|
Tiêu đề: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: kien098 trong 25 Tháng Tám, 2007, 02:44:57 pm Trong kỹ thuật quân sự, có rất nhiều thuật ngữ được sử dụng bằng tiếng Anh, trong khi tiếng Việt có từ tương ứng.
Em lập topic này đề nghị các bác: - Không ăn cơm độn: các bài viết bằng tiếng Việt, nếu thuật ngữ có từ Việt, Hán Việt hoặc từ đặc trưng tương ứng, nên sử dụng. Nhân tiện lập luôn được 1 tham chiếu từ kỹ thuật quân sự - Nếu các bài tiếng Tây: thuật ngữ sử dụng nên có dạng song ngữ (Anh - gốc) Em mở màn: HE: High Explosive -> thuốc nổ mạnh. damage radius -> bán kính sát thương ??? ??? ??? Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 23 Tháng Mười, 2007, 04:18:22 pm Em xin tiếp chiêu: TNT: thuốc nổ thường ;D TNT là tên 1 loại thuốc nổ thông thường chứ nó đâu có nghĩa là thuốc nổ thông thường? He he he he he he he he. Mới về. Đang có nhu cầu nhậu với anh em đây. TNT là ký hiệu hay dùng của một hợp chất: Tri-Nitro-Toluen (tiếng Việt), C6H2(NO2)3CH3. Hợp chất này nổ cũng tốt, tuy nhiên, các thuốc nổ thường là hỗn hợp của anh này với một số thứ. Tritonal là hỗn hợp TNT(80%) và bột nhôm (20%). Gọi nó là thuốc nổ cũng được, gọi nó là chất nổ cũng được, nhưng gọi nó là thuốc nổ thường e rằng xa quá. Ờ, thế hỏi anh em, missile là cái gì. Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: chiangshan trong 23 Tháng Mười, 2007, 04:36:04 pm Ờ, thế hỏi anh em, missile là cái gì. Tên lửa có điều khiển ? À nhưng mà thế lại trùng với guided missile. Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 23 Tháng Mười, 2007, 06:00:05 pm Ờ, thế hỏi anh em, missile là cái gì. Tên lửa có điều khiển ? À nhưng mà thế lại trùng với guided missile. Khoai phết đấy. he he he he he he he he. Mình chú ý đến điều này vì ngay cả các tiến sỹ giấy cũng nhầm nhiều ra phết. Missile không phải là tên lửa, vì tên lửa là rocket. Tên lửa gắn lièn với thuốc nổ. Vịt theo Tầu gọi tên lửa hỏa tiến rồi. Tây biết thuốc nổ vào thế kỷ 13, lúc đó, dân quí sờ toọc La Mã được xem pháo hoa. Rocket=rốc-két là từ xuất xứ tiếng Ý là hoa cải (cũng nghe nói thé thôi, ai bit tiếng ý giải nghĩa hộ). Nhưng missile là khác, chính vì khác biệt này mà rất nhiều người nhầm lẫn. Một số nhầm lẫn chấp nhận được nhưng phần lớn là sai. Chúng ta làm quân sử tất nhiên phải cẩn thận về ngôn từ. he he he he Đố mọi người bít. (à, mà không dố Trường Sơn, cậu tra tiếng tầu thì ra ngay, à-mà cậu tra tiếng tầu ra sao cứ bốt lên tớ xem cái). Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: chiangshan trong 23 Tháng Mười, 2007, 11:23:09 pm Bác chơi khó rồi, em có biết tiếng tầu nào đâu.
Về từ ngữ em thấy sách vở của nhà ta hay gọi rocket là hoả tiễn, pháo hoả tiễn rồi pháo phản lực. Missile là tên lửa. Còn phân loại thì rocket là tên lửa không dẫn hướng, missile là tên lửa có dẫn hướng. Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: ov10 trong 24 Tháng Mười, 2007, 01:17:28 am Hôm trước xem VTV có đoạn: VN chuẩn bị mua thên "tàu bay" chở khách...
Dùng từ cũ, nghe rất dân gian. Lại nhớ tới đường Tàu Bay ở HN ngày xưa. Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: Nina trong 26 Tháng Mười, 2007, 06:14:10 pm Thường thì Nina rất hay gặp khó khăn trong việc dịch thuật ngữ Nga - Việt. Lý do là vì không biết nó nghĩa là gì, và không thạo thuật ngữ trong cả hai thứ tiếng. Vậy trong chủ đề này có thể gửi câu hỏi về thuật ngữ được không hả các mods, tất nhiên là sau khi đã tra từ điển nhưng không tìm được câu trả lời lọt tai :D
Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: 10con3 trong 26 Tháng Mười, 2007, 07:58:44 pm Hôm nay tôi đi triển lãm sách, thấy có cuốn "Từ điển BK quân sự VN" vô cùng quy mô do 1 tập thể nhiều tướng, tá tham gia soạn thảo. Nhưng giá thì đắt quá : 720.000đ/cuốn.
Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: dongadoan trong 26 Tháng Mười, 2007, 08:07:16 pm Chú đừng nhắc nữa mà anh...đau lòng! Mình có cuốn này, hồi cuối năm ngóai đi học, bọn ở nhà nó dọn phòng nó làm mất --> tiếc đứt ruột! Giờ muốn tra gì lại phải lên mượn thư viện!
Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: 10con3 trong 26 Tháng Mười, 2007, 08:28:27 pm Mua lại quyển khác đi bác. Ít nhất cũng phải được giảm giá 20%, kiếm chỗ kha khá chắc được giảm 30%.
Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 27 Tháng Mười, 2007, 08:44:16 pm Bác chơi khó rồi, em có biết tiếng tầu nào đâu. Về từ ngữ em thấy sách vở của nhà ta hay gọi rocket là hoả tiễn, pháo hoả tiễn rồi pháo phản lực. Missile là tên lửa. Còn phân loại thì rocket là tên lửa không dẫn hướng, missile là tên lửa có dẫn hướng. Tên lửa trong tiếng Anh là rocket. Những thứ gì lấy tên lửa làm động cơ cũng thường gọi luôn là rocket (hiện tượng nói tắt thường thấy). Missile trong tiếng Anh là đạn tự hành, chấp nhận chuyện viết là missle. Ở wiki tiếng Anh trước đã có người nói đúng, nhưng sau bọn nó xóa sạch, xóa cả history. Tiếng Tầu là đạo đạn 飛彈, đạo này là đạo dẫn, dẫn dắt của đạo giáo đấy. Trước đây cứ đạn có điều khiển là missile, nhưng gần đây Mỹ hay dùng là đạn có tự đẩy và điều khiển. Như vậy, missile là đạn được dẫn, đạn có diều khiển, đạn tự hành.....ATGM là đạn chống tăng có điều khiển, AGM là đạn có điều khiển không đối đất. Trước đây nhà mình dịch rất chuẩn, SAM là đạn đất đối không có điều khiển, báo cáo lính đều ghi là đạn, chỉ mấy ông nhà báo lúc nào cũng tên lửa. Bây giờ nhiều cái tên lửa quá sai, nhưng tớ nghĩ chúng mình đừng lên sai. Ví dụ, BGM-109 Tomahaw là đạn có điều khiển, AS-1 cũng là đạn có điều khiển, nhưng không phải tên lửa. Người Nga gọi là đạn có cánh, mấy nhà báo dốt hồi trước nhầm thành tên lửa (cuối những năm 1970), những mấy thằng dốt ấy to quá, thành ra phải sai theo báo đảng. Hai loại đạn trên có động cơ chính là động cơ Turbine, không phải động cơ tên lửa. Hay AGM-62 không có tí động cơ nào (AGM- air to suface missile), không phải là tên lửa cũng chả máy bay, nó là bom lượn. AS-1 ban đầu được gọi là đạn dạng máy bay, sau Nga gọi chung là đạn có cánh, Mỹ gọi những đạn có động cơ hoạt động trong suốt hành trình là đạn hành trình. Vũ khí thì hay lấy tên lửa làm động cơ nên đạn có điều khiển đa phần là tên lửa, như ATGM AT-3 hay SAM-2 đều là tên lửa. Nhưng rõ ràng, missile hay được nhầm làm tên lửa, và nhiều cái tên lửa không phải missile. Ngư lôi cũng là một loại missile, đạn hành trình đạn có cánh đa phần không dùng động cơ tên lửa làm động cơ chính nhưng là missile. Theo tớ, chúng mình nên "bầu" ra một từ thay thế, nhiều người sai, nhưng chúng mình không nên sai. Việc dùng từ nào chưa biết, còn tùy anh em. Nhưng phải có 'đạn', có vào hợp lý ngay. Chả cần biết nó là tên lửa, bom, hay máy bay nhưng làg đạn tất, rất hợp lý. Tuy vậy, "bầu" xong từ mới cũng cần nhắc nhau dùng mới quen. Trước khi "bầu cử" từ này, chúng ta thảo luận tiếp thiết giáp và bọc thép. Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: chiangshan trong 27 Tháng Mười, 2007, 11:06:30 pm Thế các bác phân biệt mấy cái này như thế nào :D
- Fighter Ground Attack - Fighter-Bomber - Ground Attack Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 28 Tháng Mười, 2007, 05:55:19 pm Thế các bác phân biệt mấy cái này như thế nào :D - Fighter Ground Attack - Fighter-Bomber - Ground Attack Theo ý tớ thôi nhé, mấu thuẫn tí nữa giải guyết ở Lan Chín. - Ground Attack là tấn công mặt đất. - Bomber ném bom - Fighter là đánh nhau Tất nhiên, ném bom cũng là xuống đất. Nhưng người ta phân biệt Ground Attack khi phải tấn công chính xác những mục tiêu có bảo vệ tốt. Trước đây, dể tấn công chính xác có mỗi bổ nhào nên còn gọi là ném bom bổ nhào. Sau này có thể bằng đạn có điều khiển, pháo... Ngày nay, việc tấn công mặt đất yếu cầu nhiều chức năng phức tạp nên tách ra một dòng riêng là chống thiết giáp hạng nặng. Các tấn công mặt đất bao gồm nhiều tính năng như các khả năng tìm kiếm, theo dõi, chỉ thị mục tiêu, tương thích với vũ khí mang theo, vận động linh hoạt, bảo vệ tốt (do ở tầm thấp). Bomber được dùng khi máy bay ném được bom nhưng không có hay yếu những tính năng tấn công chính xác, như các ném bom rải thảm là bomber. Fighter là một kiểu chiến đấu trên không, chiến đấu trên không bao gồm kiểm soát bầu trời và đánh chặn. Kiểm soát bầu trời là phải bay lâu, kiểm soát bầu trời, chống lại máy bay địch để máy bay ta Ground Attack và bombard. Thông thường Fighter hộ tống các bomber sang đất địch nướng chả. Còn đánh chặn interceptor là máy bay đánh nhanh, nhờ tập trung vào chiến đấu trên không nên chiến đấu trên không tốt hơn. Thông thường có động lực rất mạnh mẽ, ít vũ khí nhưng vũ khí khí tài tốt. Khả năng kiểm soát bầu trời kém hơn Fighter như thời gian bay ngắn, vũ khí ít. Thông thường nhất interceptor tiến ra nghênh chiến Fighter và các bomber. Ném bom rải thảm rất to lớn đường dài nên đi riêng một kiểu. Nhưng các chức năng - Fighter Ground Attack - Fighter-Bomber - Ground Attack thì có thể làm trên một máy bay. Ví như F-4 có đủ Fighter và Bomber . SU-24 là bomber nhưng SU-25 là Ground Attack. SU-27 là Fighter-Ground Attack. F-4 khi đối đất thì chỉ là Fighter-Bomber vì không có khả năng chống tank, chống công sự kiên cố, chống mục tiêu di động. Việc làm chung chức năng trên máy bay (đa năng) rất quan trọng với hải quân do tầu sân bay chật hẹp, không thể chứa nhiều máy bay. Nhưng làm chung chức năng thì các chức năng đôi khi giảm đi. Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: Lizzy trong 29 Tháng Mười, 2007, 01:58:16 pm - Fighter Ground Attack - Ground Attack là tấn công mặt đất. Tất nhiên, ném bom cũng là xuống đất. Nhưng người ta phân biệt Ground Attack khi phải tấn công chính xác những mục tiêu có bảo vệ tốt. hì..........hì....... em nói trước là kiến thức quân sự của em = 0, nên em chỉ nói trên phương diện em search của anh Gu gồ thôi nhé :D Em đọc thấy nó giải thích thì cái ground attack nó chỉ là tấn công những mục tiêu cụ thể dưới đất thôi chứ không có nói đến được bảo vệ tốt :D vì những ví dụ đưa ra như tấn công bộ binh, hay tăng thì theo suy nghĩ của em đâu có được bảo vệ tốt đâu ạ còn định nghĩa về fighter ground attack của em Sơn đây :D Like most combat aircraft classifications the definition of ground attack is somewhat vague. A key difference between it and otherwise similar designs like attack aircraft is the expectation that they will receive small arms fire and are generally armored to protect the pilot against this threat. In general a ground attack aircraft will also be smaller and more "fighter like" than designs like strike fighters, attack aircraft or interdictors. Có bác nào giải thích cho em cái "small arms" nó là cái gì không ạ :D đọc thì em hiểu nghĩa nhưng k kiếm được từ chính xác (vốn từ quân sự của em hẻo quá) Hì.............hì........ cái topic này em thấy hay, nên em tham gia có yếu kém các bác từ từ chỉ dẫn, k nặng lời nhá :D Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 29 Tháng Mười, 2007, 03:06:14 pm - Fighter Ground Attack - Ground Attack là tấn công mặt đất. Tất nhiên, ném bom cũng là xuống đất. Nhưng người ta phân biệt Ground Attack khi phải tấn công chính xác những mục tiêu có bảo vệ tốt. hì..........hì....... em nói trước là kiến thức quân sự của em = 0, nên em chỉ nói trên phương diện em search của anh Gu gồ thôi nhé :D Em đọc thấy nó giải thích thì cái ground attack nó chỉ là tấn công những mục tiêu cụ thể dưới đất thôi chứ không có nói đến được bảo vệ tốt :D vì những ví dụ đưa ra như tấn công bộ binh, hay tăng thì theo suy nghĩ của em đâu có được bảo vệ tốt đâu ạ còn định nghĩa về fighter ground attack của em Sơn đây :D Like most combat aircraft classifications the definition of ground attack is somewhat vague. A key difference between it and otherwise similar designs like attack aircraft is the expectation that they will receive small arms fire and are generally armored to protect the pilot against this threat. In general a ground attack aircraft will also be smaller and more "fighter like" than designs like strike fighters, attack aircraft or interdictors. Có bác nào giải thích cho em cái "small arms" nó là cái gì không ạ :D đọc thì em hiểu nghĩa nhưng k kiếm được từ chính xác (vốn từ quân sự của em hẻo quá) Hì.............hì........ cái topic này em thấy hay, nên em tham gia có yếu kém các bác từ từ chỉ dẫn, k nặng lời nhá :D Chào bé mới quen, bé dễ thương quá, thía mừ bi giừ mới bít. sờ mon am rờ là vũ khí nhỏ, tức cái giáp yếu đó chỉ chống được súng nhỏ thui mừ. Vũ khí nhỏ được bắn từ mục tiêu. Em nói đúng đấy. Có điều chứ rõ thôi. Mục tiêu cụ thể của máy bay mặc định là được bảo vệ tốt. Mục tiêu không cụ thể, tức động tác rải thảm thì chỉ cần bom nổ cách nhau hàng trăm mét, nhà dân đổ người chết, thế là được. Nhưng công trình quân sự cầu cống... bom nổ trên đầu chưa chắc đã chết, cần đánh rất chính xác, mới là mục tiêu cụ thể. À bé, anh đang xem kịch ở VTV-3, đang có vài over and over, thổi sáo hay thật. Cái missile mình không hiểu nên gọi là gì nhỉ. Đạn tự hành thì có vẻ đúng, hay là đạn tự đẩy. Nhìn chung bây giờ nói đạn tự hành Tomahaw có vẻ lạ tai nhỉ. Nhưng tên lửa Tomahaw là sai, Tomahaw có thể có hoặc không động cơ tên lửa xuất phát, nhưng động cơ chính là động cơ turbine, động cơ máy bay. Người nước ngoài cũng không nói Rocket Tomahaw bao giờ cả. Về thiết giáp và bọc thép. tớ thấy trong nhiều ngôn ngữ, đều tồn tại thiết giáp và bọc thép, như armour và ironclad. Mình có cảm giác bọc thép ironclad là bọc thép nhẹ, còn thiết giáp armour là giáp dầy. Ví như những chỗ bảo vệ quan trọng của BattleShip thì là armour, còn tầu ram gỗ bọc thép là ironclad. Có đúng không nhỉ. Còn cái này nữa, cánh quạt và chân vịt, đều là Propeller. Thế lúc nào nó là cánh quạt và lúc nào nó là chân vịt nhỉ. Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: Lizzy trong 29 Tháng Mười, 2007, 05:35:42 pm Trích dẫn Cái missile mình không hiểu nên gọi là gì nhỉ. Đạn tự hành thì có vẻ đúng, hay là đạn tự đẩy. Nhìn chung bây giờ nói đạn tự hành Tomahaw có vẻ lạ tai nhỉ. Nhưng tên lửa Tomahaw là sai, Tomahaw có thể có hoặc không động cơ tên lửa xuất phát, nhưng động cơ chính là động cơ turbine, động cơ máy bay. Người nước ngoài cũng không nói Rocket Tomahaw bao giờ cả. Bác ạ, em search tiếp, thì thấy nước ngoài họ nói Trích dẫn The main difference between rockets and missiles are that rockets have no guidence. Missilse can turn and track a target, while a rocket has to be aimed directly at a target. Simply put, a missile is a "smart" rocket. Nếu cái missile là smart rocket, thì mình dịch là tên lửa cũng đâu có sai, nên việc gọi Tomahaw là tên lửa tomahaw cũng vẫn chấp nhận được đấy chứ ạ :D Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: chiangshan trong 29 Tháng Mười, 2007, 06:18:07 pm Có lẽ AGM-62 là trường hợp đặc biệt bác Phúc ạ. Trên wiki tiếng Anh nó cũng viết thêm thế này : The designation of the Walleye as an "air-to-ground missile" is something of a misnomer, as it is a unpowered bomb with guide avionics, similar to the more modern GBU-15.
Những thằng khác đều có động cơ cả. Hồi trước có lần em đã thử định nghĩa "rocket" là "đạn phản lực không điều khiển", vậy "missile" là "đạn phản lực có điều khiển". Nhưng em nhớ hình như những thằng dùng động cơ turbine cũng đều có động cơ tên lửa để khởi động trước thì phải, thế thì gọi là "tên lửa" cũng châm chước được :D - Nhưng các chức năng - Fighter Ground Attack - Fighter-Bomber - Ground Attack thì có thể làm trên một máy bay. Ví như F-4 có đủ Fighter và Bomber . SU-24 là bomber nhưng SU-25 là Ground Attack. SU-27 là Fighter-Ground Attack. F-4 khi đối đất thì chỉ là Fighter-Bomber vì không có khả năng chống tank, chống công sự kiên cố, chống mục tiêu di động. Fighter Ground Attack nhà ta dịch là "tiêm kích bom", Ground Attack hay Fighter-bomber gọi chung hết là "cường kích". Nhưng bọn Mẽo thì khi kí hiệu Su-22/24/25 hay F-105/111 lại đều dùng F (fighter). Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: dongadoan trong 29 Tháng Mười, 2007, 06:19:54 pm Nhưng em nhớ hình như những thằng dùng động cơ turbine cũng đều có động cơ tên lửa để khởi động trước thì phải, thế thì gọi là "tên lửa" cũng châm chước được :D
---------------------------------------------------------------------------------------------- Còn gọi là động cơ khởi tốc! Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 29 Tháng Mười, 2007, 06:59:53 pm Trích dẫn Cái missile mình không hiểu nên gọi là gì nhỉ. Đạn tự hành thì có vẻ đúng, hay là đạn tự đẩy. Nhìn chung bây giờ nói đạn tự hành Tomahaw có vẻ lạ tai nhỉ. Nhưng tên lửa Tomahaw là sai, Tomahaw có thể có hoặc không động cơ tên lửa xuất phát, nhưng động cơ chính là động cơ turbine, động cơ máy bay. Người nước ngoài cũng không nói Rocket Tomahaw bao giờ cả. Bác ạ, em search tiếp, thì thấy nước ngoài họ nói Trích dẫn The main difference between rockets and missiles are that rockets have no guidence. Missilse can turn and track a target, while a rocket has to be aimed directly at a target. Simply put, a missile is a "smart" rocket. Nếu cái missile là smart rocket, thì mình dịch là tên lửa cũng đâu có sai, nên việc gọi Tomahaw là tên lửa tomahaw cũng vẫn chấp nhận được đấy chứ ạ :D Em nhỏ nói đúng đấy, smart rocket thì gọi là tên lửa được. Nhưng smart rocket là missile, nhưng không phải tất cả missile là smart rocket. Cái này thì không ít người nhầm lẫn. Những cái search ấy nó nhầm đấy. Bọn Wiki tiếng Anh cũng cãi nhau ỏn tỏi. Tên lửa tiếng Anh là rocket. Những gì chạy bằng động cơ tên lửa gọi là tên lửa cũng được. Động cơ tên lửa là động cơ phản lực nhiệt, nhưng chỉ chạy bằng những gì nó mang theo, không hút vào cái gì cả. Động cơ turbine của Tomahaw là động cơ dùng không khí, động cơ máy bay, không phải động cơ tên lửa. Thực ra thì từ điển Oxford English Dictionary nói cũng rõ. Missile là đạn tự di chuyển đến mục tiêu, chứ không phải bắn bằng súng. Theo thói quen, ngày nay tiếng Anh người ta dùng missile như guided missile. Tức là đạn vừa tự đi, vừa được dẫn. Tiếng Tầu gọi missile là đạo đạn (导弹), đạo ở đây là dẫn dắt, đạn được dắt, cũng nghĩa trên. Phần lớn các đạn tự di chuyển đến mục tiêu là tên lửa, nên nhiều người cứ đinh ninh đạn tự đi đến mục tiêu là tên lửa. Ví dụ: Đạn tự hành đạn đạo, ballistic missile, người tầu phát chuẩn tức là đạn đạo đạo đạn, 弹道导弹 (http://army.news.tom.com/class/missile/dandao.html). 道 đạo này là đường, 导 đạo này là dẫn, đạn được dẫn đường đạn. Phần lớn các đạn ballistic missile là tên lửa đúng nghĩa, như V-2,Scud, R-24, R-7... nên phần lớn trong trường hợp này đều có thể dùng tên lửa đạn đạo. Vậy nên người ta dùng quen từ tên lửa đạn đạo, chính điều đó đã dẫn đến việc nhiều người tưởng rằng missile là tên lửa. Phần lớn các đạn chống tăng có điều khiển là tên lửa, nhưng nhiều đạn chống tăng bắn từ nòng pháo không có động cơ, tất cả chúng đều là ATGM (anti tank guided missile). Các đạn không đối đất của Mẽo là AGM (Air to Ground Missile). Ví dụ như đạn AGM-62 không có chút động cơ nào, không thể gọi nó là tên lửa được. http://www.fas.org/man/dod-101/sys/smart/agm-62.htm Tomahaw cũng vậy, Mỹ goi nó là Cruise missile BGM-109, đạn hành trình. http://www.globalsecurity.org/military/systems/munitions/bgm-109.htm . Đạn này có nhiều bản, phiên bản không đối đất hoàn toàn không có tí tẹo tên lửa nào. Lúc đó, dùng tên lửa Tomahaw là sai. Người Nga gọi những đạn này là đạn có cánh крылатый снаряд (крылатый=có cánh; снаряд=đạn), không liên quan gì đến tên lửa. Крылатая ракета là tên lửa có cánh, vì dụ như P-15 trưng bầy ở Bảo tàng Quân Đội. Người Nga có ngữ pháp và hệ thống từ rất rộng và chặt, nên dịch ra tiếng Việt nhiều người nhầm. Cùng là đạn chống hạm có cánh, nhưng KS-1 là đạn có cánh không phải là tên lửa có cánh, P-15 gọi là đạn có cánh cũng được mà tên lửa có cánh cũng được. KS-1 là máy bay MiG-15 không người lái, vậy gọi KS-1 là tên lửa tức là gọi MiG-15 là tên lửa được. P-15 có động cơ tên lửa nên gọi nó là tên lửa được, cũng như các đạn khác dùng động cơ tên lửa. Vấn đề là như vậy, nhưng bây giờ thay đổi cách nói rất khó. Tuy vậy, theo mình thì cứ đúng mà làm. Mình thấy rằng, gọi tất cả missile là đạn tự dẫn, đạn tự hành.... gì đó thì đơn giản hơn là tìm hiểu xem nó chạy bằng động cơ gì để gọi nó là tên lửa hay máy bay, hay bom, hay đạn, hay ngư lôi. Thay vì tìm hiểu nhức đầu ta cứ phang missile là đạn tự hành (giả sử ta đã thống nhất như thế), quá tít. Có mỗi việc cần làm là ta thống nhất xem gọi missile là gì một lần, sau cứ thế. To Đại trưởng Cự. BGM-109 có những bản xuất phát từ tầu ngầm, tầu thủy, máy bay. Những phiên bản phóng từ ống phóng tiêu chuẩn thì có động cơ tên lửa khởi tốc. Nhiều loại đạn chạy bằng không khí, những động cơ ramjet (dùng tốc độ để nén khí), có động cơ khởi tốc đến tốc độ mà ramjet chạy được. Tuy vậy, những động cơ đó không phải là động cơ chính. Ví dụ như phiên bản BGM-109 thả từ máy bay, không hề có động cơ khởi tốc. To Sơn. có đoạn đấy là cái mà những người không hiểu nghĩa lý giải để hợp thức hóa cái sai của họ đấy. Chuyện coi missile là tên lửa nước nào cũng có. Không riêng gì AGM-62 đâu, có rất nhiều phiên bản (mình không nhớ lắm, hình như có AGM-130 hay 138) đều có những phiên bản nhỏ hơn không và có động cơ. Trước đây mình cũng đau đầu missile là gì lắm rồi cố lý giải như Sơn, sau này mới biết, đó là những thứ không bắn đi từ súng mà bằng gì đó cùng với điều khiển đến được mục tiêu thôi. Phần lớn các cách tự đi như thế bằng tên lửa nhưng có những cách không là tên lửa. Sơn thấy không, không thể gọi MiG-15 hay những bom không động cơ là tên lửa. Trước đây wiki tiếng Anh cãi cọ ghê gớm vấn đề ấy lắm, nay nó đã thống nhất khá đúng và dọn dẹp lại rất gọn article http://en.wikipedia.org/wiki/Missile. Nó cũng nói đến chuyện người ta thường dùnh chung missile và guided missile. Thực ra nghĩa gốc của missile chỉ là đạn tự đẩy, đạn tự hành, tức là có cả rocket không điều khiển. Nhưng không hiểu tại sao ngày nay đều dùng missile với nghĩa guided missile. Có thể là nói tắt thành quen. Theo mình, có thể dùng đạn dẫn được không nhỉ. Có hai từ đạo trùng âm (đạo là dẫn và đạo là đường, mịe hai từ này lại cùng gốc mới ức). Anh em nghĩ ra cách nào hay đi ???? To Sơn. Về cái SU-25, mình thấy gọi là F chuối nhỉ. Con này thì không chiến gì. Đúng chức năng của nó là chống thiết giáp hạng nặng. Tốc độ cố lết bằng đốt đít mới lên đến M1 thì có mà không chiến với trực thăng. SU-22 coi là Ground Attack được nhỉ. SU-24 là ném bom hay tấn công mặt đất đều được. Không thể hiểu. Bọm Mỹ còn có phong tục đặt tên máy bay bùn cừi lắm. Như, nó chế ra một con F-4 gốc, rồi từ đó chế ra các con F-4 ném bom, F-4 không chiến, F-4 trinh sát.... Nhưng đều gọi là F-4 cả. F-111 tương ứng với MiG-23, nên MiG-23 cũng là dòng F ???? chuối???. Thật ra ban đầu Tầu dùng Tiêm Kích chỉ đánh chặn-không chiến nhẹ-Interceptor, Cường Kích chỉ máy bay kiểm soát bầu trời-không chiến nặng-air superiority-fighter, đều là không chiến. Nhưng sau chúng loạn tùng bậy lên. Nhưng các chức năng của máy bay lại nhiều hơn là tiêm với cường. Theo mình, hơi mệt nhỉ. Ví như F-4C=ném bom bổ nhào(Ground Attack), F-4D=không chiến nặng (fighter). F-4E thêm tính năng đánh chặn-không chiến nhẹ-Interceptor. Tuy vậy, đây là máy bay đa năng, khác biệt giữa các loại không nhiểu, mỗi loại đều có thể làm cả ba nhiệm vụ: khống chế bầu trời, tấn công mặt đất chính xác và hỗ trợ mặt đất bám sát (Air Superiority, Ground Attack, Close Air Support). Theo mình, đành bỏ công ra chọn cách dịch cho từng loại thôi. Nhưng cũng nên phiên phién đỡ mất công. Ví như MiG-15, MiG-17, MiG-21 là tiêm kích tất. MiG-19 và tất cả các loại F-4 là cường kích, tức là tất cả nhứng loại không chiến mạnh. SU-22 có các chức năng tấn công mặt đất chính xác và ném bom + hỗ trợ bám sát, dịch là F, cường kích cũng được. SU-24 thừa kế MiG-23 với F-111, ném bom được đánh nhau được, vậy cũng F. SU-25 thì không F được, nó chỉ hỗ trợ bám sát và tấn công mặt đất chính xác Ground Attack, Close Air Support, cái này tớ thua, chả tiêm cũng không cường. Sơn có thể cho tớ biết cụ thể hơn cái tình huống đó không. Chức năng tấn công mặt đất thông thường được chia ra 3 cái bombard, Ground Attack, Close Air Support. Ground Attack là tấn công mục tiêu cụ thể kiên cố. Close Air Support là hỗ trợ mặt đất bám sát, đây là kiểu bám theo trận đánh hỗ trợ lục quân, yêu cầu bắn được xe cộ và thiết giáp hạng nặng, công sự kiên cố và cả người... những gì của lục quân. Nó cũng cần bay lâu trên bầu trời trận đánh. SU-25 ban đầu là chống tank anti heavy armour, ngày nay gọi là Close Air Support. Cùng chức năng SU-25 Mỹ gọi là A-10, chắc là Ground Attack. Thật ra, Close Air Support chỉ là một nhóm nhỏ trong Ground Attack. Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 30 Tháng Mười, 2007, 03:32:54 pm Lại còn thiết giáp. Mình gặp mấy ông dịch sách, ngay cả trang phim tầu cũng vậy. Hai chiếc Trấn Viễn và Định Viễn của Bắc Dương Thủy Sư họ dịch thành thiết giáp hạm. Rôi cả Chiến hạm Rạng Đông cũng dịch thành thiết giáp hạm.
Tiếng mình dùng Thiết Giáp Hạm chỉ loại tầu giáp dầy súng to như Yamato battleship, cái này Nhựt nó gọi là Chiến Hạm. Cái tầu Chiến hạm Rạng Đông là tầu tuần dương thiết giáp, armoured cruisers. Hay gặp nhất là hai chú Định Viễn với Trấn Viễn dở hơi ăn cám lợn. Đây là hai tầu ironclad, tầu bọc thép, nhưng tầu khựa nó phong là thiết giáp hạm cho oai. Nó cũng có từ tầu bọc thép, trang thiết hạm, nhưng bà Thái Hậu thích oai gọi là thiết giáp hạm. Thành ra rất nhiều người Tầu gọi kiểu tầu bọc thép là thiết giáp hạm, nhiều người còn không biết trang thiết hạm là gì nữa. Kệ tầu nó gọi là gì, nhưng hai chú Định Viễn với Trấn Viễn dở hơi ăn cám lợn không phải là thiết giáp hạm tiếng ta. Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: chiangshan trong 30 Tháng Mười, 2007, 10:56:00 pm Thật ra ban đầu Tầu dùng Tiêm Kích chỉ đánh chặn-không chiến nhẹ-Interceptor, Cường Kích chỉ máy bay kiểm soát bầu trời-không chiến nặng-air superiority-fighter, đều là không chiến. Nhưng sau chúng loạn tùng bậy lên. Nhưng các chức năng của máy bay lại nhiều hơn là tiêm với cường. Theo mình, hơi mệt nhỉ. Ví như F-4C=ném bom bổ nhào(Ground Attack), F-4D=không chiến nặng (fighter). F-4E thêm tính năng đánh chặn-không chiến nhẹ-Interceptor. Tuy vậy, đây là máy bay đa năng, khác biệt giữa các loại không nhiểu, mỗi loại đều có thể làm cả ba nhiệm vụ: khống chế bầu trời, tấn công mặt đất chính xác và hỗ trợ mặt đất bám sát (Air Superiority, Ground Attack, Close Air Support). Theo mình, đành bỏ công ra chọn cách dịch cho từng loại thôi. Nhưng cũng nên phiên phién đỡ mất công. Ví như MiG-15, MiG-17, MiG-21 là tiêm kích tất. MiG-19 và tất cả các loại F-4 là cường kích, tức là tất cả nhứng loại không chiến mạnh. SU-22 có các chức năng tấn công mặt đất chính xác và ném bom + hỗ trợ bám sát, dịch là F, cường kích cũng được. SU-24 thừa kế MiG-23 với F-111, ném bom được đánh nhau được, vậy cũng F. SU-25 thì không F được, nó chỉ hỗ trợ bám sát và tấn công mặt đất chính xác Ground Attack, Close Air Support, cái này tớ thua, chả tiêm cũng không cường. Sơn có thể cho tớ biết cụ thể hơn cái tình huống đó không. Chức năng tấn công mặt đất thông thường được chia ra 3 cái bombard, Ground Attack, Close Air Support. Ground Attack là tấn công mục tiêu cụ thể kiên cố. Close Air Support là hỗ trợ mặt đất bám sát, đây là kiểu bám theo trận đánh hỗ trợ lục quân, yêu cầu bắn được xe cộ và thiết giáp hạng nặng, công sự kiên cố và cả người... những gì của lục quân. Nó cũng cần bay lâu trên bầu trời trận đánh. SU-25 ban đầu là chống tank anti heavy armour, ngày nay gọi là Close Air Support. Cùng chức năng SU-25 Mỹ gọi là A-10, chắc là Ground Attack. Thật ra, Close Air Support chỉ là một nhóm nhỏ trong Ground Attack. "Cường kích" với nhà ta được mặc định là chuyên về đánh mục tiêu mặt đất rồi bác Phúc ạ. "Tiêm kích" là gọi chung cho cả Fighter (F-4) và Interceptor (MiG-21), "tiêm kích bom" là Fighter Ground Attack (Su-27). "Cường kích" gọi chung cho Ground Attack (A-6/7), Fighter-bomber (F-105/111). À, viết đến đây mới nhớ ra là trong Close Support còn có cả dòng AC-130, AC-119, AC-47. Thời KQ VNCH các phi đoàn trang bị loại này được gọi là "phi đoàn hoả long". Có lẽ nên dịch thế này : - Fighter : tiêm kích. - Interceptor : tiêm kích đánh chặn. - Fighter Ground Attack, Fighter-bomber : tiêm kích bom hoặc tiêm-cường kích. - Ground Attack : cường kích. - Close Support : máy bay yểm trợ. Một cái nữa là "motorized infantry" và "mechanized infantry", sách báo hay dịch chung là "bộ binh cơ giới", thật ra là 2 loại khác nhau : - Motorized infantry : tạm gọi là bộ binh cơ giới hoá, bộ binh cơ động chủ yếu trên xe vận tải thường. - Mechanized infantry : bộ binh cơ giới, bộ binh cơ động, chiến đấu chủ yếu trên xe bọc thép có vũ trang (IFV, APC). Riêng có Nga lại gọi bộ binh cơ giới là motorized. Armoured infantry cũng tương tự mechanized infantry, nhưng là bộ binh nằm trong các đơn vị thiết giáp. Nhà ta cũng gọi tuốt là bộ binh cơ giới. Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 31 Tháng Mười, 2007, 12:36:12 am Ơ, thế à.
Tiêm mới Cường chắc từ sau 1949, Tầu nóa có máy bay. Lúc đó đến 1960 Tầu nó chỉ có MiG-15, MiG-17, MiG-19, MiG-21. Mỗi MiG-19 có ném bom thì nó gọi là cường kích. Thế mà mình cứ tưởng dịch cường kích là làm chủ bầu trời (đánh nhau trên không nặng). Vì MiG-19 oánh nhau trên không cũng khá, 2/9/1972 đã quá quá quá out of date rồi vẫn thắng trắng 2 F-4, mà 2 MiG-19 chiến 12 F-4. AC-130 có lắm súng máy hạng nặng 20mm (hay là 25mm), gọi là gunship. Nhưng hồi Kháng chiến của mình thì kiểu máy bay này chưa đủ các chức năng Close Air Support. Đơn giản nó chỉ có mỗi động tác vãi đạn diệt bộ binh. Đạn của nó thì rẻ rồi, đem từ hậu phương đến hàng chục tấn chỉ vài tiếng. Các chức năng như ném bom chính xác hay chống mục tiêu di động, diệt thiết giáp hạng nặng đều không dược. Ví như quân ta mà đem xe tăng ra thì AC-130 chỉ có khóc. Tốc độ thấp (500km/h) AC-130H Spectre tầm bay 2000m Hai khẩu M61 20mm Vulcan 3000 đạn Một khẩu L60 40mm Bofors 256 đạn Một khẩu M102 105mm lựu pháo nòng ngắn 100 đạn (6 phát phút) AC-130U Spooky tầm bay trên 3000km Một khẩu 25mm GAU-12 Gatling 1800 phát phút Một khẩu L60 40mm Bofors 100 phát phút một khẩu M102 105mm Nhưng đến thời có máy tính thì các đạn có điều khiển cải thiện tình hình. Năm 1991 thì chưa tìm ra biện pháp nhận dạng mục tiêu nên vẫn rất hạn chế. Nhưng sang thế kỷ 21 thì việc nhận dạng thủ công qua truyền hình hoặc tự động, môi trường liên lạc đã cải thiện. Hiện nay các sơ đoàn công nghệ mới của Mỹ đều có gun ship. Chức năng của thằng này hạn chế, bắt nó ném bom hay không chiến nó đều khóc tiếng mán. Bùn cừi, trước mình cứ tưởng Close Air Support là hỗ trợ tầm ngắn, lý giải từ việc chả hiểu ra sao. Sau mình thường dịch là hỗ trợ bám sát, vì những máy bay này bám theo vị trí và yêu cầu lục quân. SU-25 và A-10 là những máy bay kiểu này điển hình, MiG-23 và F-111 vừa có chức năng này vừa không chiến tốt. F-4 cũng có chức năng Close Air Support nhưng mình nghĩ là tồi, con này như máy bay chở hàng, bắt nó nhào lộn một lúc là hết dầu (F-4 thì vinh quang với ai, sau chiến tranh dòng này Mỹ nó ném đi hết, tiệt giống). Nay cứ như Sơn đi, cho nó thống nhất. Vừa rúc vào mạng, thấy nó nói SU-22 là fighter-bomber, SU-24 là bomber. Su từ 27-37 là fighter trừ SU-32 SU-34 là long range fighter bomber. Thực ra ngay trong đời SU-27 đã chia ra nhiều chức năng, có cả ném bom và tách chiến điện tử, chiến đấu trên không. Có khi đối với những ông quá đa năng như SU-27 phải lập bảng tra. Cái bộ binh đúng là mình không chú ý đâu, giờ Sơn nói mới để ý. Motorized infantry có từ hồi thế chiến, hồi đó lấy đâu ra IFV với APC. Mà nó có phân rõ ra bộ binh đi APC với bộ binh đi IFV không nhỉ. Nếu phức tạp thế thì cứ cho nó chui vào một rọ hết cho dễ: bộ binh cơ giới hóa, bộ binh cơ giới, bộ binh thiết giáp lúc nào cần hẵng phang, không thì cứ bộ binh cơ giới. Quân ta thì chắc là chỉ có bộ binh cơ giới đi BTR (PAC) với BMP (IFV) thôi. Chứ không có bộ binh đi xe tải. Mình mấy lần tí nhầm. Chất nổ và vật liệu nổ, chuỵện này cũng lâu rồi, nó nhỏ thôi nhưng không chú ý là sai. Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: chiangshan trong 31 Tháng Mười, 2007, 11:36:29 am Motorized infantry có từ hồi thế chiến, hồi đó lấy đâu ra IFV với APC. Có bác ạ, half-track của Mẽo và Đức. (http://www.pienoismalli.com/sq2034.jpg) Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 31 Tháng Mười, 2007, 01:36:37 pm Motorized infantry có từ hồi thế chiến, hồi đó lấy đâu ra IFV với APC. Có bác ạ, half-track của Mẽo và Đức. Ừ nhỉ. Không bít lúc đó đã phân biệt APC IFV chưa. IFV không biết xuất hiện lúc nào nhỉ. Mình thấy IFV phổ biến cũng muộn, có khi phải những năm 1950-1960-1970 half-track chắc thuộc loại APC, nhưng không biết lúc đó đã có tên gọi APC chưa nhỉ. Bon Mỹ còn có thứ bộ binh đi xe Jeep nữa cơ. Nhưng nó cũng có truyền thống gọi bộ binh cơ giới là kỵ binh. Không hiểu bọn đi xe Jeep thì nó gọi là gì. Mà bọn đi trực thăng vũ trang có coi là bộ binh cơ giới được không nhỉ. Vận chuyển đường không với đổ bộ đường không đã có bọn dù. Mà lính dù VNCH ngày xưa tớ thấy cũng tuyền đi trực thăng, có nhảy dù đâu nhỉ. Bộ binh cơ giới với bộ binh cơ khí ???? khoai nhỉ. Thôi cứ dùng Bộ binh cơ giới cho đến khi Bộ trưởng Quốc phòng ký quyết định thành lập Bộ binh cơ khí Việt Nam Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: AK47 trong 29 Tháng Mười Một, 2007, 05:00:04 pm Bác chơi khó rồi, em có biết tiếng tầu nào đâu. Về từ ngữ em thấy sách vở của nhà ta hay gọi rocket là hoả tiễn, pháo hoả tiễn rồi pháo phản lực. Missile là tên lửa. Còn phân loại thì rocket là tên lửa không dẫn hướng, missile là tên lửa có dẫn hướng. Tên lửa trong tiếng Anh là rocket. Những thứ gì lấy tên lửa làm động cơ cũng thường gọi luôn là rocket (hiện tượng nói tắt thường thấy). Missile trong tiếng Anh là đạn tự hành, chấp nhận chuyện viết là missle. Ở wiki tiếng Anh trước đã có người nói đúng, nhưng sau bọn nó xóa sạch, xóa cả history. Tiếng Tầu là đạo đạn 飛彈, đạo này là đạo dẫn, dẫn dắt của đạo giáo đấy. Trước đây cứ đạn có điều khiển là missile, nhưng gần đây Mỹ hay dùng là đạn có tự đẩy và điều khiển. Như vậy, missile là đạn được dẫn, đạn có diều khiển, đạn tự hành.....ATGM là đạn chống tăng có điều khiển, AGM là đạn có điều khiển không đối đất. Trước đây nhà mình dịch rất chuẩn, SAM là đạn đất đối không có điều khiển, báo cáo lính đều ghi là đạn, chỉ mấy ông nhà báo lúc nào cũng tên lửa. Bây giờ nhiều cái tên lửa quá sai, nhưng tớ nghĩ chúng mình đừng lên sai. Ví dụ, BGM-109 Tomahaw là đạn có điều khiển, AS-1 cũng là đạn có điều khiển, nhưng không phải tên lửa. Người Nga gọi là đạn có cánh, mấy nhà báo dốt hồi trước nhầm thành tên lửa (cuối những năm 1970), những mấy thằng dốt ấy to quá, thành ra phải sai theo báo đảng. Hai loại đạn trên có động cơ chính là động cơ Turbine, không phải động cơ tên lửa. Hay AGM-62 không có tí động cơ nào (AGM- air to suface missile), không phải là tên lửa cũng chả máy bay, nó là bom lượn. AS-1 ban đầu được gọi là đạn dạng máy bay, sau Nga gọi chung là đạn có cánh, Mỹ gọi những đạn có động cơ hoạt động trong suốt hành trình là đạn hành trình. Vũ khí thì hay lấy tên lửa làm động cơ nên đạn có điều khiển đa phần là tên lửa, như ATGM AT-3 hay SAM-2 đều là tên lửa. Nhưng rõ ràng, missile hay được nhầm làm tên lửa, và nhiều cái tên lửa không phải missile. Ngư lôi cũng là một loại missile, đạn hành trình đạn có cánh đa phần không dùng động cơ tên lửa làm động cơ chính nhưng là missile. Theo tớ, chúng mình nên "bầu" ra một từ thay thế, nhiều người sai, nhưng chúng mình không nên sai. Việc dùng từ nào chưa biết, còn tùy anh em. Nhưng phải có 'đạn', có vào hợp lý ngay. Chả cần biết nó là tên lửa, bom, hay máy bay nhưng làg đạn tất, rất hợp lý. Tuy vậy, "bầu" xong từ mới cũng cần nhắc nhau dùng mới quen. Trước khi "bầu cử" từ này, chúng ta thảo luận tiếp thiết giáp và bọc thép. em thấy phần lớn các missile có hình dạng khá giống với tên lữa(rocket), nhưng về nguyen tắc hoạt động và cấu tạo thì có khác, từ đạo đạn trong tiếng Trung Hoa thì đúng theo đặc điểm về nguyên tắc hoạt động, còn tên lữa thì phản ánh được phần ngoại hình của missile. Từ này trước đây xem trên tivi người ta hay dùng để chỉ thằng Tomahaw hay mấy loại đạn có dẫn hướng khác. Trên đây là ý kiến cá nhân êm mong các đ/c đóng góp cho. Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: molnya trong 02 Tháng Mười Hai, 2007, 01:55:01 pm Xin chào mọi người.
Tên lửa đạn đạo thì đã được dùng mất rồi, tương ứng với ballistic missile, nói về loại tên lửa đối đất bay theo quỹ đạo đường đạn ko điều khiển (tức là ko có người điều khiển, nhưng vẫn có bộ điều khiển tự động). Xin đề xuất về cách gọi tên lửa. Rocket, nếu theo cách hiểu là đạn có động cơ, thì gọi là Đạn phản lực, hay đạn rocket ( nếu cần thì thêm Không điều khiển vào cho chuẩn). Missile là Tên lửa, gọi nó là tên lửa theo cách quen mồm, tự hiểu rằng đã tên lửa thì phải hiện đại, có bộ tự điều khiển. Riêng người Nga thích gọi tên lửa điều khiển là rocket thì kệ họ, ta cứ đơn giản hoá bằng cách quy chuẩn cách gọi tương đối. Về từ guided missile thì gọi theo đúng như người ta gọi: tên lửa dẫn đường. Đặc tính dẫn đường này gắn với yêu cầu chính xác cao và khả năng tự động của tên lửa, đúng cách hiểu với các loại đạn dẫn đường khác. Tóm lại nó ko chính xác tuyệt đối về ngữ nghĩa nhưng đảm bảo đúng khái niệm và sự trong sáng của tiếng việt :) Về xe thiết giáp thì gọi chuẩn nhất là .. thiết giáp, tức là phải có cái vỏ dùng làm giáp bảo vệ chứ ko phải là vỏ làm bằng thiết ( gọi bọc thép cũng đúng vì người ta cố tình bọc thêm thiết làm giáp) :). Nó ko phải tank nhưng là loại xe cơ giới tiền tuyến. IFV hay APC đều có 2 tác dụng, 1 là dùng để đưa quân ra tiền tuyến, 2 là hỗ trợ hoả lực cho bộ binh. Muốn cụ thể hơn thì đã có cách gọi Xe chiến đấu bộ binh và Xe bọc thép chở quân, hay nôm na hơn là thiết giáp bánh lốp/ thiết giáp bánh xích. Có kiểu xe đặc biệt là BMP-T ko gọi là thiết giáp, nó là một loại tăng chuyên biệt để hộ tống tăng xung phong, có lẽ gọi là Tăng hộ tống xung kích hay Tăng khu trục, nghe hơi kỳ :) Riêng xe half track thì ko biết dịch tiếng việt ra sao. Về máy bay CAS có thể gọi là Máy bay yểm trợ trực tiếp hay Máy bay yểm trợ chiến trường, khác với ném bom là loại nhiệm vụ độc lập khác không quân. Như vậy Cường kích cũng thuộc nhóm này, hay có làm nhiệm vụ này. Các cách gọi khác như Máy bay ném bom tiền tuyến, ném bom chiến thuật cũng như vậy, nhưng xem ra cái tên đó thuộc về thời kỳ ném bom ngu. Còn như tên gọi Máy bay tiền tuyến thì vừa phải CAS vừa phải đánh chặn cường kích của địch, gần giống với Tiêm kích bom, nhưng không bao hàm nhiệm vụ ném bom thọc sâu. Lằng nhằng vậy nhưng cũng cụ thể, coi như đạt về mặt ngôn ngữ. Mấy chiếc gunship, kiểu AC130 hay Mi24 hình như có gọi là Máy bay khu trục, trực thăng khu trục. Rõ ràng nó yểm trợ trực tiếp, nhưng chỉ đi khu trục các mục tiêu mềm chứ ko phải đối đầu với hoả lực mạnh như máy bay tiền tuyến hay cường kích hay tăng... Không biết airborne tank tiếng việt hay gọi là gì nhỉ? Tank thả dù? Tăng đổ bộ đường không? Ngoài ra có từ Frigate không biết dịch ra là tàu gì nữa. Theo tính năng thì nó thiên về chống ngầm và chống hạm, nhưng yếu về phòng không so với Khu trục. Tuy nhiên các tàu hộ tống corvette mới của Nga hoàn toàn hợp tiêu trí này. Trong tiếng Pháp không hề có tàu khu trục, chỉ có Frégat, mang tính năng tiêu chuẩn của khu trục hoặc kém hơn một tí (frigate). Xem từ ngày xưa thì frigate có lẽ là loại tàu mạnh chuyên biệt về một tính năng. Có ai biết HQ mình gọi tàu này là gì không? Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: chiangshan trong 02 Tháng Mười Hai, 2007, 06:35:09 pm Có kiểu xe đặc biệt là BMP-T ko gọi là thiết giáp, nó là một loại tăng chuyên biệt để hộ tống tăng xung phong, có lẽ gọi là Tăng hộ tống xung kích hay Tăng khu trục, nghe hơi kỳ :) Riêng xe half track thì ko biết dịch tiếng việt ra sao. BMPT về bản chất chỉ là thiết giáp được trang bị hỏa lực mạnh và giáp dày để có thể bám sát tăng khi xung kích. Gần giống với BMPT có BTRT (Nga) và Achzarit (Do Thái) là xe chở quân hạng nặng, tất cả đều bắt nguồn từ yêu cầu tác chiến trong đô thị. BMPT có thể tạm gọi là "xe chiến đấu hạng nặng" hoặc "thiết giáp hộ tăng" nếu theo đúng tên gốc. Half track có nơi gọi là "xe bán phần chạy xích", nhưng thường là háp-tờ-rắc :D Tàu bè thì công nhận gọi tên muốn hết hơi luôn : LSD - Landing Ship, Dock LST - Landing Ship, Tank, lại còn có cả LCT - Landing Craft, Tank LSM - Landing Ship, Medium LCU - Landing Craft, Utility LCI - Landing Craft, Infantry LCM - Landing Craft, Mechanized LCAC - Landing Craft, Air Cushioned LCPL - Landing Craft, Personnel (Large) LCVP - Landing Craft, Vehicle, Personnel Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: leopard trong 06 Tháng Mười Hai, 2007, 04:25:39 pm Mấy con LC x này, dân đều gọi là "tầu há mồm" hết. Đau thế đấy.
Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 01 Tháng Giêng, 2008, 12:49:23 pm Xin chào mọi người. Tên lửa đạn đạo thì đã được dùng mất rồi, tương ứng với ballistic missile, nói về loại tên lửa đối đất bay theo quỹ đạo đường đạn ko điều khiển (tức là ko có người điều khiển, nhưng vẫn có bộ điều khiển tự động). Xin đề xuất về cách gọi tên lửa. Rocket, nếu theo cách hiểu là đạn có động cơ, thì gọi là Đạn phản lực, hay đạn rocket ( nếu cần thì thêm Không điều khiển vào cho chuẩn). Missile là Tên lửa, gọi nó là tên lửa theo cách quen mồm, tự hiểu rằng đã tên lửa thì phải hiện đại, có bộ tự điều khiển. Riêng người Nga thích gọi tên lửa điều khiển là rocket thì kệ họ, ta cứ đơn giản hoá bằng cách quy chuẩn cách gọi tương đối. Về từ guided missile thì gọi theo đúng như người ta gọi: tên lửa dẫn đường. Đặc tính dẫn đường này gắn với yêu cầu chính xác cao và khả năng tự động của tên lửa, đúng cách hiểu với các loại đạn dẫn đường khác. Tóm lại nó ko chính xác tuyệt đối về ngữ nghĩa nhưng đảm bảo đúng khái niệm và sự trong sáng của tiếng việt :) Bạn đã chả hỉu gì còn bàn nhảm. Nước nào chẳng gọi tên lửa là rocket-rốc két. Bạn xem các thông báo của NASA xem, của châu Âu xem, các tầu vũ trụ đều là rocket hết đấy. Hay tầu vũ trụ được đẩy bởi tên lửa không điều khiển ????. Đã dốt nhưng lại bảo người ta dốt. Hồi này xuất hiện phong trào chế người khác dốt, người khác cao to như thế nào không cần biết, tiện là chê nhỏ. Tên lửa dẫn đường ???? chưa ai dùng cụm từ này trừ mấy thằng dở hơi ăn cám lợn. Có thể nghĩa của nó giống như đạn dẫn đường, chỉ huy bắn vào mục tiêu cháy sáng lên để lính bắn theo. ballistic missile tiếng tầu là đạn đạo đạo đạn, đạn tự di chuyển theo quỹ đạo kiểu đường đạn. Tiếng Việt là đạn tự hành đường đạn. Tên lửa đạn đạo ???? đúng nghĩa là tên lửa không điều khiển như BM-21. Định nghiã của tên lửa hiện nay đã thống nhất. Tên lửa rocket xuất phát từ tiếng Ý, hoa cải, chỉ pháo hoa. Được các từ điển định nghĩa như sau: Tên lửa là thứ được đẩy bằng động cơ tên lửa của nó. Động cơ tên lửa là động cơ phản lực nhiệt chỉ chạy bằng những gì có trong nó. Như vậy, các động cơ dùng không khí như Turbojet, Ramjet đều không là động cơ tên lửa, vậy nên máy bay và đạn chống hạm KS-1 không phải tên lửa. Động cơ mang theo tất cả các chất tham gia phản ứng nhiệt mới là động cơ tên lửa=rocket, như pháo hoa. Tầu vũ trụ là thứ tên lửa có điều khiển đắt đỏ nhất, cũng là rockét-tên lửa như BM-21. Còn missile: xuất phát từ tiếng la tinh, nghĩa là gửi đi. Nó là đạn nhưng khác với đạn được bắn. Đạn bắn từ súng có hai động tác: một là ngắm bắn đúng mục tiêu, hai là nổ thuốc bắn đạn đi. Missile như vậy bao hàm hai giá trị: tự đẩy và tự lái, không cấn bắn bằng súng và ngắm bắn bằng thước ngắm. Không bắn nó đi mà gửi nó đi. Tầu vũ trụ có những tính năng như vậy nên nó là missile, đạn tự hành. Vấn đề ở đây, là phần lớn các đạn tự hành là tên lửa, như trường hợp tầu vũ trụ, nên nhiều người đã theo thói quen mà nhầm lẫn. Điều này dẫn đến tình huống sai tóe loe, khi đạn tự hành không phải tên lửa, như KS-1. Nhưng điểm này tớ đõ nói ngay ở trên, bạn lại nhảm nhí gì. Guided Missile, đạn tự hành được lái, ban đầu được dùng chỉ thứ đạn tự hành được lái từ xa, như các phiên bản đạn chống tăng của Đức và Liên Xô đến AT-3. Missile dù guided hay fire and forget thì đều là missile. Tuy nhiên, cũng những loại đạn guided đó tiến lên trở thành fire and forget, khi lệnh lái xuất phát từ máy tính ngay trên đầu đạn, nhưng người ta vẫn gọi là GM, ví như đạn MOTV-3F của BM-30 Smerch. Về xe thiết giáp thì gọi chuẩn nhất là .. thiết giáp, tức là phải có cái vỏ dùng làm giáp bảo vệ chứ ko phải là vỏ làm bằng thiết ( gọi bọc thép cũng đúng vì người ta cố tình bọc thêm thiết làm giáp) :). Nó ko phải tank nhưng là loại xe cơ giới tiền tuyến. IFV hay APC đều có 2 tác dụng, 1 là dùng để đưa quân ra tiền tuyến, 2 là hỗ trợ hoả lực cho bộ binh. Muốn cụ thể hơn thì đã có cách gọi Xe chiến đấu bộ binh và Xe bọc thép chở quân, hay nôm na hơn là thiết giáp bánh lốp/ thiết giáp bánh xích. Có kiểu xe đặc biệt là BMP-T ko gọi là thiết giáp, nó là một loại tăng chuyên biệt để hộ tống tăng xung phong, có lẽ gọi là Tăng hộ tống xung kích hay Tăng khu trục, nghe hơi kỳ :) Riêng xe half track thì ko biết dịch tiếng việt ra sao. Về máy bay CAS có thể gọi là Máy bay yểm trợ trực tiếp hay Máy bay yểm trợ chiến trường, khác với ném bom là loại nhiệm vụ độc lập khác không quân. Như vậy Cường kích cũng thuộc nhóm này, hay có làm nhiệm vụ này. Các cách gọi khác như Máy bay ném bom tiền tuyến, ném bom chiến thuật cũng như vậy, nhưng xem ra cái tên đó thuộc về thời kỳ ném bom ngu. Còn như tên gọi Máy bay tiền tuyến thì vừa phải CAS vừa phải đánh chặn cường kích của địch, gần giống với Tiêm kích bom, nhưng không bao hàm nhiệm vụ ném bom thọc sâu. Lằng nhằng vậy nhưng cũng cụ thể, coi như đạt về mặt ngôn ngữ. Mấy chiếc gunship, kiểu AC130 hay Mi24 hình như có gọi là Máy bay khu trục, trực thăng khu trục. Rõ ràng nó yểm trợ trực tiếp, nhưng chỉ đi khu trục các mục tiêu mềm chứ ko phải đối đầu với hoả lực mạnh như máy bay tiền tuyến hay cường kích hay tăng... Không biết airborne tank tiếng việt hay gọi là gì nhỉ? Tank thả dù? Tăng đổ bộ đường không? Ngoài ra có từ Frigate không biết dịch ra là tàu gì nữa. Theo tính năng thì nó thiên về chống ngầm và chống hạm, nhưng yếu về phòng không so với Khu trục. Tuy nhiên các tàu hộ tống corvette mới của Nga hoàn toàn hợp tiêu trí này. Trong tiếng Pháp không hề có tàu khu trục, chỉ có Frégat, mang tính năng tiêu chuẩn của khu trục hoặc kém hơn một tí (frigate). Xem từ ngày xưa thì frigate có lẽ là loại tàu mạnh chuyên biệt về một tính năng. Có ai biết HQ mình gọi tàu này là gì không? Nhảm nhí. Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: dongadoan trong 01 Tháng Giêng, 2008, 12:55:07 pm Hì, chú HP cho anh hỏi cái!
Cái từ "bích kích pháo" dùng để chỉ loại pháo nào nhỉ? Từ trước đến giờ anh cứ nghĩ nó chỉ súng cối, thế mà vừa mới đọc một tài liệu nó lại dùng định nghĩa "bích kích pháo" cho cả các loại pháo xe kéo ngắm bắn gián tiếp. Nhức đầu!;-) Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 01 Tháng Giêng, 2008, 02:55:37 pm Hì, chú HP cho anh hỏi cái! Cái từ "bích kích pháo" dùng để chỉ loại pháo nào nhỉ? Từ trước đến giờ anh cứ nghĩ nó chỉ súng cối, thế mà vừa mới đọc một tài liệu nó lại dùng định nghĩa "bích kích pháo" cho cả các loại pháo xe kéo ngắm bắn gián tiếp. Nhức đầu!;-) Ôi trời ôi, lúc đầu em cũng tưởng như vậy. Bích kích pháo không có thật đâu. Đấy là một thứ lấy ra từ trong cái nồi hông đặt trên cổ bọn khố đỏ khố xanh. Việt Nam Cộng hoà nó dốt nát quá, nên đẻ ra lắm thứ linh tinh. Ban đầu, Việt Nam Cộng hoà nó gọi bích kích pháo là howitzer. howitzer là pháo đập đất, một thức pháo bắn đạn trái phá. Lúc cổ, người ta không thể bắn đạn trái phá với sơ tốc cao được vì đạn nổ trong nòng. Người ta phải dùng cách bắn đạn đập đất nảy lên tăng tầm. Sau này, như ở Điện Biên Phủ, những khẩu 105mm howitzer được nhà ta gọi là lựu pháo. Thật ra, ngày nay lựu pháo có hai loại, một là pháo tầm xa, lựu pháo tầm xa, pháo cấp chiến dịch như M46, cal trên 60, hai là lựu pháo tầm gần nòng ngắn như D-20 152mm cal 25. Hai thứ trên được Việt Minh Cộng Sản gọi là dã pháo (kết thừa field gun) và lựu pháo (howitzer). Thật ra, ngày nay, xuất hiện thứ pháo đa năng, nòng trung bình như D30 122mm (cal 38), cái này bắn chống tăng, chống công sự tiền duyên và bắn yểm trợ tầm xa đều được. Tên gọi phát triển theo khoa học quân sự, bọn Việt Nam Cộng hoà đã dốt nhưng lại định dùng chữ thánh hiền miêu tả transitor nên mới loạn lên như thế. Tuy nhiên, bọn Việt Nam Cộng hoà sau đó thấy đài gọi howitzer là lựu đạn pháo (榴弹炮) nên Việt Nam Cộng hoà bắt chước Việt Minh Cộng Sản gọi howitzer là lựu pháo (chuyện bắt chước Việt Minh Cộng Sản là cơ sở ní nuận trính chị của Việt Nam Cộng hoà, như cơ cấu đảng cần lao nhân vị, hội phụ nữ liên đới, phong tròng thanh niên gì gì đó). Từ đó, bích kích pháo bơ vơ, mạnh ai nấy gọi. Có bọn còn dùng bích kích pháo như là pháo bật tường, chỉ pháo phản lực. Có ông lại dùng như là cối. Bác tìm trên nét, thấy có đủ thứ, bích kích pháo 60mm (chắc là cối 60), bích kích pháo 80mm (chắc là cối 80 81 82 gì đó), bích kích pháo 82mm. Rồi lại có bích kích pháo B40, bích kích pháo B41, lại có cả súng bích kích pháo ??? ... !!! thôi thì đủ hết. Em tra trong tiếng đài, có từ là bách kích pháo 迫擊砲 , từ này là cối. 迫 bách, trong từ bức bách, là gần. 擊 kích, trong từ công kích, là đánh. 迫擊砲, bách kích pháo, là pháo đánh gần, nhưng ở trong tiếng đài, từ này nghĩa là cối. Vậy, không có pháo nào là "bích kích pháo" đâu đại ca. Đây chỉ là thứ lấy ra từ đống phân trong cái thùng đặt trên cổ bọn khố đỏ khố xanh thôi. Đề nghị thành viên huyphuc1981_nb gọi đúng danh xưng của các bên tự nhận. Khè khè, sửa xong cái size lại thấy nó về như cũ, lạ quá, mái mới thấy, được rồi, không gọi thì không gọi. Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: dongadoan trong 01 Tháng Giêng, 2008, 03:01:33 pm Nhưng từ "bích" trong "bích kích pháo" cũng có thể mang nghĩa "bức tường" nữa cơ mà? Vậy có thể hiểu "bích kích pháo" như pháo phá tường được không nhỉ?
Chú tra từ điển của Radio thì nên cẩn thận, anh chàng này có nhiều từ dùng khác với TQ đại lục lắm đấy, nghĩa là cùng chữ, khác nghĩa ấy!;-)) Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: songoku trong 01 Tháng Giêng, 2008, 03:10:50 pm Ôi trời ôi, lúc đầu em cũng tưởng như vậy. Bích kích pháo không có thật đâu. Đấy là một thứ lấy ra từ trong cai nồi hông đặt trên đầu bọn khố đỏ khố xanh. Ngụy nó dốt nát quá, nên đẻ ra lắm thứ linh tinh. Ban đầu, ngụy nó gọi bích kích pháo là howitzer. howitzer là pháo đập đất, một thức pháo bắn đạn trái phá. Lúc cổ, người ta không thể bắn đạn trái phá với sơ tốc cao được vì đạn nổ trong nòng. Người ta phải dùng cách bắn đạn đập đất nảy lên tăng tầm. Sau này, như ở Điện Biên Phủ, những khẩu 105mm howitzer được nhà ta gọi là lựu pháo. Thật ra, ngày nay lựu pháo có hai loại, một là pháo tấm xa, lựu pháo tầm xa, pháo cấp chiến dịch như M46, cal trên 60, hai là lựu pháo tầm gần nòng ngắn như D-20 152mm cal 25. Hai thứ trên được Việt Minh Cộng Sản gọi là dã pháo (kết thừa field gun) và lựu pháo (howitzer). Thật ra, ngày nay, xuất hiện thứ pháo đa năng, nòng trong bình như D30 122mm (cal 38), cái này bắn chống tăng, chống công sự tiền duyên và bắn yểm trợ tầm xa đều được. Tuy nhiên, bọn ngụy sau đó thấy đài gọi howitzer là lựu đạn pháo (榴弹炮) nên ngụy bắt chước Việt Minh Cộng Sản gọi là lựu pháo (chuyện bắt chước Việt Minh Cộng Sản là cơ sở ní nuận trính chị của ngụy, như cơ cấu đảng cần lao nhân vị, hội phụ nữ liên đới, phong tròng thanh niên gì gì đó). Từ đó, bích kích pháo bơ vơ, mạnh ai nấy gọi. Có bọn còn dùng bích kích pháo như là pháo bật tường, chỉ pháo phản lực. Có ông lại dùng như là cối. Bác tìm trên nét, thấy có đủ thứ, bích kích pháo 60mm (chắc là cối 60), bích kích pháo 80mm (chắc là cối 80 81 82 gì đó), bích kích pháo 82mm. Rồi lại có bích kích pháo B40, bích kích pháo B41 ..... thôi thì đủ hết. Em tra trong tiếng đài, có từ là bách kích pháo 迫擊砲 , từ này là cối. 迫 bách, trong từ bức bách, là gần. 擊 kích, trong từ công kích, là đánh. 迫擊砲, bách kích pháo, là pháo đánh gần, như ở trong tiếng đài, từ này nghĩa là cối. Vậy, không có pháo nào là "bích kích pháo" đâu đại ca. Đây chỉ là thứ lấy ra từ đống phân trong cái thùng đặt trên cổ bọn khố đỏ khố xanh thôi. Ke ke ke, lại nổ văng miểng. Theo tài liệu dạng thường thức quân sự xuất bản năm 60 của miền Bắc Việt Nam, cối còn được gọi là "bức kích pháo" đấy giáo sư .... ơi. ---------------------------------------------------------- Có thể tranh luận nhưng không được nhạo báng hoặc xúc phạm nhau! Cảnh cáo lần 1! Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 01 Tháng Giêng, 2008, 03:47:34 pm Nhưng từ "bích" trong "bích kích pháo" cũng có thể mang nghĩa "bức tường" nữa cơ mà? Vậy có thể hiểu "bích kích pháo" như pháo phá tường được không nhỉ? Chú tra từ điển của Radio thì nên cẩn thận, anh chàng này có nhiều từ dùng khác với TQ đại lục lắm đấy, nghĩa là cùng chữ, khác nghĩa ấy!;-)) Đúng rồi, em tra đài phát thanh wiki tự do mà. Em cũng biết chiện về tiếng tầu chính thống và tiếng tầu của những thằng tầu không ở nước tầu rồi, nó cũng như wiki Việt mà. Bọn đài này thì VNCH nó coi là thánh hiền, nên em mới tra từ VNCH. Nếu như là bích kích pháo, chức bích có mấy chữ 碧 bích, trong từ ngọc bích, sắc xanh mắt mèo. 壁 bích, tường. Cũnng được dùng chỉ sao Bích, lũy trong trại quân, sườn núi dốc, dốc trước xe tăng. 璧 bích, từ trang trọng, cũng dùng trong từ ngọc bích với ý trọng. Ban đầu chỉ cái "quân hàm" của quý tộc công hầu bá tử nam (như cái "hốt" của quan lại), ngày xưa quân hàm không đeo mà cầm tay bác ạ. Bích tạ là tạ trang trọng. 甓 bích, viên gạch. 襞 bích, gấp quần áo. Nếu dùng 壁 là tường, thì là pháo bắn tường, pháo chống tăng thời cổ chăng. Ngày xưa có loại pháo nòng dài, bắn đạn bi gang đập vỡ tường thành (sau trận đánh đi nhặt đạn dùng lại), tất nhiên là nòng dài theo quan niệm hồi đó, nòng dài hơn howitzer, sau này trở thành pháo chống tăng. Thế kỷ 19, một số người gọi pháo này là cannon-cà nông, mặc dù nghĩa nguyên thủy cannon là tất cả súng ống. Tên đúng đắn được giới quân sự dùng là Siege, công thành pháo, 攻城砲. Lúc này, người phương tây trình độ đã phát triển cao, chia ra nhiều loại sơn pháo lựu pháo chống tăng trực tiếp gián tiếp....... và vân vân. Nhưng một số người châu á dốt nát, người châu âu truyền kiến thức không được mới đưa ra hai loại súng pháo duy nhất cho dễ hiểu, 加农砲 Gia Nông Pháo (cà nông, cannon tiếng Anh xuất phát từ cannone của Tây), và mọc chê (Mortier, mortar, cối, Bách Kích Pháo). Những người dùng kiểu này thường là nhà văn nhà báo, còn giới lính thì vưỡn trường pháo dã pháo lựu pháo sơn pháo hải pháo.....như ngày nay thôi. Quân sự Tầu có một thời phân ra công kích pháo (攻击砲) và công thành pháo, công thành pháo bắn phạm vi hẹp, công kích rộng, tương đương pháo chống công sự và chống bộ binh. Cái này chỉ các chuyên gia phân biệt, còn phổ thông tương đồng. Sự phân biệt này có từ thời máy bắn đá. (擊 và 击 là hai cách viết của một chữ kích=đánh, phồn thể và giản thể.) Nói thêm về sự linh tinh của chữ pháo. Thật ra, chức "pháo" ban đầu chỉ công kích pháo, nghĩa là máy bắn đá bắn đi thùng đựng thuốc nổ (trái phá, lựu-vì giống quả lựu, fire ball, Ball of Fire), hay chỉ là cái thùng đựng dầu cháy (dầu trộn diêm sinh, lưu hoàng). Sau này mới có chữ pháo là súng. Có thể chũng xuất phát từ nhau, nhưng người ta vẫn viết bằng hai chữ. Thật ra, Pháo súng chỉ giống pháo nổ ở tiếng nổ to, pháo súng xuất phát từ súng lệnh, ống gang nhồi thuốc nổ, bắn lấy tiếng kêu làm hiệu lệnh. Ống gang súng lệnh sau thành súng (pháo bắn). Ống tre nhồi thuốc nổ sau thành trái phá (pháo nổ). Tuy vậy, sau này người ta dùng lẫn lộn pháo nổ với pháo bắn, thậm chí, nhiều người mặc định coi chữ bào 炮 (trong bào chế, sao giữ tính thuốc) là pháo bắn. Vậy nên, ngày nay nếu trừ pháo bào chế ra thì có 3 cách viết chữ pháo: 砲 礟 礮 礮 là cái máy bắn đá, nay thì là cả máy bắn đã và đại bác. Thế nhưng, bác mà tìm trên nét thì chữ này rất ít. Chữ được dùng nhiều nhất là 炮, thật ra, đây là chữ bào trong bào chế, sao thuốc mà giữ nguyên tính. Chữ thứ hai có đuôi giống nó là 砲, chữ này thì đúng là pháo, nhưng ???? thiên hạ ít thèm dùng ????. Tất cả là tại dân viết chữ tầu trên mạng phần lớn lại không ở nước tầu, nên mới ngô nghê thế. Bác nói về cái đài phát thanh wiki tự do thì em lấy ví dụ ngay trong đó này. Đây là nhật lùn, nó viết chữ pháo (em lấy lựu pháo) http://ja.wikipedia.org/wiki/%E6%A6%B4%E5%BC%BE%E7%A0%B2 Nó dùng lựu đạn pháo 榴弾砲 Còn đây là những thằng tầu không ở đất tầu. Bọn tầu đại lục nó khinh wiki như mẻ ấy, nó không thèm sửa, hầu hết chữ pháo trong wiki tầu đều là chữ bào (trong bào chế thuốc), không thể tưởng tượng được bọn nó ngu thế. http://zh.wikipedia.org/wiki/%E6%A6%B4%E5%BC%B9%E7%82%AE 榴弹炮 (lựu đạn bào chế) Còn đây là mục từ bào chế (炮制), một phương pháp... trung dược http://zh.wikipedia.org/wiki/%E7%82%AE%E8%A3%BD 在中药学中是指根据中医药理论 tại trung dược học trung thị chỉ căn cứ trung y dược lí luận Trong Trung dược học là một căn cứ của lý luận Trung y dược. Cái đài phát thanh wiki tự do này nó hay chữ như vậy. Nhưng có bọn hay chữ hơn lấy đó làm thánh hiền cơ. 迫击炮 cái chữ bách kích pháo này em lấy ở wiki tầu http://zh.wikipedia.org/wiki/%E6%A6%B4%E5%BC%B9%E7%82%AE Còn đây là 迫撃砲 của Nhật: http://ja.wikipedia.org/wiki/%E6%A6%B4%E5%BC%BE%E7%A0%B2 迫击炮 (bách kích bào chế) của thánh hiền được các đệ tử thánh hiền gọi là bích kích pháo. Kha kha kha kha kha kha , hay chữ nhất quả đất, VNCH toàn trạng nguyên. Em cũng không hiểu từ đâu, VNCH nó gọi cái pháo chống tăng và pháo trên xe tăng là sơn pháo (cũng không tìm hiểu làm gì, tìm hiểu thằng ngu nói láo thì có đến tết công gô). Rồi nó cứ dịch cannon là sơn pháo (pháo xe bò). Thế nên khẩu 105 ĐBP vừa được chúng dịch thành sơn pháo, vừa là lựu pháo. Pháo trên xe tăng thì thành ra pháo xe bò. Chuyện trở nên dễ hiểu khi VNCH toàn trạng nguyên thi thố với trình độ tiếng tầu của trạng mẽo chống cộng, toàn bộ các pháo binh thành bào chế binh, lựu bào chế, sơn bào chế, chống tăng bào chế, tầm xa bào chế.... thì cái thùng dựng trên cổ bọn nó đứng thứ cuwts là thường, dễ hiểu mà. Nó là như vậy, bích kích pháo chỉ là sản phẩm của mấy thùng đựng cuwts đặt trên cổ khố đỏ khố xanh thôi. Em thử đây bác này: http://www.google.com.vn/search?hl=vi&q=%22%E7%A2%A7%E6%93%8A%E7%A0%B2%22&btnG=T%C3%ACm+ki%E1%BA%BFm&meta= Nếu đúng là pháo bắn tường thì phải là kích bích pháo. Cũng vưỡn vậy. http://www.google.com.vn/search?hl=vi&q=%22%E6%93%8A%E7%A2%A7%E7%A0%B2%22&meta= Ở đây, tầu nó thông báo đã trang bị đồng loạt cối 60 kiểu 93, đây là loại cối mà nó bảo bắn xa nhất quả đất. Tuy nhiên em so vbới cối chấu ÂU thì kém xa, tầm của con Type-93 này mới là 2700 mét. 93 thức 60 hào mễ bách kích pháo (type 93, 60mm cối). NHìn toàn con gái cởi quân áo đã thấy điêu điêu, rồi vào xem, ý như rằng bào chế 60mm. http://mil.jschina.com.cn/Get/LJTT/09031707596.htm Tô songoku : bức là một cách phát âm cổ của bách, nghĩa là gần. Edit Nếu có tài liệu nào như thế, thì thứ nhất, tài liệu đó của mấy thằng văn chương văn nghệ dịch ra, không có kiến thức nên dùng nguyên văn. bức là một cách phát âm cổ của bách, thật ra, đây là cách nói "húy". Thực chất, ngày xưa nhiều cụ thấy bức bách giống nhau: 逼 là bức (ép), 迫 là bách (gần, mạnh). Nhưng bảo các cụ nhầm không nên. Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: anhlinhcuHo trong 25 Tháng Giêng, 2008, 07:44:37 pm dạ cho em hỏi: cơ bẩm, khóa nòng, quy-lát có phải là cùng nghĩa đúng ko ạ
Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 26 Tháng Giêng, 2008, 02:36:16 am dạ cho em hỏi: cơ bẩm, khóa nòng, quy-lát có phải là cùng nghĩa đúng ko ạ cái bolt ấy à. Tớ không hiểu quy-lát là phiên âm chữ gì, nghe lạ lắm. Khóa nòng chỉ là một bộ phận nhỏ của bolt. nhưng bolt sau được dùng như tính từ, nên có khóa "nòng kiểu bolt", dễ nhầm. Tiêu đề: ĐKB hay là DKB Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 26 Tháng Giêng, 2008, 04:09:02 pm Ờ, mà có ai biết DKB viết tắt của những chữ gì không nhẩy ?????
Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: chiangshan trong 26 Tháng Giêng, 2008, 04:29:21 pm Hồi trước em đọc thì ĐKB = ĐKZB = ĐKZ dùng cho chiến trường B.
Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: tuaans trong 30 Tháng Giêng, 2008, 12:57:16 pm cắt-dán tí,
Năm 1966 Liên Xô chi viện cho Quân đội Nhân dân Việt Nam pháo hỏa tiễn 24 nòng đặt trên xe, sử dụng phương tiện hiện đại để phóng cùng một lúc 24 viên đạn, nhưng như thế chưa phù hợp với điều kiện tác chiến của Việt Nam. Phía Việt Nam yêu cầu Liên Xô cải tiến loại pháo hỏa tiễn đó bằng cách tháo rời giàn pháo ra từng nòng để bộ đội Việt Nam mang vác cơ động và chiến đấu được thuận lợi. Loại pháo cải tiến nay được đặt tên mới là ĐKZB, và gọn hơn là ĐKB. Pháo hỏa tiễn ĐKB cỡ 122 mm, tầm bắn 11.200 m, đạn nặng gần 60 kg. Trung đoàn pháo hỏa tiễn 724 được thành lập tháng 2 năm 1966 và được đưa vào miền Đông Nam Bộ (chiến trường B2). Trung đoàn 724 được trực thuộc Đoàn 69 (tương đương cấp sư đoàn) pháo binh Miền (tên gọi tắt của chiến trường B2). Trung đoàn trưởng Trần Đáo và Chính ủy Đinh Lại hy sinh trên đường vào miền Nam nên Tô Đê làm Trung đoàn trưởng mới và Lê Bình làm Chính ủy trung đoàn. Trung đoàn đã pháo kích sân bay Biên Hòa ngày 11 tháng 5 năm 1967, phá hủy và phá hỏng 150 máy bay các loại và nhiều phương tiện kỹ thuật, đốt cháy nhiều kho nhiên liệu, tiêu diệt và làm bị thương hơn 800 phi công và nhân viên kỹ thuật đối phương. Tiêu đề: ĐKZB ĐKB Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 30 Tháng Giêng, 2008, 04:28:36 pm Hình như không phải một loại ĐKB, tờ thấu nhiều ảnh khác nhau lắm. Bác bào giải thích hộ.
Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: Lizzy trong 12 Tháng Tư, 2008, 11:11:02 pm DKB = đều k biết ạ :D
Tiêu đề: "Máy đẩy" và "động cơ đẩy" Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 12 Tháng Tư, 2008, 11:52:27 pm Ví dụ.
Động cơ tên lửa và Máy đẩy tên lửa. Tiếng Anh là rocket motor và [rocket engine[/i]. Ôi trời, rất nhiều người nhầm giữa máy đẩy và động cơ. Thủa ban đầu, cái đầu tầu hỏa hơi nước nó vừa làm máy đẩy vừa làm động cơ không tính, chứ các phương tiện di chuyển, tầu xe... đều phân biệt. Cái động cơ thì còn được gọi là máy kéo, cái máy nào phát ra năng lượng cơ học cho hệ thống đều gọi là máy kéo. Chả hiểu sao các cụ lại thế. Cái máy kéo là thành phần của cái máy đẩy. Tất nhiên là dùng rời nhiều nhưng ít người ghép chung như thế vì đọc lên thấy ngang như cua, khi phải dùng chung thì hay nói máy đẩy và động cơ. Ví dụ, ở tầu thủy. Máy đẩy bao gồm chân vịt+trục cái+số má+động cơ. Nhưng động cơ thỉ chỉ là động cơ. Hay như máy bay cánh quạt, máy đẩy là động cơ+truyền động+cánh quạt. Trên đời chỉ có động cơ tên lửa nhiên liệu rắn là đôi khi máy đẩy với động cơ là một. Trong nhiều trường hợp, nó lấy luôn khối thuốc có lỗ rỗng đang cháy làm buồng đốt và tuye. Hay như máy đẩy máy bay phản lực kiểu turbofan. Thật ra, không hoàn tòa tương đồng giữa các ngôn ngữ. Để di chuyển thì các thiết bị có động cơ nào cũng phản lực hết, kể cả ô tô thầu thủy, máy bay cánh quạt hay tên lửa... Nhưng ở ta lại chỉ dùng phản lực để chỉ máy bay có máy đẩy luồng jet engine. Còn máy bay đẩy cánh quạt ngoài thì gọi là máy bay cánh quạt. Nên phần lớn mọi người khi được hỏi máy bay cánh quạt có phả lực không, đều nói sai à không. Thật ra thì các máy đẩy máy bay chở khách thông dụng là turbofan, đều là cánh quạt, chỉ có điều cái quạt có vỏ thôi, cái quạt có vỏ thì được gọi quít sờ toọc hơn là fan, gọi quít sờ toọc hơn nữa là turbine. Thật ra, máy bay chở khách thường được gọi là phản lực như Boeing-747, Tu-154... gọi là máy đẩy luồng Jet Engine. Đúng đắn hơn. Cánh quạt ngoài thì không có luồng như cánh quạt đặt trong ống. Ngang nhỉ, nhưng mà thế này mới đúng. TurboJet Engine: máy đẩy luồng tuốc bin, động cơ phản lực một luồng khí, thường dùng để chỉ loại máy đẩy không phân luồng khí như của máy bay chiến đấu. Ví dụ, R-13 của MiG-21. http://www.grc.nasa.gov/WWW/K-12/airplane/aturba.html TurboFan Engine: máy đẩy tuốc bin quạt có vỏ. Nghe cồng kềnh ghê nhỉ. Đây là loại máy đẩy dùng cho máy bay chở khách tấm trung xa thông dụng, tốc độ khai thác M0,7-M1,5. http://www.grc.nasa.gov/WWW/K-12/airplane/aturbf.html TurboProp Engine: máy đẩy tuốc bin quạt không có vỏ, nói thế cho dễ hiểu. DÙng cho máy bay tốc độ chậm hơn như các AN-12. http://www.grc.nasa.gov/WWW/K-12/airplane/turbprp.html Tất nhiên, máy bay chạy bằng động cơ xxx vẫn đúng vì lõi máy đẩy là động cơ. Nhưng có nhiều động cơ và máy đẩy dùng lẫn là sai. Ví như trực thăng, nó có khi có 2-3 động cơ chung một cánh quạt, một máy đẩy có nhiều động cơ, tốt nhất là nói về cái motor của nó lên dùng động cơ hơn. Về vật lý thì cái nào thì cũng là phản lực cả, nhưng ngôn ngữ thông thường thì cái nào là phản lực đây. Đã là thói quen thì chả cái nào đúng cả. Ông thì bảo Jet mới phản lực, ông thì bảo rocket mới phản lực, ông lại bảo tuốc bin là đủ để phản lực rồi ..... Vậy nên cẩn thận là hơn. Các động cơ trên đều dịch là máy đẩy tuốc bin cho chắc. Máy đẩy tốc bin cánh quạt TurboProp Engine. Máy đẩy tốc bin quạt có vỏ TurboFan Engine ???? nghe dễ nhầm nhỉ, mà có nhiều lá cải như con vịt fò suốt ngày nhầm cái này, máy đẩy tuốc bin phản lực phân luồng khí ???? thì cồng kềnh quá. Thé thì cư nguyên văn TurboFan Engine chả chết ai. Máy đẩy luồng TurboJet Engine máy đẩy luồng, ????? lại để nguyên văn vậy. Mọi người dùng lẫn từ lâu nên nói đúng thì...ngang phè. Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: Krongen trong 16 Tháng Tư, 2008, 05:25:51 pm Ak-47: Súng tự động Kalashiknov đời 1947
USP 45: Súng ngắn vũ trụ nạp đạn bằng băng UMP 45: Súng tiểu liên vũ trụ PSG 1: Súng trường thiện xạ chính xác BMP-1/2/3: Xe chiến đấu của bộ binh 1/2/3 AWM : (Súng trường) chiến tranh Bắc Cực lớn ... tô-be con-teo-nô Tiêu đề: Sapper - Combat Engineer Gửi bởi: chiangshan trong 17 Tháng Tư, 2008, 11:48:30 pm Nhân đọc sách Tây thấy những chỗ nói về đặc công của ta (Mỹ gọi là Sapper) rất hay bị hội dịch giả chuyển thành "công binh". Ta thử bàn xem:
- Sapper nên dịch ra tiếng Việt là gì? - Quan hệ giữa Sapper và Combat Engineer như thế nào? Mời các bác cho ý kiến. Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: Krongen trong 18 Tháng Tư, 2008, 04:07:19 pm Trích dẫn Sapper nên dịch ra tiếng Việt là gì? Thì cứ dịch là đặc công thôiTrích dẫn Quan hệ giữa Sapper và Combat Engineer như thế nào? Sapper chủ yếu là đặt bom,chất nổ phá hủy các công sự, hoặc mìn,bẫy để chống bộ binh , xe cộ. Chủ yếu là để tấn công, phục kích,do thám giống như là biệt kích vậy.Combat Engineer thì cũng giống như engineer nhưng lại chuyên sửa chữa, phục vụ hậu cần ngay trên chiến trường để sửa các trang thiết bị bị hỏng. Cũng gần giống như medic chuyên chữa trị tạm thời cho người lính bị thương. Điểm chung của cả hai là thường có 1 nhóm lính hộ tống theo và đều không chiến đấu trực tiếp. Họ không được vũ trang hoặc vũ trang nhẹ để tự vệ. Tiêu đề: Re: Sapper - Combat Engineer Gửi bởi: rongcoithit trong 18 Tháng Tư, 2008, 04:40:34 pm Nhân đọc sách Tây thấy những chỗ nói về đặc công của ta (Mỹ gọi là Sapper) rất hay bị hội dịch giả chuyển thành "công binh". Ta thử bàn xem: - Sapper nên dịch ra tiếng Việt là gì? - Quan hệ giữa Sapper và Combat Engineer như thế nào? Mình thấy tốt nhất là hiểu theo cách nghĩ của họ. Nếu công binh có thể hiểu là “engineers”, như nêu trong này: http://www.imnahastamps.com/military/militaryterms.htm Họ dùng sapper theo nghĩa của “nổ phá”, có tính phá hoại (như đối với hành động của các đội biệt động SG, dĩ nhiên với ta thì không đơn giản như vậy). Trước đây, thì mình lại nghĩ sapper là “xung kích”, nhưng không đúng, vì xung kích được họ hiểu theo nghĩa của “strike”. Một số sách thì viết hẳn là “Dac cong”, với chú thích: tương tự special forces. en.wikipedia có bài "Sapper", mình nghĩ bác nào đấy viết rất có lý. Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: dongadoan trong 18 Tháng Tư, 2008, 04:50:13 pm Thực tế, trong KCCM đã từng có các phân đội công binh chiến đấu. Hiện nay, trong thành phần của Binh chủng Công binh cũng có các đơn vị công binh chiến đấu với chức năng chính là dùng trang bị công binh để tập kích, phục kích, phá hoại...Lưu ý: Đừng nhầm với công binh cơ động vật cản nhé! ;D
Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: chiangshan trong 18 Tháng Tư, 2008, 07:40:25 pm Có rất nhiều cách hiểu. Cách hiểu Sapper = lính sử dụng chất nổ là của Anh. Bất cứ chú nào qua huấn luyện kĩ năng này thì được gọi là Sapper, không phân biệt binh chủng.
Trên wiki phần thảo luận về Sapper cũng có chú Sapper Anh khăng khăng nói mình không phải Combat Engineer. Mỹ thì hiểu Sapper theo nghĩa nguyên thuỷ. Sapper không đơn thuần là lính sử dụng chất nổ mà chính là Combat Engineer, nhưng là công binh tiền tuyến. Sappers are combat engineers who advance with the front-line infantry, and they have fought in every war in American history. ..... The term Sapper can be traced back as far as 1501 to the siege of Rouen during the French Wars. Sappers, throughout time, have proven their abilities to build and repair fortifications, execute field works, and reform the countryside with demolitions and heavy equipment to weaken the enemy and lead the infantry to victory on the battlefield. (http://www.globalsecurity.org/military/systems/ground/engineer.htm) Nhiệm vụ chung của Sapper/Combat Engineer Mĩ: Constructing trails, roads and field fortifications such as shelters, bunkers and gun emplacements Assembling floating or prefabricated bridges Operating various light or heavy engineer vehicles Placing and detonating explosives Loading, unloading and moving supplies and equipment using planes, helicopters, trucks and amphibious vehicles Operating or serving as a crewmember on a combat engineer vehicle, armored vehicle launch bridge or an armored combat earthmover Preparing and installing firing systems for demolition and explosives Locating mines by visual means or by using a mine detector (http://www.goarmy.com/JobDetail.do?id=31) Do yêu cầu bám sát tiền tuyến nên CBCĐ phải sẵn sàng chiến đấu trực tiếp, chứ không phải là vũ trang nhẹ hay không vũ trang. Mỹ xác định nhiệm vụ thứ 2 của CBCĐ là tổ chức lại và chiến đấu như bộ binh. Ngay từ thời WW2 CBCĐ trang bị súng phun lửa đã là các đội xung kích khi vượt sông hay đánh trong thành phố. CBCĐ Mỹ hoàn toàn có thể chuyển sang làm nhiệm vụ xung kích bằng các xe chiến đấu công binh. Công binh VN thời đầu KCCP thì trang bị bazooka, theo sát bộ binh vào đồn diệt hoả điểm. Đặc công VN ngoài đánh phá hoại bằng thuốc nổ còn đánh cả theo kiểu tập kích, đột kích chiếm giữ đầu cầu, phối hợp với bộ binh và xe tăng, tiến công quy mô lớn.... Kiểu tổ chức và lối đánh này giống hệt Commando Anh thời WW2. Không hiểu vì sao bọn Mỹ không dùng từ này mà lại đi dịch thành Sapper. Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: ChienV trong 21 Tháng Tư, 2008, 03:32:00 pm Ak-47: Súng tự động Kalashiknov đời 1947 USP 45: Súng ngắn vũ trụ nạp đạn bằng băng UMP 45: Súng tiểu liên vũ trụ PSG 1: Súng trường thiện xạ chính xác BMP-1/2/3: Xe chiến đấu của bộ binh 1/2/3 AWM : (Súng trường) chiến tranh Bắc Cực lớn ... tô-be con-teo-nô hí hí, nhìn đống súng xanh đỏ kia thấy thích thế nhỉ ;D ;D ;D ;D ;D Tiêu đề: bức kích pháo, bách kích pháo Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 27 Tháng Tư, 2008, 09:52:10 am Edit này nói về vịt ngan cọng hành ;D ;D ;D ;D ;D"
ở đây đã nói về bích kích pháo http://quansuvn.net/index.php?topic=255.msg12034#msg12034 Hôm nay định viết tiếp vào pháo súng cổ cái Howitzer, HP mới đi mò mấy cái ảnh thật là đặc trưng, mò được một cái ảnh pháo Nga nhưng chỉ có một phía. Bừn cừi nhất là vào đây: http://vi.wiktionary.org/wiki/howitzer Ôi trời ôi, có mỗi từ bách kích pháo ngọng mà edit có bức kích pháo, bích kích pháo, bùn cừi buò ra, không hỉu còn bờ kích pháo nào nữa không. Lựu 榴 là quả lựu, có nhiều hột, đại khái tiếng ta có "trái na". Lựu là tiếng tầu chỉ "trái phá", từ lựu đạn (từ tiếng việt gọi "Lựu thủ pháo" của tầu, Tầu cũng gọi tắt). Tiếng châu Âu trái phá là Fire-Ball, tên ổ cứng đấy. Howitzer là "lựu pháo", "lựu đạn pháo" 榴弹炮 trong tất cả các thứ tiếng tầu lớn tầu bé, Nhật, Hàn, và Vịt. Có mỗi loài Vịt lạc nó đẻ ra en nờ cái từ nghe lỏm được từ Bách Kích Pháo (cối). "Lựu pháo", "lựu đạn pháo", 榴弹炮 tức là "pháo bắn ra trái phá". Howitzer là từ tượng thanh, tiếng đạn pháo này thời cổ kêu lâu và rít vo vo (như cối ngàt nay), thời gian bay của đạn lâu, tốc độ đạn thấp, đường đạn cong cao, đạn to nặng. Cấu tạo Howitzer và thay đổi theo thời gian thế nào thì tư từ, đang tìm ảnh. Mà pà con nào có ảnh nào đặc trưng thì send cho xin, mấy lị mách cho chỗ chứa ảnh đi, ghét cái photobucket.com rồi. Bức, 逼, đôi khi được viết bằng 偪 là "(giữ-ép đến)chặt", "bức bách" là "gần chặt", "bách" 迫 là "gần". Kiểu như "đòi nợ (huy phúc) bức bách" là đòi ráo riết lắm rồi, hay "áp bức" là "đè chặt". "Bách kích pháo" 迫击砲, còn được viết là "bách kích bào" 迫击炮 là từ các nước chữ vuông chỉ cối, Tầu lớn bé Nhật Hàn. Edit vốn hay chữ, học lỏm được "Bách Kích Pháo", nhưng từ thầy đồ ngọng nào đó, truyền cho con cháu "Bích Kích Pháo" và "Bức Kích Pháo", bừn cừi buò ra, bờ kích pháo nào nữa đây. ;D ;D ;D ;D ;D ;D ;D ;D ;D ;D ;D ;D ;D ;D ;D ;D ;D ;D "Bức kích pháo" là "pháo đánh chặt chẽ" ;D ;D ;D ;D ;D ;D ;D ;D ;D. Từ với chả điển, đúng là cái đống rác. Đề nghị bác huyphuc_1981nb lưu ý cách dùng từ! Tiêu đề: Re: bức kích pháo, bách kích pháo Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 27 Tháng Tư, 2008, 11:45:54 am Ngụy già đã nổi tiếng ngu thô, ngụy con nối dõi, bùn cừi bò ra. ở đây đã nói về bích kích pháo http://quansuvn.net/index.php?topic=255.msg12034#msg12034 Hôm nay định viết tiếp vào pháo súng cổ cái Howitzer, HP mới đi mò mấy cái ảnh thật là đặc trưng, mò được một cái ảnh pháo Nga nhưng chỉ có một phía. Bừn cừi nhất là vào đây: http://vi.wiktionary.org/wiki/howitzer Ôi trời ôi, có mỗi từ bách kích pháo ngọng mà ngụy già ngụy trẻ có bức kích pháo, bích kích pháo, bùn cừi buò ra, không hỉu còn bờ kích pháo nào nữa không. Lựu 榴 là quả lựu, có nhiều hột, đại khái tiếng ta có "trái na". Lựu là tiếng tầu chỉ "trái phá", từ lựu đạn (từ tiếng việt gọi "Lựu thủ pháo" của tầu, Tầu cũng gọi tắt). Tiếng châu Âu trái phá là Fire-Ball, tên ổ cứng đấy. Howitzer là "lựu pháo", "lựu đạn pháo" 榴弹炮 trong tất cả các thứ tiếng tầu lớn tầu bé, Nhật, Hàn, và Vịt. Có mỗi loài Vịt lạc nó đẻ ra en nờ cái từ nghe lỏm được từ Bách Kích Pháo (cối). "Lựu pháo", "lựu đạn pháo", 榴弹炮 tức là "pháo bắn ra trái phá". Howitzer là từ tượng thanh, tiếng đạn pháo này thời cổ kêu lâu và rít vo vo (như cối ngàt nay), thời gian bay của đạn lâu, tốc độ đạn thấp, đường đạn cong cao, đạn to nặng. Cấu tạo Howitzer và thay đổi theo thời gian thế nào thì tư từ, đang tìm ảnh. Mà pà con nào có ảnh nào đặc trưng thì send cho xin, mấy lị mách cho chỗ chứa ảnh đi, ghét cái photobucket.com rồi. Bức, 逼, đôi khi được viết bằng 偪 là "(giữ-ép đến) chặt", "bức bách" là "gần chặt", "bách" 迫 là "gần". Kiểu như "đòi nợ (huy phúc) bức bách" là đòi ráo riết lắm rồi, hay "áp bức" là "đè chặt". "Bách kích pháo" 迫击砲, còn được viết là "bách kích bào" 迫击炮 là từ các nước chữ vuông chỉ cối, Tầu lớn bé Nhật Hàn. Ngụy già vốn hay chữ, học lỏm được "Bách Kích Pháo", nhưng từ thầy đồ ngọng nào đó, truyền cho con cháu "Bích Kích Pháo" và "Bức Kích Pháo", bừn cừi buò ra, bờ kích pháo nào nữa đây. ;D ;D ;D ;D ;D ;D ;D ;D ;D ;D ;D ;D ;D ;D ;D ;D ;D ;D "Bức kích pháo" là "pháo đánh chặt chẽ" ;D ;D ;D ;D ;D ;D ;D ;D ;D. Từ với chả điển, đúng là cái đống rác. Đề nghị bác huyphuc_1981nb lưu ý cách dùng từ! À, Bạn Tung bảo sủa thì sửa. Lấy từ cái nồi hông đặt trên đầu bọn khố đỏ khố xanh. Em út Hàn Triệu nó dốt nát quá, nên đẻ ra lắm thứ linh tinh. Em út Hàn Triệu sao lại không dược gọi, từ Ngụy nhà ta dùng bao nhiêu năm, từ lúc tớ biết nói đến giờ, sao lại không cho tớ dùng ???? Đó cũng là một từ ngiêm túc, chữ thánh hiền hẳn hoi đấy chữ. Nói thật, cái lũ ngu si thô bỉ đó, tớ chả bao giờ thích dùng những câu nghiêm trang cả. Dùng đến chữ Ngụy là đã nể mặt lắm rồi, còn nếu không dùng chữ đó, thì tự đặt ra bí danh vậy. Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: dongadoan trong 27 Tháng Tư, 2008, 11:52:31 am Đây là quy định của diễn đàn, chú thích hay không thích thì cũng phải chấp hành! Có thể cho phép chú dùng cụm từ "vịt ngan cọng hành" để thay thế! ;D
Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: Krongen trong 04 Tháng Năm, 2008, 06:28:24 pm Cho em hoi coi may thu sau day dich sang tieng Viet nhu the nao
- minigun - shotgun - fire in the hole Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: daibangden trong 04 Tháng Năm, 2008, 06:42:26 pm Cho em hoi coi may thu sau day dich sang tieng Viet nhu the nao Bắn Đột kích à? Hay CS? ;D- minigun - shotgun - fire in the hole Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: shmel trong 04 Tháng Năm, 2008, 07:06:44 pm Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 06 Tháng Năm, 2008, 02:15:20 am Cho em hoi coi may thu sau day dich sang tieng Viet nhu the nao - minigun - shotgun - fire in the hole - minigun=== trọng liên gatling - shotgun=== pháo nòng ngắn - fire in the hole====hỏi bạn shmel ;D ;D ;D ;D Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: altus trong 11 Tháng Năm, 2008, 06:23:54 pm Cho em hoi coi may thu sau day dich sang tieng Viet nhu the nao - minigun - shotgun - fire in the hole cái thứ 03 thì không nhớ lắm nhưng hai cái kia thì hình như báo QĐND dịch ra là mi-li-gân và sọt-gân. :o ??? :-\ Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: molnya trong 12 Tháng Năm, 2008, 05:41:20 am Fire in the hole = Chọt lựu đạn ( quăng lựu vào lô côt)
Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: shmel trong 12 Tháng Năm, 2008, 10:18:01 pm Tuỳ ngữ cảnh mà dịch thôi. Tham khảo tạm wiki: http://en.wikipedia.org/wiki/Fire_in_the_hole
"Fire in the hole" is a standard warning, used in many countries in the world, indicating that an explosive detonation in a confined space is imminent. It originated with miners, who needed to warn their fellows that a charge had been set. This phrase is also tought to have originated back in the days of wooden warships where they carried large amounts of gunpowder for their cannons in the hold of the ships. A fire on deck could be dealt with but a fire below deck was almost certainly fatal. The phrase was subsequently adopted by the United States Army and Marines to give notice that a grenade or satchel charge was being tossed into a bunker, spider hole, or other enclosure. It is not used for all explosions — throwing a grenade in the open is not announced, for example — only those surprisingly close. This phrase is used extensively on film and TV sets by the special effects department whenever setting off effects charges of any nature (from weapons that fire blanks to a blood squib to huge fireballs). It serves as as a warning to the crew that a loud sound is imminent and as a final warning to stop the shot if there are any problems in any department. As a result the phrase is frequently used in MythBusters due to their extensive work on set as Special Effects technicians. Xem phần discussion của nó cũng có vài giả thuyết khá thú vị về nguồn gốc của cụm từ này. Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 13 Tháng Năm, 2008, 04:11:41 am Fire in the hole = Chọt lựu đạn ( quăng lựu vào lô côt) Bạn nói trên cả đúng. Đây là cụm tử nói vui mà nước nào cũng có. Hành động tống trái phá hay liểu cháy vào công sưn qua lỗ châu mai được nói tếu. Kết quả thì rất tốt, liều cháy nổ điểm hoả trong buồng kín có sức sát thương lớn, nhưng cụm này vẫn chỉ là tếu thôi. Cứ dịch như thế là trên cả đúng. Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 16 Tháng Năm, 2008, 12:01:27 pm Grenade là lựu đạn, B40 bắn lựn đạn
Lựu đạn là dịch không đúng, nó là trái phá, đầu đạn. Grenade đúng ra là trái phá. Lựu đạn đúng ra là trái phá sát thương. Đạn B40 không ai gọi là lựu đạn cả. Nó là Grenade, trái phá, nhưng ở đây không phải là trái phá sát thương. Hơn nữa, trong tiếng Việt hiện đại, lựu đạn hiện này không còn là trái phá sát thương, mà chỉ là trái phá sát thương ném tay (thủ pháo sát thương). http://www.quansuvn.net/index.php?topic=1397.msg23018#msg23018 Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: ChienV trong 25 Tháng Năm, 2008, 05:38:26 pm Các thuật ngữ em đang dùng, trong súng bộ binh
action: cơ cấu tự động (bác HP vẫn gọi là máy súng) receiver: hộp khóa nòng bolt: khóa nòng bolt carrier: bệ khóa nòng Với đám gas operated (trích khí) thì: direct impingement: trích khí trực tiếp short stroke: trích khí lùi ngắn long stroke: trích khí lùi dài Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: dinh_van_thanh trong 25 Tháng Năm, 2008, 11:52:02 pm receiver nghĩa chính xác là cơ cấu móc đạn từ băng (cơ cấu nhận đạn). Tuy nhiên, sử dụng ngày nay có nhiều điểm khác. Ví dụ, các súng trích khí có khóa nòng quay băng hộp rời điển hình như kiểu máy AK hay M16 có một chiếc khóa nòng, trông như ngón tay, đặt trong bệ khóa nòng. Khi đi lính được học như vậy, cách gọi chính thức "yếu lĩnh" và sách vở. Tuy nhiên, đó không hoàn toàn là khóa nòng, mà nó bao gồm 3 bộ phận: khóa nòng ở đầu cái thanh này, ổ kim hỏa ở giữa, và cái móc đạn bên dưới. receiver bao gồm cái móc đạn đó và cơ cấu lắp băng vào súng, đầu băng... Và với cấu tạo như vậy, receiver không còn là một bộ phận, một phần nó ở khóa nòng, một phần ở vỏ máy súng và một phần ở đầu băng. Nói thật chính xác thì receiver không còn tồn tại nữa trong các loại súng này.
Khi dịch các tài liệu từ các súng trên, như AK, M16... thi thường gọi receiver là hộp khóa nòng, vì nó liền nên gọi luôn cả vỏ máy súng như thế. Một phàn của vỏ máy súng (đồng thời là vỏ khóa nòng), là mọt phần của cái receiver đã được băm ra. Nhưng vỏ khóa nòng lại chỉ là một bộ phận nên gọi luôn cả vỏ máy súng là receiver. Nhưng RPD dùng máy kiểu khác, nó có receiver đàng hoàng. Đây là cơ cấu cuốn băng qua súng (băng mềm), rút từng viên đạn ra khỏi băng và tống vào buồng đốt. Vì vậy, dịch các tài liêu về loại súng này cần tránh nhầm, receiver được dùng với ý nghĩa khác. Đại liên PK cũng vậy. Phần khóa nòng kim hỏa là máy AK, nhưng receiver riêng để cuốn băng mềm. Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: ChienV trong 26 Tháng Năm, 2008, 09:35:40 am receiver nghĩa chính xác là cơ cấu móc đạn từ băng (cơ cấu nhận đạn). Tuy nhiên, sử dụng ngày nay có nhiều điểm khác. Ví dụ, các súng trích khí có khóa nòng quay băng hộp rời điển hình như kiểu máy AK hay M16 có một chiếc khóa nòng, trông như ngón tay, đặt trong bệ khóa nòng. Khi đi lính được học như vậy, cách gọi chính thức "yếu lĩnh" và sách vở. Tuy nhiên, đó không hoàn toàn là khóa nòng, mà nó bao gồm 3 bộ phận: khóa nòng ở đầu cái thanh này, ổ kim hỏa ở giữa, và cái móc đạn bên dưới. receiver bao gồm cái móc đạn đó và cơ cấu lắp băng vào súng, đầu băng... Và với cấu tạo như vậy, receiver không còn là một bộ phận, một phần nó ở khóa nòng, một phần ở vỏ máy súng và một phần ở đầu băng. Nói thật chính xác thì receiver không còn tồn tại nữa trong các loại súng này. Khi dịch các tài liệu từ các súng trên, như AK, M16... thi thường gọi receiver là hộp khóa nòng, vì nó liền nên gọi luôn cả vỏ máy súng như thế. Một phàn của vỏ máy súng (đồng thời là vỏ khóa nòng), là mọt phần của cái receiver đã được băm ra. Nhưng vỏ khóa nòng lại chỉ là một bộ phận nên gọi luôn cả vỏ máy súng là receiver. Nhưng RPD dùng máy kiểu khác, nó có receiver đàng hoàng. Đây là cơ cấu cuốn băng qua súng (băng mềm), rút từng viên đạn ra khỏi băng và tống vào buồng đốt. Vì vậy, dịch các tài liêu về loại súng này cần tránh nhầm, receiver được dùng với ý nghĩa khác. Đại liên PK cũng vậy. Phần khóa nòng kim hỏa là máy AK, nhưng receiver riêng để cuốn băng mềm. Nghĩa gốc của receiver là vậy, nhưng mà bây giờ nhờ trào lưu tiếng Mỹ nên đa số các tài liệu đều hiểu theo nghĩa Mỹ bác ạ. Giờ đây nghĩa Mỹ thì receiver là hộp khóa nòng, như M16 có upper và lower receiver, phần upper chắc chắn không có thành phần nào của cơ cấu tiếp đạn. Cái này là ngữ nghĩa bị biến đổi theo thời gian. Hồi năm 30 thì nghĩa từ "khốn nạn" nó khác bây giờ lắm, "Những người khốn khổ" của Victor Hugo hồi đó tiêu đề là "Những kẻ khốn nạn" ;D ;D ;D ;D ;D ;D Em nghĩ ta giữ sự trong sáng cho tiếng Việt là đủ rồi. Vì vậy khi dịch cần thận trọng để phân biệt receiver nào là hộp khóa nòng và receiver nào là cơ cấu tiếp đạn, thế là đủ bác ạ! Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: altus trong 02 Tháng Tám, 2008, 05:25:35 am Hà hà, vừa đọc bản dịch quyển "Why Vietnam", thấy dịch giả dịch "Order of Battle" thành "Những mệnh lệnh của chiến trường" :o
Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: Krongen trong 07 Tháng Tám, 2008, 09:48:00 am Lâu lâu coi mấy tay dịch giả tay ngan dịch mấy từ ngữ quân sự sai tùm lum. Điển hình nhất là cứ dịch mấy loại đạn .38, .45 là đạn 38 mm, 45mm. Nâng cấp súng ngắn thành phòng không hay phóng lựu. Đúng là ớn thiệt.
Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: chiangshan trong 23 Tháng Tám, 2008, 03:30:54 pm Bác nào cho em hỏi là QĐ nhà mình dịch Squadron, Wing, Group là gì ạ (nếu em không nhầm thì Wing được dịch là "liên đội" thì phải)?
Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: OldBuff trong 23 Tháng Tám, 2008, 05:00:50 pm Bác nào cho em hỏi là QĐ nhà mình dịch Squadron, Wing, Group là gì ạ (nếu em không nhầm thì Wing được dịch là "liên đội" thì phải)? Mấy từ Squadron, Wing, Group là thuật ngữ không quân Mỹ. Không quân Anh thì Group và Wing lộn chỗ cho nhau so với biên chế của USAF. Trong Không lực VNCH trước đây, biên chế không quân được xác định theo mô hình USAF gồm: (1-digit numbered) air division/Liên đoàn không quân (phiên hiệu số hàng đơn vị), (2-digits numbered) Wing/Không đoàn (phiên hiệu số hàng chục), (3-digits numbered) Squadron/Phi đoàn (phiên hiệu số hàng trăm), Flight/Phi đội. Riêng (air) Group là cấp trung gian dưới Wing trên Squadron và có biên chế cấp đơn vị nhiều Flight hơn Squadron nên được gọi là Liên đội không quân. Trong biên chế Không quân nhân dân Việt Nam, các cấp đơn vị trên có thể tương ứng như sau: Wing = Trung đoàn không quân Group = Tiểu đoàn Squadron = Đại đội Flight = Phi đội Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: danngoc trong 23 Tháng Tám, 2008, 05:31:41 pm Bác cho em xin thuật ngữ tiếng Nga trong không quân VVS luôn ạ. Tks
Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: OldBuff trong 23 Tháng Tám, 2008, 11:22:30 pm Bác cho em xin thuật ngữ tiếng Nga trong không quân VVS luôn ạ. Tks Thuật ngữ tiếng Nga chỉ loại hình đơn vị của VVS được chuyển ngữ tương ứng thuật ngữ tiếng Việt trong KQNDVN gồm: авиадивизия - sư đoàn không quân авиаполк - trung đoàn không quân авиаэскадрилья - đại đội không quân авиаотряд - phi đội авиагруппа - nhóm tác chiến không quân cấp liên đội: cơ cấu lâm thời cấp chiến dịch gồm nhiều авиаэскадрилья độc lập hoặc авиаотряд độc lập Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: altus trong 24 Tháng Tám, 2008, 06:01:36 am Thế các bác cho hỏi Detachment thì dịch sang tiếng Việt (Nga) là gì ạ?
Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: danngoc trong 24 Tháng Tám, 2008, 07:29:21 am Chắc là "Đơn vị phối thuộc". Blocking Det. là đơn vị phối thuộc cho sư, quân đoàn hay tập đoàn quân.
Btw, Tks bác Trâu. Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: sukhoi30 trong 31 Tháng Tám, 2008, 01:44:28 pm "điều nghiên" có nghĩa là gì?
Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: songoku trong 31 Tháng Tám, 2008, 03:20:14 pm "điều nghiên" có nghĩa là gì? Nghĩa là: điều tra, nghiên cứu. ;D ;D ;D ;D ;DTiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: altus trong 31 Tháng Tám, 2008, 03:39:51 pm Chắc là "Đơn vị phối thuộc". Blocking Det. là đơn vị phối thuộc cho sư, quân đoàn hay tập đoàn quân. Vâng, lục quân thì có thể thế. Nhưng không quân, chẳng hạn 1st Fighter Detachment, thì tôi nghĩ không dịch thế được. Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: chiangshan trong 31 Tháng Tám, 2008, 04:05:09 pm Chắc là "Đơn vị phối thuộc". Blocking Det. là đơn vị phối thuộc cho sư, quân đoàn hay tập đoàn quân. Vâng, lục quân thì có thể thế. Nhưng không quân, chẳng hạn 1st Fighter Detachment, thì tôi nghĩ không dịch thế được. Hình như với KQ thì "detachment" ở dưới "squadron", vậy cứ dịch là phi đội. Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: altus trong 31 Tháng Tám, 2008, 04:20:34 pm Hình như với KQ thì "detachment" ở dưới "squadron", vậy cứ dịch là phi đội. Cả Wing, Group, Squadron đều có thể có một vài Detachments. Squadron Detachment chắc có thể dịch là Phân đội. Nhưng không biết Wing Detachment và Group Detachment nên dịch thế nào? Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: dongadoan trong 31 Tháng Tám, 2008, 04:38:25 pm Detachment: phân đội, chi đội, biệt đội hoặc cánh quân, mũi.
Tiêu đề: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: OldBuff trong 31 Tháng Tám, 2008, 08:23:53 pm Detachment trong quân sự nói chung (BQP Mỹ, NATO) dùng để chỉ:
- Một binh đội lâm thời được phái đi từ một đơn vị cấp độ lớn hơn và biên chế cố định để thực hiện một nhiệm vụ quân sự cấp chiến thuật tách biệt với nhiệm vụ đương thời của đơn vị chỉ huy binh đội đó. - Một binh đội được tách ra từ một đơn vị cấp độ lớn hơn để tham gia cùng một đơn vị cấp độ lớn hơn khác trong một chiến dịch. - Một cấp đơn vị thường trực của lục quân cấp dưới trung đội nhưng không đồng nghĩa với tiểu đội, dùng cho một nhiệm vụ chuyên biệt nào đó. Như vậy, detachment (viết tắt DET) có thể có nghĩa tương ứng như bác Đoành nêu, cụ thể có thể là phân đội phối thuộc, phân đội biệt lập (biệt phái), phân đội chuyên nhiệm, chi đội, v.v. Detachment cũng được dùng đồng nghĩa với task force, group trong một số văn cảnh. Khi chuyển ngữ tiếng Việt cũng cần tính tới yếu tố phù hợp trong tiếng Việt ở cấp đơn vị tương ứng. Ví dụ: Task force College Eye là một phân đội phối thuộc dưới sự chỉ huy của Liên đoàn không quân số 7 (Thái Bình Dương) của Không quân Mỹ gồm 2 phi đoàn EC-121 của Không đoàn số 552 và 2 phi đoàn EC-121 Không đoàn số 553 thuộc BTL KQ chiến lược SAC, 1 DET EC-121 của Trung tâm thử nghiệm vũ khí Hải quân Mỹ. Nếu chuyển ngữ sang tiếng Việt có thể sử dụng cụm từ Phân đội chuyên nhiệm hoặc Nhóm tác chiến không quân College Eye. Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: chiangshan trong 24 Tháng Chín, 2008, 10:29:05 am http://en.wikipedia.org/wiki/United_States_Army_enlisted_rank_insignia
Private: binh nhì Private 1st class: binh nhất Lance-corporal: chuẩn hạ sĩ ??? Corporal: hạ sĩ Specialist: hạ sĩ chuyên môn ??? Sergeant: trung sĩ Staff sergeant: trung sĩ tham mưu ??? Sergeant 1st class: trung sĩ nhất/thượng sĩ (?) 1st sergeant: ??? Master sergeant: ??? Sergeant major: ??? Command sergeant major: ??? Loạn hết cả óc với cấp bậc của mấy chú Mẽo >:( Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: danngoc trong 24 Tháng Chín, 2008, 10:43:28 am http://en.wikipedia.org/wiki/United_States_Army_enlisted_rank_insignia Private: binh nhì Private 1st class: binh nhất Lance-corporal: chuẩn hạ sĩ ??? Corporal: hạ sĩ Specialist: hạ sĩ chuyên môn ??? Sergeant: trung sĩ Staff sergeant: trung sĩ tham mưu ??? Sergeant 1st class: trung sĩ nhất/thượng sĩ (?) 1st sergeant: ??? Master sergeant: ??? Sergeant major: ??? Command sergeant major: ??? Loạn hết cả óc với cấp bậc của mấy chú Mẽo >:( Sergeant major:trước giờ tớ vẫn dịch là hạ sĩ. Vậy thì Command sergeant major: là hạ sĩ chỉ huy sở. ??? Staff sergeant: hay mình dịch là thượng sĩ? Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: OldBuff trong 24 Tháng Chín, 2008, 12:10:17 pm Các từ đó vốn không thuần nghĩa ngay cả trong số các nước hiện đang sử dụng, sao bắt mình dùng/dịch phải trong sáng được hả bạn ;) Trước nay, để hiểu nghĩa tôi hay dùng cách đối chiếu với cấp bậc quân đội VNCH vốn được tổ chức theo mô hình quân đội Mỹ. Lấy lục quân làm ví dụ:
PV1 - Private first: Just recruit/enlisted tương ứng với tân binh PV2 - Private second: trained enlisted tương ứng với binh nhì PFC - Private-first-class tương ứng với binh nhất SGT - Sergeant tương ứng với hạ sĩ SSG - Staff Sergeant tương ứng với hạ sĩ nhất SFC - Sergent-first-class tương ứng với trung sĩ MSG - Master Sergeant tương ứng với trung sĩ nhất SGM - Sergeant Major tương ứng với thượng sĩ CSM - Command Sergeant Major tương ứng với thượng sĩ nhất Đấy là quân đội Mỹ với QLVNCH, còn ta: PV1 - tân binh PV2 - binh nhì PFC - binh nhất SGT - hạ sĩ SSG - hạ sĩ thuộc nhóm hạ sĩ quan chỉ huy SFC/MSG - trung sĩ thuộc nhóm hạ sĩ quan chỉ huy SGM/CSM - thượng sĩ thuộc nhóm hạ sĩ quan chỉ huy Những ông hạ sĩ quan chỉ huy loại SSG/MSG/CSM trong quân đội ta là những ông được hưởng phụ cấp thâm niên/chỉ huy. Vì vậy, command sergeant major nên được chuyển ngữ là thượng sĩ, còn staff sergeant là hạ sĩ. Các chức vụ này đều cùng ngạch hạ sĩ quan chỉ huy. Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: chiangshan trong 24 Tháng Chín, 2008, 05:51:19 pm Bác Trâu ơi, em tưởng hạ sĩ phải là Corporal chứ ???
Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: OldBuff trong 24 Tháng Chín, 2008, 06:58:51 pm Corporal là hạ sĩ của Thuỷ quân lục chiến Mỹ.
Dịch chuyển ngữ các cấp bậc trên từ tiếng Anh sang tiếng Việt cần xác định: (i) nước nơi tiếng Anh được sử dụng và (ii) binh chủng mà chức vụ đó được đề cập. Trong QĐND Việt Nam: Binh sĩ là tất cả các loại binh nhì và binh nhất. Cấp bậc binh nhì chuyển ngữ đều là private trừ việc rạch ròi tân binh (PV1) với lính vừa hết tân binh và đang được đào tạo kỹ chiến thuật chiến đấu cơ bản (PV2). Chiến sĩ bao gồm binh nhì, binh nhất và hạ sĩ quan thường, binh sĩ chuyên môn kĩ thuật. Cán bộ bao gồm sĩ quan các cấp và mấy cấp bậc thuộc ngạch hạ sĩ quan chỉ huy. Binh sĩ chuyên môn kĩ thuật có cấp bậc tương tự ngạch hạ sĩ quan chỉ huy. Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: chiangshan trong 24 Tháng Chín, 2008, 07:52:52 pm Lục quân cũng thế mà bác, Corporal trên Private 1st class và dưới Sergeant.
Army: PV1 PV2 PFC SPC-CPL SGT SSG SFC MSG-1SG SGM-CSM SMA Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: OldBuff trong 24 Tháng Chín, 2008, 08:49:18 pm Lục quân cũng thế mà bác, Corporal trên Private 1st class và dưới Sergeant. Army: PV1 PV2 PFC SPC-CPL SGT SSG SFC MSG-1SG SGM-CSM SMA Cái này có truyền thống từ cấp bậc trong lục quân Anh chuyển qua lục quân Mỹ chiangsan ah! Từ lính trơn PFC nếu được phân kiêm nhiệm chỉ huy một phân đội tạm thời thì được gọi là corporal. Ví dụ corporal trong tổ 3 người bộ binh thường do lính có nhiều tuổi quân hơn phụ trách. Các phân đội tạm thời không có sĩ quan hoặc hạ sĩ quan chỉ huy còn có cấp độ lance corporal hỗ trợ cho corporal. Lục quân Mỹ không có cấp bậc này cố định tuy vẫn có khung lương cho loại binh sĩ chỉ huy này, trong khi Marine thì là một cấp bậc cố định. Ở ta, corporal không có nghĩa tương ứng mà thường gọi tạm là tổ trưởng. Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: chiangshan trong 24 Tháng Chín, 2008, 09:28:20 pm Ôi thôi. Bản dịch The Longest Day của em đi tong hết rồi ???
Nếu được thì bác Trâu giới thiệu thêm về hệ thống cấp bậc trong các binh chủng khác của Anh và Mỹ đi ạ. Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: danngoc trong 24 Tháng Chín, 2008, 10:37:54 pm Dẹp ...... The Longest Day đi, mấy hôm nữa tao gửi mày mấy cuốn hay lắm.
Nhắc nhở thành viên danngoc, dùng từ ngữ đúng mực, đây không phải là cái chợ! Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: chiangshan trong 27 Tháng Sáu, 2009, 08:32:05 am Frigate chuyển sang tiếng Việt là gì bây giờ các bác nhỉ?
Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: tisina trong 27 Tháng Sáu, 2009, 09:32:41 am Frigate trong từ điển hàng hải đóng tàu (http://tudienhanghai.com/view.php?word=frigate&type=exact&action=search) được dịch là chiến thuyền, tàu chỉ huy của đội tàu, nghĩa không rõ lắm.
Thường mình vẫn thấy hay dùng với nghĩa là "tàu chiến" Theo định nghĩa của từ điển hàng hải Nga: Thời kỳ đầu (khoảng từ TK 17), Frigate là tàu ba cột buồm, được trang bị hỏa lực mạnh (pháo lên tới 60 khẩu), phục vụ cho các hoạt động liên lạc, tuần tiễu trên biển. Đến giữa thế kỷ 19, xuất hiện các loại frigate hơi nước, chân vịt, vỏ bọc thép... Thời kỳ hiện đại: frigate dùng để chỉ các loại tàu nằm giữa tuần dương hạm (cruiser) hạng nhẹ và tàu khu trục; ra đời trong giai đoạn chiến tranh thế giới thứ 2. Frigate hiện đại có tải trọng tới 4000 tấn, được trang bị tên lửa cao xạ và tên lửa chống tàu. Nhiệm vụ: tìm kiếm và tiêu diệt tàu ngầm, các loại tàu phòng không và tàu chống tên lửa. Cũng theo từ điển này: frigate của Mỹ bao gồm cả tàu nguyên tử tải trọng 8600-10000tấn, từ năm 1975 chúng được gọi là tuần dương hạm nguyên tử (tên lửa). Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: OldBuff trong 27 Tháng Sáu, 2009, 10:54:44 am Nguyên gốc Frigate là loại tàu chiến có hỏa lực mạnh hoạt động độc lập ngoài đội hình (khác với các tàu chiến đội hình/ship-of-the-line). Loại tàu này hỏa lực kém hơn tàu chiến đội hình, nhưng lại cơ động linh hoạt hơn và dự trữ chiến đấu dài ngày hơn. Nhiệm vụ của Frigate gồm: (i) cắt đứt/phong toả/duy trì lưu thông hàng hải; (ii) bắt liên lạc; (iii) tuần tiễu và (iv) hộ tống hàng hải.
Frigate hiện đại đã chuyển nhiệm vụ (i) và hộ tống phòng không hạm đội (iv) cho tuần dương hạm/cruiser, trong khi chủ yếu thực hiện nhiệm vụ (ii), (iii) và (iv) trong các vùng biển có bán kính hoạt động cách căn cứ 4000 km hoặc xa hơn nếu có tiếp liệu. Tên gọi Frigate được chuyển ngữ thành tàu tuần tiễu xa bờ/hạng nặng hoặc tàu hộ tống tuỳ theo nhiệm vụ chính yếu của tàu. Ví dụ, VN mua tàu Frigate/Фрегат Gepard 3.9 của Nga. Lớp frigate đề án 1166 vốn được thiết kế chủ yếu là tàu hộ tống xa bờ và tuần tiễu biển kín từ thời còn Hải quân Liên Xô. Thời sau LX, mặc dù mẫu thiết kế này (đề án 1166.1) tiếp tục được Hải quân Nga sử dụng, nhưng bên cạnh đó, Nga cho phép xuất khẩu các phiên bản thiết kế tùy chọn cho khách hàng. VN chọn mua loại Gepard 3.9 là tàu tuần tiễu xa bờ/hạng nặng. Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: whamy04 trong 26 Tháng Mười Hai, 2009, 11:32:35 am Có mấy từ sau không biết em dịch như vậy có đúng chưa (từ sách Janes's Fighting Ships 2004-2005):
- Coastal Patrol Craft: tàu tuần tra duyên hải - Inshore Patrol Craft: tàu tuần tra gần bờ - Large Patrol Craft: tàu tuần tra lớn - Offshore Patrol Craft: tàu tuần tra xa bờ - Minesweeper: tàu quét mìn - Minehunter: tàu săn mìn - Minelayer: tàu rải/đặt mìn - Corvette: tàu hộ tống nhỏ, như vậy có trùng với Frigate không? Có điều lạ là trong sách đó tuy Large Patrol Craft nhưng nó chỉ có mấy chục tấn? Duyên hải với gần bờ thì cũng gần như nhau? Quét mìn với săn mìn em nghĩ cũng cùng chức năng là tìm mìn rồi phá hủy nó đi? Không biết các bác nghĩ sao? Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: chiangshan trong 05 Tháng Tư, 2010, 06:45:27 pm Vẫn là chuyện quân hàm. Hiện nay em vẫn dịch quân hàm của Đức (từ cao xuống thấp) như thế này:
Generalfeldmarschall (Field Marshal): Thống chế. Generaloberst (Colonel General): Chuẩn thống chế. General: Đại tướng. Generalleutnant (Lieutenant General): Trung tướng. Generalmajor (Major General): Thiếu tướng. Nhưng vừa rồi xem lại 1 số sách của ta dịch ra tiếng Việt (hồi ký Zhukov, Tuyết bỏng...) thì có vẻ họ đều dịch Generalfeldmarschall là "chuẩn thống chế". Các bác có ý kiến gì không ạ. Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: huyphongssi trong 05 Tháng Tư, 2010, 10:27:35 pm Vẫn là chuyện quân hàm. Hiện nay em vẫn dịch quân hàm của Đức (từ cao xuống thấp) như thế này: Generalfeldmarschall (Field Marshal): Thống chế. Generaloberst (Colonel General): Chuẩn thống chế. General: Đại tướng. Generalleutnant (Lieutenant General): Trung tướng. Generalmajor (Major General): Thiếu tướng. Nhưng vừa rồi xem lại 1 số sách của ta dịch ra tiếng Việt (hồi ký Zhukov, Tuyết bỏng...) thì có vẻ họ đều dịch Generalfeldmarschall là "chuẩn thống chế". Các bác có ý kiến gì không ạ. Có vẻ các dịch giả bị ảnh hưởng bởi một cấp bậc cao hơn là Reichsmarschall tức Thống chế Đế chế xuất hiện từ năm 1940 nên Thống chế chiến trường (Generalfeldmarschall) bị đẩy xuống thành Chuẩn Thống chế. Cách dịch này không được chính xác theo bối cảnh. Em thấy cách dịch này có thể tham khảo: Reichsmarschall (Imperial Marshal): Thống chế đế chế Generalfeldmarschall (Field Marshal): Thống chế chiến trường hay thống tướng Generaloberst (Colonel General): Chuẩn thống chế hay chuẩn thống tướng (TQ gọi là thượng tướng). General: Đại tướng. Generalleutnant (Lieutenant General): Trung tướng. Generalmajor (Major General): Thiếu tướng. Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: altus trong 05 Tháng Tư, 2010, 11:40:02 pm Các bác dịch thế nào thì dịch dưng mà ra Thượng tướng to hơn Đại tướng là vứt. ;D
Tôi đề nghị dịch thế này Reichsmarschall: Đại nguyên soái. Generalfeldmarschall (Field Marshal): Nguyên soái Generaloberst (Colonel General): Đại tướng. General: Thượng tướng. Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: tientt82 trong 13 Tháng Tư, 2010, 09:45:15 pm Trích dẫn Một cái nữa là "motorized infantry" và "mechanized infantry", sách báo hay dịch chung là "bộ binh cơ giới", thật ra là 2 loại khác nhau : - Motorized infantry : tạm gọi là bộ binh cơ giới hoá, bộ binh cơ động chủ yếu trên xe vận tải thường. - Mechanized infantry : bộ binh cơ giới, bộ binh cơ động, chiến đấu chủ yếu trên xe bọc thép có vũ trang (IFV, APC). Riêng có Nga lại gọi bộ binh cơ giới là motorized. Armoured infantry cũng tương tự mechanized infantry, nhưng là bộ binh nằm trong các đơn vị thiết giáp. Nhà ta cũng gọi tuốt là bộ binh cơ giới. Đây là điểm khác biệt mà bác Chiangsan đã chỉ ra giữa Motorized infantry và Mechanized infantry Trước khi apc ; nhất là ifv phổ biến thì biên chế của lữ cơ giới hóa và lữ "cơ khí" ;D tức lữ cơ giới của LX (trước trận Kursk) như sau Motorised http://dspace.dial.pipex.com/town/avenue/vy75/rusmrb.htm (http://dspace.dial.pipex.com/town/avenue/vy75/rusmrb.htm) Mechanised http://dspace.dial.pipex.com/town/avenue/vy75/rusmb.htm (http://dspace.dial.pipex.com/town/avenue/vy75/rusmb.htm) Có thể nhận thấy khác biệt cơ bản là lữ cơ giới được trang bị xe tăng ; còn lữ cơ giới hóa chủ yếu là pháo chống tăng Lữ cơ giới hóa còn được trang bị 10 apc (chắc là dòng Mx của Mĩ ; trong lend-lease LX nhận được gần 1000 ) ; trong khi đó lữ cơ giới được bổ sung thêm khoảng 140 sapper Vậy có thể tạm đưa ra kết luận là lữ cơ giới có mục đích là tiến công ; còn nhiệm vụ cơ bản của lữ cơ giới hóa là phòng ngự ;D Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: chiangshan trong 13 Tháng Tư, 2010, 09:57:58 pm Nói chính xác hơn thì lữ cơ giới có nhiệm vụ đột kích, lữ cơ giới hóa có nhiệm vụ đi sau hỗ trợ, càn quét, chiếm đóng... trận địa.
Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: tanamthien trong 05 Tháng Chín, 2010, 02:35:46 pm Hôm nay tôi đi triển lãm sách, thấy có cuốn "Từ điển BK quân sự VN" vô cùng quy mô do 1 tập thể nhiều tướng, tá tham gia soạn thảo. Nhưng giá thì đắt quá : 720.000đ/cuốn. có ai đóng gói thành ebook rồi share cho mọi người được khôngTiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: binhnhi2009 trong 05 Tháng Chín, 2010, 06:14:34 pm @huyphuc1981_nb
Nhờ bác giải thích xíu về chữ pháo trong bàn cờ tướng giùm. bn không thấy chữ đó trong các chữ "pháo" mà bác đã dùng Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: ngthi96 trong 25 Tháng Mười Một, 2011, 04:04:12 pm Cho em hỏi thăm mấy chức danh này dịch ra tiếng Việt là gì
executive officer...Sĩ quan quản trị? operations officer...sĩ quan hành quân ? communications officer...sĩ quan thông tin? weapons-platoon leader? platoon sergeant...? wingman...phi công cánh? forward air controller ?...chỉ điểm mục tiêu của không quân? aerial rocket artillery commander? Mong các bác giúp... Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: chiangshan trong 25 Tháng Mười Một, 2011, 04:10:55 pm Executive officer (XO): sĩ quan chỉ huy phó, xếp dưới commander officer - CO (sĩ quan chỉ huy trưởng).
Operation officer: sĩ quan tác chiến. Wingman: phi công trợ thủ, số 2 của 1 biên đội. Forward air controller: phi công/máy bay phối hợp hoạt động giữa KQ và BB, có thể tạm dịch là liên lạc tiền tuyến. Aerial rocket artillery commander: chỉ huy đơn vị trực thăng vũ trang gắn rocket. Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: ngthi96 trong 25 Tháng Mười Một, 2011, 04:57:03 pm cám ơn bác...thế weapons-platoon leader? dịch là chỉ huy trung đội hỏa lực được ko bác?
vậy còn fire-team leader thì sao?..là tổ hỏa lực phải ko ạ? E thắc mắc thêm Staff sergeant có phải là trung sĩ tham mưu ko? Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: selene0802 trong 25 Tháng Mười Một, 2011, 05:00:14 pm Cái chức Platoon Sargeant hình như ngang trung đội phó phải không các bác, em thấy trong một trung đội của Thủy quân lục chiến Mỹ, Lieutanant - Trung úy làm sếp, thì ngay sau anh ta là một Sargeant - Trung sĩ của trung đội
Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: qtdc trong 25 Tháng Mười Một, 2011, 09:57:36 pm Trộm nghĩ:
- Platoon sergeant - trung đội phó là tương thích nếu xét theo nhiệm vụ anh ta phải làm. Nếu tiếng Nga thì nó tương tự pomotsnik komandir nghĩa là làm tất nhưng không được ăn tất. Chỉ khác một đằng hạ sỹ quan còn một đằng sỹ quan. - Staff sergeant - trung sỹ văn thư, chuyên làm nhiệm vụ hành chính quản trị là chính, nói cho cùng đây chính là chức quản lý hành chính và tiền bạc cho đơn vị, gần giống anh quản lý đại đội và kiêm văn thư luôn. Bị lính vừa ghét vừa sợ, được các sếp yêu. Mấy cái thuật ngữ này muốn chuyển ngữ phải xét nhiệm vụ chức trách, mà mỗi quân đội tổ chức khác nhau nên cũng không lột tả được hết đâu. Cứ xét nhiệm vụ cơ bản là chính thôi. Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: selene0802 trong 25 Tháng Mười Một, 2011, 10:36:22 pm Vậy bác cho em hỏi cái chức Quản trị trưởng của quân đội Liên Xô, tương đương với anh Staff Sargeant (dịch là thượng sĩ già được không nhỉ) của Mỹ ạ ? ;D
Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: qtdc trong 25 Tháng Mười Một, 2011, 10:47:52 pm - bạn selen à, theo tớ phải xét cấp đơn vị. vì một đằng hạ sỹ quan, một đằng có từ hạ sỹ quan đến tận sỹ quan. Ví dụ cấp đơn vị cao hơn thì là mấy ông chủ nhiệm hậu cần chẳng hạn và các bác ấy là sỹ quan, thời chưa tiền tệ hóa thì mấy bác hậu cần to lắm, bây giờ sợ trưởng ban tài chính một phép, nhưng nói chung hậu cần và tài vụ thường "yêu" nhau.
- còn quản trị trưởng của Nga thì phải xét nó có từ cấp đơn vị nào đến cấp đơn vị nào. Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: selene0802 trong 25 Tháng Mười Một, 2011, 10:49:52 pm Em thấy trong sách thì Quản trị trưởng thường chỉ ở cấp đại đội hay trung đội, không có ở cấp cao hơn
Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: qtdc trong 25 Tháng Mười Một, 2011, 11:02:23 pm - bạn selen à, theo tớ hiểu thì muốn làm thật kỹ phải xét đến điều lệnh tổ chức quân đội Nga và Mỹ đối với 2 chức danh đó thì mới so được thật chính xác. Đây là hai chức danh mà nếu soi vào quân đội ta thì nó có thể xếp vào ngạch quân nhân chuyên nghiệp. Cứ làm mịn dần thôi, giống một trăm phần trăm ngay hơi khó.
Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: selene0802 trong 05 Tháng Giêng, 2012, 12:10:20 am Các bác cho em hỏi:
- Land System Operational Requirement dịch thế nào với, em hiểu loáng thoáng thì nó tương đương với 1 đơn vị trong bộ quốc phòng các nước NATO - Staff Requirement để chỉ một văn bản được ban hành bởi cái đơn vị nêu trên, thì dịch thế nào cho hay ạ ;D Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: huyphongssi trong 05 Tháng Giêng, 2012, 12:49:45 am Các bác cho em hỏi: - Land System Operational Requirement dịch thế nào với, em hiểu loáng thoáng thì nó tương đương với 1 đơn vị trong bộ quốc phòng các nước NATO - Staff Requirement để chỉ một văn bản được ban hành bởi cái đơn vị nêu trên, thì dịch thế nào cho hay ạ ;D Land System Operational Requirement = Bản yêu cầu nhiệm vụ của hệ thống vũ khí (hoặc khí tài) mặt đất Staff Requirement = Bản công bố chi tiết về các thông số thiết kế và tính năng vận hành cần được đáp ứng của một hệ thống vũ khí (khí tài) Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: selene0802 trong 05 Tháng Giêng, 2012, 07:17:43 am Các bác cho em hỏi: - Land System Operational Requirement dịch thế nào với, em hiểu loáng thoáng thì nó tương đương với 1 đơn vị trong bộ quốc phòng các nước NATO - Staff Requirement để chỉ một văn bản được ban hành bởi cái đơn vị nêu trên, thì dịch thế nào cho hay ạ ;D Land System Operational Requirement = Bản yêu cầu nhiệm vụ của hệ thống vũ khí (hoặc khí tài) mặt đất Staff Requirement = Bản công bố chi tiết về các thông số thiết kế và tính năng vận hành cần được đáp ứng của một hệ thống vũ khí (khí tài) Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: huyphongssi trong 05 Tháng Giêng, 2012, 08:58:03 am Các bác cho em hỏi: - Land System Operational Requirement dịch thế nào với, em hiểu loáng thoáng thì nó tương đương với 1 đơn vị trong bộ quốc phòng các nước NATO - Staff Requirement để chỉ một văn bản được ban hành bởi cái đơn vị nêu trên, thì dịch thế nào cho hay ạ ;D Land System Operational Requirement = Bản yêu cầu nhiệm vụ của hệ thống vũ khí (hoặc khí tài) mặt đất Staff Requirement = Bản công bố chi tiết về các thông số thiết kế và tính năng vận hành cần được đáp ứng của một hệ thống vũ khí (khí tài) À lúc này "LSOR 1" chỉ là cách gọi tắt tên 1 phòng kế hoạch dự án phụ trách phát triển vũ khí lục quân nhóm 1 thuộc Cục kế hoạch lục quân (Directorate of Army Plans) của BTL Lục quân BQP Anh quốc. Phòng LSOR1 chịu trách nhiệm dự thảo và trình Bản yêu cầu nhiệm vụ của hệ thống vũ khí lục quân (nhóm 1) lên cấp có thẩm quyền thuộc BTL Lục quân hoặc BQP Anh để ban hành cho các nhà thầu phát triển vũ khí. Nếu dịch tên LSOR 1 tóm lược sang tiếng ta thì có thể gọi là Phòng phụ trách lập yêu cầu nhiệm vụ vũ khí lục quân nhóm 1 ;D Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: selene0802 trong 28 Tháng Hai, 2012, 11:54:26 pm Bác huyphong cho em hỏi về quy mô các đơn vị theo kiểu này với:
Army group: tập đoàn quân Army: quân đoàn Group: dịch là gì ạ ?? (trường hợp cụ thể, thì em không dịch cho quân đội lớn cỡ Hồng Quân, mà là các quân đội có tổ chức đơn vị nhỏ hơn kiểu như Ba Lan hay Đức) Còn lớn nhất so với những đơn vị như trên là phương diện quân, thì dùng từ gì ? Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: daibangden trong 29 Tháng Hai, 2012, 12:19:45 am Bác huyphong cho em hỏi về quy mô các đơn vị theo kiểu này với: Army group: tập đoàn quân Army: quân đoàn Group: dịch là gì ạ ?? (trường hợp cụ thể, thì em không dịch cho quân đội lớn cỡ Hồng Quân, mà là các quân đội có tổ chức đơn vị nhỏ hơn kiểu như Ba Lan hay Đức) Còn lớn nhất so với những đơn vị như trên là phương diện quân, thì dùng từ gì ? Group = группа = cụm, nhóm, tổ... ;D Army group = cụm quân đoàn hoặc cụm quân ;D Còn từ армия trong tiếng Nga nghĩa là tập đoàn quân ;D Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: huyphongssi trong 29 Tháng Hai, 2012, 12:46:39 am Bác huyphong cho em hỏi về quy mô các đơn vị theo kiểu này với: Army Group = Front = nhiều ArmyArmy group: tập đoàn quân Army: quân đoàn Group: dịch là gì ạ ?? (trường hợp cụ thể, thì em không dịch cho quân đội lớn cỡ Hồng Quân, mà là các quân đội có tổ chức đơn vị nhỏ hơn kiểu như Ba Lan hay Đức) Còn lớn nhất so với những đơn vị như trên là phương diện quân, thì dùng từ gì ? Army trước nay vẫn được dịch là Quân đoàn, còn Army Group là Tập đoàn quân, Front là Phương diện quân (riêng cấp Phương diện quân ngoài các Quân đoàn lục quân còn có thêm 1 Quân đoàn không quân). Mấy cách dịch này hình như nhà ta mượn của Trung quốc, chứ anh Nhật bổn thì gọi theo thứ tự là Army = Quân đoàn, và Group Army = Tổng quân đoàn. Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: altus trong 29 Tháng Hai, 2012, 07:52:23 am Front là Phương diện quân, Army Group là Tập đoàn quân chắc chuẩn rồi, khớp với thuyết minh các phim tài liệu chiến đấu của Liên Xô.
Tuy nhiên cách dịch Army thì xem ra bao lâu nay vẫn loạn xạ. Army là Quân đoàn hở các bác? Thế cấp dưới Army là Corps thì là gì? Các bác theo "Army trước nay vẫn là Quân đoàn" đèn giời soi xem Bác Hồ xưa có thời gian biên chế ở Bát Quân Đoàn hay Bát Lộ Quân cái nhỉ? Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: selene0802 trong 29 Tháng Hai, 2012, 08:49:37 am Thường em vẫn để corps là cấp lữ, nhưng mà bọn Mỹ lại để US Marine Corps, lại là cấp binh chủng :-\
Em chủ yếu thắc mắc cái cấp Group nữa :-\ Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: chiangshan trong 29 Tháng Hai, 2012, 09:23:17 am Sao lại lung tung vậy.
Lữ = Brigade. Quân đoàn = Corps. Tập đoàn quân = Army. Cụm tập đoàn quân = Army Group. Còn bọn Mỹ hoặc Anh hay có kiểu Engineer Corps hoặc Marine Corps thì Corps ở đây mang nghĩa binh chủng, không mang nghĩa đơn vị. Group thì cứ tùy theo ngữ cảnh mà dịch, tiếng Việt của ta có 1 từ rất hợp là Binh đoàn. Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: panphilov trong 29 Tháng Hai, 2012, 09:25:23 am Front là Phương diện quân, Army Group là Tập đoàn quân chắc chuẩn rồi, khớp với thuyết minh các phim tài liệu chiến đấu của Liên Xô. Tuy nhiên cách dịch Army thì xem ra bao lâu nay vẫn loạn xạ. Army là Quân đoàn hở các bác? Thế cấp dưới Army là Corps thì là gì? Các bác theo "Army trước nay vẫn là Quân đoàn" đèn giời soi xem Bác Hồ xưa có thời gian biên chế ở Bát Quân Đoàn hay Bát Lộ Quân cái nhỉ? Em xin trả lời ạ. Tổ chức đơn vị quân đội trên Thế giới, tùy quy mô, mà có tổ chức đơn vị quân đội các cấp như sau: - Army Group: Cụm tập đoàn quân đôi khi còn gọi tắt là Cụm quân. - Army đầy đủ hơn là Field Army: Tập đoàn quân - Corps: Quân đoàn - Division: Sư đoàn - Brigarde: Lữ đoàn Còn Bát lộ quân, tên thì hoành tráng là thế, nhưng tế chỉ tương đương với cấp Quân đoàn thôi. Phương diện quân (Front) thì đúng là hợp thành từ nhiều tập đoàn quân, nhưng nó không phải là một cấp trong tổ chức quân đội, nó là tổ chức cao nhất về mặt chiến dịch. Quân số của nó có thể ít hơn Cụm tập đoàn quân hoặc nhiều hơn, thay đổi cùng với thời gian theo yêu cầu của mỗi chiến dịch hay từng giai đoạn chiến dịch. Tên gọi của phương diện quân cũng thay đổi theo từng thời kì, không bao giờ cố định, rồi bị giải thể... Phương diện quân là đặc sản của nghệ thuật quân sự Liên Xô thời WWII (Tác chiến chiều sâu), hiểu nôm na nó như một hướng mặt trận được xác định bằng phương (hướng đánh và chiều sâu chiến dịch), diện (bề rộng chiến dịch). Tại một thời điểm, một phương diện quân tác chiến đồng thời trên cả bề rộng và chiều sâu, trong khi cụm tập đoàn quân thì chỉ là bề rộng. Xét về quân số và ý nghĩa thì phép đồng nhất Front = Army group là không hợp lệ :'( Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: OldBuff trong 29 Tháng Hai, 2012, 10:45:32 am Cơ cấu và thuật ngữ cấp đơn vị quân đội được ta vay mượn từ nước ngoài nên phải xét theo bối cảnh mới được ;)
Hiện nay, cấp đơn vị quân đội ta gồm có quân chủng (liên binh đoàn bộ đội chuyên môn), binh chủng (liên binh đoàn bộ đội chuyên môn), quân khu (liên binh đoàn phòng thủ địa bàn), quân đoàn (liên binh đoàn cơ động), binh đoàn (liên binh đoàn dự bị chiến lược), sư đoàn, lữ đoàn, trung đoàn, tiểu đoàn, đại đội, trung đội và tiểu đội. Cơ cấu và tên gọi quy gọn lại theo 3 bậc: quân - đoàn - đội. Vì ta không có cấp đơn vị quân đội lớn hơn "quân" nên thuật ngữ tương ứng còn thiếu và không thống nhất. Khi trước ta mượn và cải biến thuật ngữ cấp đơn vị quân đội TQ vốn có nguồn gốc từ Cách mạng Quân - lực lượng quân sự của Tưởng Giới Thạch. Thời Tưởng, các cấp đơn vị quân đội được tổ chức từ trên xuống dưới như sau: - Chiến khu: cấp đơn vị phòng thủ địa bàn hướng chiến lược, chỉ huy một Binh đoàn hoặc Tập đoàn quân và nhiều quân khu. Chiến khu tương đương Phương diện quân hay Front. - Binh đoàn: cấp lớn hơn và có thể gồm nhiều Tập đoàn quân và các đơn vị độc lập cấp thấp hơn, là đơn vị cơ động cấp chiến lược trên địa bàn tác chiến Chiến khu. Binh đoàn có thể tương đương Phương diện quân hay Front - Tập đoàn quân: cấp nhỏ hơn Binh đoàn và cũng là đơn vị cơ động cấp chiến lược trên địa bàn tác chiến của một Chiến khu. Tập đoàn quân tương đương với Army Group - Lộ quân: cấp đơn vị cơ động cấp chiến dịch chiến lược theo hướng, được giao quản lý và chỉ huy từ hai quân đoàn và một số sư đoàn trở lên. Cấp này sau được chuyển đổi lên Tập đoàn quân hoặc xuống Quân. Bát lộ quân là Lộ quân thứ 8 của Cách mạng quân. Lộ quân tương đương với Field Army - Quân: cấp đơn vị cơ động cấp chiến dịch chiến lược trên địa bàn một số quân khu, được giao quản lý và chỉ huy hai quân đoàn và các sư đoàn độc lập. Quân tương đương với Army - Quân khu - Quân đoàn - Sư: sư đoàn - Lữ: lữ đoàn - Đoàn: trung đoàn - Doanh: tiểu đoàn - Liên: đại đội - Bài: trung đội - Ban: tiểu đội Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: chiangshan trong 29 Tháng Hai, 2012, 11:04:59 am Bác Trâu thử xem lại, theo em nhớ thì Quân = Quân đoàn.
Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: OldBuff trong 29 Tháng Hai, 2012, 11:55:12 am Bác Trâu thử xem lại, theo em nhớ thì Quân = Quân đoàn. Cho tới thời gian Thế chiến 2, một số nước Đông Bắc Á vẫn sử dụng "Quân" như Nhật Bản ("軍") và Trung Quốc ("军") là cấp đơn vị quản lý và chỉ huy rất nhiều quân đoàn. "Quân" của Nhật thường lớn hơn "Quân" của Trung Quốc. Mỗi "Quân" của Nhật tương đương với "Tập đoàn quân" hoặc "Lộ quân" của Trung Quốc.Ví dụ Quan đông Quân của Nhật có quy mô "Tập đoàn quân" của Cách mạng Quân TQ. Ở nước ta có một số nguồn dịch "Quan đông Quân" thành "Đạo quân Quan đông" với ý coi "Lộ quân" bằng "Đạo quân". Cụ Lê Hoàn ngày xưa giữ tới chức Thập đạo tướng quân, có nghĩa là tướng tư lệnh 10 đạo quân. Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: altus trong 29 Tháng Hai, 2012, 05:58:17 pm Các bác theo phương châm "Quân đông đánh cả Cụm" có thể có lý, nhưng mà không có tình.
Lấy tình mà xét, thì tất cả các phim chiến đấu của Liên Xô mà tôi từng xem đều thuyết minh thống nhất như nhau là "Phương diện quân Bê-lô-rút-xi-a chọc thủng phòng tuyến của Tập đoàn quân Trung tâm" hay "Phương diện quân Sông Đông đại chiến Tập đoàn quân Phương Nam". Tôi cứ thế mà nhớ thôi, hậu xét! ;D Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: qtdc trong 29 Tháng Hai, 2012, 07:47:37 pm Theo tôi tạm hiểu thế này:
- Ta cứ theo nguyên tắc xét ngữ cảnh + thời kỳ + quốc gia: Ví dụ: Chiến tranh thế giới thứ 2: a. Liên Xô: - Front - (фронт) Phương diện quân - Armia (армия) - Tập đoàn quân - Korpus (корпус) - quân đoàn b. Đức: - Army Group (Đức: Heeresgruppe hoặc Armeegruppe) - cụm tập đoàn quân, ví dụ: Army Group South (Đức: Heeresgruppe Süd; Nga: Группа армий «Юг»): cụm tập đoàn quân "NAM" quân đội Đức quốc xã - Army (Đức: Armee) - tập đoàn quân, ví dụ: 6th Army (Đức: Die 6.Armee; Nga: 6-я армия): tập đoàn quân 6 - Corps (Đức: Korps) - quân đoàn, ví dụ: XXIV Panzer Corps (Đức: XXIV. Panzerkorps; Nga: 24-й танковый корпус) : quân đoàn xe tăng 24 (thuộc tập đoàn quân 6 của Paulus) - Còn group nói chung, nếu trong Группа армий «Юг» hoặc Army Group South thì là cụm tập đoàn quân - Nếu group trong старший группы техников thì là nhóm trưởng (nhóm kỹ thuật viên) Các thời kỳ khác và quốc gia khác thì xét tiếp. Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: VMH trong 29 Tháng Hai, 2012, 08:22:55 pm Quan điểm chính thống của nhà ta về các danh xưng ấy như sau:
(http://i614.photobucket.com/albums/tt226/trandoan/quandoan.jpg) (http://i614.photobucket.com/albums/tt226/trandoan/tapdoanquan.jpg) (http://i614.photobucket.com/albums/tt226/trandoan/phuongdienquan.jpg) Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: nguyendat2008 trong 29 Tháng Hai, 2012, 08:29:41 pm Trước đây, nhà mình có cuốn " Từ điển quân sự Anh - Việt " hình như của nhà xuất bản Dziên Hồng trước 1975, bìa màu xanh. Các thuật ngữ quân sự bằng tiếng Anh được giải thích rất nhiều trong cuốn từ điển đó.
Sau lần chuyển nhà thì làm mất, đến giờ vẫn tiếc ! Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: huyphongssi trong 01 Tháng Ba, 2012, 05:32:51 pm Huyphong đọc 1 số tài liệu thấy có viết là hồi năm 1979, Quân khu Quảng châu Trung quốc dùng tới 2 tập đoàn quân số 41 và 42 để đánh sang Vn ở hướng chính. Kiểm tra lại thấy Tq gọi đây là các tập đoàn quân lục quân tương đương với tập đoàn quân binh chủng hợp thành của Lxô, nhưng xem về biên chế thì thấy chúng chỉ tương đương cấp quân đoàn của Vn. Như vậy là nếu tính từ năm 1979 tới nay, Quân đoàn của Vn = Tập đoàn quân lục quân của Tq.
Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: daibangden trong 14 Tháng Ba, 2012, 04:28:10 pm Em tạm dịch các từ này:
* газосигнализатор = máy (khí tài) phát tín hiệu khí * IMD (ИМД) = измерение мощности дозы гамма-излучения = (khí tài) đo công suất lượng bức xạ gamma ở: http://www.vnmilitaryhistory.net/index.php/topic,20339.new.html#new. Em không đảm bảo dịch đúng, các cụ, các bác, các đồng đội, anh em hiệu chỉnh lại hộ em với. Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: huyphongssi trong 14 Tháng Ba, 2012, 05:40:58 pm Em tạm dịch các từ này: * газосигнализатор = máy (khí tài) phát tín hiệu khí * IMD (ИМД) = измерение мощности дозы гамма-излучения = (khí tài) đo công suất lượng bức xạ gamma ở: http://www.vnmilitaryhistory.net/index.php/topic,20339.new.html#new. Em không đảm bảo dịch đúng, các cụ, các bác, các đồng đội, anh em hiệu chỉnh lại hộ em với. газосигнализатор = thiết bị cảnh báo rò khí измерение мощности дозы гамма-излучения: thiết bị đo liều lượng bức xạ tia gamma Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: daibangden trong 24 Tháng Ba, 2012, 09:49:33 pm Các bác cho em hỏi từ углепластик nghĩa là gì ạ? Đây là vật liệu làm thân tàu tuần tra lớp "Visby" của Thụy Điển.
Từ này theo em hiểu là từ ghép là угле... và пластик, nghĩa là cácbon dẻo - em không chắc chắn. Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: qtdc trong 24 Tháng Ba, 2012, 10:02:30 pm Các bác cho em hỏi từ углепластик nghĩa là gì ạ? Đây là vật liệu làm thân tàu tuần tra lớp "Visby" của Thụy Điển. Theo tớ:Từ này theo em hiểu là từ ghép là угле... và пластик, nghĩa là cácbon dẻo - em không chắc chắn. 1/Có thể gọi là sợi các bon độ bền cao 2/Giải thích khái niệm: Углепластики = Carbon-fiber-reinforced polymer Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: Trần Anh trong 07 Tháng Năm, 2012, 03:27:25 pm Các bác cho em hỏi tí nhá:
Các cụm từ Dry booster mass vàpropellant mass nghĩa chính xác là gì? Nhà em là dân nghiệp dư lên chịu :(, mong các bác giúp hộ ;D ;D. --------------------------------------------------------------- Chú ý phân biệt giữa văn nói và văn viết. Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: daibangden trong 07 Tháng Năm, 2012, 04:33:05 pm Các bác cho em với:
Hai từ: маршевые газовые турбины và форсажные газовые турбины dịch thế nào cho chuẩn ạ? Em cám ơn các bác nhiều :) Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: qtdc trong 08 Tháng Năm, 2012, 11:02:50 am Các bác cho em với: Tuabin khí chế độ hành trình và tuabin khí chế độ tăng lực (hoặc có thể viết tắt là tuabin khí hành trình và tuabin khí có tăng lực). Thật chính xác thì hơi khó vì Việt Nam không phải nước sáng tạo ra loại máy đó nên không có thuật ngữ gốc Vietnamite, nhưng như thế cũng tạm ổn đi.Hai từ: маршевые газовые турбины và форсажные газовые турбины dịch thế nào cho chuẩn ạ? Em cám ơn các bác nhiều :) Giải thích tạm như sau: (korabley.net) +COGAG - Combined Gas turbines and Gas turbines (газовая турбина и газовая турбина). Маршевая и форсажная турбины на полном ходу работают вместе. +COGOG - Combined Gas turbines or Gas turbines (газовая турбина или газовая турбина). Маршевая турбина работает до полного хода, а на полных ходах работает только форсажная. +Về thuật ngữ форсаж xem thêm động cơ tuabin phản lực có buồng đốt sau (đốt tăng lực). Về bản chất có thêm buồng đốt bổ sụng thì chúng giống nhau. +Tàu khu trục săn ngầm project 1134B của hải quân Xô Viết bắt đầu sử dụng tổ hợp động cơ hỗn hợp kiểu này. +Sau này khi xuất hiện loại tuabin có chế độ đầy đủ (всережимная газовая турбина) thì mới cho phép người ta chuyển sang thiết bị động lực một nguồn gốc (перейти к однородной газотурбинной энергетической установке). Các bác và các bạn trên diễn đàn thấy cách gọi tên sự vật nào "trúng" hơn thì xin bổ sung cho ạ. Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: vietcong91 trong 16 Tháng Năm, 2012, 06:32:17 pm Lâu lâu coi mấy tay dịch giả tay ngan dịch mấy từ ngữ quân sự sai tùm lum. Điển hình nhất là cứ dịch mấy loại đạn .38, .45 là đạn 38 mm, 45mm. Nâng cấp súng ngắn thành phòng không hay phóng lựu. Đúng là ớn thiệt. Nói như bác vậy là sao em không rõ, vì em được biết 12.7 chính xác hơn là 12.7 x 108 mm (.50 Nga) cũng nang bằng với .50 Cal của Mỹ đó bác nhưng của Mỹ chỉ có 12.7x99mm thôi, theo toán học thì 12,7 mm bằng 0,50 inch. Em so bậy vậy các bác ném đá nhẹ tay Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: daibangden trong 25 Tháng Năm, 2012, 04:58:52 pm Истребитель J-20 выполнен по аэродинамической схеме "утка" с высокорасположенным треугольным в плане крылом, сопряженным с фюзеляжем. Цельноповоротные кили имеют большой угол развала от продольной оси. Мотогондолы расположены по бокам фюзеляжа под крыльями.
----------------------------------- Đoạn này dịch thế nào cho chuẩn các bác ơi? Nhiều từ ghép, em dịch tạm thời trong Chủ đề Tin tức quân sự nước ngoài. Các bác hiệu chỉnh xong em sẽ sửa :). Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: huyphongssi trong 25 Tháng Năm, 2012, 07:15:34 pm Истребитель J-20 выполнен по аэродинамической схеме "утка" с высокорасположенным треугольным в плане крылом, сопряженным с фюзеляжем. Цельноповоротные кили имеют большой угол развала от продольной оси. Мотогондолы расположены по бокам фюзеляжа под крыльями. Anh daibangden thử xem đoạn dưới có xài được không 8)----------------------------------- Đoạn này dịch thế nào cho chuẩn các bác ơi? Nhiều từ ghép, em dịch tạm thời trong Chủ đề Tin tức quân sự nước ngoài. Các bác hiệu chỉnh xong em sẽ sửa :). "Máy bay tiêm kích J-20 có thiết kế khí động kiểu "con vịt" với cặp cánh chính dạng tam giác gá cao gắn kết với phần thân máy bay. Cặp đuôi đứng toàn động có độ chỉnh góc đón lớn theo trục dọc thân máy bay. Khoang gắn động cơ được bố trí phía dưới cánh dọc theo bên thân máy bay." Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: lang trong 02 Tháng Sáu, 2012, 07:51:32 am Cho em hỏi cách phiên âm một số loại khí tài quân sự được không ạ, em thường đọc mistral, rafale, nimitz, tornado như sau: mi trát, ra fa en, nai mít, tô na đô. Mong các bác chỉ cách phiên âm cho đúng
Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: Trần Anh trong 02 Tháng Sáu, 2012, 09:27:39 am Cho em hỏi cách phiên âm một số loại khí tài quân sự được không ạ, em thường đọc mistral, rafale, nimitz, tornado như sau: mi trát, ra fa en, nai mít, tô na đô. Mong các bác chỉ cách phiên âm cho đúng Em chỉ biết mistral đọc là mít-trôn đọc hơi cong lưỡi,tornado là tô-niu-đầu , tô na dô hình như là đọc theo tiếng Tây Ban Nha, rafale chắc chắn là ra-fan, nimitz thì là ni-mít. Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: linh thong tin trong 02 Tháng Sáu, 2012, 06:07:22 pm Chủ đề topic là Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, sao các bác lại đưa tiếng ngoại vào đây?
Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: daibangden trong 02 Tháng Sáu, 2012, 07:00:39 pm Các bạn ý hỏi các đọc với phát âm thôi mà bác. Lần này thì châm chước được.
Theo tiếng Anh, Pháp, Nga... sẽ có cách đọc, phát âm khác nhau. Hai bạn Trần Anh với lang chú ý nhé! Cám ơn bác linh thong tin. ---------------------------------------------- Em viết sai, cám ơn bác linh thong tin :) Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: altus trong 02 Tháng Sáu, 2012, 08:37:47 pm Lần này thì châm trước được. Lần sau thì để xong mới châm cho phát hả? ;) Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: daibangden trong 17 Tháng Sáu, 2012, 02:53:44 pm Кроме того использование гильз всегда более безопасно по сравнению с чисто картузным заряжанием.
=> Dòng này dịch như thế nào cho chuẩn các bác ơi ???. Em dịch tạm thời ở đây http://www.vnmilitaryhistory.net/index.php/topic,21856.msg382708.html#msg382708, các bác xem có đúng không, em cảm thấy hơi "sạn". Từ гильзa = vỏ (đạn), còn từ картуз thì nghĩa của nó là cái mũ lưỡi trai (em hiểu thì là cát tút). Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: huyphongssi trong 18 Tháng Sáu, 2012, 12:10:18 am Кроме того использование гильз всегда более безопасно по сравнению с чисто картузным заряжанием. Có vẻ thế này không anh daibangden 8)=> Dòng này dịch như thế nào cho chuẩn các bác ơi ???. Em dịch tạm thời ở đây http://www.vnmilitaryhistory.net/index.php/topic,21856.msg382708.html#msg382708, các bác xem có đúng không, em cảm thấy hơi "sạn". Từ гильзa = vỏ (đạn), còn từ картуз thì nghĩa của nó là cái mũ lưỡi trai (em hiểu thì là cát tút). "Thêm nữa việc dùng ống liều sẽ luôn an toàn hơn việc nạp rời không có ống liều" гильзa = ống liều картузное заряжание = nạp rời không có ống liều (dùng các túi liều phóng) Tiêu đề: Re: Hỏi nhỏ đáp khẽ các vấn đề quân sự phần 11 Gửi bởi: ngthi96 trong 10 Tháng Tám, 2012, 10:09:42 am Cho em hỏi 1 số thuật ngữ tiếng Anh khi điều chỉnh pháo, cối...dịch ra tiếng Việt là gì?
vd: Short three hundred, Left zero twenty, Long two hundred, Right zero twelve. 73,5 chage zero plus one strike two Drop 200 Fire for effect Fire concentration Charlie Xin các bác giúp em...cảm ơn các bác nhiều Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: nguyen_hoang trong 11 Tháng Tám, 2012, 03:59:23 pm LongTrec viết:
"AK-630 cho phép xạ thủ có thể nhắm bắn như trong Clip khi mục tiêu vượt qua tầm phát hiện của rada hoặc không thể phát hiện được nhưng mắt thường có thể thấy được.... Còn trường hợp khác là AK-630 được trang bị trên các ca nô trọng tải nhỏ(ca nô ,các tàu đổ bộ, tàu đệm không khí .v.v.) để giảm sức nặng cho con tầu người ta không nắp hệ thống điều khiển hỏa lực MP-123"Vympel" mà chỉ nắp vòng ngắm gắn trên ống chuẩn trực(A-213), tất nhiên trong mọi trường hợp AK-630 đều được điểm xạ bằng điện." Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: daibangden trong 11 Tháng Tám, 2012, 07:37:52 pm LongTrec viết: Việc các bác, các chú Cựu chiến binh đã lớn tuổi, tiếp xúc với máy vi tính, làm quen với mạng internet và có lỗi giữa văn viết với văn nói được nhắc đi nhắc lại nhiều lần. Bạn có thể đọc các bài trên diễn đàn để hiểu thêm."AK-630 cho phép xạ thủ có thể nhắm bắn như trong Clip khi mục tiêu vượt qua tầm phát hiện của rada hoặc không thể phát hiện được nhưng mắt thường có thể thấy được.... Còn trường hợp khác là AK-630 được trang bị trên các ca nô trọng tải nhỏ(ca nô ,các tàu đổ bộ, tàu đệm không khí .v.v.) để giảm sức nặng cho con tầu người ta không nắp hệ thống điều khiển hỏa lực MP-123"Vympel" mà chỉ nắp vòng ngắm gắn trên ống chuẩn trực(A-213), tất nhiên trong mọi trường hợp AK-630 đều được điểm xạ bằng điện." Tuy nhiên bạn thắc mắc cũng là không sai. Bác longtrec để ý sau khi viết bài, đọc lại một (nhiều) lần trước khi ấn nút "Gửi bài" thì lỗi này sẽ khắc phục được thôi :) Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: daibangden trong 07 Tháng Mười, 2012, 02:22:31 pm (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/41_draw3_zpsfaf1791c.jpg)
Các bác cho em hỏi chú thích số 28, các từ рефагрегат và рефкамера có nghĩa là gì ạ? Cám ơn các bác trước. Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: huyphongssi trong 07 Tháng Mười, 2012, 06:29:21 pm (http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/41_draw3_zpsfaf1791c.jpg) Hình của thủ trưởng hơi mờ, nhưng đọc ra thì nó là buồng máy cấp khí lạnh (рефагрегат) và trữ khí lạnh (рефкамера). Buồng này cấp khí thổi mát cho các hệ thống vũ khí, khí tài điện tử và hệ thống điều hoà, hệ thống phòng xạ hóa trên tàu.Các bác cho em hỏi chú thích số 28, các từ рефагрегат và рефкамера có nghĩa là gì ạ? Cám ơn các bác trước. Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: daibangden trong 27 Tháng Mười Một, 2012, 09:33:25 pm Các bác giúp em với. Từ "экраноплан" trong cụm từ "Проект 904 типа «Орлёнок» - транспортно-десантный экраноплан" nên dịch thế nào cho chuẩn ạ? Dịch là tàu lưỡng cư được không ạ?
Hôm qua, em định dịch là thủy phi cơ, nhưng trong tiếng Nga thủy phi cơ đã có từ khác và khi đưa vào trong câu, trong một số trường hợp, dùng từ thủy phi cơ không hợp lý. Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: huyphongssi trong 27 Tháng Mười Một, 2012, 10:36:53 pm Các bác giúp em với. Từ "экраноплан" trong cụm từ "Проект 904 типа «Орлёнок» - транспортно-десантный экраноплан" nên dịch thế nào cho chuẩn ạ? Dịch là tàu lưỡng cư được không ạ? Hôm qua, em định dịch là thủy phi cơ, nhưng trong tiếng Nga thủy phi cơ đã có từ khác và khi đưa vào trong câu, trong một số trường hợp, dùng từ thủy phi cơ không hợp lý. Thuật ngữ ta gọi "экраноплан" là "tàu đệm khí động" đấy thủ trưởng 8) Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: Trần Anh trong 27 Tháng Mười Một, 2012, 10:56:52 pm Các bác giúp em với. Từ "экраноплан" trong cụm từ "Проект 904 типа «Орлёнок» - транспортно-десантный экраноплан" nên dịch thế nào cho chuẩn ạ? Dịch là tàu lưỡng cư được không ạ? Hôm qua, em định dịch là thủy phi cơ, nhưng trong tiếng Nga thủy phi cơ đã có từ khác và khi đưa vào trong câu, trong một số trường hợp, dùng từ thủy phi cơ không hợp lý. Thuật ngữ ta gọi "экраноплан" là "tàu đệm khí động" đấy thủ trưởng 8) Theo em экраноплан = WIG (Wing In Ground) effect_hiệu ứng cánh sát đất, viết tắt là WIGE hay một số người gọi bằng tên gọi khác là hiệu ứng màn ( surface effect ), chỉ nguyên lý hoạt động của các ekranoplan, cũng có thể gọi là "tàu đệm khí động". Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: daibangden trong 15 Tháng Giêng, 2013, 04:24:30 pm Từ флаперон trong câu này có nghĩa thế nào các cụ ơi, em tra từ điển không có :-\
На истребителях также были обнаружены недоработки конструкции, приводящие к чрезмерным колебаниям рулей направления и флаперонов при переходе от дозвуковой к сверхзвуковой скорости полета и наоборот. Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: qtdc trong 15 Tháng Giêng, 2013, 05:01:15 pm Từ флаперон trong câu này có nghĩa thế nào các cụ ơi, em tra từ điển không có :-\ Đây này, daibangden, theo tớ cứ gọi nó là cánh tà hay cánh phụ là được (flaperon, flaps), còn phân theo thuật ngũ hàng không đã chuyển sang tiếng Việt một cách thật chính xác thì phải nhờ đ/c huyphongssi:На истребителях также были обнаружены недоработки конструкции, приводящие к чрезмерным колебаниям рулей направления и флаперонов при переходе от дозвуковой к сверхзвуковой скорости полета и наоборот. http://dic.academic.ru/searchall.php?SWord=%D1%84%D0%BB%D0%B0%D0%BF%D0%B5%D1%80%D0%BE%D0%BD&stype=0 đây nữa: http://ru.wikipedia.org/wiki/%D0%9C%D0%B5%D1%85%D0%B0%D0%BD%D0%B8%D0%B7%D0%B0%D1%86%D0%B8%D1%8F_%D0%BA%D1%80%D1%8B%D0%BB%D0%B0 có cái hình động nhìn cho dễ: (http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/c/cc/Aileron_roll.gif/220px-Aileron_roll.gif) Tiêu đề: Re: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Gửi bởi: huyphongssi trong 15 Tháng Giêng, 2013, 08:33:06 pm Từ флаперон trong câu này có nghĩa thế nào các cụ ơi, em tra từ điển không có :-\ На истребителях также были обнаружены недоработки конструкции, приводящие к чрезмерным колебаниям рулей направления и флаперонов при переходе от дозвуковой к сверхзвуковой скорости полета и наоборот. флаперон = закрылок + элерон = зависающий элерон флаперон là tấm khí động gắn phía cạnh sau cánh chính và có chức năng kết hợp của cánh tà (закрылок) và cánh liệng (элерон), nên được gọi là cánh tà liệng hoặc cánh liệng sập, cánh liệng rủ (зависающий элерон). Hình động phía dưới này mô tả chức năng cánh liệng (http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/c/cc/Aileron_roll.gif/220px-Aileron_roll.gif) |