Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 07:57:43 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940  (Đọc 107361 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #10 vào lúc: 19 Tháng Mười, 2010, 08:41:04 am »

III. - PHÁT XÍT NHẬT NHẢY VÀO CHIẾM ĐÔNG DƯƠNG TẠO THÊM NHỮNG TÁC NHÂN MỚI CHO CUỘC KHỞI NGHĨA NAM KỲ.

Chiến tranh thế giới phát triển và ngày càng lan rộng. Sau khi chiếm đóng một loạt nước Đông Âu, Bắc Âu, chưa tiến đánh Liên Xô vội, mà ngày 10-5-1940, phát xít Hít le cho quân đánh Pháp. Chỉ cầm cự hơn một tháng, Pháp tuyên bố Paris bỏ ngỏ. và ngày 17-6-1940, xin đình chiến ký kết đầu hàng phát xít Đức, để cho Đức chiếm đóng Paris và một phần lãnh thổ Pháp. Phần đất con lại ở phía ở phía Nam đặt dưới sự quản lý của một chính phủ bù nhìn đóng ở Vichy.

Đảng cộng sản Pháp, những người yêu nước của Pháp chiến đấu chống Hít le ngay trong nước Pháp. Một bộ phận tướng tá, binh lính không cam chịu mất nước, tuy trong hàng ngũ họ còn chính kiến khác nhau, kể cả những người nặng đầu óc thực dân, lần lượt ra nước ngoài xây dựng lực lượng cùa “nước Pháp tự do” chống phát xít, do de Gaulle cầm đầu.

Pháp thua trận, mất nước làm cho bọn cai trị Đông dương vô cùng hoang mang bối rối. Còn đối với nhân dân ta, thế là rõ Pháp không phải mạnh mà yếu. Uy tín về sức mạnh của đế quốc “nước mẹ” Pháp hoàn toàn sụp đổ trước nhân dân ta.

Tuy nhiên, Toàn quyền Catroux vẫn lên gân lên cốt:

“Vận mệnh xứ Đông dương này còn trong tay tôi ngày nào, thì xứ này vẫn còn là đất Pháp. Tôi quyết định không chịu hạ cờ hiệu của tôi, vì nó là cờ hiệu của nước Pháp”(1).

Phát xít Nhật là một trong ba đồng minh phe trục phát xít Đức - Ý - Nhật, vốn đã nhòm ngó Đông Dương từ lâu. Nắm được Đông Dương, Nhật sẽ có đường tiến về phía Nam, nơi có những quốc đảo như Philippin, Nam Dương giàu tài nguyên, nhất là dầu lửa. Nắm được Đông Dương, Nhật sẽ chặn được con đường tiếp tế của đồng minh Mỹ, Anh cho Tưởng Giới Thạch.

Chỉ một thời gian ngắn sau, ai cũng thấy rõ, nắm được Đông Dương, đặc biệt đất Nam Kỳ, Nhật sẽ có thế thuận lợi đánh mau lẹ Philippin, Đông Ấn thuộc Hà Lán, Malaysia, Singapore, tiếp sau đó đánh Pearl Habor (Trân Châu Cảng), ngày 7-12-1941, phát động cuộc chiến tranh Thái Bình Dương.

Từ cuối năm 1938, đại sứ Nhật đã gặp Toàn quyền Brévié cai trị Đông Dương lúc đó, đề nghị ngưng việc giúp đỡ chuyên chở hàng tiếp tế của Mỹ cho Tưởng Giới Thạch. Nhưng không có kết quả.

Nay Pháp thua Hít-le tháng 6 năm 1940, thật là cơ hội tuyệt vời cho Nhật.

Ngày 17-6, Pháp xin đình chiến đầu hàng Đức, thì ngay hai hôm sau, Nhật đưa cho Toàn quyền George Catroux một tối hậu thư đòi chấm dứt vận chuyển xe tải, dầu lửa và các hàng quân dụng khác qua đường sắt Hải Phòng - Lao Kay đi Côn Minh và đường bộ Hải Phòng - Bằng Tường cho Trung Quốc.

Sau khi Pétain lên nắm chính phủ Vichy, thì y cho Đô đốc Jean Decoux sang làm Toàn quyền Đông Dương thay Catroux (19-7-1940). Catroux rời Đông Dương và theo phong trào nước Pháp tự do của de Gaulle.

Tokyo thương lượng trực tiếp với chính phủ Vichy. Ngày 30-8-1940, một hiệp ước được ký kết trong đó nước Pháp cộng nhận vị trí ưu việt của Nhật ở Viễn Đông, đồng ý cung cấp cho Nhật một số điều kiện dễ dàng về quân sự ở bắc Kỳ. Ngược lại, Nhật tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ Đông Dương thuộc Pháp.

Tiếp đó, Nhật làm việc với Decoux ngày 2-9 và đến ngày 20-9, hai bên ký kết một hiệp nghị cụ thể cho Nhật đóng 6.000 quân ở Bắc Kỳ, phái Bắc sông Hồng và không vượt 25.000 quân trên toàn Đông Dương. Nhật phải dùng sức ép bằng một tối hậu thư, cho đến phút chót Decoux mới hạ bút ký.

Nhưng quân của sư đoàn 5 Nhật đóng ở Quảng Tây, ngay 22-9 vẫn tiến đánh một loạt đồn của Pháp ở Đồng Đăng, Lạng Sơn. Thực chất đây là hành động làm áp lực bắt Pháp phải chấp nhận mọi yêu cầu, vì Nhật sẽ còn tiếp tục đòi hỏi Pháp nữa.

Quân Pháp đóng trên các đồn biên giới bị Nhật đánh đại bại, hoảng hốt tháo chạy về Đồng Mô và giương cao cờ trắng đầu hàng. Quân lính Pháp hỗn loạn chạy qua đường Bắc Sơn, dọc đường vứt cả súng. Trước tình hình đó, đảng bộ địa phương đã lãnh đạo nhân dân châu đánh tan quân Pháp, tước vũ khí và nêu cao khẩu hiệu đánh đuổi phát xít Pháp - Nhật.

Pháp bại trận ở chính quốc. Rồi Nhật nhảy vào chiếm Đông Dương, Pháp lại tỏ thái độ bạc nhược đầu hàng. Cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn bùng nổ. Tất cả những tin tức đó tác động mạnh đến Xứ ủy Nam Kỳ trong lúc Xứ ủy đang khẩn trương chuẩn bị khởi nghĩa.

Thêm một yếu tố nữa.

Trong khi thực hiện chiến lược Đại Đông Á, phát xít Nhật đã tranh thủ được chính phủ Hoàng gia Thái ngả theo Nhật. Thái hy vọng kiếm lợi khi đi theo phát xít Nhật.

Lúc phát xít Nhật gây chuyện rắc rối làm áp lực ở phía Bắc Đông Dương, thì ở phía Tây Nam, Nhật xúi dục Thái đưa quân tới biên giới Lào và Campuchia, chuẩn bị gây chiến với Pháp, với lý do năm 1907, Pháp đã chiếm của Thái một số đất giao cho lào và Campuchia, nay Thái đòi lại.

Dĩ nhiên lính Thái không phải là quân Nhật, cho nên trong vài trận thử sức, quân Pháp mạnh hơn, thiện chiến hơn, đánh cho quân Thái thiệt hại. Phát xít Nhật lại đứng ra đóng vai trò “ngư ông” dàn xếp.

Bọn cai trị Đông Dương ở vào tình thế khó khăn, không còn sự tiếp sức của chính quốc, không có viện trợ của Anh, Mỹ, không có khả năng kéo dài cuộc chiến, cho nên đành ôm hận trả cho Thái 70.000 kilômét vuông đất nằm bên kia sông Mêkông thuộc lãnh thổ Lào và mấy tỉnh miền Tây Campuchia.

Việc nổ ra chiến tranh Pháp - Thái, buộc Pháp phải điều quân đội ra biên giới Tây Nam. Lính người Việt đóng ở Nam Kỳ và phần nhiều là người Nam Kỳ không muốn ra trận chết thay cho Pháp, không muốn chết vì quyền lợi của đế quốc Pháp. Trong quân đội của Pháp ở Nam Kỳ, Đảng lại có cơ sở khá mạnh, đã tiến hành làm công tác binh vận một thời gian khá dài.

Anh em binh lính tán thành khẩu hiệu không đi làm bia đỡ đạn chết thay cho Pháp. Anh em muốn nổi dậy khởi nghĩa, thà chết cho cách mạng, còn hơn chết vì quyền lợi của đế quốc.


(1) Các báo ở Sài Gòn và Hà Nội Tân Văn, ngày 18-6-1940.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #11 vào lúc: 20 Tháng Mười, 2010, 10:15:33 am »

PHẦN THỨ HAI

CHỦ TRƯƠNG KHỞI NGHĨA CỦA XỨ ỦY NAM KỲ
VÀ CÔNG CUỘC CHUẨN BỊ

I. - HÌNH THÀNH CHỦ TRƯƠNG KHỞI NGHĨA

Từ tháng 3-1940, đã xuất hiện Đề cương khởi nghĩa Nam Kỳ, thực chất là đề cương khởi nghĩa vũ trang do Xứ ủy đề ra. Nhưng phải trải qua nhiều cuộc tranh luận, nhiều cuộc hội nghị lớn của Xứ ủy, dần dần chủ trương khởi nghĩa vũ trang mới ngày càng hình thành rõ ràng và dứt khoát.

Một trong những công tác mà Xứ ủy rất quan tâm trong nhiều công tác quan trọng chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa là công tác binh vận. Thật ra công tác này Xứ ủy chú ý đã lâu.

Trong Nghị quyết Hội nghị toàn thể Xứ ủy Nam Kỳ ngày 3 và 4 tháng 12 năm 1939, phần nới về công tác tổ chức quần chúng, tài liệu mà Pháp đã bắt được, có một đoạn địch trích lại như sau:

“Hoạt động trong quân đội cực kỳ quan trọng trong thời chiến. Đảng tổ chức các ban tuyên truyền trong binh lính. Về phần mình, các đảng bộ địa phương phải cố gắng nhiêu hơn nữa vào công tác tuyên truyền này. Lính tập (khố đỏ) trở về nhà họ mỗi chủ nhật, các đảng địa phương phải giải thích làm cho họ hiểu sự cần thiết đấu tranh đòi hỏi cải thiện những điều kiện sinh sống của binh lính và trợ cấp cho gia đình họ. Nếu một người lính thức tỉnh với hoạt động của chúng ta, cần phải giới thiệu họ ngay vào ban tuyên truyền trong binh lính. Chúng ta không chỉ tuyên truyền trong lính tại ngũ, mà cả trong giới trử từ 18 đến 35 tuổi…”(1).

Ngày 23-4-1940, mật thám địch bắt được ở một ngôi chùa (Gò Vấp, Gia Định) một bản báo cáo của Ban binh vận gửi Xứ ủy về công tác điều tra nghiên cứu về tình hình binh bị của Pháp, nói rõ các địa điểm đóng quân người Việt, lính Âu, những nơi bố trí các loại vũ khí ở Sài Gòn và các tỉnh Mỹ Tho, Vĩnh Long, Sóc Trăng, Châu Đốc, Biên Hòa, Thủ Dầu Một, Bà Rịa, Vũng Tàu, Gia Định…(2)

1. Hội nghị Tân Hương

Từ ngày 21 đến ngày 27-7-1940, đồng chí Tạ Uyên, thay đồng chí Võ Văn Tần, Bí thư Xứ ủy đã bị bắt ngày 21-4-1940, triệu tập cuộc khoáng đại hội nghị toàn xứ tại nhà bà Năm Dẹm (Lê Thị Lợi) ấp Tân Thuận, xã Tân Hương, quận Châu Thành (Mỹ tho), với sự tham gia của 24 dại biểu thuộc 19 trong số 21 tỉnh Nam Kỳ. Đồng chí Phan Đăng Lưu ủy viên Thường vụ Trung ương đến dư. Lúc này Pháp vừa đầu hàng phát xít Đức ở chính quốc.

Sau khi kiểm điểm tình hình thế giới và trong nước, đánh giá địch và lực lượng của ta, nhiều ý kiến cho rằng tình thế rất khẩn trương, quần chúng và đảng viên muuốn khởi nghĩa, nếu Đảng  không lãnh đạo thì quần chúng sẽ manh động.

Cũng có ý kiến cho rằng mâu thuẫn giữa nhân dân ta và địch tuy rất sâu sắc, nhưng ta chưa đủ điều kiện để khởi nghĩa, tức là chưa có thời cơ khởi nghĩa.

Hội nghị nhất trí cử đồng chí Phan Đăng Lưu ra Bắc liên hệ với các đảng bộ Miền Trung và Miền Bắc bàn việc phối hợp hành động.

Tuy nhiên để khẩn trương chuẩn bị cho một cuộc khởi nghĩa sắp tới, Hội nghị đã đề ra những công việc cần kíp trước mắt phải làm, như kiện toàn cơ quan lãnh đạo đảng ở các cấp, phát triển mạnh các đoàn thể quần chúng trong Mặt trận phản đế, tiến tói lập Mặt trận phản đế toàn Xứ, tổ chức lực lượng du kích, mua sắm thêm vũ khí và luyện tập quân sự, đẩy mạnh công tác vận động binh lính

Một số Ban cần thiết chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa như Ban tham mưu, Ban phá hoại, Ban giao thông, Ban Cứu thương, Ban tuyên truyền, Ban quân báo, Ban địch vận, Ban tài chính cũng được phân công người phụ trách, không phải chỉ ở cấp toàn Xứ, mà ở cả cấp tỉnh.

Hội nghị đã bầu đồng chí Tạ Uyên làm Bí thư Xứ ủy thay đồng chí Võ Văn Tần, ủy viên Trung ương Đảng kiêm Bí thư xứ ủy đã bị bắt, cùng hai đồng chí Phan Văn Khỏe, Lê Văn Khương vào Ban thường vụ và các ủy viên Phan Văn Bảy, Quảng Trọng Hoàng, Phạm Thái Bường, Dương Công Nữ, Thái Văn Đẩu, Phạm Hồng Thám.


(1) Báo cáo chính trị tháng 4/40 số 797c/API của Thống đốc Nam Kỳ gửi Toàn quyền Đông dương. H.S.IIA.45/204  (2).
(1) Lưu trữ Viện sử Đảng CJB/6. Xem phụ lục.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #12 vào lúc: 20 Tháng Mười, 2010, 10:17:59 am »

2. Thông cáo ngày 4-9-1940 đối với thời cuộc

Sau hơn một tháng các địa phương tiến hành các công tác đấu tranh và chuẩn bị mọi mặt cho cuộc khởi nghĩa, Xứ ủy Nam Kỳ ra Thông cáo ngày 4-9-1940 đối với thời cuộc hiện tại.  Đây là một tài liệu thể hiện chủ trương khẩn trương chuẩn bị khởi nghĩa vào lúc phát xít Nhật nhảy vào đông dương, chỉ còn tính ngày giờ.

Phần đầu nói khái quát tình hình thế giới, trong nước, Thông cáo nhận định:

“Vấn đề cấp bách trước mắt đối với Nhật bản là xâm chiếm lấy Đông Dương hòng biến Đông Dương thành thị trường tiêu thụ hàng hóa, thành nơi khai thác nguyên liệu, thành căn cứ để tiến công Trung Quốc và cũng từ đó thọc tay vào các thuộc địa của Anh, Mỹ… Chính phủ (Đông Dương) đã tìm mọi cách bưng bít những tin tức về những cuộc xung đột đổ máu ở biên giới Trung - Việt, bọn chúng đã tăng thuế đến hai triệu, ra tay cướp đoạt của cải cua nhân dân để cung cấp cho cuộc chiến tranh phản động của chúng, biến Đông dương thành chiến trường của phát xít Nhật. Trước nguy cơ đó, Đảng cộng sản chúng ta phải tập trung mọi lực lượng… ráo riết chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang để giành lại chính quyền”. …“Từ nay các đảng bộ địa phương phải có tinh thần khẩn trương và tinh thần hy sinh, đặt sự nghiệp cách mạng lên trên hết. Đảng bộ phải lãnh đạo mọi hình thức đấu tranh từ các cuộc mít tinh, biểu tình, đình công cho đến các cuộc biểu tình vũ trang, tổng đình công và tổng biểu tình của công nhân, nông dân và binh lính tiến tới khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền… Đảng còn phải lãnh đạo đấu tranh nhằm củng cố nội bộ, đánh đổ những xu hướng khuynh “tả” và khuynh hữu của một số đồng chí chúng ta và đánh đổ tư tưởng cho rằng: “Bị khủng bố dữ dội khó mà vận động được quần chúng ra đấu tranh, phải chờ thời cơ khởi nghĩa hãy đưa quần chúng ra đấu tranh giành chính quyền…”.

Thông cáo đề cập tới vấn đề thành lập Mặt trận dân tộc phản đế, giao thông liên lạc, tài chính cho thời kỳ chuẩn bị khởi nghĩa.

Về việc thành lập và huấn luyện các đội tự vệ ở khắp nơi, Thông cáo viết:

“Muốn khởi nghĩa thành công giành lại được chính quyền ngay từ bây giờ chúng ta phải có một đội quân cách mạng giác ngộ và có tổ chức chặt chẽ. Do đó các đảng bộ địa phương phải tổ chức cho được thật nhiều tự vệ… Chúng ta phải chọn những người hăng hái dũng cảm, có tinh thần hy sinh đưa vào các đội tự vệ. Phải huấn luyện tự vệ cho thích hợp: học cách nhận định tình hình trong nước và thế giới, học chính trị thường thức, chiến thuật du kích và những tri thức thực hành về quân sự. Chúng ta có thể chỉ định những đồng chí nguyên là cựu binh sĩ để phụ trách việc huấn luyện đó. Ở mỗi đảng bộ phải cử ra 2 hoặc 3 đồng chí hiểu biết về quân sự để nghiên cứu kế hoạch huấn luyện và phụ trách tổ chức tự vệ địa phương.”.

Thông cáo dành hẳn một mục nhắc nhở mỗi đơn vị phải đảm nhận một công tác của đảng với một tinh thần mới. Mỗi đồng chí, mỗi chi bộ, mỗi cán bộ đảng bộ đều phải ra sức hoạt động để làm tròn nhiệm vụ mà Xứ ủy đã chỉ định rõ cho mình trong bản thông cáo này nhằm tiến tới khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền”(1).


(1) Thông cáo của Xứ ủy Nam Kỳ ngày 4-9-1940. Lưu trữ BNCLSĐ Trung ương. Bản sao lưu trữ BLSĐ TP.HCM B40-V/400. Xem phụ lục.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #13 vào lúc: 20 Tháng Mười, 2010, 10:20:25 am »

3. Hội nghị Tân Xuân.

Ngay trong tháng đã ra thông cáo, trong 3 ngày từ 21 đến 23-9-1940, đồng chí Phan Đăng Lưu ra Bắc chưa về, đồng chí Tạ Uyên đã triệu tập họp Xứ ủy mở rộng tại Tân Xuân (Hóc Môn, Gia Định).

Đây là cuộc họp nối tiếp Hội nghị Tân Hương, mang tính chất quan trọng ở chỗ hội nghị này vạch rõ đường hướng cho cuộc khởi nghĩa sẽ nổ ra hai tháng sau đó và thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn là nơi được chọn làm trọng điểm, là nơi phát lệnh khởi nghĩa chung cho toàn Nam Kỳ.

Về tình hình quần chúng, Hội nghị nhận định 30% nhân dân muốn lật đổ Pháp và chống phát xít Nhật. Đại bộ phận quần chúng ghét Pháp, khinh Pháp, nhưng còn mơ hồ về Nhật, vì thấy Nhật đang còn thắng thế ở một số nơi. Tuy nhiên cũng có thiểu số thân Pháp, thân Nhật.

Về tình hình khách quan, chính phủ thuộc địa đang bị rối ren về chính trị, nhất là sau khi Pháp thua phát xít Đức, bị cô lập về kinh tế, quân sự. Đội ngũ những người cầm đầu chia rẽ thành cánh ủng hộ de Gaulle, cánh ủn hộ Pétain, cánh sợ Nhật, cánh chống Nhật. Nhưng phần nhiều tự lo bảo vệ quyền lợi riêng.

Về chủ quan, lực lượng đội tiên phong còn tương đối yếu, tổ chức chưa được củng cố sau mấy đợt khủng bố, phong trào đấu tranh của quần chúng chưa mạnh, tóm lại chủ quan chưa chín muồi.

Nhưng, nếu không khởi nghĩa thì có hại, quần chúng sẽ tan rã mất tinh thần, nếu ta lùi bước, quần chúng sẽ xa rời Đảng. Đảng sẽ mất ảnh hưởng và mất tín nhiệm trong quần chúng. Pháp Nhât thực hiện âm mưu chia rẽ nội bộ ta, làm cho cách mạng tan rã…

Trái lại, tiến hành khởi nghĩa sẽ có lợi: biểu thị được một cách hùng hồn lực lượng đấu tranh giành dộc lập, làm cho nhân dân thấy rõ tính ưu việt của chế độ dân chủ cộng hòa, giữ vững được Mặt trận dân tộc phản đế góp phần xây dựng Mặt trận quốc tế và ủng hộ cách mạng Trung Hoa đang đấu tranh giải phóng dân tộc.

Khi bàn đến thời cơ khởi nghĩa vào lúc nào, Hội nghị thảo luận rất sôi nổi và nêu lên 4 tình huống sau đây:

1. Khi nào Pháp - Nhật đánh nhau ở Đông Dương.

2. Khi nào Nhật dùng bất kỳ cách nào chiếm Đông Dương.

3. Khi nào Pháp cho Nhật vào Đông Dương, dùng con đương Hà Nội - Vân Nam tiến công Trung Hoa.

4. Khi nào xung đột Nhật - Mỹ bùng nổ ở Đông Dương.

 Về công tác tuyên truyền trong quân đội, Hội nghị đề ra tìm mọi cách tuyên truyền binh lính Đông Dương bao gồm cả binh lính Việt, Miên, Pháp làm cho rối loạn hàng ngũ địch, làm nội ứng và tham gia khi bùng nổ khởi nghĩa.

Về tài liệu khởi nghĩa, các cấp ủy phải thận trọng khi phân phát, chỉ phát cho những người thật giác ngộ, thật trung thành, thật dũng cảm….

Về tình hình nội bộ, Hội nghị nhật xét Sài Gòn, Gia Định,Cchợ Lớn… là những khu quan trọng, nhưng cơ sở đảng còn chưa vững chắc. Hội nghị quyết định bổ sung một số đồng chí xuống đó tiến hành ngay việc phát triển đảng và tổ chức quần chúng.

Đồng chí Tạ Uyên, Bí thư Xứ ủy phụ trách chung, đồng thời trực tiếp phụ trách Sài Gòn - Chợ Lớn.

Các cấp bộ phải loại trừ ngay những phần tử xấu ra khỏi đảng. Cần chú ý lãnh đạo chống khuynh hướng manh động, khủng bố cá nhân, cần phải kiểm soát những người, những trường hợp manh động bằng thuyết phục lý lẽ và kìm giữ…

Trong tình hình mới hiện nay, phải nối ạiị ngay các mối liên lạc, từ trên xuống dưới và giữa các cấp bộ đảng. Tổ chức huấn luyện cấp tốc những đội du kích ở các xí nghiệp, đồn điền và nông thôn trong toàn Xứ. Phát động một phong trào đấu tranh mạnh mẽ, tiến hành tuyên truyền sâu rộng, tổ chức ngay ban tuyên truyền.

Cuối cùng, Hội nghị quyết định tất cả các cấp cán bộ phải nghiêm túc thực hiện chủ trương của Xứ ủy đã đề ra(1).

Dựa theo tinh thần nghị quyết hội nghị, ba trong bốn tình huống tạo ra thời cơ khởi nghĩa đã có, nhưng Xứ chưa thể phát động quần chúng nổi dậy, vì đồng chí Phan Đăng Lưu ra Bắc chưa đơn vịề, các đồng chí còn ngóng đợi ý kiến của đồng chí Lưu. Và điều quan trọng hơn là lúc đó chuẩn bị chưa kịp, nhất là tại Sài Gòn.


(1) Bản dự thảo Quyết nghị Hội nghị đại biểu Xuất sắc ủy Nam Kỳ các ngày 21, 22, 23-9-1940 này. Cò cảnh sát Vĩnh Long, có chỉ điểm, đã bắt được cùng với nhiều tài liệu khác ở Long Hồ ngày 26-9-40, tại nhà đồng chí Trần Văn Bảy, Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Long. Như thế nghĩa là chỉ ba ngày sau khi kết thúc hội nghị, địch đã bắt được nghị quyết của Xứ ủy.
Tư liệu BNCLSĐ TP. Hồ Chí Minh K.H. B40-V/389. xem phụ lục.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #14 vào lúc: 20 Tháng Mười, 2010, 10:25:39 am »

4. Hội nghị Ban Thường vụ Xứ ủy ngày 3-10-1940 và bản Thông cáo uốn nắn những sai lầm trong lúc chuẩn bị khởi nghĩa.

Chỉ sau Hội nghị Tân Xuân 10 ngày, Ban Thường vụ Xứ ủy lại họp để uốn nắn những sai lầm, lệch lạc về tư tưởng cũng như hành động, xuất hiện trong quá trình chuẩn bị khởi nghĩa và nhắc thêm một số việc mà Hội nghị Tân Xuân chưa đề cập tới. Những ý kiến của Hội nghị được thể hiện trong bản Thông cáo của Thường vụ Xứ ủy Nam Kỳ với nội dung chủ yếu sau đây:

a) Uốn nắn những lệch lạc “tả” và hữu.

Thông cáo viết:

“Trong lúc đối với ngoài, phát xít Pháp lỳ lợm đầu hàng Nhật Bổn, ở trong vì sợ phong trào cách mạng dân chúng, chúng thẳng tay đàn áp. Theo tin tức đích xác chúng đang chuẩn bị một cuộc đại khủng bố mới, bắt nhốt hết thảy những người tình nghi. Trước tình thế ấy một số đồng chí nảy ra những tư tưởng và hành động sai lầm. Có kẻ đòi phải gấp rút bạo động, có kẻ chủ trương ám sát tụi việt gian, có kẻ bỏ việc làm, đi trốn để thoát thân.

Trong lúc chuẩn bị chưa chắc chắn mà muốn nổi dậy làm liều là tư tưởng manh động, nguyên nhân chánh của cuộc thất bại trước như Phan Xích Long, Yên Bái…

Không tuyên truyền tổ chức tranh đấu chuẩn bị chuẩn bị lực lượng để đánh vào người thù chính mà chỉ lo khủng bố cá nhân như thế là lặp lại bài học rất đau đớn hồi 1930-1931.

Đảng đang lo chỉnh tề hàng ngũ để kéo ra chiến đấu với quân thù mà mình bỏ trốn để giữ lấy xác như thế là đào ngũ, là hèn nhát, không xứng đáng với một người chiến sĩ cách mạng”.

b) Nhắc nhở công tác bí mật để đối phó với chính sách khủng bố của phát xít Pháp:

Thông cáo nêu lên 10 điểm phải nghiêm túc thực hiện:

“1. Các đồng chí đã bị ghi tên vào sổ tình nghi, phải luôn luôn tìm hết cách đề phòng để có thể lẫn lộn hoạt động trong quần chúng.

2. Các cơ quan lãnh đạo đã bị lộ phải dời đi nơi khác ngay.

3. Cơ quan phải dời ngay khi một đồng chí ở cơ quan đó mới bị bắt.

4. Không nên cho quá nhiều người biết cơ quan. Chỉ những đồng chí có quan hệ mật thiết mới được lui tới cơ quan.

5. Một đồng chí đi công tác phải hẹn giờ trở về. Nếu đến giờ đó mà không về thì phải điều tra ngay.

6. Trước khi đến một cơ quan hoặc đến nhà một đồng chí, phải rất thận trọng, vì sau khi bắt đồng chí ấy rồi, địch có thể cài bẫy lại.

7. Đối với đồng chí mới được tha, phải điều tra kỹ và chưa nên tin ngay.

8. Các cuộc họp không nên kéo dài nhiều ngày. Nếu cần, phải họp ở hai, ba nơi khác nhau, phải đặt tự vệ canh gác.

9. Trước khi đi xa có mang theo tài liệu trong người, phải tìm hiểu xem dọc đường địch có hay khám xét hay không, và tránh đi vào ngày kỷ niệm đỏ.

10. Những người liên lạc đã bị lộ phải điều đi công tác nơi khác”.

c) Thông cáo nhắc nhở trong công tác tuyên truyền phải làm cho nhân dân thấy rõ bộ mặt thật của phát xít Nhật, phải phản đối nạn xâm lăng của phát xít Nhật và của Thái Lan. Phải gỡ mặt nạ bọn việt gian và đập tan ảnh hướng của chúng trong nhân dân. Ở Bắc kỳ,bọn cầm đầu Việt Nam quốc dân đảng đã phải bội, tổ chức một nhóm thân Nhật với danh nghĩa là một đảng quốc gia, công khai hoạt động, tuyên truyền kêu gọi binh lính theo Nhật. Ở Nam Kỳ cũng mọc lên một nhóm thân Nhật gồm những tên Trốtkít như Đào Duy Phiên, bác sĩ Thinh, Nhựt… lập ra một tổ chức lấy tên là Việt Nam thống nhất cách mạng đảng.

“Phải giải thích rõ ràng cho nhân dân hiểu rằng sau khi đánh thắng thực dân Pháp, chúng ta sẽ thành lập một chính phủ dân chủ cộng hòa, chúng ta vân giữ vững và mở rộng một mặt trận thống nhất, chúng ta sẽ đặt mối quan hệ chặt chẽ với cách mạng thế giới…”.

d) Cuối cùng Thông cáo nêu vấn đề Lạc quyên đặc biệt:

“Các đồng chí đều thừa hiểu rằng hiện nay hơn lúc nào hết, Đảng đặc biệt cần tiền nên lạc quyên lúc này có một ý nghĩa rất lớn. Do đó các đồng chí phải hết sức cố gắng làm sao cho cuộc lạc quyên thu được kết quả tốt đẹp. Chính các đồng chí phải nêu gương hy sinh đóng góp trước. Hy sinh như vậy chưa đủ, các đồng chí phải gây một phong trào giúp đỡ rộng lớn bằng cách kêu gọi lòng hào hiệp của nhân dân, của các tầng lớp tư sản, giải thích rõ “kẻ có tiền giúp tiền, người có công giúp công”. Phải trình bày rõ ràng cho họ hiểu quan điểm đó đặng thuyết phục họ vui lòng ủng hộ cuộc cách mạng giải phóng… Chúng ta đang sống trong một thời kỳ phải cứu vớt toàn thể đồng bào, toàn thể dân tộc chúng ta. Một đồng bạc lúc này bằng nghìn viên đạn bắn vào đầu quân thù, cũng như hàng nghìn viên gạch góp vào viêc xây dựng sự nghiệp của chúng ta. Các đồng chí phải khích lệ những nhà hữu sản và có lòng hào hiệp giúp đỡ chúng ta”(1).

Sau mấy cuộc họp của Xứ ủy và Ban Thường vụ vào tháng 10 va tháng 11-1940, tư tưởng về khởi nghĩa vũ trang của Xứ ủy đã hình thành về cơ bản. Vấn đề còn lại là ra sức thúc đẩy công tác chuẩn bị và chọn ngày giờ để hạ lệnh khởi nghĩa.

Tuy nhiên cũng cần nói đến, trong nội bộ Xứ ủy còn ý kiến chưa thật đồng tình với việc phát động khởi nghĩa. Trong một số cuộc tạo đàm và sách viết có nhắc đến ý kiến của xứ ủy viên Phan Văn Khỏe, Phan Văn Bảy, Phạm Hồng Thám… nói rằng chưa nên chủ trương phát động khởi nghĩa(2).

Trong báo cáo chính trị tháng 11-1940 của Thống đốc Nam Kỳ gửi cho Toàn quyền Đông Dương có một đoạn đáng lưu ý như sau:

Sau khi nhắc tới một loạt những hoạt động chứng tỏ đảng cộng sản đang ráo riết chuẩn bị khởi nghĩa, báo cáo viết:

“Tuy nhiên, ngày 15-11-1940, cảnh sát đặc biệt đã tiếp xúc được với hai thông  báo của Xứ ủy, trong đó tổ chức này làm nản lòng những chiến sĩ muốn phát động ngay một cuộc khởi nghĩa vũ trang, cho rằng khi những điều kiện cần thiết chưa đủ, mà đã muốn chuyển sang hành động một cách mù quáng thì sẽ dẫn đến thất bại.

Những quan điểm trái nhau ấy trong hàng ngũ những người cộng sản giải thích vì sao trong một số vùng nhất định, những tin tức thu nhận được cho thấy có những chiến sĩ tích cực thực hiện chỉ thị của đảng chuẩn bị khởi nghĩa, trong khi đó, một số khác chỉ tổ chức mít tinh và rải truyền đơn”(3).

Tuy rải rác và có lúc có ý kiến chưa thật đồng tình, nhưng chủ trương muốn phát động khởi nghĩa vũ trang là khuynh hướng đa số, chi phối và quyết định.


(1) Thông cáo gửi Thường vụ Xứ ủy Nam Kỳ. HS B40-V/390 Lưu trữ BSĐG thành phố HCM
Trích nguyên văn những đoạn trong ngoặc kép.
(2) BNCLSĐ TP.HCM: Nam Kỳ Khởi Nghĩa (1940) NXB.TP.HCM 1990; tr.43.
(3) Báo cáo chính trị tháng 11-1940 số 2448c/API của Thống đốc Nam Kỳ gửi Toàn Quyền Đ.D.HS, HS45/204 (2). TTLT2 tại TPHCM.
« Sửa lần cuối: 17 Tháng Mười Một, 2010, 11:03:59 am gửi bởi macbupda » Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #15 vào lúc: 20 Tháng Mười, 2010, 10:27:25 am »

II. - THỰC HIỆN CHỦ TRƯƠNG CHUẨN BỊ KHỞI NGHĨA CỦA XỨ ỦY

Các tỉnh đều hăng hái thực hiện nghị quyết của Xứ ủy.

Về công tác tuyên truyền, tờ báo TIẾN LÊN, cơ quan tranh đấu của Mặt trận phản đế với nội dung hướng dẫn mọi mặt công tác chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa ban đầu được in tại thành phố, phát hành tới tất cả các tỉnh, chưa kể một số tỉnh lại có báo riêng. Nhưng từ sau vụ vỡ ngày 30-7-1940 ở chợ Lớn, các đồng chí Nguyễn Hữu tiến và Nguyễn Thị Minh Khai bị bắt, thì cơ quan báo chuyển về Mỹ Tho rồi Vĩnh Long.

Nhiều cuộc mít tinh được tổ chức khắp nơi, cả thành phố và nông thôn vào các dịp kỷ niệm để giải thích đường lối chính sách của đảng, của mặt trận, vạch tội ác của bọn phát xít. Hình thức rải truyền đơn thực hiện khắp nơi, thật phổ biến, nhất là dịp Pháp thua trận và các đợt kỷ niệm. Truyền đơn của ủy ban vận động thành lập Mặt trận phản đế giải thích tôn chỉ, ý nghĩa, mục đích và kêu gọi mọi người tham gia Mặt trận. Truyền đơn chống đế quốc khủng bố, chống bắt lính, chống sưu cao thuế nặng với khẩu hiệu: “Không một đồng xu, không một người lính cho Pháp!”.

Vào dịp tháng 7, kỷ niệm cách mạng tư sản Pháp thì vạch mặt đế quốc Pháp hèn yếu, đầu hàng Đức, phản bội tổ tiên, đưa Pháp vào vòng nô lệ…

Có truyền đơn chuyên kêu gọi binh lính, rải trong ngoài trại lính và ở khắp nơi có lính đống.

Dưới đây là một truyền đơn mà địch thấy nhiều ở Sài Gòn và các tỉnh còn lưu lại trong kho lưu trữ:

“Hỡi quốc dân đồng bào!

Hỡi các dân tộc Đông Dương và anh em binh lính!

Hiện nay Chính phủ Pháp bại trận, Pétain hàng Đức một cách nhục nhã, Chính phủ Pháp bạc nhược quỳ mọp dưới chế độ phát xít Nhật.

Chính phủ Pháp đã đến thời kỳ diệt vong rồi.

Hỡi dân tộc đồng bào!

Những bằng chứng rõ ràng cho chúng ta thấy những sự phong trào cách mạng giải phóng Đông Dương, nên đem toàn lực khủng bố phút cuối cùng, bắt bớ, bắn giết tù đầy, nào tàu bay, nào mút cơ tông, minh tai ơ(1), nhưng chưa đủ lại còn phao vu cho cộng sản cướp của giết người, hiệp lực với bọn cáo gian mà tuyên truyền tàn sát cộng sản.

Hỡi dân tộc đồng bào và binh lính!

Cộng sản hoàn toàn nhân đạo cương quyết sống chết đam lại hạnh phúc cho quê hương, xứ sở, cho quốc dân đồng bào.

Ai cướp của giết người? Chính phủ Pháp đi bắt bớ, giết người bắt gà heo, tiền, mà lại hãm dâm đàn bà con gái.

Ai dã man? Chính phủ Pháp. Chúng tôi đoán chắc rằng nếu các dân tộc Đông Dương chúng ta không cương quyết hy sinh tranh đấu được giải phóng thì rồi đây không một người nào tránh khỏi sự giam cầm như Hội đồng Huy, Tú tài Nhựt ở làng Bình Chánh (Tân An), như cụ hương quản Dụ ở làng Thanh Hà (Chợ Lớn) v.v…. là những người lương thiện, làm ăn mà cũng phải bị tù đày trà tấn, còn non nước nào mà dân chúng không chiến đấu!

Hỡi quốc dân đồng bào!

Hỡi anh chị em binh lính và các vị Hương thúc hội tề!

Hỡi các vị giáo viên!

Hỡi anh em thợ thuyền và dân cày!

Mau đứng lên hiệp lực với Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương!

1. Đánh đổ đế quốc Pháp, chống phát xít Nhật xâm lược!

2. Đả đảo bọn việt gian thân Nhật chó săn cho đế quốc!

3. Đả đảo bọn cáo gian cộng sản giết người!

4. Chống khủng bố trắng!

5. Thả hết chính trị phạm Đông Dương!

6. Liên lạc mật thiết với cách mạng thế giới!

Ủng hộ Liên bang Xô viết!

Ủy ban Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương

Cùng với truyền đơn thường xuất hiện cả biểu ngữ, cờ đỏ búa liềm…

Cho đến cuối tháng 10 sang tháng 11, nhất là gần khởi nghĩa, dần dần ít thấy rải truyên đơn ở thành phố cũng như các tỉnh.


(1) Mousqueton là súng trường.
Miltrailleuse là súng máy.
« Sửa lần cuối: 20 Tháng Mười, 2010, 10:34:49 am gửi bởi macbupda » Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #16 vào lúc: 20 Tháng Mười, 2010, 10:31:28 am »

Về tổ chức lực lượng và đấu tranh.

Xứ ủy quan tâm thúc đẩy nhanh việc thực hiện tập thợp quần chúng vào mặt trận thống nhất dân tộc phản đế để tạo thành lực lượng quần chúng mạnh mẽ.

Công việc xúc tiến từ cơ sở làng xã lên quận huyện, tỉnh và đang hình thành cấp toàn Xứ. Khác hẳn thời kỳ trước, tham gia Mặt trận phản đế là tham gia hàng ngũ đấu tranh cách mạng, đấu tranh sống chết với địch khi nổ ra khởi nghĩa, không phải chỉ đòi hỏi quyền dân sinh, dân chủ, mặc dầu lợi ích trước mắt đó vẫn phải quan tâm.

Trong Mặt trận, công nông làm vai trò nòng cốt, còn tập hợp các tần lớp như ở thành phố có thanh niên học sinh công chức, giới văn nghệ sĩ, ở nông thôn thì tranh thủ tập hợp những người trong bộ máy tề làng, những người giàu, có lòng yêu nước sẵn sàng ủng hộ cách mạng.

Trong Mặt trận có các hội như Công hội, Nông hội, Thanh niên phản đế, Phụ nữ giải phóng… để tập hợp thật đông đảo nhân dân.

Thành phố Sài Gòn, các tỉnh đều thành lập Ban khởi nghĩa đến quận và xã, ở những xã có phong trào mạnh. Ban khởi nghĩa có trách nhiệm chuẩn bị cụ thể tất cả các mặt cho cuộc nổi dậy, nhất là việc điều tra lực lượng binh lính địch, các kho vũ khí, số lượng vũ khí, kho tàng, nơi xung yếu cần đánh chiếm như đồn bót, cầu phà, công sở…

Phong trào quyên tiền mua sắm vũ khí diễn ra nhộn nhịp. Nhiều lò rèn chuyển sang chuyên rèn dao găm, gươm dáo. Có chỗ tự tạo súng thủ công và mua sắm nguyên vật liệu làm đạn, lựu đạn. Ở nhưng nơi có chi bộ đảng và có phong trào mạnh đều tổ chức đội tự vệ, đội cảm tử. Một số xí nghiệp của thành phố Sài Gòn và tỉnh lỵ cũng có đội tự vệ.

Các đội cảm tự, tự vệ luyện tập vào ban đêm. Ở các nơi hẻo lánh vùng sâu, tổ chức luyện tập cả ban ngày. Nội dung huấn luyện, học tập quân sự thường có những điểm chủ yếu như sau:

- Kỷ luật tạm thời của du kích,

- Cách đánh du kích,

- Công tác phá hoại…

Về Đảng, tuy địch khủng bố bắt bớ ngày càng gắt gao, ta có bị thiệt hại, nhất là bị mất một số cán bộ chủ chốt, nhưng cơ sở đảng vẫn duy trì và phát triển. Theo nhận xét của Hội nghị 7 của Trung ương tháng 11-1940, “Đảng và các tổ chức do Đảng lãnh đạo nẩy nở  nhanh chóng. Đặc biệt là đảng bộ Nam Kỳ trong ba tháng, từ cuối tháng 6 đến đầu tháng 10 (1940) số đồng chí Nam Kỳ tăng 60%”(1).

Nhìn chung, công tác thực hiện nghị quyết về chuẩn bị khởi nghĩa diễn ra sôi nổi, nhất là từ khi phát xít Nhật nhảy vào nước ta, cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn ở phía Bắc nổ ra, tình hình người Việt được điều tra diễn ra mặt trận biên giới Campuchia - Thái Lan.

Chính địch cũng phải thừa nhận sự chuẩn bị khẩn trương của Xứ ủy Nam Kỳ đối với cuộc khởi nghĩa. Xin trích dưới đây một đoạn báo cáo về vấn đề này.

Tháng 10, tức là tháng gần khởi nghĩa “một số hành động cho thấy trong nhiều vùng thuộc Nam Kỳ, các thành công cộng sản địa phương trong tháng đã cố gắng thực hiện một số chỉ thị của Đảng Cộng sản Đông Dương, nhất là việc phá hoại, chuẩn bị đạn dược và tổ chức các đơn vị (sections) du kích.

Ngày 17-10, Tỉnh ủy Long Xuyên  trong một cuộc họp đã quyết định mở ngay tức khắc việc lạc quyên một số tiền 6.000 đồng (Đông Dương) cho Xứ ủy để chi tiêu cho chiến tranh (pour les dépenses de guerre) và chuyển một số Ban thành Ban khởi nghĩa(2).

Ngày 14-10, các chiến sĩ của tỉnh Tân An đã bóc 3 tấm ván bằng gỗ trên cầu sắt EIFFEL, cách tỉnh lỵ vài kilômet.

Ngày 20-10, một người tham gia vụ gây rối ở Long Hưng (Mỹ Tho) ngày 10, đã bị bắt ở làng Vĩnh Kim, trong người có mang một cuốn sổ tay ghi chép những điều chỉ dẫn về tổ chức các đội du kích.

Ngày 25-10, cảnh sát đặc biệt Miền Đông đã bắt được ở Sài Gòn một người đang rải truyền đơn, khám nhà y, tìm thấy một ít dụng cụ cơ khí và một ít nguyên liệu làm đạn và ngòi nổ.

Ngày 29-10, viên giám đốc F.A.C.I thấy khoảng 30 khuôn bom đặc biệt dành cho máy bay, không dùng nữa, trong xưởng của ông”(3).

Đây chỉ là một vài việc ít ỏi mà chỉ điểm, cảnh sát mật thám của Pháp tìm thấy. Còn hầu khắp các tỉnh chắc chắn sôi động và nhiều hơn nữa.


(1) Văn kiện Đảng 1939-1945, Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ương xuất bản, Hà Nội, 1963, tr.143.
(2) Theo chúng tôi, địch biết rõ như thế này là do chúng cài được tên Chà vào làm bí thư tỉnh ủy Long Xuyên.
(3) Báo cáo chính trị tháng 10/1940, Hsơ đã dẫn.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #17 vào lúc: 20 Tháng Mười, 2010, 10:33:46 am »

III.- ĐỐI PHÓ CỦA ĐẾ QUỐC PHÁP

Từ khi chiến tranh thế giới bùng nổ, Pháp đã đánh phá mạnh mẽ vào Đảng cộng sản, các tổ chức quần chúng của Đảng cũng như các tổ chức đảng phái chống đối những chính sách phản động của đế quốc Pháp. Hầu như các tổ chức đảng phái khác và những người trốt kít bị tiêu vong hoặc nằm im.

Chỉ duy nhất Đảng cộng sản, tuy có bị tổn thất, nhưng vẫn tồn tại. Dù bi khủng bố dã man như thế nào, những người cộng sản vẫn tỏ thái độ đấu tranh không khoan nhượng với địch, không hề run sợ và nản chí.

Đảng có đường lối đúng, những khẩu hiệu sát với yêu cầu của từng giới, từng lớp người và toàn dân tộc. Những người cộng sản luôn luôn coi đế quốc Pháp và bất kể đế quốc nào xâm lược và thống trị nước ta, là kẻ thù không đội trời chung của dân tộc. Những người cộng sản lại luôn luôn đi đầu trong tất cả các cuộc đấu tranh vì quyền lợi của dân tộc. Cho nên, Đảng được nhân dân ủng hộ và bảo vệ. Đế quốc Pháp càng khủng bộ mạnh, uy tín của Đảng càng lên cao.

Sang năm 1940, nhất là từ khi nhận được những tín hiệu đảng cộng sản đang chuẩn bị một cuộc khởi nghĩa vũ trang, thì đé quốc pháp lại càng tăng cường lùng sục bắt bớ và đưa ra xét xử đảng viên và quần chúng tích cực của đảng. Thượng sách của Pháp là bắt, đưa ra tòa, rồi ném vào các nhà tù, các trại tập trung.

Bộ máy cảnh sát, mật thảm, chỉ điểm được tăng cường.

Trong việc đàn áp, cho đến trước khi nổ ra khởi nghĩa, Pháp đã gây cho Đảng bộ Nam Kỳ và chung cho toàn Đảng mấy cuộc thiệt lại lớn sau đây:

1. Cuộc bắt đồng chí Nguyễn Văn Cừ ngày 17-1-1940

Ngày 17-1-1940, Pháp bắt được Nguyễn Văn Cừ và một số đồng chí quan trọng khác.

Do có chỉ điểm, Pháp huy động cảnh sát, mật thám cả tòa án bao vây một ngôi nhà ở ngõ Nguyễn Tấn Nghiệm (Sài Gòn) bắt được các đồng chí Nguyễn Văn Cừ Tổng bí thư Đảng, Lê Duẩn, Vũ Đình Hiếu và nhiều tài liệu. Chúng gài bẫy, mấy hôm sau bắt tiếp Phan Văn Voi, Phạm Chung… Trong vụ này, chúng bắt tất cả 17 người, trong đó có 5 người mà Pháp cho là đảng viên, đảng cộng sản Trung Quốc.

Trong các tài liệu chúng bắt được 6 tài liệu, đặc biệt 4 cái dưới đây mà chúng cho là quan trọng, được gửi lên cấp trên.

a) Công tác chính trị trong binh lính. “Tài liệu này làm nản lòng binh sĩ, gây căm thù đế quốc, phát triển tư tưởng giải phóng dân tộc, phục vụ cho cuộc cách mạng thuộc địa…

Những khẩu hiệu chính là:

- Đấu tranh chống chủ nghĩa  đế quốc Pháp nhưng không chống tất cả những người Pháp.

- Cho về Pháp lính ngoại quốc đóng ở Đông Dương.

- Ủng hộ Liên bang Xô viết.

- Ủng hộ cách mạng Trung Quốc”.

b) Tiến tới thực hiện Mặt trận thống nhất phản đế.

“c) Công tác chi bộ là tài liệu huấn luyện đảng viên mới nói rõ một cách rất chính xác tổ chức hoạt động và vai trò của chi bộ. Nhiệm vụ căn bản của chi bộ là phát triển cuộc đấu tranh chống đế quốc được sửa đổi bằng nguyên tắc “dân tộc trên hết”, nó như một nhân tố hòa hợp những quyền lợi của địa chủ và tư sản dân tộc và quảng đại quần chúng.

“Chi bộ phải dựa vào tinh thần đấu tranh của quần chúng, lợi dụng việc bắt thăm lấy lính, việc trưng dụng tài sản, tăng giờ làm việc để động viên huy động quần chúng, tất cả không phân biệt giai cấp, tôn giáo nhằm đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc Phấp, chống chiến tranh đế quốc và gắn phát triển chống đế quốc với phát triển giải phóng dân tộc. Hình thức nào cần dùng trong hành động dành cho những người lãnh đạo thực hiện”.

“d) Dự thảo điều lệ Liên đoàn chống chiến tranh

Dự thảo này trình bày những điều kiện trong đó Đảng cộng sản Đông Dương đề nghị tất cả các tổ chức, các nhan vật bằng tinh thần hay hành động chống những hành động chiến tranh đế quốc thành một Mặt trận thống nhất để phối hợp và lãnh đạo có phương pháp và thành công phong trào chống chiến tranh.

Như vậy là tố cáo chính trị áp bức và bóc lột, động viên, trưng thu, tăng thuế, cho vay…”

Bắt được những nhân vật quan trọng và những tài liệu này, Pháp cho nơi đây là một trong những trụ sở của Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương(1).

Trong đợt lùng sục này, ngày 18-1-1940, mật thám Pháp bắt được Triệu Văn Xuân (lai Trunh Quốc) ở Chợ Lớn. Chúng dưa ảnh cho xem, Xuân nói có biết đó là Lê Hồng Phong. Địch truy lùng đến ngày 6-2-1940, chúng bắt được đồng chí Lê Hồng Phong.


(1) Báo cáo chính trị tháng Giêng 1940, số 174c/API của Thống đốc Nam Kỳ gửi Toàn quyền Đông Dương. HS. Như trên và Báo cáo tuần từ 18-1 đến 24-1-1940 của chánh mật thám Ricardoni số 528s gửi Thống đốc nam kỳ và Tổng mật thám Hà Nội.
H.S.IIA.45/29 (2), TTLT2 TP HCM.
« Sửa lần cuối: 24 Tháng Mười, 2010, 09:58:44 am gửi bởi macbupda » Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #18 vào lúc: 20 Tháng Mười, 2010, 10:38:58 am »

2. Vụ bắt đồng chí Võ Văn Tần ngày 21-4-1940

Trong một đợt truy lùng kéo dài một tuần lễ ở Thủ Dầu Một, ngày 18-1, địch bắt được 8 cán bộ của tỉnh Thủ Dầu Một và nhiều tài liệu, trong đó có địa chỉ 5 lính tập (khố đỏ) liên lạc với cách mạng. Hôm sau, địch tiếp tục lùng soát bắt được ở Phú Văn một phụ nữ lai Trung Quốc, nhận là liên lạc viên giữa cộng sản tỉnh Thủ Dầu Một và Biên Hòa.

Ngày 21-4, vào buổi sáng, theo lời khai của một người mà địch cho là ủy viên tỉnh Thủ Dầu Một, cảnh sát, mật thám khám xét một nhà ở đồn điền làng Tân Xuân, quận hóc Môn (Gia Định), bắt được Võ Văn Tần tức Biện Tần, ủy viên Trung ương Đảng, đồng thời lãnh đạo liên tỉnh Cần Thơ nhiều năm nay, dưới cái tên Ông già(1).

Tại chỗ đồng chí Võ Văn Tần ở, địch bắt được một bó truyền đơn về ngày 1-5, một bản mẫu một tờ báo bí mật và báo cáo viết tay về tình hình đảng ở Trung Kỳ.

Cùng với đồng chí Tần, chúng bắt 4 đồng chí nữa.

Ngay trưa hôm đó, địch khám xét ngôi nhà gần đó cũng nằm trong đồn điền cao su, đồng chí ở đó đã kịp thời trốn thoát, nhưng Pháp tóm được nhiều tài liệu mà chúng cho rằng đây là nơi lưu trữ tài liệu của một tổ chức cao cấp của Đảng cộng sản Đông Dương. Chúng thấy nhiều bản in xu xoa, in đá nghị quyết hội nghị từ nhiều năm nay của các tổ chức lãnh đạo của Đảng, những bản viết tay của các đồng chí ủy viên trung ương bị bắt mấy tháng gần đây và một bản tài liệu đề ngày 4-4-1940 cho biết chi tiết tổ chức đảng của Liên tỉnh ủy Cần Thơ.

Hôm sau, ngày 22-4 buổi sáng, mật thám Pháp lại bắt được ở Hóc Môn (Gia Định) một người làm nghề thợ mộc tên là Nguyễn Văn Xát tức Thắng mà Pháp cho là ủy viên Xứ ủy Nam kỳ với tên thường gị là Thắng Chợ Lớn. Thắng nhận là có biết Cô Duy (tức Nguyễn Thị Minh Khai) và Lê Hồng Phong hiện đang bị giam ở Khám Lớn.

Mấy ngay tiếp theo, Pháp lùng bắt được một loạt đảng viên và quần chúng cốt cán của Đảng ở xã Bình Chuẩn (Thủ Dầu Một), Tân Triều, Bình Y (Biên Hòa) 7 người, hai công nhân trong chi bộ Ba Son; một số ở đề pô xe lửa Dĩ An, Hải quân, Gò Vấp (Gia Định); 9 người ở sở Hỏa xa trong đó có 3 người Trung kỳ, 2 người Bắc Kỳ. Chúng cũng thu hồi được nhiều tài liệu, báo chí, những bản viết tay giống chữ viết chúng bắt được ở cơ quan ngõ Nguyễn Tấn Nghiệm.

Đây là một trong những vụ lùng bắt của Pháp gây cho ta nhiều thiệt hại, nhất là bắt đồng chí Võ Văn Tần, ủy viên Trung ương Đảng kiêm Bí thư Xứ ủy Nam Kỳ.

3. Vụ bắt có đồng chí Nguyễn Hữu Tiến và Nguyễn Thị Minh Khai này 30-7-1940

Sau môt thời gian dài ráo riết truy lùng ngày 30-7-40 tại một cơ quan của Đảng ở Chợ Lớn, Pháp đã bắt được hai nhân vật quan trọng ta là đồng chí Nguyễn Hữu Tiến, ủy viên Trung ương đảng và Nguyễn Thị Minh Khai, ủy viên Xứ ủy Nam kỳ kiêm Bí thư Thành ủy thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn. Trước đó, ngày 22-5, cảnh sát Pháp bắt được ở đường Lý Thanh Nguyên (Chợ Lớn) (nay là đường Đỗ Ngọc Thạnh) một nữ liên lạc viên chúng lầm tưởng là Nguyễn Thị Minh Khai, hý hửng báo cáo lên cấp trên, nhưng lần này mới đúng.

Bắt được đồng chí Tiến, địch rất mừng. Năm 1931, Pháp đã kết án tử hình đồng chí Tiến, sau hạ án chung thân rồi đầy ra Côn đảo. Đêm 30-4-1935, đồng chí Tiến cùng các đồng chí Tạ Uyên, Tống Văn Trân và 2 đồng chí nữa vượt ngục Côn Đảo về Bạc Liêu(2) hoạt động ở Liên tỉnh ủy Long Xuyên, Hậu Giang.

Chỗ các đồng chí bị bắt là nơi in và phát hành báo Tiến lên, cơ quan của mặt trận thống nhất dân tộc phản đế.

Trong một khối lớn tài liệu, truyền đơn, dụng cụ in ấn, Pháp thấy có một tài liệu mà chúng cho rà rất quan trọng chúng phải cấp tốc báo cáo lên cấp trên. Đó là bản kế hoạch khá tỷ mỷ về khởi nghĩa, địch trích dẫn mọt đoạn, đưa vào báo cáo như sau:

“Kẻ thù (chính phủ thuộc địa Pháp) phải bị tiến công bất ngờ và vào chỗ yếu.

Đánh chiếm tất cả đồn bốt và tất cả những nơi quan trọng, như trại lính, nhà tù, bưu điện, vô tuyến điện, nhà băng, cơ quan cai trị, sân bay, kho xăng…

Khi khởi nghĩa bùng nổ, việc phân phối nhiệm vụ gồm một kế hoạch toàn diện về phá hoại (như cắt giây điện tín, điện thoại, đướng xá, phá cầu phà…).

Giành được chính quyền, ra lênh tịch thu toàn bộ tài sản của bọn tư bản chủ nghĩa thực dân, nhà băng, bọn tư bản cho vay lãi và bọn phản bội…

Chính quyền (cách mạng) phân phát gạo cho quần chúng, và tịch thu ruộng đất của bọn địa chủ phản động chia cho nông dân”.

Tài liệu kết thúc:

“Nếu chúng ta xem xét tình hình thế giới và trong nước hiện nay, chúng ta thấy những điều kiện khách quan ngày càng thuận lợi cho cách mạng và còn kẻ thù ngày càng suy yếu”(3)

Cùng với việc tập trung truy lùng bắt cơ quan Trung ương, Xứ ủy, thành ủy tại Sài Gòn, Pháp cũng đặc biệt chú ý lùng bắt các cấp lãnh đạo các tỉnh như Cần Thơ, Vĩnh Long, Sóc Trăng, Bạch Liêu, Rạch Giá, Thủ Dầu Một… các đồng chí Bí thư tỉnh ủy, tỉnh ủy viên trong thời gian này bị bắt khá nhiều.

Trong năm 1940, nhất là thời gian khẩn trương chuẩn bị khởi nghĩa, Pháp bắt được những cán bộ quan trọng nói trên, là tổn thất rất lớn đối với đảng ta nói chung, đặc biệt đối với đảng bộ Nam Kỳ. Tổn thất này có ảnh hưởng nhất định đến việc nhận định, chủ trương và phát động khởi nghĩa.


(1) Có ý kiến nơi bị bắt của đồng chí Võ Văn Tần là ấp Tân Thới Trung, xã Tân Xuân.
(2) Cuộc vượt ngục Côn Đảo này có 5 đồng chí đảng viên là: Tạ Uyên, Nguyễn Hữu Tiến, Tống Văn Trân, Phạm Hồng Thám và Nguyễn Văn Trọng. Ngoài ra còn có 4 quần chúng người Bạc Liêu, quen thung thổ tạo điều kiện cho các đồng chí bắt liên lạc và hoạt động.
(3) Báo cáo chính trị tháng 8-1940 số 1834c/API của Thống đốc Nam kỳ Toàn quyền Đông Dương. Hồ sơ như trên.
« Sửa lần cuối: 24 Tháng Mười, 2010, 06:02:24 pm gửi bởi macbupda » Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #19 vào lúc: 24 Tháng Mười, 2010, 05:28:42 pm »

4. Đưa ra xét xử ở tòa án

Một biện pháp quan trọng nữa Pháp dùng để khủng bố, trấn áp phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân ta với hy vọng có thể dập tắt được, là dùng tòa án - công cụ bạo lực phản cách mạng - để xử những người hoạt động cách mạng và ném vào trong nhà tù.

Những người phản đối lệnh tổng động viên, phản đối việc lấy lính, bất kể dùng hình thức gì (như rải truyền đơn, trốn bắt lính, gây khó, biểu tình, tuyên truyền…) đều bị đưa ra tòa án binh xử.

Mấy năm trước khi có cuộc khởi nghĩa nổ ra, chưa có năm nào về tốc độ, về số lượng, về phạm vi (không phải chỉ tòa án binh, tòa tiểu hình, tòa thượng thẩm thành phố, mà ở tất cả các tòa án tỉnh) Pháp đưa ra xử án chính trị, nhiều như năm 1940.

Nhìn bảng thống kê so sánh dưới đây, chỉ tính xét xử tại Sài Gòn, thấy rõ điều đó.


(Xem trong Báo cáo chính trị tháng 7-1940 số 1632c/API ngày 21-8-40 của Thống đốc Nam Kỳ gửi Toàn quyền ĐD. H.S. IIA.45/204(2) TT.LT2 tại TP.HCM).

Chỉ riêng năm 1940, cũng căn cứ vào báo cáo chính thức của viên Tổng Chưởng lý tòa thượng thẩm, chúng đã xử tại tòa thượng thẩm và các tòa thuộc thẩm quyền tại Sài Gòn là:

408 người: 1117 năm tù; 143 năm quản thúc(1)

Như trên đã nói. Ngoài biện pháp đưa ra tòa án, bộ máy đàn áp của bọn cai trị Đông Dương còn xử theo sắc lệnh ngày 20-1-1940, xử tại tòa án binh…

A. Án xử sơ thẩm về những hoạt động lật đổ hoặc chống “nhà nước”, kể từ ngày 1-9-1939 đến nay (tháng 8-1940) là 389. Hầu hết khi phúc thẩm đã y án hoặc tăng án.

Án tù hầu như bao giờ cũng kèm theo thời gian bị quản thúc và mất quyền công dân hoặc chính trị.

Con số trên đây không kể những án đã xử vì tội tham gia các tổ chức bất hợp pháp, theo sắc lệnh ngày 26-9-1939. Số này rất nhiều, nhưng thường thời gian bị giam ngắn.

B. Thực hiện sắc lệnh ngày 20-1-1940:

Cho đi căng đặc biệt của những người lao động: 193
Buộc phải ở một nơi cư trú nhất định: 167
Buộc phải xa nơi cư trú: 105
Cộng: 465

C. Cho đi căng đặc biệt những du thủ, du thực (malandrins): 205

D. Số can phạm vì hoạt động lật đổ hoặc vi phạm điều 91 của luật hình
Bị kết án: ở tòa án quân sự: 62
Bị kết án ở tòa án chung (mixte): 117 (Sài Gòn: 67, các tỉnh: 50)

Tất cả, hơn 1200 người đã bị đưa ra xét xử và giam giữ khoảng một năm nay.

Thống đốc Nam Kỳ cũng báo cáo với Toàn quyền rằng, thời gian đầu còn xử nhẹ, càng về sau càng xử nặng(2).


(1) Báo cáo của Tổng chưởng lý tọa thượng thẩm số 1055Pg. ngày 3-6-1941 gửi thống đốc Nam Kỳ. HS. IIA.45/212 (1) TT.LT2. TP HCM.
(2) Báo cáo về đàn áp những hoạt động chống an ninh công cộng và quốc phòng của Thống đốc Nam Kỳ ngày 23-8-1940 số 1659c/AP gửi Toàn quyền Đông Dương. HS. IIA45/306(1) TT.LT2. TP.HCM.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM