doi_bui
Thành viên

Bài viết: 150
|
 |
« Trả lời #10 vào lúc: 29 Tháng Mười Một, 2007, 09:23:36 am » |
|
Từ trước tới nay, hầu hết mọi người chỉ biết đến Cục Tình báo trung ương Mỹ (CIA), Ủy ban an ninh quốc gia Liên Xô (KGB) và Cục tình báo quân sự Anh (MI-6), mà ít người biết về một trung tâm tình báo khá nổi tiếng của Mỹ, đó là Trung tâm tình báo không quân (NAIC - National Air and Space Intelligence Center).  Trụ sở của NAIC NAIC nằm ở căn cứ không quân Temotesen bang Ohio, Mỹ. Đó là một tòa nhà với kết cấu kiến trúc đặc biệt được xây dựng trên diện tích khoảng 3.250 m², gồm nhiều phòng với chức năng chính là nghiên cứu, phân tích những thông tin tình báo thu được, bên cạnh đó còn có 8 khu thí nghiệm, 1 phòng thí nghiệm laser và 1 phòng rộng có thể chứa được 4 máy bay chiến đấu. NAIC được thành lập nhằm thực hiện một nhiệm vụ cực kỳ quan trọng, đó là cung cấp cho Bộ Quốc phòng Mỹ những thông tin về tình hình trang thiết bị, kỹ thuật hiện đại của lực lượng không quân các nước khác, đồng thời gánh vác thêm nhiệm vụ nghiên cứu những thông tin liên quan về hệ thống tên lửa dẫn đường và kiểm soát của máy bay, thu thập những thông tin, tài liệu về các hãng hàng không, tổ chức lực lượng, khả năng tác chiến và những kế hoạch phát triển của hàng không các quốc gia đối địch, đánh giá những thành quả mới nhất của ngành hàng không cũng như sự phát triển trong lĩnh vực hàng không của các nước trên thế giới. Ngoài ra, các chuyên gia của NAIC còn tham gia vào công tác điều tra về các mặt hạn chế của các trang thiết bị kỹ thuật trong và ngoài nước Mỹ, tiến hành thí nghiệm những thành quả mới nhất trong lĩnh vực trang bị kỹ thuật vũ khí. Do yêu cầu của nhiệm vụ, Trung tâm tình báo này đã được cung cấp các loại máy bay, tên lửa đối không, hệ thống phòng không, tên lửa đạn đạo vượt đại châu và tên lửa tầm trung để các chuyên gia nghiên cứu, thí nghiệm. NAIC có mối quan hệ trực tiếp với các cơ quan tình báo Mỹ. Mặc dù Chiến tranh lạnh đã kết thúc, thế nhưng các cuộc xung đột khu vực vẫn đang có chiều hướng gia tăng. Đặc biệt là trong thời gian qua, Mỹ liên tục tham gia các hoạt động can thiệp quân sự bên ngoài lãnh thổ của mình, vì vậy nó đòi hỏi tình báo Mỹ phải thu thập và xử lý nhiều hơn những thông tin tình báo liên quan đến các tham số kỹ thuật và tính năng các trang thiết bị kỹ thuật quân sự của các quốc gia trên thế giới. Trong bối cảnh đó, có thể thấy rõ tầm quan trọng của NAIC đối với hệ thống tình báo của Mỹ trong giai đoạn hiện nay. NAIC hiện có khoảng 480 nhóm tình báo, bố trí tại hai nơi, đó là khu căn cứ không quân Out Engeli, bang Virginia và căn cứ không quân Orphoot, bang Nebraska. Nhiệm vụ chủ yếu của hai nhóm là nghiên cứu những thông tin về tình hình phát triển vũ khí hàng không, các trang thiết bị dẫn đường và hệ thống kiểm soát cùng các thông tin liên quan đến việc xây dựng các căn cứ không quân, tình hình phát triển kỹ thuật hàng không và cơ sở quân sự. Những nhân viên của NAIC sử dụng tất cả mọi phương thức từ nghiệp vụ chuyên môn đến những cách thức “bình dân” nhất như sử dụng mạng Internet để thu thập thông tin về những thành quả nghiên cứu trong lĩnh vực kỹ thuật hàng không cũng như các động thái quân sự của các quốc gia khác trên thế giới, sau đó tiến hành phân tích, đánh giá và chọn lựa những thông tin tình báo có lợi cho sự phát triển kinh tế và quân sự của Mỹ. Chính phủ Mỹ cho rằng, việc mở rộng công nghệ tên lửa đến các quốc gia phi đồng minh là một mối nguy hiểm cực lớn. Do hiện nay, các quốc gia có khả năng sản xuất tên lửa đạn đạo trên thế giới ngày càng gia tăng, nên điều đó cũng đồng nghĩa với việc đe dọa đối với nền an ninh quốc gia của Mỹ cũng sẽ nhiều hơn. Vì vậy, những năm gần đây, Chính phủ Mỹ đã yêu cầu NAIC phải tăng cường hơn nữa việc thu thập và nghiên cứu những thông tin tình báo liên quan. Bên cạnh đó, trung tâm này còn có một nhóm chuyên gia giám định kỹ thuật ngoài nước, nhóm này có nhiệm vụ giám định thực tế công nghệ kỹ thuật hàng không của các quốc gia khác, sau đó đưa ra các đánh giá nhận xét, xác định tính năng tác chiến. Căn cứ vào những kết quả đánh giá đó nhằm xác định mức độ đe dọa đối với Mỹ trong cuộc chiến tranh có thể xảy ra trong tương lai. Theo tiết lộ của giới thạo tin thì những kết quả đánh giá về các trang thiết bị kỹ thuật quân sự của NAIC đã được sử dụng trong các cuộc chiến mà Mỹ tham gia, như cuộc chiến vùng Vịnh năm 1990-1991, cuộc chiến Kosovo và cuộc chiến tranh Iraq cách đây không lâu. Để nhanh chóng thu thập được các thông tin tình báo liên quan, kịp thời cung cấp cho giới lãnh đạo quân sự của Mỹ, NAIC đã cho thành lập một nhóm phản ứng nhanh gồm 20 người. Nhóm phản ứng nhanh này có thể thu thập được bất kỳ thông tin tình báo cần thiết nào trên thế giới chỉ trong thời gian rất ngắn, trong đó có cả thông tin về tình hình biên chế quân sự và tính năng tác chiến của các thiết bị vũ khí quân sự của các nước. Cùng với đó, một nhóm chuyên gia về vũ khí cũng được thành lập với nhiệm vụ chính là nghiên cứu các loại vũ khí mới nhất và hiện đại nhất của các quốc gia khác trên thế giới. Mặc dù lượng công việc mà NAIC phải đảm nhận ngày một nhiều, nhưng giới quân sự Mỹ vẫn cho rằng, trong xu thế phát triển công nghệ thông tin như vũ bão hiện nay, trung tâm phân tích tình báo này rất khó đáp ứng được những yêu cầu ngày càng cao của giới lãnh đạo quân sự Mỹ. Do đó, phía quân đội Mỹ quyết định tăng cường đầu tư hoàn thiện cho trung tâm này về các trang thiết bị chuyên môn, đặc biệt là công nghệ về thông tin và số hóa nhằm thu thập được ngày càng nhiều thông tin tình báo liên quan, đáp ứng được các yêu cầu ngày càng cao của “bộ máy chiến tranh Mỹ". Theo CAND
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
doi_bui
Thành viên

Bài viết: 150
|
 |
« Trả lời #11 vào lúc: 29 Tháng Mười Một, 2007, 02:49:01 pm » |
|
 Tổng thống Belarus Alexander Lukashenko đã quyết định hoàn thành việc nâng cấp tổ hợp tên lửa pháo cao xạ Buk đến cuối năm 2008. Và theo lời Phó Chủ tịch thứ nhất Uỷ ban Công nghiệp quân sự Quốc gia Belarus Peter Rogozhevski thì đây được coi là nhiệm vụ chính đặt ra đối với chính phủ nước này. Ông giải thích, đến gần cuối năm sau cần phải thực hiện xong việc chế tạo mô hình thiết kế thử nghiệm nâng cấp tổ hợp tên lửa pháo cao xạ Buk. Ông Rogozhevski nói: “Sau đó, chúng ta sẽ chuyển sang nâng cấp hàng loạt tổ hợp này”. Theo lời ông, công việc hiện đại hoá tổ hợp Buk sẽ được Liên bang Nga và các doanh nghiệp tổ hợp phòng thủ của Belarus phối hợp thực hiện. Ông Rogozhevski nói rằng: “Công việc bắt đầu không khá tốt, chúng ta có rất nhiều việc làm và để thực hiện được điều đó đòi hỏi phải có khả năng, tiềm lực và chuyên gia giỏi”.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
tuoithantien
Thành viên

Bài viết: 14
|
 |
« Trả lời #12 vào lúc: 29 Tháng Mười Một, 2007, 02:56:52 pm » |
|
Các bác cho em hỏi giàn Buk của Belarus này có giống với Buk của Nga không? Nhìn hình dáng bên ngoài thì trông y chang.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
doi_bui
Thành viên

Bài viết: 150
|
 |
« Trả lời #13 vào lúc: 30 Tháng Mười Một, 2007, 02:03:27 pm » |
|
Kế hoạch phát triển máy bay chiến đấu thế hệ thứ 5 (Phần 1) Những chiếc máy bay chiến đấu thế hệ thứ 5 - với đặc trưng hoàn toàn giải quyết được những khó khăn về kĩ thuật - sẽ tạo thành trụ cột chính của Lực lượng Không quân quốc gia trong thế kỉ XXI. Mặc dù máy bay chiến đấu cải tiến Mikoyan-Gurevich MiG-29 Fulcrum của Nga với động cơ đẩy được định hướng khá nổi bật trong Triển lãm Hàng không Dubai 2007 - diễn ra từ ngày 11 - 15/11 tại Các Tiểu Vương quốc Arập thống nhất (UAE), nhưng nó sẽ trở nên lỗi thời trong một tương lai có thể nhìn thấy được. Những chiếc máy bay chiến đấu thế hệ thứ 5 - với đặc trưng hoàn toàn giải quyết được những khó khăn về kĩ thuật - sẽ tạo thành trụ cột chính của Lực lượng Không quân quốc gia trong thế kỉ XXI. Ngày 15/11 vừa qua, Tổ hợp Hàng không Quân sự Sukhoi của Nga và Bộ Quốc phòng Ấn Độ đã khởi động vòng đàm phán mới về việc phát triển máy bay chiến đấu thế hệ thứ 5. Đến ngày 18/11, Tổng thống Nga Vladimir Putin phát biểu trong một buổi hợp báo tường thuật trên truyền hình rằng Moscow sẽ bắt đầu phát triển những chiếc máy bay chiến đấu như vậy vào năm 2015. Trước đó, Phó Thủ tướng thứ nhất kiêm cựu Bộ trưởng Quốc phòng Sergei Ivanov cho biết chiếc máy bay chiến đấu thế hệ thứ 5 nguyên mẫu sẽ biểu diễn chuyến bay đầu tiên vào năm 2009, và rằng việc sản xuất lô đầu tiên sẽ khởi động vào đầu năm 2010. Nhưng hầu hết các chuyên gia lại tỏ ra không mấy lạc quan và dự đoán rằng chiếc máy bay chiến đấu đầu tiên trong lô hàng này sẽ không thể xuất hiện trước năm 2012 - 2014 - như lời phát biểu của Tổng thống V. Putin. Tuy nhiên, chiếc máy bay chiến đấu thế hệ thứ 5 đầu tiên trên thế giới - mẫu máy bay chiến đấu “Chim ăn thịt” F-22 Raptor của Mỹ - cất cánh lần đầu vào ngày 07/9/1997. Hai tuần sau đó, chiếc Sukhoi Su-47 Berkut của Nga - một mẫu khác của chiếc máy bay chiến đấu thế hệ thứ 5 - cũng lần đầu tiên tung cánh trên bầu trời. Những phiên bản sản xuất của F-22 Raptor và máy bay chiến đấu tiêm cường kích F-35 do hãng Lockheed Martin chế tạo hiện rất có giá trị. Mẫu sau đó - được xem như là máy bay chiến đấu thế hệ thứ 5+ - có vẻ tốt hơn phiên bản cũ. Thật không may, sau đó Nga đã không thể kiểm soát được quy trình sản xuất Su-47 - do Sukhoi chế tạo bằng kinh phí của mình - hoàn toàn mang tính chất thử nghiệm. Tuy nhiên, việc lắp đặt loại máy bay này làm cho nó có thể đạt hiệu quả cao hơn trong việc giải quyết những vấn đề liên quan đến kĩ thuật theo chương trình Máy bay Chiến thuật Tiên tiến (PAK FA). Mỹ và châu Âu đã chi khoảng hơn 20 tỉ USD cho chương trình máy bay chiến đấu tiêm cường kích F-35. Vì thế, các chuyên gia tin rằng Nga nên hợp tác với một đối tác nước ngoài để phát triển máy bay chiến đấu thế hệ thứ 5. Chi phí dành cho thiết kế động cơ (hầu hết là những linh kiện đắt giá) sẽ vào khoảng 600 - 800 triệu USD, và 1,5 tỉ khác dành cho việc sản xuất lô hàng đầu tiên. Moscow xem Trung Quốc và Ấn Độ là những đối tác tốt nhất. Tuy nhiên, Bắc Kinh thích phát triển động cơ máy bay của mình, còn Ấn Độ thì thích những phương thức thiết kế tối tân hơn và không muốn chế tạo những chiếc máy bay “làm sẵn”. Nga và Ấn Độ bắt đầu thương lượng về chương trình phát triển chung máy bay chiến đấu thế hệ thứ 5 vào năm 2003. New Delhi khẳng định rằng chiếc máy bay mới được phát triển từ con số không. Còn Moscow thì tỏ ra rất không hài lòng về điều này vì đây là một dự án đòi hỏi chi phí cao…
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
doi_bui
Thành viên

Bài viết: 150
|
 |
« Trả lời #14 vào lúc: 30 Tháng Mười Một, 2007, 02:04:55 pm » |
|
Kế hoạch phát triển máy bay chiến đấu thế hệ thứ 5 (Phần 2)
Sự hợp tác quân sự - kĩ thuật song phương giữa Nga và Ấn Độ gặp phải một số trở ngại chính và thậm chí cả xung đột. Và điều này lí giải vì sao Ấn Độ lại tham gia vào chương trình máy bay chiến đấu thế hệ thứ 5 Sukhoi Su-47 Berkut mới của Nga. Cả hai quốc gia đối mặt với một số vấn đề nghiêm trọng, chẳng hạn như việc cải tiến tàu sân bay Admiral Gorshkov. Theo một hợp đồng song phương, Hải quân Ấn Độ nhận được chiếc tàu chiến này vào năm 2008. Tuy nhiên, Admiral Gorshkov sẽ chỉ đi vào chạy thử nghiệm từ năm 2010 - 2012.
Hơn nữa, một số quan chức Nga đã không thể có được sự phê chuẩn những văn kiện sơ bộ liên quan đến Máy bay Vận tải Đa năng (MTA) - dự án kéo dài suốt 2 năm qua và hiện gần như bị ngưng lại. New Delhi thì sẵn sàng tuyên bố có thể rút khỏi dự án này bất cứ lúc nào, và tiến hành phát triển MTA cùng với Brazil hoặc Liên minh châu Âu (EU).
Ông Tatyana Shaumyan - người đứng đầu Trung tâm Nghiên cứu Ấn Độ thuộc Viện Đông phương học (Học viện Khoa học Nga) - nhận xét rằng “thói quan liêu” của Nga, việc thực thi hợp đồng không đầy đủ, và việc vận chuyển bị trì trệ đã ảnh hưởng xấu đến một số khía cạnh trong mối quan hệ song phương giữa hai quốc gia. Đây là lí do vì sao Ấn Độ cố gắng “bảo vệ mình” khỏi những sự phát triển mang tính tiêu cực như vậy.
Chẳng hạn, Lực lượng Không quân Quốc gia Ấn Độ tiến hành bỏ thầu trên toàn cầu cho 126 chiếc máy bay phản lực với trị giá lên tới 10 tỉ USD. Mười tám trong số những chiếc máy bay chiến đấu đa chức năng tầm trung (MMRCA) sẽ được mua trong điều kiện tạm thời, và 108 chiếc còn lại được chế tạo tại đất nước này theo một thỏa thuận chuyển giao công nghệ (TOT) với nhà cung cấp nào đó mà Ấn Độ lựa chọn.
Những yêu cầu trong bản đề xuất (RFP) dày 211 trang đã được gửi cho các nhà chế tạo 6 chiếc máy bay: F-16 và F-18 Super Hornet (Mỹ), Gripen (Thụy Điển), Rafale (Pháp), MiG-35 (Nga), và Eurofighter (châu Âu).
Các kĩ sư và kĩ thuật viên Ấn Độ am hiểu quy trình sản xuất máy bay của Nga sẽ nhanh chóng làm chủ những công nghệ có liên quan.
Lãnh đạo Ấn Độ dường như có khuynh hướng muốn hợp tác với Mỹ và giành được bí quyết sản xuất máy bay chiến đấu tiêm cường kích F-35. Tuy nhiên, Washington - từ chối chia sẻ công nghệ thậm chí với những đồng minh thân cận nhất - tỏ ý muốn có một số điều khoản “gây khó khăn” với New Delhi.
Tháng 10 vừa qua, Nga và Ấn Độ đã nhất trí phát triển chung máy bay chiến đấu thế hệ thứ 5 và tiến hành chế tạo nó tại các xưởng sản xuất thuộc Công ty Hàng không Hindustan (HAL) và Tổ hợp Hàng không Quân sự Sukhoi.
Bộ trưởng Quốc phòng Ấn Độ A.K. Antony nhận xét rằng thỏa thuận này mở ra một giai đoạn mới trong quan hệ hợp tác song phương giữa hai nước nhằm mục đích phát triển những vũ khí thế hệ mới và trang thiết bị quân sự.
Chiếc máy bay chiến đấu thế hệ thứ 5 phải giữ được tính ổn định trong khi bay, và kiểm soát được các góc tấn công trên 90 độ. Mỹ - đối mặt với những vấn đề tương tự - cuối cùng đã lựa chọn đặc tính trinh thám và tốc độ hành trình siêu âm hơn là siêu tốc độ.
Chiếc máy bay chiến đấu tương lai trong chương trình hợp tác phát triển chung Nga - Ấn sẽ có khả năng như bất kì một loại máy bay tương tự nào khác, bởi vì khả năng thao diễn của F-22 tương đương với chiếc Su-27 Flanker cải tiến có các động cơ đẩy được định hướng. Chiếc máy bay này của Nga được trang bị động cơ AL-37-FU với mũi có khả năng quay tròn và có thể đạt được tốc độ hành trình siêu âm. Hiệu quả chiến đấu của nó được tăng cường bởi vì Su-27 có thể bay nghiêng một cách bất ngờ ở những tốc độ góc cao, và dọc theo các đường đạn ngắn ở mỗi chiếc máy bay.
Thêm nữa, chiếc máy bay chiến đấu thế hệ thứ 5 sẽ được trang bị kĩ thuật điện tử hàng không tiên tiến, vũ khí tầm xa, và thiết bị vô tuyến học điện tử khác để có thể đánh trúng bất kì mục tiêu nào. Ngành công nghiệp điện tử của Ấn Độ sẽ cung cấp một sự đóng góp vô giá để phát triển các hệ thống đối phó điện tử tự động (ECM), các mạng lưới trao đổi dữ liệu đảm bảo, và các hệ thống điều khiển đường đạn cho những nhiệm vụ chiến thuật tầm xa…
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
doi_bui
Thành viên

Bài viết: 150
|
 |
« Trả lời #15 vào lúc: 30 Tháng Mười Một, 2007, 02:06:58 pm » |
|
 40 năm - đó không phải là khoảng thời gian ngắn để đánh giá vòng đời của môt kiểu tàu. Hơn nữa, những tiêu chuẩn của tàu 667 ngày nay vẫn là chuẩn mực trong lực lượng hạt nhân chiến lược trên biển của Liên bang Nga và là tiêu chuẩn hiện đại hóa cho các loại tàu ngầm hiện nay. 40 năm trước, chiếc tàu ngầm mang tên lửa đầu tiên chế tạo theo dự án 667A đã được trang bị cho lực lượng Hải quân Nga. Truyền thống tạo ra những mục tiêu to lớn để kỷ niệm những ngày lễ trọng đại đã tồn tại rất lâu đời và phổ biến tại Nga. Ngành đóng tàu cũng có truyền thống đặt ra thời hạn lắp đặt, hạ thủy và bàn giao cho Lực lượng Hải quân một số lượng lớn tàu trọng tải lớn gắn liền với các ngày đặc biệt, ví dụ như các ngày lễ. Yêu cầu phải bàn giao một số lượng lớn tàu các loại vào tháng 11 là một nhiệm vụ rất khó khăn, đặc biệt là ba loại: tàu ngầm nguyên tử đa năng thế hệ I (thuộc dự án 667), tàu mang tên lửa đa năng thế hệ I được trang bi tên lửa có cánh (thuộc dự án 670), tàu ngầm mang tên tên lửa chiến lược (thuộc dự án 667A). Cả ba loại tàu trên đều có ý nghĩa rất quan trọng, nhưng tàu ngầm mang tên lửa chiến lược thế hệ I được đưa vào sử dụng đã có vai trò đặc biệt hơn trong cuộc chạy đua tên lửa mang đầu đạn hạt nhân. Nó bộc lộ sự phát triển nhanh chóng và tiềm năng sức mạnh hạt nhân chiến lược trên biển của Liên Xô. Dự án đóng tàu mang tên lửa mới được bắt đầu tại căn cứ chỉ huy Trung tâm số 18 (nay là căn cứ chỉ huy trung tâm Rubin) vào năm 1958, tổng công trình sư là Abram Kassatsier. Do là loại tàu ngầm chủ yếu trong biên chế nên nó được trang bị tổ hợp tên lửa D-4 với tên lửa đạn đạo R-21 có khả năng phóng từ dưới mặt nước. Theo thiết kế ban đầu, loại tầu ngầm này sẽ mang theo 8 tên lửa trên 4 bệ phóng đôi, được bố trí trên lớp vỏ vững chắc của tàu ngầm. Chính vì tính phức tạp về kỹ thuật trong chế tạo bệ xoay mà dự án này đã bị từ bỏ. Để bảo đảm lợi ích của Liên Xô trong thời gian này, phòng thiết kế tên lửa Makeev đã chế tạo ra loại tên lửa đạn đạo cỡ nhỏ. Kích cỡ của loaị tên lửa này cho phép bố trí theo chiều thẳng đứng trên vỏ tàu ngầm. Cỡ nòng (mang số hiệu R-27) nhỏ hơn 2,5 lần so với cỡ nòng tên lửa R-21. Tổ hợp tên lửa sử dụng loại tên lửa mới này mang số hiệu D-5. Tổ hợp tên lửa loại mới cho phép tăng cường khả năng trang bị vũ khí cho tàu ngầm, bố trí ngoài vỏ tàu 16 tên lửa cùng loại. Khi xuất xưởng, loại tàu này mang số hiệu là 667A “Navaga”. Kiến trúc sư Sergey Kovalev là tổng công trình sư của dự án chế tạo loại tàu này. Ông cũng chính là người thiết kế tất cả các loại chiến hạm ngầm mang tên lửa chiến lược của Nga sau này. Chiếc tàu mang tên lửa thế hệ I đầu tiên (theo dự án 667A) bắt đầu đóng vào ngày 04/11/1964 ở thành phố Severodvinsk, hạ thủy vào tháng 9 năm 1967 và đưa vào sử dụng 11/1967. Tàu ngầm mang tên lửa chiến lược số hiệu K-137 rất khác so với thế hệ thứ nhất của nó. Sự khác biệt trước hết là ở kích cỡ và khả năng chiến đấu. Những chiếc tàu ngầm kiểu cũ (theo dự án 658) có lượng choán nước là 5.300 tấn và được trang bị loại tên lửa phóng trên bề mặt nước, còn tàu mang tên lửa kiểu mới mang 16 tên lửa có khả năng phóng từ dưới mặt nước và lượng choán nước là 111.500 tấn. Các loại tàu theo dự án này do được cải tiến khả năng cơ động nên chúng di chuyển rất êm so với thế hệ trước. Nhờ đó, các tàu đối phương sẽ không phát hiện chúng nếu dựa vào mức độ tiếng ồn phát ra. Khi lẩn tránh hoặc bứt phá khỏi sự bám đuổi của kẻ thù thì khả năng chiến đấu của loại tàu mới này tăng lên đáng kể. Nó cho phép nâng cao khả năng tác chiến bền bỉ của lực lượng hạt nhân chiến lược trên biển. Ngoài ra, những chiến hạm loại mới này tiện nghi hơn rất nhiều so với các thế hệ trước nhờ cải tiến trong thiết kế và bố trí khoa học các vị trí làm việc. Trong giai đoạn thử nghiệm, chúng đã thể hiện sự khác biệt bởi tốc độ di chuyển. Vận tốc theo thiết kế là 25 hải lý/h nhưng khi tiến công có thể tăng lên đến 28,3 hải lý/h. Vẻ ngoài của Navaga làm chúng ta nhớ tới tàu ngầm mang tên lửa của Mỹ “George Washington”, vì thế, nó còn được gọi là “Vanka Washington”. Ở phương Tây, chiến hạm kiểu mới mang tên lửa đã đạt được tiêu chuẩn Y-Yankee. Theo nhiều nguồn tin cho rằng, sự giống nhau trong kết cấu giữa 667A và tàu George Washington là một sự sao chép kỹ thuật. Nhưng khẳng định trên xem ra chưa chắc chắn bởi những nét khác biệt cơ bản giữa hai loại tàu ngầm trên. Trong khi kết cấu tàu ngầm của Mỹ có lớp vỏ dày và chỉ một ngăn chứa nước thì tàu của Liên Xô lại có vỏ hai lớp, hai lò phản ứng và hai chân vịt. Quá trình đóng tàu Navaga được tiến hành tại hai nhà máy ở Severodvinsk và Komsomonsk-na-Amur từ năm 1964 đến năm 1974. Lực lượng Hải quân Liên Xô có tất cả 31 chiếc tàu được sản xuất theo dự án này. Sau đó, Hải quân đã đưa vào sử dụng hàng loạt các loại tàu khác nhau trên cơ sở dự án 667A như: 667B (18 chiếc), BD (4 chiếc), BDR (14 chiếc), BDRM (7 chiếc). Tất cả có khoảng 75 chiếc tàu được chế tạo theo dự án 667, chúng đã trở thành loại tàu có số lượng lớn nhất trong lịch sử chế tạo tàu ngầm nguyên tử Liên Xô. Chính Navaga (hay còn được gọi là AZU hay “A-AZ” theo tín hiệu của Lực lượng Hải quân) cũng đã được hiện đại hóa nhiều lần. Trong dự án 667AU, tổ hợp tên lửa D-5 của “Halim” đã được thay bằng tổ hợp D-5U. Những tên lửa của D-5U có những bộ phận phóng riêng,vì thế, tầm bắn được tăng lên đáng kể. Các loại tàu “Granat”(theo dự án 667AT), tàu “Meteorit”(667M) đã được cải tiến để có thể mang theo các tên lửa có cánh, các tàu ngầm loại nhỏ (theo dự án 09774), hay phòng thí nghiệm dưới nước dùng để nghiên cứu triển vọng của tổ hợp trinh sát âm thanh. Hai loại tàu “Navaga” và “Nalim” có trong biên chế của cả hai hạm đội Hải quân Liên Xô - Hạm đội phía Bắc va Hạm đội Thái Bình Dương. Chúng thường hoạt động tác chiến ở Đại Tây Dương và Thái Bình Dương (ở khoảng cách tương đối gần so với bờ biển Mỹ). Tầm bắn của tên lửa D-5 là 2.500 km và của D-5U là 3.000 km nên những loại tàu này, cũng như các loaị tàu mang tên lửa thế hệ mới được trang bị tên lửa đạn đạo xuyên lục địa không được phép tuần tiễu ở hải phận Liên Xô. Để cơ động đến khu vực tác chiến những loại tàu này phải vượt qua hệ thống trinh sát âm thanh SOSUS của Mỹ. Hệ thống này của cho phép Mỹ và các nước đồng minh có thể theo dõi hoạt động của các tàu mang tên lửa Liên Xô. Vì vậy, ê-kip tác chiến các loại tàu này phải mất rất nhiều thời gian để bứt phá khỏi sự theo dõi đó. Trong trường hợp ngụy trang không thành công, những tàu ngầm nguyên tử 667A với hệ thống trang thiết bị tương đối lạc hậu so với Mỹ sẽ rất dễ bị phát hiện. Tuy nhiên trong thời kỳ chiến tranh lạnh, tàu ngầm mang tên lửa hiện đại nhất của Liên Xô đóng vai trò rất quan trọng trong sự cân bằng hạt nhân giữa hai bên. Hai loại tàu “Navaga’ va “Nalim” bắt đầu bị đưa ra khỏi biên chế các hạm đội Liên Xô từ cuối thập kỷ 80 và quá trình này hoàn thành vào những năm 1991-1992. Tính từ thời điểm đó, còn một số tàu được hiện đại hóa từ kiểu này vẫn còn được sử dụng để thực hiên các nhiệm vụ đăc biệt, chúng chỉ thực sự bị loại bỏ vào năm 2000. Một trong những thành công của các chiến hạm mạng tên lửa chiến lược 667 và các thế hệ sau bộc lộ trong suốt thời gian hoạt động đã trở thành mục tiêu cho các thế hệ tàu ngầm tiếp theo. Năm 1986, tàu mang tên lửa chiến lược K-219 sau tai nạn nổ tên lửa trong nòng vẫn có thể hoạt động trên mặt nước 3 ngày đêm. Điều đó đã cứu thoát phần lớn hạm đội ngoại trừ 4 thành viên: Thiếu tá Alexander Petrovich, chiến sĩ tên lửa Igor Kharchenko, chiến sĩ Tuabin Nikolai Smaglyuk và một kĩ sư phụ trách lò phản ứng Sergey Preminin. Sự kiện này đã được thể hiện rất sinh động trong một cuốn sách, sau này đã được dựng thành phim. Theo nhiều nguồn tin, hiện nay, trong biên chế của các hạm đội còn có 2 chiếc tàu ngầm được chế tạo theo dự án 667A: một chiếc loại 09774 và một thuộc loại 09780. Trong thành phần lực lượng tàu ngầm nguyên tử chiến lược còn có 6 chiến hạm loai 67BDR và 6 chiếc loại BDRM. Chúng tiên tiến hơn các thế hệ trước của mình bởi vẻ ngoài, hệ thống giảm tiếng ồn hiện đại, những tên lửa có tầm bắn và độ chính xác cao hơn. Việc cải tiến kích cỡ các tên lửa đã tạo ra các tên lửa bố trí thẳng đứng - đặc trưng trên mũi tàu của Delta (Delta I, II, III, IV là tên hiệu mà phương Tây dùng để gọi các tàu ngầm các tàu ngầm chế tạo theo dự án 667 và các thế hệ sau). Vitinfo
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
doi_bui
Thành viên

Bài viết: 150
|
 |
« Trả lời #16 vào lúc: 30 Tháng Mười Một, 2007, 02:09:49 pm » |
|
Tên lửa Ashura của Iran “sẽ giúp” người Mỹ Ngày 28/11, Bộ trưởng Quốc phòng Iran Mostafa Mohammad Hajjar đã “tung thêm” một bằng chứng mới cho những người ủng hộ kế hoạch lắp đặt hệ thống phòng thủ tên lửa của Mỹ tại châu Âu – đó là ngày 27/11 vừa qua, ông cho biết nước này đã chế tạo thành công tên lửa đạn đạo tầm xa mới có tên Ashura với tầm phóng 2.000km. Iran chế tạo thành công tên lửa Ashura – đó là vũ khí của sự chống trả. Tuy nhiên, sự xuất hiện tên lửa mới của Iran sẽ tạo ra bối cảnh không mấy dễ chịu đối với các cuộc hội đàm giữa Nga và Mỹ về lá chắn tên lửa của Washington nói riêng và đối với vấn đề Iran nói chung. Ashura có thể tạo ra “cơ hội” làm nóng lên xung quanh vấn đề “mối đe doạ tên lửa từ phía Iran”. Tên lửa mới sẽ bao phủ toàn bộ lãnh thổ của Ả Rập Xê Út và Thổ Nhĩ Kỳ, có thể đạt đến lãnh thổ Hy Lạp và Bungari chứ chưa nói đến đồng minh chính trong khu vực của Mỹ là Irsael. Tên của loại tên lửa này bắt nguồn từ một sự kiện tôn giáo quan trọng đối với người thuộc dòng Hồi giáo Shiite ở Iran: Người ta lấy tên Ashura để đặt tên cho lễ tang tưởng niệm về Lãnh tụ Hồi giáo Hussein, cháu trai của nhà tiên tri Muhammad, theo truyền thuyết, đã bị giết vào năm 680 và được người thuộc dòng Hồi giáo Shiite đặc biệt tôn sùng. Mỹ có kế hoạch lắp đặt radar tại CH Czech và 10 tên lửa đánh chặn tại Ba Lan vào năm 2011 – 2012, dường như, là để đối phó với những đòn tấn công tên lửa từ phía Iran. Nga lại không tin vào tính xác thực của mối đe doạ này và kiên quyết phản đối các kế hoạch của Mỹ. Tuy nhiên, tuyên bố của Tehran về việc phát triển thành công chương trình tên lửa làm giảm khả năng nhân nhượng giữa Moscow và Washington. Lãnh đạo Bộ Quốc phòng và Bộ Ngoại giao Nga và Mỹ đã thảo luận về chủ đề lá chắn tên lửa vào tháng 10 vừa qua tại Moscow. Sắp tới, hai bên sẽ tiến hành thêm một cuộc gặp gỡ nữa để bàn về vấn đề này - Bộ trưởng Ngoại giao Nga Sergei Lavrov đã cho biết như vậy tại Washington hôm 28/11 vừa qua. Tuy nhiên, tên lửa mới của Iran đã tạo cho Mỹ một cơ hội như mong muốn để thêm một lần nữa lên tiếng cho thấy sự cần thiết phải lắp đặt các bộ phận thuộc hệ thống phòng thủ tên lửa của Mỹ tại châu Âu. Vào mùa hè năm nay, Tổng thống Nga Vladimir Putin đã đề nghị Mỹ ngừng việc lắp đặt hệ thống phòng thủ tên lửa tại Đông Âu và thay vào đó là cả Nga và Mỹ sẽ sử dụng chung trạm radar Gabala mà Nga thuê của Azerbaijan và trạm radar đang xây dựng ở Armavir. Phía Nga đã đề nghị Mỹ thành lập trung tâm trao đổi thông tin hệ thống lá chắn tên lửa ở Moscow và Brussel. Cũng trong tháng 10, Mỹ đã đưa ra sáng kiến biến trạm radar Gabala và Armavir thành bộ phận bổ sung vào hệ thống lá chắn tên lửa của Mỹ cũng như bày tỏ sự sẵn sàng cho phép các chuyên gia Nga tiếp cận hệ thống lá chắn tên lửa tại Ba Lan và CH Czech. Tuy nhiên, câu trả lời bằng văn bản trước đề nghị của Nga đưa ra tuần trước được gửi đến Moscow đã khiến Nga rất thất vọng. Ngày 28/11, Sergei Lavrov tuyên bố: “Giờ thì rõ ràng là đó là Mỹ đã làm ngược lại những gì mà Mỹ đã nói với các đại diện Nga tại Moscow hồi đầu tháng 10 trong cuộc gặp “2+2” vừa qua. Từ đó có thể kết luận rằng, Mỹ không sẵn sàng thoả thuận với Nga về vấn đề lá chăn tên lửa. Washington quan tâm đến việc duy trì quá trình của các cuộc hội đàm khi Mỹ không lấp đầy được dự án lá chắn tên lửa bằng một nội dung cụ thể”. Những thành tựu mới của Iran trong lĩnh vực chế tạo tên lửa có thể sẽ gây ra những ảnh hưởng xấu đến mối quan hệ Tehran và Moscow. Ngày 28/11, đã có tuyên bố về việc hoãn hội nghị tiếp theo của Uỷ ban Hợp tác Kinh tế Thương mại liên chính phủ Nga-Iran từ cuối tháng 11 sang trung tuần tháng 12. Tại hội nghị đã thảo luận một số vấn đề trong đó có vấn đề Nga giúp Iran xây dựng nhà máy điện hạt nhân tại Busher. Vitinfo
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
thanhlong
Thành viên

Bài viết: 199
|
 |
« Trả lời #17 vào lúc: 11 Tháng Mười Hai, 2007, 08:12:53 pm » |
|
TÌM HIỂU T̀INH BÁO QUÂN SỰ CỦA NHẬT BẢN Tác giả: Triệu Vinh Xuân Nguồn: T/c “Quân sự văn trích”, số tháng 4/2007 Người dịch: Hoàng Sáu Từ khi kết thúc chiến tranh, Nhật Bản đă từng bước tăng cường lực lượng quân sự của ḿình, đồng thời cũng từng bước tăng cường xây dựng lực lượng t́inh báo quân sự theo mô h́inh của Mỹ. Đó là lực lượng tình báo cho Lục quân, bao gồm có các đội tính báo như: Đội Thông tin, đội Điều tra, đội Tư liệu, đội quan sát bờ biển, đội kỹ thuật. Ngày 20/01/1997, pḥong Tính báo thuộc Cục Pḥòng vệ Nhật Bản chính thức được thành lập, các đơn vị tính báo của Hải, Lục, Không quân trực thuộc Cục Pḥòng vệ Nhật Bản cũng được thay đổi. Pḥòng tì́nh Báo chịu sự chỉ huy của một trưởng pḥòng, một phó pḥòng và một kỹ thuật viên. Các cơ quan t́ình báo gồm: cơ quan hành chính tổng hợp, kế hoạch, phân tích, đồ ảnh, sóng điện từ và 6 cơ quan thông tin, với số nhân viên lên tới 1600 người. Đội t́ình báo thông tin Vào những năm 50 của thế kỷ trước, bộ tham mưu Lục quân Nhật đã thành lập pḥòng 2, có trách nhiệm thu thập tín hiệu điện từ (Nhật gọi là tì́nh báo điện từ). Năm 1977, công tác t́ình báo quân sự thay đổi, do Pḥòng 1 (pḥòng điều tra thuộc Cục Pḥòng vệ) phụ trách. Cũng từ đó Pḥòng 2 đổi tên thành Pḥòng Tham mưu, dưới có các đơn vị thông tin trực thuộc, giống như mô hì́nh của các đơn vị t́ình báo tín hiệu của Mỹ đóng trên đất Nhật. Để thu thập tin tức của Liên Xô, các đơn vị t́ình báo tín hiệu của Mỹ đóng trên đất Nhật phải thuê rất nhiều chuyên gia phiên dịch tiếng Nga và giải mă từ Xi-bi-ri. Những năm 50 của thế kỷ trước, Nhật đã thành lập một đội cảnh sát dự bị, một mặt tham gia giải mã với Mỹ, một mặt để sau này lấy lực lượng này làm lực lượng cốt cán chuẩn bị cho thành lập lực lượng tì́nh báo thông tin quân sự riêng cho ḿình. Năm 1982 lực lượng này đă lên tới 900 người, sau đó nhằm để nâng cao năng lực t́nh báo, Nhật đă không ngừng gia tăng quân số đến năm 1993 quân số đă đạt tới 1300 người.
|
|
|
|
|
Logged
|
Đừng hỏi Tổ quốc đã làm gì cho ta mà phải hỏi ta đã làm gì cho Tổ quốc hôm nay
|
|
|
thanhlong
Thành viên

Bài viết: 199
|
 |
« Trả lời #18 vào lúc: 11 Tháng Mười Hai, 2007, 08:14:54 pm » |
|
Đội điều tra Sau chiến tranh, t́ình h́ình Nhật đă xảy ra liên tục những sự kiện, rất nhiều lực lực lượng ngầm và các thế lực đối địch trong nội bộ, mất cắp tài liệu mật. Do vậy, tháng 11/1952 đội cảnh sát dự bị được đổi thành đội bảo vệ an ninh, thành lập đội điều tra của lực lượng pḥòng vệ lục quân. Về mô hì́nh cũng giống như lực lượng phản t́ình báo (CIC) của quân đội Mỹ đóng trên đất Nhật. Về quân số cứ 750 người th́ì có một nhân viên phản tì́nh báo, sở chỉ huy của đội đóng trên đảo Yue-zhong nằm ở phía bắc Nhật Bản, dưới có 4 đội quản lư khu vực do đội điều tra của Tô-ky-ô chỉ huy trực tiếp. Ưu điểm của thể chế này là tập trung được lực lượng, thống nhất dự trù kinh phí, xử lý tổng hợp và giao lưu tin tức t́ình báo. Năm 1960, đội Pḥòng vệ Lục quân Nhật Bản đổi thành 5 phương diện đội. Đội điều tra cũng đổi thành 6 đội, gồm: đội điều tra trung ương, đội miền Bắc, đội miền Đông, Đội miền Tây, đội miền Trung, đội miền Đông Bắc. Đội điều tra không c̣òn chỉ huy các đội, mà chỉ can thiệp khi có chỉ thị của cấp trên. Các đơn vị không quân, hải quân cũng thành lập các đơn vị phản tì́nh báo riêng của ḿnh. Một trong những mục đích của việc thành lập các đội điều tra là pḥòng chống sự thâm nhập của các phần tử đối địch và ngăn cản các đơn vị quân đội bị cuốn vào vũ trang bạo động. Vì́ vậy, đa số sử dụng các quân nhân và những người có kinh nghiệm trong lực lượng cảnh sát và cảnh vệ. Nhưng, do số lượng nhân viên quá ít, rất khó triển khai công việc, mà thường phải được sự trợ giúp của cơ quan cảnh sát khu vực và pḥng điều tra để triển khai công việc. Đội Tư liệu Để xử lý các tư liệu t́ình báo ngoại văn, Nhật Bản đă tham khảo mô hì́nh của cơ quan nghiệp vụ t́ình báo quân sự Mỹ (MISO). Tháng 9 năm 1954, đội Tư liệu được thành lập. Năm 1956 lại được chia ra đội Tư liệu trung ương và đội Tư liệu địa phương. Đội tư liệu có nhiệm vụ là thu thập tin tức tì́nh báo nước ngoài, nhưng do sự phát triển của các thủ đoạn thu thập t́ình báo khác, vị trí của đội Tư liệu không cọ̀n quan trọng. Năm 1978, Nhật Bản tinh giản lực lượng, các đội Tư liệu đổi thành pḥòng Tư liệu. Hiện nay đội Tư liệu trung ương nhập vào cục t́ình báo, nhân viên của đội đă giảm từ 200 người xuống cọ̀n 40 người. Các đơn vị của không quân, hải quân cũng giảm xuống cọ̀n khoảng 50 người. Đội Địa lư Trung ương Trong thời gian quân Mỹ chiếm đóng, tiểu đoàn công binh 64 thuộc lục quân Mỹ, phụ trách tác nghiệp đồ bản đóng tại Tô-ky-ô. Đơn vị này đă nhanh chóng thu thập các tư liệu của quân đội Nhật để tiến hành công tác đo đạc địa hì́nh của cả Nhật Bản và Trung Quốc từ thời Minh trị để lại. Cộng với các tư liệu mới được đo đạc và chụp ảnh từ trên máy bay, quân đội Mỹ đă sử dụng rất hiệu quả trong cuộc chiến tranh Triều Tiên năm 1954. Tiếp thu mô h́ình của Mỹ, Nhật Bản đă thành lập Đại đội đo đạc 101, gồm có các trung đội đo đạc, phục chế, quản lý. Nhiệm vụ chủ yếu lúc đó là hiệu chỉnh, phục chế các bản đồ được cung cấp. Sau năm 1990, thêm nhiệm vụ đo đạc, xử lý dữ liệu ảnh vệ tinh và hệ thống định vị toàn cầu. Năm 1995, được đổi tên thành đội Địa lý Trung ương. Năm 1997, gia nhập cục t́ình báo./.
|
|
|
|
|
Logged
|
Đừng hỏi Tổ quốc đã làm gì cho ta mà phải hỏi ta đã làm gì cho Tổ quốc hôm nay
|
|
|
thanhlong
Thành viên

Bài viết: 199
|
 |
« Trả lời #19 vào lúc: 16 Tháng Mười Hai, 2007, 06:27:30 pm » |
|
ĐIỂM TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN TRANG BỊ QUÂN SỰ THẾ GIỚI NĂM 2006 Tác giả : Bất Tri Hoả Nguồn: T/c Trung Quốc “Quân sự thế giới”, số 1/2007; tr.8-12 Người dịch: Đặng Hưng Kỳ Vũ trụ trong năm 2006 có vẻ trầm lắng. Việc chế tạo máy bay vũ trụ đang gặp bước gập ghềnh, khiến Mỹ phải dẹp sang bên nhìn Nga và Trung Quốc biểu diễn, và chờ đợi những con tàu vũ trụ kiểu mới CEV gánh vác trọng trách này. Do máy bay vũ trụ còn chưa hoàn thiện, nên tên lửa đẩy vẫn là chủ lực để phóng lên vũ trụ, và việc phát triển thiết bị bay siêu cao tốc bằng động cơ siêu xung áp đang được mọi người quan tâm cũng chưa được coi trọng. Do Mỹ hết sức coi trọng địa vị chiến lược của vũ trụ, nên tên lửa đẩy đang được cải tiến hơn nữa, nhằm mục tiêu thoả mãn được yêu cầu nhanh chóng phóng và bổ xung vệ tinh, nhằm tới mục đích cao nhất là tiến trình phóng tàu vũ trụ. Năm 2006, ngày càng có nhiều quốc gia nhận thức rõ giá trị quân sự và chiến lược của vũ trụ, ngày càng có nhiều quốc gia và khu vực vừa và nhỏ đã có vệ tinh. Trong năm 2006, vệ tinh trinh sát của Nhật được hoàn thiện không ngừng, Hàn Quốc và khu vực Đài Loan của Trung Quốc cũng không chịu lạc hậu, In-đô-nê-xi-a cũng đang tính đến việc hợp tác với Nga phát triển kế hoạch phóng vệ tinh. Trước tình hình đó, Mỹ đang ngấm ngầm đẩy mạnh nghiên cứu phòng thủ cho vệ tinh và tiến công phòng thủ trên vũ trụ. Nga tuy một mình phóng tàu vũ trụ “Liên minh”, nhưng vẫn đang ra sức tu bổ mạng vệ tinh. Ngoài ra cuộc cạnh tranh về vệ tinh đạo hàng (dẫn đường) đã mang ý nghĩa chiến lược cũng rất được các nước quan tâm. Năm 2006, Mỹ bắt đầu nghiên cứu chế tạo GPS III, vệ tinh thử nghiệm của kế hoạch “Galileo” châu Âu cũng đã được phóng lên vũ trụ, Trung Quốc bắt đầu xây dựng hệ thống đạo hàng bằng vệ tinh “Bắc Đẩu” với bản quyền tri thức tự chủ của mình. Mặc dù Nga phản đối và luôn phóng thử tên lửa hạt nhân chiến lược như “Tropol” M, SS-18 để răn đe, trong năm 2006 Mỹ vẫn lấy cớ những động thái xảy ra ở Iran và Triều Tiên để tự tìm “lý do” đẩy mạnh việc nghiên cứu chống tên lửa. Việc phổ biến rộng tên lửa đường đạn cũng buộc châu Âu và cả Nga phải bắt đầu nghiên cứu đối sách chống tên lửa hạn chế. Một số trận địa phòng thủ tên lửa trên đất liền ở hai nơi Alasca và bang Ca-li-phoóc-ni-a bắt đầu được đưa vào trực ban chiến đấu, nhưng do bảng thành tích thử nghiệm chống tên lửa không được khả quan, người ta vẫn tỏ ra hoài nghi tính thực dụng của kỹ thuật chống tên lửa hiện nay và cả viễn cảnh của nó. Còn thiết bị chống tên lửa bằng la-de đặt trên máy bay vốn được kỳ vọng rất lớn, trong năm 2006 cũng tiến triển không thuận lợi, nhưng việc ứng dụng la-de ở cấp chiến thuật vẫn được “tăng nhiệt”, với mục tiêu lắp đặt thiết bị đó lên máy bay vận tải C-130, thậm chí cả trên máy bay chiến đấu F-35. Để đối phó với thách thức của chiến tranh cường độ thấp, vũ khí vi sóng vốn được dùng ở cấp chiến lược, đã được đầu tiên ứng dụng trong lĩnh vực sát thương yếu để khống chế đám đông bạo hành, “hệ thống ngăn chặn chủ động” này của quân đội Mỹ đã được dùng thử ở I-rắc. TRANG BỊ HÀNG KHÔNG ĐÃ BƯỚC VÀO THẾ HỆ THỨ IV Trong năm 2006, trang bị không quân rất được mùa với nhiều thành tựu. Một đơn vị lực lượng F-22 của quân đội Mỹ đã hình thành sức chiến đấu, người ta đang thảo luận rầm rộ làm thế nào để phát huy ưu thế của máy bay chiến đấu thế hệ thứ 4. Các loại máy bay chiến đấu như EF-2000 “Typhoon” của châu Âu, “Rafale” của Pháp cũng đang được bàn giao cho quân đội, chúng không những làm cho mấy nước lớn phải sửa đổi chiến lược, chiến thuật không quân, mà còn buộc thị trường xuất khẩu phải giảm giá. Đồng thời Mỹ cũng lợi dụng thế mạnh trong lĩnh vực vũ khí trên máy bay và điện tử, tiếp tục tranh giành thị trường quốc tế với châu Âu bằng 2 loại máy bay kinh điển F-15 và F-16. Năm 2006 “Typhoon” có được hợp đồng với A-rập Xê-út, JAS 39 của Thụy Điển có được đơn đặt hàng của Na-uy và Đan-Mạch, chỉ có “Rafale” vẫ chưa có đơn đặt hàng. So với các nước khác, tình hình buôn bán máy bay quân sự của Nga cũng rõ ràng kém thế. Hệ máy bay Su-27/30 đã bán không chạy, tiềm năng kỹ thuật và cải tiến không nhiều. Máy bay MiG cũng đang chịu áp lực trong việc giành địa vị trong nước và thị trường quốc tế. Suốt cả năm 2006, việc phát triển máy bay chiến đấu thế hệ thứ 5 của Nga cũng gặp trắc trở về mặt tiền vốn, về thiết kế tổng thể, về công nghệ đỉnh cao và về hợp tác quốc tế. Nhưng về mặt tích hợp tài nguyên toàn ngành trong năm 2006, Nga đã chính thức thành lập “Công ty chế tạo hàng không liên hợp”, tập trung mọi tinh hoa của Tu-pô-lép, Su-khôi, MiG, Il-su-lin và Iếc-kút, nhằm tái chấn hưng thế lực. Những kẻ cuối cùng chiếm lĩnh thật sự thị trường quốc tế máy bay chiến đấu, có lẽ phải kể đến máy bay chiến đấu F-35. Dù thiếu chút nữa nó không thể bay thử lần đầu trong năm 2006, nhưng rõ ràng nó đã chiếm được thị phần lớn nhất trên thị trường quốc tế về máy bay chiến đấu thế hệ thứ 4, ngoài 9 nước đã tham gia, đã có thêm 6 nước Ixraen, Xingapo, Tây Ban Nha... chuẩn bị gia nhập. Các quốc gia khác cũng không chịu nằm im, trên thị trường máy bay huấn luyện cao cấp đã xảy ra cạnh tranh quyết liệt giữa: MiG-AT, Yak-130 của Nga, M-346 của Italia, T-50 của Hàn Quốc. Trong năm 2006, chỉ có lĩnh vực máy bay ném bom là trời yên biển lặng. Ngoài yếu tố về giá thành, đối với các quốc gia trừ Mỹ, chức năng ném bom và công kích, với trên có thể dung hoà với máy bay chiến đấu, với dưới có thể kiêm nhiệm bởi máy bay huấn luyện cao cấp, nhu cầu không có gì bức thiết. Nhưng đột phá trong lĩnh vực này đối với Mỹ trong tương lai là nhằm vào công nghệ kỹ thuật cao nhằm vào phát huy tiềm năng của tên lửa đường đạn, đột phá vào kỹ thuật máy bay siêu cao tốc và thiết bị bay hàng không vũ trụ, hình thành năng lực luôn sẵn sàng công kích trên toàn cầu. Máy bay vận tải cũng yên ắng, cuối cùng chỉ có châu Âu hạ quyết tâm dùng A400M, để thoát khỏi sự ỷ lại vào Mỹ. Năm 2006 đối với máy bay trực thăng cũng không quá nóng. Về máy bay trực thăng kiểu công kích, có “Apache” của Mỹ và “Tiger” của châu Âu vẫn theo kế hoạch cải tiến và bàn giao cho chủ hàng. Nhưng việc “Komanchee” bị chấm dứt kế hoạch, cũng gây nên biến đổi lớn đối với lực lượng không quân của Lục quân Mỹ. Máy bay trực thăng V-22 cuối cùng đã thoát khỏi cảnh khốn quẫn, trở lại đứng hàng đầu trong cách mạng công nghệ của máy bay cánh quay (cánh quạt lật). Kế hoạch trực thăng trinh sát vũ trang (ARH) và trực thăng thông dụng cỡ nhỏ (LUH) của Mỹ đã thể hiện rõ tư tưởng kết hợp sử dụng 2 loại máy bay có mức độ kỹ thuật khác nhau và tiết kiệm được kinh phí. Năm 2006 vẫn là thời đại hoàng kim cho việc xuất khẩu trực thăng “Black Hawk” UH-60 của Mỹ và hệ Mi-8/17 của Nga, nhưng nhu cầu của quân đội Mỹ đối với máy bay trực thăng vận tải cỡ lớn lại càng cấp thiết, và kế hoạch chế tạo máy bay trực thăng hạng nặng liên hợp JHL cũng đã được khởi động. Năm 2006, máy bay không người lái đã mất đi cảm giác mới mẻ, các kiểu máy bay tiên tiến như “Predator”, “Global Hawk” đều đã trở nên cũ kỹ. Nhìn vào triển vọng cuộc chiến tranh không người điều khiển, mọi người phát hiện còn có quá nhiều công việc cơ sở cần phải giải quyết như vấn đề băng thông rộng, pin nhiên liệu, tránh va trên không... Nhìn vào phần cứng, máy bay chiến đấu không người lái không có gì thần bí, cái khó là ở chỗ dùng quá trình nào để hoàn thành nhiệm vụ phức tạp của tác chiến trên không. Năm 2006, kế hoạch “Hệ thống không chiến không người lái liên hợp” do phương hướng không rõ ràng đành phải huỷ bỏ. Pháp, Thụy Điển và Italia lại đưa ra một số kiểu máy bay kiểm chứng, ra sức tổ chức hạng mục liên hợp Âu châu kiểu mới, tranh thủ đuổi kịp Mỹ. HẢI DƯƠNG TRƯỚC CƠN BIẾN ĐỘNG LỚN Năm 2006 trên hải dương có thể coi là “trăm hạm ganh sức”. Trước hết, năm 2002 Hải quân Mỹ đề ra mô hình chuyển đổi tương lai nay đã sơ bộ có kết quả. Năm 2006, chiếc tàu sân bay “George Bush” đã hạ thuỷ là chiếc cuối cùng của lớp tàu sân bay Nimitz. Tàu sân bay CVN 21 được coi là ‘tàu sân bay của thế kỷ 21” cũng đang được đẩy mạnh chế tạo, phối hợp với máy bay chiến đấu F-35 đã đi trước một bước và máy bay chiến đấu không người lái đang thai nghén, chúng sẽ đặt nền móng bá quyền mới trên biển cho Mỹ. Hai nước Anh-Pháp cũng không chịu tụt hậu, đang liên hợp phát triển tàu sân bay mới CVF và cuối cùng cũng bước vào hợp tác ổn định. Điểm nóng trên biển năm 2006 còn có việc Mỹ đã chính thức hình thành khả năng chống tên lửa trên biển. Cải tạo lại hạm tuần dương “Shiloh” với hệ thống chống tên lửa “Aegis” mới nhất, đã đưa vào bố trí ở Nhật Bản. Hệ thống “Aegis” tiêu biểu cho ưu thế phòng không chống tên lửa trên biển của Mỹ hiện nay đã trang bị cho Na-uy, Ốt-xtrây-li-a, Nhật Bản, Hàn Quốc và Tây Ban Nha. Hạm DD (X) hạt nhân của hạm chiến đấu mặt nước trong tương lai của Mỹ, trong năm 2006 được đặt tên lớp hạm “Zumwalt” DDG 1000, đang vào giai đoạn khắc phục những công nghệ kỹ thuật quan trọng. Về các mặt giải quyết lực đẩy hạm tàu hoàn toàn bằng điện, ra-đa 2 kênh sóng, pháo tiên tiến trên hạm sẽ là mẫu mực của các chiến hạm thế hệ mới.
|
|
|
|
|
Logged
|
Đừng hỏi Tổ quốc đã làm gì cho ta mà phải hỏi ta đã làm gì cho Tổ quốc hôm nay
|
|
|
|