Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 09:40:26 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Cuộc chiến tranh Thái Bình Dương 1941-1945  (Đọc 190515 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
LuuHuongSoai
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1111



« Trả lời #20 vào lúc: 25 Tháng Mười Một, 2009, 12:08:31 am »

Với ý nghĩ và cảm giác ấy, Kramer lái xe đến Bộ tư lệnh hải quân Hoa Kỳ tìm gặp đô đốc Stark.
Trong khi đó, tại tòa Đại sứ Nhật trên đại lộ Massachusetts đã xảy ra một sự hỗn loạn chưa từng có. Nhũng sĩ quan giải mã Nhật và các nhân viên, sĩ quan khác tề lại đầy đủ, tham gia một buổi tiệc giã từ. Nhiều chầu rượu Sakê đã uống hết và giờ đây họ đợi nhận điện phần thứ 14 của công hàm (1). Cuối cùng Công ty điện tín RCA và Mackay đều đem lại bản công hàm có đóng dấu very important" (rất quan trọng) bằng tiếng Anh. Toán giải mã bắt đầu dịch và 10 giờ 30 sáng đại sứ Nomura mới đọc được bản văn. Ông ta điện thoại cho ngoại trưởng Hun xin được tiếp kiến về một vấn đề quan trọng.
Tham vụ sứ quán Okumura ngồi lọc cọc đánh máy, ông ta đánh máy không thành thạo, trật tới, trật lui mãi đến 01 giờ trưa mới xong (giờ Washington).
ĐÔ đốc Stark, tổng tư lệnh hải quân Hoa Kỳ tiếp trung tá Kramer tại văn phòng Bộ tư lệnh hải quân và đọc hết bức điện. Ông ta chú ý đến phần ghi chú bằng bút chì đỏ của Kramer về ý nghĩa của việc "Đại sứ Nhật phải trao cho ngoại trưởng Hoa Kỳ bức thông điệp đúng 01 giờ trưa". ông ta nói:
- Tại sao chúng ta không điện thoại cho Đô đốc tư lệnh hạm đội của Hoa Kỳ ở Hawaii nhỉ?

(1) Tất cả mọi người đượcc thông báo là Hội đàm Mỹ - Nhật sắp tan vỡ, một số sẽ về nước. Nhưng trong thâm tâm mọi người đều biết “chuyện gì sẽ xảy ra " và họ phải chịu tập trung giam giữ một thời gian nếu chiến tranh bùng nổ, rồi sau đó sẽ về Nhật. Đối với họ. đây là đêm cuối cùng sống ở đại lộ Massachusetts của thủ đô Washington này.
Logged

Hiên ngang trước cửu trùng
Lạnh lùng nhìn trần thế
LuuHuongSoai
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1111



« Trả lời #21 vào lúc: 25 Tháng Mười Một, 2009, 12:09:54 am »

Nhưng ông ta lại thôi và cho rằng: đã nhiều lần báo động tổng quát rồi. Nay báo động nữa thì tăng thêm phần rối rắm. Vả lại ông ấy đã biết mình cần phải làm gì. Đoạn, đô đốc Stark gọi Nhà Trắng nhưng điện thoại của Nhà Trắng lại bận.
Tại Bộ tư lệnh lục quân, khi bản giải mã phần thứ 14 của công hàm Nhật nằm trong tay đại tá tình báo Bratton, sự kiện 'trao công hàm đúng lúc 01 giờ trưa đập vào mắt ông. Chắc chắn Nhật sẽ đánh vào một cơ sở nào đó của hải quân vào lúc ấy ông ta vội đến gặp cấp chỉ huy trục tiếp của mình là tướng Miles, nhưng ông này đã rời cơ quan trở về nhà nghỉ cuối tuần. Bratton điện thoại cho văn phòng tổng tham mưu trưởng Lục quân xin gặp tướng Marshall. Nơi đây trả lời tướng Marshall đã về nhà để cuối ngựa dạo chơi vì hôm nay là ngày nghỉ.
Lúc 10 giơ 25, Marshall trở về văn phòng, được sĩ quan văn phòng báo về cú điện thoại của đại tá Bratton và nhận được bản giải mã. Đọc xong, ông ta vội lấy một tờ giấy màu vàng (màu của độ khẩn cấp cao) và thảo bức điện gửi cho các nhân viên thuộc quyền ở Thái Bình Dương: 'Vào lúc 01 giờ trưa (giờ đông bộ Hoa Kỳ) người Nhật sẽ gửi đến ta một loại tối hậu thư. Họ đang sửa soạn đốt hồ sơ và máy giải mã. Chúng ta chưa biết yếu tố 01 giờ trưa này có ý nghĩa gì, nhưng phải báo động để sẵn sàng đối phó". Đoạn ông ta điện thoại cho đô đốc Stark, tổng tư lệnh các lực lượng hải quân Hoa Kỳ:
-   Thưa đô đốc, ngài nghĩ gì về yếu tố “01 giờ trưa”, và đã có quyết định gì gửi đến các giới chức hải quân thuộc quyền?
-   Tôi đã gửi cho hạm đội nhiều văn thư kêu gọi đề cao cảnh giác rồi. Bây giờ tôi do dự, e rằng gửi thêm nữa sẽ gây lộn xộn.
Tướng Marshall buông giây nói và suy nghĩ. Độ 5 phút sau điện thoại reo và bên kia đầu dây, đô đốc Stark lấy giọng bạn  bè mà nói:
- Này, Georger (tức là tướng George Marshall) Vậy tôi cùng anh gửi đến cho lục quân và hải quân khắp Thái Bình Dương để tuyên bố tình trạng báo động nhé. Chúng ta có thể gửi qua hệ thống của hải quân.
 - Cảm ơn anh, tôi có thể gửi qua hệ thống của lục quân được. Cũng nhanh lắm.
-  Vậy thì mời anh đánh thêm một hàng vào cuối bức điện của anh; bảo họ rằng, khi nhận đượcc nhớ thông báo cho cánh hải quân nhé.
Bức điện được mã hóa và ít phút sau 12 giờ trưa (giờ Washington) các viên tư lệnh ở san Francisco, ở Panama và ở Philippines đã nhận được. Riêng bộ tư lệnh ở Hawaii thì vẫn chưa nhận được. Vì một số lý do đặc biệt, bức điện đánh đi Hawaii không được đóng dấu thượng khẩn" và không được chuyển bằng hệ thống thông tin vô tuyến trực tiếp của hải quân.
Bởi thế, cho đến lúc bom Nhật bắt đầu rơi trên Trân Châu Cảng, toàn bộ lục lượng Hoa Kỳ tại quần đảo Hawaii vẫn chưa được báo động (1).

(1)   Theo John Tolland. Rising sun, Random house, New York 1971, tr.232
Logged

Hiên ngang trước cửu trùng
Lạnh lùng nhìn trần thế
LuuHuongSoai
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1111



« Trả lời #22 vào lúc: 25 Tháng Mười Một, 2009, 12:12:24 am »

CHƯƠNG  II
CHIẾN TRANH BẮT ĐẦU: TRÂN CHÂU CẢNG

CHIẾN DỊCH Z

* Hình thành kế hoạch

Tác giả chính của kế hoạch tấn công tiêu diệt hạm đội Mỹ ở Trân Châu Cảng là thủy sư đô đốc Isoroku Yamamoto, 57 tuổi và đã 40 năm tận tâm phục vụ hải quân Hoàng gia Nhật, tính đến 1941.

Khó có thể nói chính xác rằng kế hoạch này nảy sinh trong óc Yamamoto từ lúc nào; song có thể khẳng định nó có nguồn gốc từ chiến thuật của hải quân Nhật trong cuộc chiến tranh Nga - Nhật (1904-1905). Dưới sự chỉ huy của đô đốc Heihachiro Togo, năm 1904 hạm đội Nhật không tuyên chiến và lợi dụng đêm tối đã bất ngờ tấn công đánh tan hạm đội Nga tại cảng Lữ Thuận. Năm sau, một cuộc tấn công bất ngờ nữa của hạm đội Nhật tại eo biển Tsushima (Đối Mã) lại đánh chìm hạm đội thứ hai của Nga hoàng, còn viên thiếu úy trẻ Isoroku Yamamoto thì đã bị thương ở chân và bàn tay trái trong trận này.

Trong những năm 30, khi các tàu sân bay bắt đầu xuất hiện, Yamamoto là một trong nhũng sĩ quan hải quân tiên tiến nhanh chóng nhận rõ uy lục to lớn của đòn đột kích bằng máy bay xuất phát từ các tàu sân bay ấy, nên đã coi tàu sân bay là lực lượng tấn công chủ yếu của hải quân thay vì các thiết giáp hạm với những đại bác khổng lồ. Trong thời gian ấy, giới lãnh đạo hải quân Nhật luôn luôn chuẩn bị một cuộc chiến tranh chống Mỹ theo chiến thuật lôi kéo hạm đội Mỹ ra khỏi căn cứ của nó ở Hawaii tiến về phía Nhật Bản và phục kích tiêu diệt nó ở vùng biển nước mình. Trong khi đó, đô đốc Yamamoto lúc bấy giờ là thứ trưởng hải quân cùng thượng cấp của ông là bộ trưởng hải quân Yonai luôn luôn phản đối việc liên minh với phe trục để tiến hành cuộc chiến tranh chống Mỹ. Lập trường đó của Yamamoto vấp phải sức chống đối mạnh mẽ trong giới quân phiệt Nhật. Năm 1937 có người hỏi ông: "Ngài không tin rằng hải quân của Thiên hoàng có thể thắng Mỹ, Anh được sao?". Ông thẳng thắn trả lời: “Tôi không tin như vậy!". Từng là sinh viên đại học Harvard và là tùy viên hải quân Nhật tại Hoa Kỳ, ông hiểu rất rõ lực lượng vật chất của Mỹ so với Nhật. Tháng 8-1939, để cứu ông thoát khỏi âm mưu của những phần tử quá khích trong quân đội muốn thủ tiêu ông, đô đốc Yonai đã phải chuyển Yamamoto ra biển, làm Tư lệnh hạm đội Liên hợp. Khi hoàng thân Konoe lên làm Thủ ương và hỏi ý kiến ông về một cuộc chiến tranh với Anh, Mỹ, ông nói ngay: "Nếu bảo đánh mà không cần biết đến mọi hậu quả của nó, tôi sẽ đánh và sẽ thắng trong sáu tháng hoặc một năm đầu; nhưng tôi không tin là sẽ thắng ở năm thứ hai, và nhất là năm thứ ba. Tôi hy vọng Ngài sẽ làm mọi việc để tránh một cuộc chiến tranh Nhật - Mỹ".(1)

(1) Thomas M.Coffey. lmperial Tragedy. Pinnacle Books, New York 1971, tr.78-79.
Logged

Hiên ngang trước cửu trùng
Lạnh lùng nhìn trần thế
LuuHuongSoai
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1111



« Trả lời #23 vào lúc: 25 Tháng Mười Một, 2009, 12:14:18 am »

Tuy nhiên, với tư cách là một tư lệnh hạm đội, Yamamoto vẫn phát triển tư tưởng chiến thuật của ông theo giả thiết về một cuộc chiến tranh với Mỹ. Khác với xu hướng chiến thuật chung, lúc bấy giờ, ông chủ trương đánh hạm đội Mỹ ở những vùng biển xa nhất mà hạm đội Nhật có thể vươn tới được, như ở quần đảo Marshall (lãnh thổ được Hội Quốc liên ủy trị cho Nhật Bản) chẳng hạn. Năm 1940, ông nói với chuẩn đô đốc Shigeru Fukudome, tham mưu trưởng hạm đội của ông, rằng: "Tôi nghĩ giờ đây một cuộc tấn công ở Hawaii có thể xảy ra, và không quân của ta cần được huấn luyện theo hướng này để giành chiến thắng". ông dự định giáng một đòn bất ngờ vào Trân Châu Cảng làm què hạm đội Mỹ; đồng thời bằng mọi cách cho quân Nhật đánh chiếm Đông Nam Á trước khi Hoa Ký kịp xây dựng lại lực lượng của hạm đội này.
Kinh nghiệm nóng hổi của chiến tranh ở châu Âu đã giúp Yamamoto cụ thể hóa kế hoạch của mình. Ngày 11-11-1940 tàu sân bay "Illustrions”, của Anh đã tiến vào biển Ionieune cách căn cứ hải quân Taranto (của Ý) 170 dặm và tung ra một đợt oanh kích với 21 máy bay phóng ngư lôi. Cuộc tấn công trong đêm trăng không gây khó khăn cho việc tiếp cận mục tiêu của lục lượng đột kích ấy. Máy bay Anh đã phóng ngư lôi trúng 3 thiết giáp hạm Ý: 1 chiếc chìm, 2 chiếc bị loại khỏi vòng chiến. Sau sự kiện đó, đô đốc Yamamoto đã cho tập hợp tư liệu để in ronéo một bản chỉ thị dày 500 trang về phương thức hành động, lực lượng và sự bố phòng của hạm đội Mỹ ở Hawaii.(2)

 (2) N.N. Yakovlev. Trân Châu cảng ngày 7-12-1941: những điều có thật và không có thật, NXB Sách chính trị, Moskva, 1988, tr. 18- 19.
Logged

Hiên ngang trước cửu trùng
Lạnh lùng nhìn trần thế
LuuHuongSoai
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1111



« Trả lời #24 vào lúc: 25 Tháng Mười Một, 2009, 12:15:47 am »


Ngày 7-1-1941, Yamamoto đệ trình Bộ trưởng hải quân lúc bấy giờ là Koshiro Oikawa một bản báo cáo 9 trang với tựa đề "Dự kiến về việc chuẩn bị chiến tranh", trong đó lần đầu tiên ông chính thúc lập luận về một trận đột kích vào Trân Châu Cảng. Không chờ sự phê chuẩn của chính phủ, ngày 1 tháng 2 ông gửi thư cho một người bạn thân là chuẩn đô đốc Takahiro Onishi, tham mưu trưởng hạm đội hàng không số 11 (người sau này sẽ trở thành cha đẻ của lực lượng không quân cảm tử "Kamikaze"), trình bày vắn tắt những ý tưởng chiến thuật của ông đã nêu trong bản báo cáo nói trên. Onishi nhiệt tình ủng hộ, đóng góp thêm một số ý kiến và giới thiệu cho Yamamoto một sĩ quan tham mưu xuất sắc để giúp ông nghiên cứu những vấn đề kỹ thuật cụ thể của kế hoạch. Đó là trung tá Minoru Genda, hiện đang phục vụ tại hạm đội hàng không số 1. Nhận nhiệm vụ mới, Genda đã nhiệt tình thực hiện đến mức hoàn thành công việc chỉ trong 10 ngày. Thậm chí Genda còn phát triển thêm tư tưởng của Yamamoto với đề nghị rằng sau khi đánh tan hạm đội Mỹ tại Hawaii sẽ cho quân nhảy dù chiếm đóng quần đảo. Yamamoto và Onishi chấp nhận hầu hết các tính toán của Genda, nhưng bác bỏ việc chiếm đóng quần đảo.
Hai ông vạch rõ rằng mục tiêu của chiến dịch là tiêu diệt lực lượng địch chứ không phải là chiếm đất.Chiếm đóng quần đảo có nghĩa là mở thêm một chiến trường mới làm phân tán lực lượng vốn cần phải được tập trung vào chiến trường chính ở Đông Nam Á.
Logged

Hiên ngang trước cửu trùng
Lạnh lùng nhìn trần thế
LuuHuongSoai
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1111



« Trả lời #25 vào lúc: 25 Tháng Mười Một, 2009, 12:16:30 am »

Để kế hoạch của Yamamoto có thể thực hiện thành công, cần có hai điều kiện cơ bản. Thứ nhất là hạm đội Mỹ phải có mặt tập trung tại Trân Châu cảng khi cuộc tiến công diễn ra. Thứ hai là, trên suốt con đường dài di chuyển băng qua một nửa Thái Bình Dương, lực lượng tiến công phải giữ được bí mật tuyệt đối. Cả hai điều kiện đó đều không có nhũng yếu tố đảm bảo chắc chắn, do đó kế hoạch này mang tính chất mạo hiểm. Một khó khăn lớn nữa là việc tiếp tế nhiên liệu cho lực lượng tiến công phải được đảm bảo, sao cho trong suốt cuộc hành trình dài ngày, đoàn tàu lớn ấy không cần ghé vào bất cứ cảng nào để tiếp thêm dầu. Yamamoto chấp nhận mạo hiểm; đồng thời ông tin rằng nếu có được nhũng nguồn tin tình báo đầy đủ và chính xác, kế hoạch của ông sẽ thành công. Nhằm phục vụ cho kế hoạch của Yamamoto, theo đề nghị của cơ quan tình báo hải quân, mùa xuân năm 1941 Bộ ngoại giao Nhật đã bổ nhiệm Nagoa Kita làm tổng lãnh sự Nhật tại Honolulu (thủ phủ quần đảo Hawan) cùng với Tadashi Morimura, viên phó lãnh sự 28 tuổi. Tổng lãnh sự là một nhà ngoại giao có quan hệ chặt chẽ với giới tình báo hải quân; nhung viên phó lãnh sự mới chính là một điệp viên thực thụ tên là Takeo Yoshikawa. Mặc dù Nhật Bản đã có bốn điệp viên hoạt động ở Hawaii từ trước, Yoshikawa mới là người được giao nhiệm vụ chủ yếu. Hoạt động đơn tuyến bằng một năng lực vượt trội, Yoshikawa sẽ góp phần không nhỏ để định đoạt sự thành bại của kế hoạch tấn công Trân Châu Cảng.
Tháng 4-1941, kế hoạch của Yamamoto chính thức được mang mật danh là "chiến dịch Z" để kỷ niệm một hiệu lệnh mà đô đốc Heihachiro Togo đã sử dụng trong trận hải chiến Tsushima (Đối Mã) đánh chìm hạm đội Nga hoàng.
Logged

Hiên ngang trước cửu trùng
Lạnh lùng nhìn trần thế
LuuHuongSoai
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1111



« Trả lời #26 vào lúc: 25 Tháng Mười Một, 2009, 12:17:39 am »

* Tranh cãi và phê chuẩn

Lúc bấy giờ mặc dù đã ký hiệp ước trung lập với Liên Xô (13-4-1941), chính phủ Nhật vẫn còn do dự trong việc chọn hướng phát triển của cuộc chiến tranh. Một phái muốn "tiến về phía Bắc" đánh vùng Sibir của Liên Xô, còn phái kia lại chủ trương "tiến về phía Nam" chiếm các thuộc địa của Mỹ, Anh, Pháp, Hà Lan... ở vùng Đông Nam Á. Bởi thế, "chiến dịch Z" chưa được xét duyệt một cách mau chóng. Trong khi chờ đợi, việc tuyển lựa và huấn luyện lực lượng phục vụ cho "chiến dịch Z" vẫn được tiến hành khẩn trương. Các phi công giỏi nhất của Nhật được đưa về 6 tàu sân bay dự định làm lực lượng đột kích của chiến dịch. Theo sự tiến cử của Genda, đô đốc Yamamoto đã chỉ định trung tá Mitsuo Fuchida, một phi công 39 tuổi dầy kinh nghiệm chiến đấu trên chiến trường Trung Hoa và đã trải qua 3000 giờ bay, làm chỉ huy trưởng lực lượng không quân thuộc các tàu sân bay nói trên. Việc huấn luyện tác chiến đã được tiến hành tại hải cảng của thành phố Kagoshima nằm trên một vịnh biển cùng tên thuộc đảo Kyushu (phía Nam nước Nhật) cũng như tại một số can cứ khác của hải quận và không quân trên đảo này và đảo Shikoku. Tất cả nhũng người tham gia luyện tập, từ các phi công đến các hạm trưởng, đều không hề biết mục tiêu thật sự mà họ sẽ phải tiến công là ở đâu.
Sau ngày phát xít Đúc tấn công Liên Xô (22-6-1941) và Hitler hối thúc Nhật Bản cùng tấn công Liên Xô để phối hợp với Đức, cuộc tranh cãi về hướng tiến hành chiến tranh buộc phải đi đến quyết định dứt khoát. Ngoại trưởng Matsuoka bảo vệ lập trường của phái "Bắc tiến", cho rằng đây là cơ hội ngàn vàng để tiêu diệt nhà nước cộng sản đầu tiên trên thế giới, một kẻ thù mà sớm hay muộn thì Nhật Bản cũng phải đánh. Do đó cần tấn công sớm ngay lập túc để phối hợp với Hitler. Sau khi đã tiêu diệt Liên Xô (ông ta cho rằng điều đó sẽ diễn ra rất nhanh) sẽ tiến về phía Nam
Logged

Hiên ngang trước cửu trùng
Lạnh lùng nhìn trần thế
LuuHuongSoai
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1111



« Trả lời #27 vào lúc: 27 Tháng Mười Một, 2009, 02:58:58 pm »

Bộ trưởng hải quân Nhật Oikawa thì vạch rõ rằng kẻ thù trước mắt Nhật chưa phải là Liên Xô mà là Mỹ - Anh đang cạnh tranh quyết liệt với Nhật ở châu Á và Thái Bình Dương.
Nếu Nhật đánh Liên Xô còn Mỹ - Anh lợi dụng tình hình đó để đánh sau lưng Nhật thì sẽ vô cùng nguy hiểm. Vì thế "Nam tiến” là đúng nhất. Tổng tham mưu trưởng lục quân Sugiyama cũng tán thành "Nam tiến" nhưng vẫn chủ trương đợi thời cơ thuận lợi nhất để tiến đánh Liên Xô. Ông ta cho rằng thời cơ đó là lúc Hitler chiếm được Moskva, dự tính là cuối tháng 8. Trong quá trình tranh cãi, bộ trưởng quốc phòng Tojo đã thay đổi lập trường, từ chỗ ủng hộ Konoe cũng ngả theo hướng này. Do đó, tại Hội nghị Đế chế họp ngày 2-7, dưới sự chứng giám của Nhật hoàng, chính phủ Nhật đã chính thúc thông qua kế hoạch "Tiến về phía nam" mà bước đầu tiên là chiếm đóng hoàn toàn Đông Dương thuộc Pháp. Kế hoạch dự định thực hiện điều này bằng những áp lực ngoại giao đối với chính phủ Vichy, nhưng nếu áp lực đó không thành công thì sẽ sử dụng quân đội để đương đầu với hiểm họa của một cuộc chiến tranh với Mỹ và Anh.
Như vậy, hy vọng tránh đụng độ với Mỹ của Yamamoto hầu như đã tiêu tan để mở đường cho việc duyệt xét kế hoạch đánh Mỹ cũng do chính ông đề xuất. Tuy nhiên, nội các Konoe vẫn tìm mọi cách để đạt được mục đích bành trướng mà không phải tiến hành chiến tranh với Mỹ. Thay thế Matsuoka bằng một nhân vật ông có một quan hệ tốt với Hoa Kỳ là đô đốc Teijiro Toyoda lên làm ngoại trưởng, Nhật Bản muốn đẩy mạnh các cuộc đàm phán với Mỹ. Được chính phủ Vichy chấp thuận, Nhật Bản đã tiến quân vào miền Nam Đông Dương từ ngày 24 tháng 7 và muốn Hoa Kỳ cũng phải nhượng bộ trong vấn đề này. Do cuộc đàm phán giữa đại sứ Nhật tại Hoa Kỳ Nomura và ngoại trưởng Mỹ Gordell Hull khởi đầu từ tháng 3 đã đi đến bế tắc trong tháng 7, chính phủ Nhật đề nghị tổ chức cuộc hội nghị thượng đỉnh giữa thủ tướng Konoe với tổng thống Roosevelt để giải quyết mọi vấn đề tranh chấp Nhật - Mỹ. Song, nhận thấy không thể tiếp tục nhượng bộ Nhật Bản hơn nữa, chính phủ Mỹ đã khước từ mọi đề nghị của Tokyo và công bố lệnh cấm vận đối với Nhật Bản.
Logged

Hiên ngang trước cửu trùng
Lạnh lùng nhìn trần thế
LuuHuongSoai
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1111



« Trả lời #28 vào lúc: 27 Tháng Mười Một, 2009, 02:59:26 pm »

Sau hai tháng tiếp tục thương lượng không kết quả, đến đầu tháng 9, các thế lực quân phiệt hiếu chiến đã gây áp lực mạnh mẽ để gạt bỏ mọi khuynh hướng muốn tiếp tục hòa giải và tránh né chiến tranh. Trong tình hình đó, một cuộc hội nghị của các quan chức cao cấp ở hạm đội Liên hợp, Bộ Tổng tham mưu hải quân và Bộ hải quân đã được triệu tập vào ngày 2-9. Dưới sự chủ trì của Tổng tham mưu trưởng hải quân, đô đốc Oshami Nagano, hội nghị xét duyệt "chiến dịch Z" và đóng góp ý kiến, theo quan điểm của hải quân, cho các kế hoạch chiến dịch chiếm đóng vùng Đông Nam Á do lục quân xây dựng.
Cuộc tranh cãi giữa những người phản đối và những người ủng hộ "chiến dịch Z" diễn ra gay gắt và kéo dài. Do đó, cho đến khi chính phủ Nhật đi đến quyết định dứt khoát tại Hội nghị Đế chế ngày 6-9 về việc tiến hành chiến tranh với Anh -Mỹ, "chiến dịch Z" vẫn chưa được phê chuẩn. Từ 11 đến 20-9, Bộ Tổng tham mưu hải quân đã tổ chúc diễn tập theo các kế hoạch đã được soạn thảo. Không may cho Yamamoto, trong cuộc diễn tập để kiểm nghiệm "chiến dịch Z", quân xanh (tượng trưng cho quân Nhật do chính ông chỉ huy) đã bị quân đỏ ("quân Mỹ") phát hiện trước khi tiếp cận mục tiêu; nên đã bị phản công “tiêu diệt" 1/3 số máy bay và "đánh chìm” 2 tàu sân bay.
Thất bại của cuộc diễn tập đã làm cho làn sóng công kích “chiến dịch Z" trở nên vô cùng dữ dội. Phó đô đốc Kusaka, tham mưu trưởng hạm đội hàng không số 1 khẳng định rằng toàn bộ "chiến dịch Z" chỉ là một canh bạc đỏ đen và không thể phó thác lợi ích quốc gia cũng như vận mệnh của toàn bộ cuộc chiến tranh cho trò chơi may rủi ấy. Nhiều đô đốc khác cho rằng việc đưa tàu sân bay đi đánh Hawaii là làm yếu lục lượng yểm trợ cho cuộc hành quân phương Nam. Ngay cả phó đô đốc Onishi cũng thay đổi quan điểm và khuyên Yamamoto từ bỏ kế hoạch của mình.
Nhưng Yamamoto không nhượng bộ. Ông tuyên bố sẽ từ chức nếu "chiến dịch Z"  không được phê chuẩn. Ông lập luận rằng nguy cơ chủ yếu đối với Nhật Bản là hạm đội Thái Bình Dương của Mĩ. Nếu không tiêu diệt được thì không thể tính đến mọi hoạt động khác của toàn bộ cuộc chiến tranh. Phương án tối ưu để tiêu diệt hạm đội Thái Bình Dương chính là "chiến dịch Z". Những nhược điểm bộc lộ trong diễn tập sẽ được khắc phục nhanh chóng. Kế hoạch của ông chấp nhận sự mạo hiểm, nhưng "phải vào tận hang cọp mới bắt được cọp con"; vả lại có những yếu tố bảo đảm cho sự mạo hiểm dẫn đến thành công.
Ví dụ như các số liệu thống kê 10 năm qua đã cho thấy tàu bè nước ngoài hầu như không qua lại khu vục Bắc Thái Bình Dương kể từ tháng 11 cho đến đầu năm sau do biển xấu. . . Cách lập luận chặt chẽ với những dẫn chứng kèm số liệu thống kê cụ thể của Yamamoto và những người ủng hộ ông đã dần dần thuyết phục được phái chống đối. Ngay cả Kusaka cũng chuyển sang bàn về cách khắc phục những nhược điểm mà chính ông đã vạch ra cho Yamamoto.
Ngày 3-11, Tổng tham mưu trưởng hải quân, đô đốc Oshami Nagano phê chuẩn lần cuối cùng "chiến dịch Z" và đệ trình Chính phủ. Cuộc tấn công Trân Châu Cảng chính thức trở thành một bộ phận trọng yếu trong toàn bộ kế hoạch chiến tranh của Nhật Bản. Thời điểm bắt đầu chiến dịch này được coi là mốc mở đầu cuộc chiến tranh Thái Bình Dương do Nhật Bản phát động: 8-12 (giờ Tokyo) tức 7-12 (giờ Hawaii và Washington). Tư lệnh chiến dịch dĩ nhiên chính là tác giả của nó, đô đốc Yamamoto, Tư lệnh hạm đội Liên hợp. Phó đô đốc Chuichi Nagumo, Tư lệnh hạm đội hàng không số 1 , được cử làm Tư lệnh lực lượng tấn công Trân Châu Cảng tức "Kido Butai" hay "Lực lượng đặc nhiệm Z" mà hạm đội của ông là hạt nhân nòng cốt.
Logged

Hiên ngang trước cửu trùng
Lạnh lùng nhìn trần thế
LuuHuongSoai
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1111



« Trả lời #29 vào lúc: 27 Tháng Mười Một, 2009, 03:00:27 pm »

* "Kido Butai”
Đầu tháng 11, hầu hết lực lượng của hạm đội hàng không số 1 đã tập trung ở thành phố cảng Kagoshima và vùng phụ cận để tiến hành cuộc diễn tập cuối cùng nhằm hoàn chỉnh mọi chi tiết của cuộc tấn công Trân Châu Cảng. Tiếp đó, theo mật lệnh của Yamamoto, hạm đội đã rời thành phố cảng phía Nam này, bí mật hành quân lên phía Bắc để cùng với một số đơn vị hải quân khác tổ chức thành Lực lượng đặc nhiệm.
Ngày 17-11, đúng một ngày sau khi Bộ trưởng quốc phòng Hideki Tojo thay thế Hoàng thân Fumimaro Konoe làm thủ tướng chính phủ mới ở Tokyo, hầu hết các chiến hạm thuộc Lực lượng đặc nhiệm đã đến địa điểm tập kết tại vịnh Hitokappu ở đảo Oturup, một hòn đảo ít ai để ý thuộc quần đảo Kurilles cách bờ biển cực bắc Nhật Bản không xa.
"Kido Butai" quả là một lực lượng hải quân đáng sợ với 6 tàu sân bay (Sokaku, Zuikaku, Soryu, Huyết, Kaga và chiếc Akagi là kì hạm của phó đô đốc Nagumo), với 390 máy bay chiến đấu các loại, 2 thiết giáp hạm hạng nặng (Hiei và Kirishửna), 3 tuần dương hạm nặng, 1 tuần dương hạm nhẹ, 9 khu trục hạm, 8 tàu chở dầu và 3 tàu ngầm làm tiền đội. Tổng cộng là 32 hạm tàu các loại. (1)
 Phối hợp với "Kido Butai” còn có cả một hạm đội tàu ngầm đáng kể với 25 chiếc chia làm 4 đội ở 3 căn cứ khác nhau trên đất Nhật. Kể từ đêm 18-11, bốn đội tàu ngầm lần lượt xuất phát tiến về phía quần đảo Hawaii.

(1) Theo N.N. Yakovlev (sách đã dẫn). Còn theo John Toland (cuốn The Rising Sun, do Random house xuất bản năm 1971) thì số máy bay trên 6 tàu sân bay trên là 360 chiếc, chỉ có 2 tuần dương hạm nặng và 3 tàu chở dầu.
Logged

Hiên ngang trước cửu trùng
Lạnh lùng nhìn trần thế
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM