giới. Thực chất nó là gì? Một hệ thống chính trị trong đó một số nước tự trị... vui lòng hy sinh một cách tự nguyện, vì quyền lợi chung, một mảng nhỏ chủ quyền của mình. Cái lợi ích chung ở đây đã và thông thường là nền an ninh chống lại những nước láng giềng quá mạnh. Cái lợi ích chung đó tự khẳng định ngày một rõ ràng thêm đó là sự an ninh kinh tế trước những mối đe dọa quen thuộc. Cái lợi ích chung đó có thể là sự bảo vệ một lý tưởng chính trị, xã hội, thậm chí tôn giáo”...

Ông đô đốc khó lòng thuyết phục nổi người Việt Nam, vì người Việt Nam, về phía họ, muốn có một nền tự trị rất gần với độc lập và muốn chính mình thực hiện chủ quyền của mình, nhưng về mặt kinh tế, họ lại tỏ ra khá mềm dẻo. Như vậy, theo biên bản, tiểu ban kinh tế và tài chính sẽ nhất trí với nhau về sự cần thiết phải có một sự thống nhất thuế quan, sự lưu thông hàng hóa và sự đi lại của dân chúng tự do giữa các nước của liên bang, sự phối hợp và tương đồng hóa chính sách thuế quan, còn có điểm bất đồng ở mặt phân chia thu nhập về quan thuế. Nhưng về chế độ những tài sản của Pháp và ngay cả về vấn đề “hợp tác văn hóa” thì khó mà tìm được một tiếng nói chung. Các chủ tịch của hai tiểu ban, Max André và Nguyễn Tường Tam (Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam CHDC) sẽ không tìm được nổi cái tiếng nói đó và nhân vật chủ chốt của cuộc hội nghị rõ ràng sẽ là Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Quốc phòng của Chính phủ Hà Nội.

Vấn đề Liên bang (quyền lực của các quốc gia thành viên và của Chính phủ Liên bang, vấn đề các dân tộc ít người v.v...) không dẫn đến được một thỏa ước nào; và người ta đành quyết định sẽ bàn về vấn đề này trong hội nghị Paris. Đúng là về phía Pháp, trong lãnh vực này, người ta bị ràng buộc bởi nhiều chỉ thị rất cụ thể, trong đó những chỉ thị của Bộ trưởng Ngoại giao đề ngày 29/3 không phải là những chỉ thị kém kiên quyết nhất:

“Mục đích là làm sao thuyết phục được Chính phủ Việt Nam chấp nhận sát nhập Việt Nam (bất kể dưới hình thức định nghĩa địa lý nào về nó) vào một Liên bang Đông Dương và vào Liên hiệp Pháp.

“Quyền tự do thiết lập quan hệ ngoại giao riêng biệt với các nước ngoài, dù là nước láng giềng, của một nước bất kỳ nào của Liên bang sẽ là trái với bản thân nguyên lý Liên bang. Vậy sẽ không có vấn đề dành cho Việt Nam cái quyền tụ do đó. Việc xin gia nhập Liên Hiệp Quốc là không thể đi đôi với ý niệm một Liên bang và cần phải gạt đi một cách kiên quyết”
(37).

Tuy nhiên, trong phiên họp ngày 8/5, một hiệp nghị căn bản đã thực hiện được trên nguyên tắc:

“Việt Nam gia nhập Liên hiệp Pháp với tư cách là một nước hội viên”.

Nhưng những điểm bàn nẩy lửa tại hội nghị Đà Lạt là vấn đề thống nhất của Việt Nam, nẩy lửa vì phái đoàn Pháp khước từ mọi thảo luận về Nam Kỳ dưới bất cứ hình thức nào. Phái đoàn Hà Nội bị xúc động cao độ.

Còn về phái đoàn Pháp, dường như nó đã cảm nhận cuộc đấu tranh mặt đối mặt ấy với một thái độ định kiến điên khùng. Trong các bản tổng kết hoặc biên bản, người ta đọc thấy:

“Tất cả đều cho thấy rõ rằng: cái văn bản tư tưởng chính trị của Chính phủ Hà Nội là ý niệm độc lập hoàn toàn và tuyệt đối. Tất cả mọi đề nghị trong cuộc họp đều khẳng định ý chí loại bỏ nước Pháp (38 )... Phải thấm nhuần cái điều này, là kẻ thù của ta muốn đuổi chúng ta ra khỏi xứ sở này (Nam Kỳ)” (39).

Tuy vậy, ngày 11/5, đô đốc d’Argenlieu sẽ kết thúc công việc với một lời ghi chú có vẻ lạc quan:

“Cuộc hội nghị... đã làm việc trong trật tự, với tinh thần ngay thẳng, thân ái; nó đã cho phép nói rõ lên và chi tiết rất nhiều điểm mà quan điểm của hai bên có vẻ như còn trái nhau. Tôi nói “trái nhau” chứ không nói “mâu thuẫn” nhau. Sẽ là thiếu thận trọng thật sự nếu chúng ta kết luận rằng những điều bất đồng ấy sẽ không được san bằng đi một ngày nào đó. Đây là vấn đề thiện chí, vấn đề kiên trì và vấn đề thời gian...” (40).

Hôm sau ngày bế mạc hội nghị, tức ngày 14/5, ông đô đốc đến Ban Mê Thuột để tiếp nhận “Lời Thề Lớn” (sẽ trung thành với nước Pháp) của các lãnh tụ các bộ tộc người Thượng Tây Nguyên. Ngày 8/5 (tức ngày trước hôm bế mạc hội nghị), trong một bức thư gửi Leclerc, ông ta đã yêu cầu Leclerc dự kiến trong một tương lai gần sẽ “tăng cường một cách quả quyết công cuộc Bắc Tiến của chúng ta theo hướng Pleiku và Kontum”, bởi “chúng ta phải mở rộng quyền lực của chúng ta ở Trung Bộ theo hướng vĩ tuyến 16, đặc biệt là lên vùng người Thượng”. Nhưng Leclerc ghi chú: “Chúng ta có thể làm việc này lúc nào chúng ta muốn; nhưng vấn đề là phải biết chúng ta sẽ có ích lợi gì không khi chúng ta tăng thêm những khó khăn của chúng ta đối với Việt Nam”. Vấn đề cấp thiết đối với ông ta (Leclerc) là làm sao buộc được người Trung Quốc phải ra đi.

Vả lại d’Argenlieu, ngày 14/5, sẽ thừa nhận rằng những cuộc hành quân lên Pleiku và Kontum, dĩ nhiên là sẽ “được chỉ đạo một cách quả quyết và nhanh chóng, chỉ có thể tăng thêm những nỗi khó khăn của chúng ta đối với Chính phủ Việt Nam và gây nên một cuộc khủng hoảng gay gắt tại miền Bắc Đông Dương”... (41).
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #68 vào lúc: 12 Tháng Mười, 2009, 11:32:47 pm »


Quy chế “nước Nam Kỳ”


Bản dự án về Nam Bộ của ông đô đốc đã được trình bày ở Paris qua bức điện của ông ta ngày ¾. Bức điện này đã “chạm trán” với một công hàm của Moutet nói rõ cho Cao ủy về vấn đề Nam Bộ như sau:

“Cần nói rõ ra rằng: sẽ không có cách gì để trưng cầu được dân ý chừng nào chưa lập lại được trật tự, những nhóm vũ trang còn tồn tại ở các tỉnh và những hành động khủng bố vẫn còn tiếp tục. Sẽ cần thiết là trước tiên phải chỉnh đốn lại các tổ chức địa phương, xã và tổng” (42).

Một bức điện ngày 15/4, vẫn của Moutet, có xen vào một lời ghi chú thận trọng. Ông Bộ trưởng cho rằng “dĩ nhiên chúng ta phải khéo léo để đừng lộ mặt là những người chủ trương tuyên truyền cho chế độ tự trị của Nam Kỳ mà chủ trương ấy xuât phát từ chính những người Nam Kỳ” (43).

Chỉ sau đó ít lâu, khi Hội nghị Đà Lạt đã khai mạc rồi, ông đô đốc mới nhận được bức điện ngày 21/4, càng làm cho ông quả tình là khó xử:

“Tôi không giấu Ngài rằng vấn đề Nam Kỳ hiện nay là một trong những mối lo ngại băn khoăn của Bộ. Không còn nghi ngờ gì nữa, việc thống nhất ba kỳ là một yêu sách cơ bản của Việt Nam.

“… Ngày 6/3, chúng ta đã cam đoan sẽ “công nhận những nghị quyết của nhân dân thông qua các cuộc trưng cầu dân ý”. Mọi sáng kiến chính thức sau thời hạn này có thể coi như một sự tuyên truyền cho chế độ tụ trị của Nam Kỳ đều cần thiết phải tránh. Chúng ta phải đứng trên cuộc bàn cãi và phải đóng vai trọng tài. Chính là theo hướng đó mà qua bức điện của tôi ngày 15/4, tôi dự định có những cuộc tiếp xúc giữa những phần tử có trách nhiệm ở Nam Kỳ và ông Hồ Chí Minh để họ thảo luận với nhau về những vấn đề nội bộ của họ.

“Việc thành lập một chính phủ Nam Kỳ trung lập, dĩ nhiên, hiện nay không thể bị coi như là một thủ đoạn, nhất là khi chính phủ này sẽ đứng ra tổ chức cuộc trưng cầu dân ý đã dự định nói trên.

“Việc cử một phái đoàn Nam Kỳ cũng sẽ làm nẩy sinh những sự phản kháng của Việt Nam và chắc chắn cả những sự phản ứng có thể đặt chúng ta vào tình thế khó khăn. Tôi không nghĩ rằng người dân Nam Kỳ có thể buồn phiền gì về quan điểm của chúng ta: cuộc trưng cầu dân ý vẫn để cho họ hoàn toàn tự do bày tỏ nguyện vọng của mình và chính là chúng ta sẽ phải căn cứ vào sự phát biểu đúng đắn những ý muốn của họ để mà giới hạn hành vi của chúng ta. Chúng ta không nên tỏ ra là những kẻ bảo vệ cho một xu hướng nào.

“Bất cứ một sự xác định lập trường nào cũng sẽ đặt chúng ta vào một tình thế mà hoặc lòng trung thục của chúng ta, hoặc ý thức chính trị của chúng ta sẽ bị liên can, tùy theo kết quả của cuộc trưng cầu dân ý”
(44).

Ký tên: LABROUQUÈRE

Ông Labrouquère, cựu giáo sư đại học tại Đông Dương (và là Đảng viên Đảng Xã hội) ngày 15/4 đã thay Francois de Langlade là người mà đô đốc d’Argenlieu vẫn có những mối quan hệ tin cậy.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #69 vào lúc: 12 Tháng Mười, 2009, 11:33:47 pm »


Bức giác thư ngày 26/4


Sự đổi thay đó khích lệ ông đô đốc gửi về Paris ngay từ ngày 26/4, một bức giác thư: “Bước ngoặt chính trị tại Đông Dương”, mà ông cho là cơ bản bậc nhất và sẽ trở thành “văn kiện gốc” hoặc văn kiện tham khảo của ông trong nhiều tháng. Sau đây là một vài trích đoạn có ý nghĩa.

“Mục đích chính sách của chúng ta, mục tiêu đầu tiên và xác định của sứ mệnh của tôi là lập lại chủ quyền nước Pháp...

“Trách nhiệm đầu tiên đổ lên đầu chúng ta là duy trì và củng cố quyền lực của chúng ta tại những nơi mà tám tháng hoạt động vừa qua đã thiết lập được... Đối với Campuchia và Lào, trước mắt không có căn cứ gì để hoài nghi về tương lai.

“Đối với Nam Kỳ, thì nguy cơ của cuộc trưng cầu dân ý đang đè nặng.

“Khả năng may mắn đạt được đa số tán thành chế độ tự trị - chủ yếu sẽ phụ thuộc, tại xứ sở này vào sự minh bạch trong đường lối chính trị của chúng ta. Sự minh bạch ấy đã có cho đến ngày 6/3... Một chính phủ lâm thời sẽ được thành lập một cách tự do và Nam Kỳ sẽ trở thành một nước tự trị trong lòng Liên bang Đông Dương và Liên hiệp Pháp.

“Từ ngày 6/3, sự minh bạch ấy không còn nữa. Những văn bản đã được ký cuối cùng đã đem vào, ở giây phút cuối cùng, cái điều khoản quy định khả năng thống nhất ba kỳ sau một cuộc trưng cầu dân ý.

“Vậy là từ đây chúng ta cứ phải đi theo cái quá trình tiến triển ấy. Nó sẽ không thiếu gì chuyện bất ngờ...”


Ông đô đốc giải thích rằng Sài Gòn đang sửa soạn các cuộc bầu cử và hệ thống bầu cử sẽ hoàn thành trong vòng tháng sáu.

“Tuy không trực tiếp nhúng tay vào chiến dịch bầu cử, nhưng do bản chất những quyền lợi liên quan, nước Pháp buộc phải có một tư tưởng chính trị. Nó có thể ủng hộ sự tự trị của Nam Kỳ, trước sự bất bình quyết liệt của Chính phủ Hà Nội. Ngược lại, nó có thể ủng hộ sự thống nhất ba kỳ một cách bất lợi cho quyền lực của Pháp. Nó cũng có quyền từ chối.

“Chỉ một lập trưởng có tính chất tư tưởng hệ và giáo điều mới nghiêng về ủng hộ sự hợp nhất ba kỳ và đưa chúng ta lẽo đẽo theo gót Chính phủ Hà Nội”.


Và ông đô đốc ra sức “chứng minh” rằng yêu sách đó của Hà Nội chẳng có một căn cứ nào cả, về địa lý không, về lịch sử không, về kinh tế cũng không.

“Còn cái luận cứ về ngôn ngữ thống nhất thì hoặc nó rất trẻ con, hoặc nó bị “ô nhiễm” vì một chút hơi hướng chủng tộc chủ nghĩa. Luận cứ về ngôn ngữ thống nhất ấy chẳng phải đã từng là cái luận cứ của Hitler để cưỡng bách các dân tộc thiểu số Đức phải biến tan đi trong Đại Đế quốc Đức sao?

“Thực ra ở Đông Dương, sứ mệnh của nước Pháp đã và vẫn còn là bảo vệ các dân tộc ít người chống lại xu hướng Đế quốc chủ nghĩa của người An Nam
(tức người Kinh - LND). Xu hướng này đã được “Đạo thập tự quân” Việt Minh đang cầm quyền tăng cường và củng cố. Ở đâu có chính quyền Việt Minh là ở đó có kỹ thuật và chiến thuật du kích sẽ còn ngự trị lâu dài với chính sách khủng bố và hận thù của họ.

“Để thu được vài lợi ích nhất thời trong việc liên kết ba kỳ, nước Pháp đã phải dâng tất cả một cách độ lượng ngày 6/3/1946, cho lợi ích riêng một Chính phủ Hà Nội. Làm như vậy, chẳng hóa ra là nước Pháp đã phạm một điều bất công đáng kể đối với những con người trung thành nhất với chúng ta ở Lào, ở Campuchia và nhất là ở Nam Kỳ sao?

“Nếu như sau một cuộc trưng cầu dân ý không đượcc chuẩn bị cẩn thận theo một chính sách rõ ràng, quyền lực của nước Pháp bị loại bỏ ra khỏi Nam Kỳ, thì thế là cả Liên bang Đông Dương và nói gọn là Đông Dương “đi đời”. Sớm muộn gì rồi nước Đại Nam cũng sẽ xâm nhập và thôn tính Lào và Campuchia. Nhưng cho đến khi có lệnh mới, chúng ta giữ vững Nam Kỳ và đây sẽ là một con bài tốt nhất của chúng ta trong lúc cuộc đàm phán được tiến hành tại Paris vào khoảng cuối tháng năm sang đầu tháng sáu...”


Đến đây ông đô đốc nghiên cứu xem chuyện gì sẽ có thể xảy ra trong trường hợp cuộc đàm phán với Việt Nam thất bại.

“Sự thất bại đó không nhất thiết sẽ kéo theo một sự đoạn giao quyết liệt và sự rút quân của chúng ta ở miền Bắc Đông Dương. Chúng ta sẽ tiếp tục một cách bình thường cái công việc mà chúng ta đã bắt đầu.

“Trong giai đoạn một, Bắc Kỳ và Bắc Trung Kỳ có thể vẫn tồn tại như một quốc gia tự trị nằm trong Liên hiệp Pháp, chúng ta sẽ cố gắng duy trì những mối dây liên hệ đó. Bên rìa quốc gia tự trị đó, chúng ta cứ hoàn tất tổ chức Liên bang các quốc gia gia mà không tỏ chút gì thù địch với miền Bắc cả. Sang giai đoạn hai, Quốc gia tự do miền Bắc - nơi đó các Đảng phái cạnh tranh nhau thống trị - có thể sẽ trở về với Liên bang, ít thất cũng về phương diện quân sự kinh tế và văn hóa.

“Chỉ còn việc là Chính phủ Cộng hòa (Pháp) nhận lấy phần trách nhiệm riêng của mình và quyết định kịp thời nên theo hướng này hay hướng khác trong đường lối chính trị của mình. Đây là điều tối cần để cho công việc có hiệu quả”
(45)

Đã ký: D’ARGENLIEU

Ông đô đốc đã gửi sang Pháp một phái đoàn của “Nam Kỳ” do Đốc phủ sứ Chấn lãnh đạo, cùng với Đại tá Xuân. Phái đoàn đã rời Sài Gòn ngày 23/4. Nó sẽ tới Paris cùng một lúc với phái đoàn Hà Nội, mà Quốc hội Pháp đón tiếp ngày 26/4.

Nhưng nước Pháp đang giữa chiến dịch bầu cử, sẽ không gửi thêm chỉ thị nào cho ông đô đốc. Ủy ban Liên bộ về Đông Dương chỉ đến ngày 7/5 mới họp. Trong lúc chờ đợi, bằng cuộc trưng cầu dân ý, ngày 5/5, các cử tri Pháp đã bác bỏ dự án Hiến pháp do Quốc hội trong đó Đảng Xã hội và Đảng Cộng sản chiếm đa số, soạn thảo ra. Một Quốc hội mới phải được bầu ra, lần này vào ngày 2 tháng 6... Ông Moutet và ông Labrouquère đều là ứng cử viên Quốc hội và họ phải tiến hành cuộc vận động bầu cử.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM