Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:46:19 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tin tức thị trường vũ khí thế giới - Phần 2  (Đọc 208272 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Su30MK2V
Thành viên
*
Bài viết: 158

Tôn trọng và khiêm tốn


« Trả lời #280 vào lúc: 22 Tháng Bảy, 2011, 10:07:30 pm »

Tên lửa Kornet-EM 'chơi' cả xe tăng lẫn máy bay

Tại triển lãm MAKS-2011, hãng KBP ở Tula (Nga) sẽ lần đầu tiên giới thiệu hệ thống tên lửa chống tăng Kornet-EM

Đây là hệ thống tên lửa tầm xa, đa dụng, chính xác cao, có khả năng tác chiến suốt ngày đêm, dùng để chống mục tiêu mặt đất và trên không.

KBP cho hay, hệ thống này có khả năng tiêu diệt các loại xe tăng hiện nay và tương lai, được trang bị giáp phản ứng nổ, xe bọc thép nhẹ, lô cốt, công sự, mục tiêu mặt nước và mục tiêu bay (máy bay không người lái, trực thăng, máy bay cường kích).

Hệ thống Kornet-EM có 8 tên lửa sẵn sàng phóng, còn cơ số đạn đầy đủ là 16 quả tên lửa. Việc phóng loạt 2 quả làm gia tăng đáng kể tốc độ bắn và hiệu suất hỏa lực. Hệ thống cho phép bắn tất cả các loại tên lửa của họ Kornet-E.

Do công ty một thành viên KBP phát triển và được nhận vào trang bị vào năm 1998, hệ thống tên lửa chống tăng (ATGM) thế hệ 3 Kornet-E với hệ dẫn theo tia laser là hệ thống ATGM đầu tiên bảo đảm khả năng chống nhiễu tuyệt đối và khả năng phóng từ các phương tiện mang cơ động.

Hệ thống tên lửa đa năng mới Kornet-EM cho phép hiện thực hóa các yêu cầu hiện đại đối với ATGM tương lai bằng cách sử dụng các giải pháp kỹ thuật tiên tiến, nhưng tương đối rẻ tiền, mang lại cho Kornet-EM nhiều phẩm chất mới.

Kornet-EM có tầm bắn 150-10.000 m, hệ điều khiển tự động, định hướng từ xa trong tia laser, có khả năng chống nhiễu cao, có thể đồng thời tấn công 2 mục tiêu, khả năng xuyên giáp bằng phần chiến đấu nổ lõm là 100-1.300 mm, phần chiến đấu nổ phá có sức công phá tương đương 7 kg TNT, cơ số đạn 16 quả (8 quả sẵn sàng bắn), thời gian chuyển từ tư thế hành quân sang chiến đấu là 7 s.

Việc sử dụng trong Kornet-EM chế độ quan sát kỹ thuật với bộ tự động bám mục tiêu cho phép con người không phải tham gia vào quá trình dẫn tên lửa và thực tế là bảo đảm thực hiện nguyên lý “bắn-quên”, tăng 5 lần độ chính xác bám mục tiêu trong điều kiện chiến đấu thực tế và bảo đảm xác suất tiêu diệt cao trong toàn bộ dải tầm bắn của hệ thống, lớn hơn gấp đôi tầm bắn của hệ thống trước đó Kornet-E.

Khả năng tiêu diệt mục tiêu ở chế độ tự động giúp giảm tải tâm lý cho xạ thủ, giảm yêu cầu đối với trình độ của xạ thủ, cũng như giảm thời gian huấn luyện xạ thủ.

Nguyên tắc cấu trúc hệ thống kiểu khối-module quan thuộc của họ Kornet cho phép bố trí 2 hoặc 1 bệ phóng tự động lên nhiều loại phương tiện mang trọng tải nhỏ, tương đối rẻ tiền (hệ thống có trọng lượng tính cả cơ số đạn là 0,8 tấn đối với biển thể 1 bệ phóng và 1,2 tấn đối với biến thể 2 bệ phóng) do các nước khác nhau sản xuất, với khả năng điều khiển từ xa, bảo đảm khả năng vượt qua hệ thống phòng vệ chủ động.

Tầm bắn của hệ thống thực tế tăng gấp 2 lần, lên tới 10 km.

Việc phân tích các cuộc xung đột vũ trang những thập kỷ gần đây cho thấy rằng, trên các địa hình có bề mặt sa mạc-bình nguyên, trong các thung lũng nằm giữa các dãy núi, ở địa hình đồi núi khi ở trên các điểm cao khống chế, có thể phát hiện các mục tiêu ở cự ly trên 10-15 km. Việc lợi dụng các ưu thế của địa hình khi tác chiến là một trong những điều kiện cơ bản để tác chiến thắng lợi.

Vì vậy, đối với các loại địa hình nêu trên sẽ luôn luôn phát sinh các tình huống khi mà có khả năng phát hiện và bắn mục tiêu ở tầm xa (trên 5-6 km). Vì thế, KBP cho rằng, vũ khí, trong đó có hệ thống ATGM phải bảo đảm bắn được ở cự ly tối đa có thể, điều đó sẽ cho phép gây tổn thất nặng nề cho đối phương trước khi lực lượng chủ lực vào tiếp xúc hỏa lực với đối phương hoặc để tổ chức phục kích mà không phải lâm chiến sau đó. Đồng thời, các tính năng khác của hệ thống như độ chính xác bắn, uy lực tác động đến mục tiêu, các thông số trọng lượng-kích thước không được suy giảm.

Ở Kornet-EM, nhiệm vụ này đã được giải quyết. Nhờ hoàn thiện hệ thống điều khiển của hệ thống, cấu tạo các động cơ của tên lửa và bộ tự động bám mục tiêu của hệ thống, tầm bắn của hệ thống đã được nâng lên tới 8 km (tên lửa mang phần chiến đấu nổ lõm) đến 10 km (tên lửa mang phần chiến đấu nổ phá). Trong khi đó, độ chính xác bắn của Kornet-EM ở tâm 10 km cao hơn so với độ chính xác của mẫu cơ sở Kornet-E bắn ở tầm 5 km, đồng thời các tên lửa mới vẫn có kích thước và các tham số lắp ghép của các tên lửa phát triển trước đó của Kornet-E, điều đó bảo đảm tính tương thích của chúng với các bệ phóng được thiết kê trước đó và giữ được các tính năng khai thác.

Việc tăng tầm và độ chính xác bắn, áp dụng chế độ tự động bám cho phép bám không chỉ các mục tiêu chậm trên mặt đất mà cả các mục tiêu tốc độ cao hơn, đã cho phép giải quyết ở hệ Kornet-EM một nhiệm vụ hoàn toàn mới đối với hệ thống tên lửa chống tăng – đó là tiêu diệt các mục tiêu bay cỡ nhỏ (UAV, trực thăng, máy bay cường kích).

Kornet-EM là hệ thống có khả năng thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ đó.

Hiệu quả của Kornet-EM trong tác chiến chống mục tiêu bay được bảo đảm bằng sự kết hợp hệ thống dẫn tự động, chính xác cao với tên lửa có điều khiển mang phần chiến đấu áp nhiệt, lắp cảm biến mục tiêu không tiếp xúc và tiếp xúc, có tầm bay đến 10 km.

Cảm biến mục tiêu không tiếp xúc bảo đảm tiêu diệt chắc chắn mục tiêu bay ở mọi cự ly bắn. Kết hợp với phần chiến đấu nổ phá uy lực mạnh, cảm biến mục tiêu không tiếp xúc cho phép bù lại sai sót bắn chệch của hệ thống, bảo đảm tiêu diệt hiệu quả bằng áp suất dư của UAV hay trực thăng khi bắn lệch đến 3 m.

Tầm bắn tối đa 10 km của tên lửa mang lại ưu thế cho Kornet-EM khi tác chiến chống trực thăng vì cho phép bắn ở cự ly ngoài tầm sử dụng vũ khí của đối phương.

Nhờ vậy, Kornet-EM khi cần có thể đảm nhiệm một phần chức năng của hệ thống tên lửa phòng không tầm gần, bảo vệ các đội hình chiến đấu quân nhà chống trực thăng và UAV của địch tấn công. Không một hệ thống nào khác có được khả năng này.

Việc phối hợp giữa các hệ thống Kornet-EM được thích ứng để tác chiến chống mục tiêu bay chậm với các phương tiện phòng không sẽ làm gia tăng đáng kể hiệu quả phòng không cho các đơn vị chiến thuật của lục quân nói chung.

Với những ưu điểm đó, hiện nay, Kornet-EM là mẫu vũ khí chính xác cao chiến thuật tốt nhất để tiêu diệt các mục tiêu quan sát được bằng mắt. Hệ thống là vũ khí phòng thủ-đột kích vạn năng với hệ thống điều khiển có khả năng chống nhiễu hoàn toàn, cho phép tác chiến hiệu quả cao chống mục tiêu mặt đất và trên không trong các điều kiện tác chiến khác nhau, kể cả trong thời tiết xấu và khi đối phương tổ chức gây nhiễu vô tuyến điện tử và quang học.

Hệ thống Kornet-EM bao gồm:

- một xe chiến đấu với 2 bệ phóng tự động và bàn điều khiển có màn hình của xạ thủ;

- tên lửa có điều khiển lắp phần chiến đấu nổ phá với các cảm biến mục tiêu tiếp xúc và không tiếp xúc, có tầm bắn đến 10 km;

- tên lửa chống tăng có điều khiển với tầm bắn tối đa đến 8.000 m và khả năng xuyên giáp bằng phần chiến đấu nổ lõm là 1.100-1.300 mm, cho phép Kornet-EM tiêu diệt các xe tăng hiện đại và tương lai có xét đến xu hưởng tăng cường vỏ giáp của chúng. Để tiêu diệt các mục tiêu mặt đất dạng hỏa điểm kiên cố lâu dài, hỏa điểm lâu dài bằng gỗ-đất, xe bọc thép nhẹ, sinh lực, kể cả ở trong công sự, tên lửa có thể được lắp phần chiến đấu nổ phá-nhiệt áp có sức công phá tương đương 10 kg TNT.

Bệ phóng tự động lắp 4 tên lửa sẵn sàng phóng, được trang bị một máy ngắm ảnh nhiệt-truyền hình với các camera truyền hình độ phân giải cao và một thiết bị ảnh nhiệt thế hệ 3, một máy đo xa lắp liên và kênh dẫn tên lửa bằng laser, cũng như bộ tự động bám mục tiêu với các bộ dẫn động tầm/hướng.

Phân tích so sánh tính năng của Kornet-EM với các hệ thống tương tự của nước ngoài cho thấy, về hiệu quả chiến đấu, khi thực hiện các nhiệm vụ truyền thống của hệ thống ATGM, Kornet-EM vượt trội các hệ tương tự về tổng thể các tham số từ 3-5 lần, trong khi lại đơn giản hơn trong sử dụng và bảo dưỡng và đạn tên lửa có giá rẻ hơn 3-4 lần.
Nguồn: Armstrade, 20.7.2011.
http://vietnamdefence.com/Home/ktqs/lucquan/vukhichongtang/ltct/Ten-lua-KornetEM-choi-ca-xe-tang-lan-may-bay/20117/50671.aspx
Logged
trucngon
Thành viên
*
Bài viết: 1776



« Trả lời #281 vào lúc: 10 Tháng Tám, 2011, 03:20:42 pm »

Vũ khí từ miền đất hứa
Những số liệu thống kê vừa được công bố vào giữa năm 2011 cho thấy, trong năm qua, thị trường xuất khẩu vũ khí đã có những thay đổi đáng kể. Trong nhóm 4 quốc gia bán nhiều vũ khí nhất ra các nước khác đã có mặt Israel.

Bộ Quốc phòng Israel vừa cho biết, tổng số tiền thu được cho quốc gia Do Thái này nhờ xuất khẩu vũ khí khí tài quân sự trong năm 2010 là 7,2  tỉ USD. Như vậy "miền đất hứa" chỉ đứng sau Mỹ, Nga và Đức về xuất khẩu "hàng nóng" trong năm qua. Các chuyên gia cũng cho rằng, trong thời gian tới, danh sách nhóm 4 đại gia xuất khẩu "hàng nóng" này  sẽ còn thay đổi nữa vì hiện giờ Trung Quốc cũng đang tăng tốc khá nhanh trong  lĩnh vực này.

Năm đột biến

Các nhà máy trong ngành công nghiệp quốc phòng của quốc gia Do Thái trong năm qua đã bán được 9,6 tỉ USD vũ khí khí tài.  Các lực lượng vũ trang của Israel đã tiêu thụ được 2,4  tỉ USD hàng nóng, còn lại là dành cho các khách mua ngoại quốc.

Năm 2010, cũng như 6 năm trước đó, đều là thời điểm lập kỷ lục của công nghiệp quốc phòng Israel về các hợp đồng xuất khẩu vũ khí, giúp nước này ngày càng củng cố vị trí của họ vững chắc hơn trên thị trường quốc tế. Khoảng 80% lượng vũ khí khí tài do Israel sản xuất mỗi năm được dành cho xuất khẩu.

Năm 2005, xuất khẩu vũ khí khí tài của Israel ra nước ngoài ở mức 3,5  tỉ USD. Năm 2006, con số này là 4,9  tỉ USD. Năm 2007: 5,6 tỉ; năm 2008: 6,6 tỉ và năm 2009: 6,9 tỉ USD. Một điều cần chú ý là, theo đánh giá của Tổ chức phân tích độc lập Forecast International, tốc độ gia tăng của xuất khẩu vũ khí khí tài từ Israel trong hai năm gần đây thậm chí còn cao hơn các số liệu do Bộ Quốc phòng nước này công bố.

Forecast International cho rằng, năm 2009, Israel đã ký các hợp đồng xuất khẩu vũ khí khí tài trị giá 7,4  tỉ USD, còn năm 2010: 7,6  tỉ USD. Những loại vũ khí khí tài chính mà quốc gia Do Thái bán cho các bạn hàng ngoại quốc là những máy bay không người lái, các hệ thống vũ khí, kể cả những môđun điều khiển từ xa, các loại radar, các bộ cảm biến cũng như hàng loạt những dịch vụ về chuyển đổi tính năng các loại máy bay.

Một phần nhỏ trong các loại vũ khí xuất khẩu của Israel là những máy bay chiến đấu, kể cả loại tiêm kích nhiều chức năng IAI Kfir. Theo số liệu của Viện Nghiên cứu Hòa bình Quốc tế Stockholm (SIPRI), ăn khách nhất trong các sản phẩm quân sự của Israel trên thị trường thế giới là các loại radar và các bộ cảm biến, các loại tên lửa khác nhau và khí tài hàng không…

Israel dự định trong những năm sắp tới sẽ gia tăng chủng loại vũ khí khí tài dành cho xuất khẩu. Cuối năm 2010, Bộ Quốc phòng nước này đã quyết định bắt đầu cho xuất khẩu loại xe tăng chiến đấu Merkava Mark IV, các loại xe sửa chữa sơ tán bọc thép Merkava ARV Nemmera và  các loại xe vận tải bọc thép Merkava IFV Namer. Ngoài ra, Israel cũng dự định sẽ xuất khẩu các hệ thống phòng không chống tên lửa Iron Dome và Arrow…

Cũng có cách thống kê khác về lượng vũ khí khí tài xuất khẩu của Israel. Theo thống kê mới nhất của SIPRI, tổng giá trị xuất khẩu vũ khí của Israel năm qua đã ở mức 472  triệu USD tính theo tỉ giá năm 1990 (tương đương với 787,47 triệu USD tính theo tỉ giá 2010).

Cũng theo SIPRI, tổng lượng xuất khẩu vũ khí khí tài từ "miền đất hứa" năm 2011 đã giảm gần một nửa so với năm 2009, tương đương 335 triệu USD. Sự suy giảm này, theo lý giải của SIPRI, liên quan tới những bất ổn gia tăng ở khu vực Trung Đông, cũng như những hệ lụy từ cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu.

Theo SIPRI, năm 2010, Israel đã cung cấp các bộ cảm biến và các hệ thống radar (camera cực tím, các hệ thống theo dõi, các trạm radar với các kết cấu khác nhau…) cho các hàng nước ngoài ở mức 161 triệu USD. Tiền thu được từ bán tên lửa là 124 triệu USD. 96 triệu USD - đó là thu nhập của Israel nhờ xuất khẩu các máy bay không người lái cũng như các dịch vụ chuyển đổi tính năng máy bay…

Theo website lenta.ru. sự chênh lệch rất lớn trong các số liệu của SIPRI của Bộ Quốc phòng Israel về số tiền thu được nhờ xuất khẩu vũ khí của nước này là vì SIPRI chỉ tính đến lượng vũ khí đã được xuất đi, còn Bộ Quốc phòng Israel tiến hành thống kê trên cơ sở những hợp đồng mua bán vũ khí khí tài đã được ký kết.

Thí dụ trong năm 2010 đã có thông báo về việc ký hợp đồng giữa LB Nga với Israel liên quan tới cung cấp tổng bộ linh kiện lắp ráp các máy bay không người lái trị giá 300  triệu USD. Chỉ riêng số tiền này đã lớn hơn toàn bộ tổng số tiền mà SIPRI thống kê. Ngoài ra, cũng trong năm 2010, Israel đã bán cho Columbia ba máy bay tiêm kích mới IAI Kfir. 

Giá trung bình của mỗi một chiếc máy bay loại này là từ 5 tới 5,5 triệu USD. Điều đó có nghĩa là bản hợp đồng xuất khẩu máy bay tiêm kích trên trị giá từ 15 tới 16,5 triệu USD. Ngoài ra, Israel còn ký được một loạt những thỏa thuận với Ấn Độ, Pháp, Mỹ và Nga về việc cung cấp cho các nước này các bộ cảm biến, radar, tên lửa, máy bay không người lái và các dịch vụ về hiện đại hóa các loại khí tài bọc thép…

Cách đây không lâu, một số phương tiện thông tin đại chúng Israel, dựa trên tư liệu của đại diện ngành công nghiệp quốc phòng nước này, đã  viết rằng, trong vài ba năm tới, tổng lượng xuất khẩu vũ khí khí tài của Israel sẽ suy giảm.

Có nhiều lý do dẫn tới việc đó, thí dụ như mối quan hệ giữa Israel với Thổ Nhĩ Kỳ, một trong những bạn hàng lớn nhất của quốc gia Do Thái, hiện đang trong tình trạng ngày một xấu đi… Lý do khác là các nước châu Âu trong tình cảnh túng thiếu ngân sách nhà nước buộc phải cắt giảm bớt chi phí quốc phòng.

Trong tương lai gần, các vụ xuất khẩu vũ khí khí tài từ Israel sẽ chủ yếu được thực hiện với những khách hàng như Ấn Độ và các nước Bắc Mỹ, những bạn hàng lớn nhất của ngành công nghiệp quốc phòng ở "miền đất hứa".

Chỗ đứng dưới mặt trời

Cũng theo SIPRI, Washington vẫn là nhà xuất khẩu chiếm thị phần lớn nhất trên thị trường hàng nóng quốc tế. Năm 2009, thị phần của nước này đã là 30%. Moskva năm 2009 chỉ chiếm được 24% và đứng ở vị trí thứ hai. Vị trí thứ ba thuộc về Berlin với 11%. Paris ở vị trí thứ tư với 8%, còn London ở vị trí thứ 5 với 4%.

Trong năm qua, quốc gia gặt hái được nhiều nhất nhờ xuất khẩu vũ khí khí tài quân sự ra thị trường quốc tế vẫn tiếp tục là Mỹ. Washington đã thu được 31,6 tỉ USD nhờ xuất khẩu hàng nóng.  So với năm 2009, chỉ số này đã bị giảm 6,5 tỉ USD. Vị trí thứ hai trong danh sách các đại gia xuất khẩu hàng nóng năm qua thuộc về Nga với 10 tỉ USD.
Một năm trước đó Moskva chỉ xuất khẩu được 8,8 tỉ USD vũ khí khí tài quân sự. Nước Đức được coi là quốc gia đứng thứ ba về xuất khẩu vũ khí khí tài quân sự. Mặc dù những số liệu chính thức của năm 2010 chưa được Berlin công bố, nhưng Bộ Thương mại Đức  cho biết, năm qua,  nước này đã xuất khẩu được 5,8 tỉ euro hàng nóng (tương đương với 8,7  tỉ USD).

Theo đánh giá của SIPRI, trong 5 năm gần đây, bộ ngũ trong làng xuất khẩu vũ khí khí tài quân sự được sắp đặt như sau: Mỹ, Nga, Đức, Pháp và Anh. Hai quốc gia Pháp và Anh cho tới thời điểm hiện tại vẫn chưa đưa ra những số liệu thống kê chính thức về xuất khẩu vũ khí khí tài quân sự.

Tuy nhiên, theo số liệu của Bộ Quốc phòng Pháp, xuất khẩu hàng nóng của nước này trong năm 2009 đã là 8,16 tỉ euro (12,24 tỉ USD), "Hòn đảo sương mù" trong năm 2009 cũng đã bán ra nước ngoài được 7,2  tỉ bảng Anh (11 tỉ USD).
Như vậy là bộ ngũ chủ đạo trên thị trường hàng nóng quốc tế ở thời điểm hai năm trước được sắp xếp như sau: Mỹ, Pháp, Anh, Nga và Đức. Nếu lưu ý tới sự gia tăng không đáng kể những vụ xuất khẩu vũ khí khí tài quân sự của nước này trong năm 2010, rất khó tin vào việc năm vừa qua, Israel đã vươn lên được vị trí thứ tư, vượt qua vị trí tứ 8 của mình trong năm 2009, sau Trung Quốc (1 tỉ USD) và Tây Ban Nha (998  triệu USD) . Nói chung, trong tương lai, vị trí của các quốc gia trên có thể sẽ bị thay đổi…

Trong những năm gầy đây, theo website lenta.ru, Bắc Kinh đang ngày càng tạo dựng được vị trí nổi bật hơn trên thị trường hàng nóng quốc tế với những mẫu vũ khí được sản xuất trên cơ sở cải tiến các loại vũ khí làm theo mô hình của Liên Xô trước kia và nước Nga hiện nay với giá rất cạnh tranh. Trung Quốc hiện đã chào hàng ra nước ngoài các hệ thống tên lửa phòng không, các hệ thống pháo, các loại máy bay khác nhau và khí tài bọc thép. Trong số này có máy bay tiêm kích FC-1, J-10, J-11;  máy bay vận tải Y-8; máy bay huấn luyện K-8; loại xe bọc thép  ZBL-09 cũng như hệ thống tên lửa  SY-400, BP-12A và HQ-16.

Những nỗ lực của ngành công nghiệp quốc phòng Trung Quốc cũng mang lại những kết quả bước đầu. Nếu năm 2009, theo SIPRI, Bắc Kinh chỉ được xếp ở vị trí thứ 6 trong danh sách các đại gia xuất khẩu hàng nóng thì tới năm 2010, nước này đã vươn lên vị trí thứ 5 với số tiền thu được là 1,4 tỉ USD.

Trong khi đó London đã bị loại khỏi top 5 và rơi xuống vị trí thứ 6. Và các chuyên gia cho rằng, trong thực tế tổng lượng xuất khẩu hàng nóng của Trung Quốc có thể cao hơn vài ba lần so với những con số trên.

Như vậy là, trong tương lai gần, top 5 đại gia xuất khẩu hàng nóng trên thế giới có thể phải thay đổi đáng kể. Có lẽ chỉ Washington mới đủ tự tin để giữ vị trí quán quân, còn các nước khác nếu không cố gắng thì có thể sẽ bị rớt hạng
 
  Phạm Huy Dũng
(Theo ANTG tháng)
Logged
HUY_AK_47
Thành viên
*
Bài viết: 200



« Trả lời #282 vào lúc: 11 Tháng Tám, 2011, 09:24:25 pm »

QĐND Online - Ukrspetsexport đã ký hợp đồng với Thái Lan về việc chuyển giao 121 xe bọc thép chở quân BTR-3E1, đó là tuyên bố của lãnh đạo Công ty quốc doanh Ukraine Ukrspetsexport Dmitry Salamatin. Hợp đồng trị giá 140 triệu USD nói trên sẽ là thỏa thuận bổ sung cho đơn hàng mua 96 xe BTR-3E1 Thái Lan đặt mua từ năm 2007.

Căn cứ vào các thông báo trước đây, tài chính cho việc mua sắm các xe BTR mới nói trên được trích từ ngân sách tiết kiệm của quân đội Thái Lan.

BTR-3E1. Ảnh: 77rus.smugmug.com

Sau khi ký hợp đồng mua 96 xe BTR-3E1 từ năm 2007, rất lâu sau đó Thái Lan không được tiếp nhận dòng xe thiết giáp này. Nguyên nhân của sự chậm trễ này được phía Ukraine giải thích là do đối tác Đức từ chối cung cấp các phụ tùng để lắp ráp trên xe BTR-3E1.

Tới tận cuối tháng 9-2010, Thái Lan mới được nhận lô hàng đầu tiên, bao gồm 12 xe BTR-3E1 và tới tháng 4-2011, lô xe thiết giáp tiếp theo đã được chuyển tới Thái Lan.

Trong vài năm gần đây, Thái Lan đã chi ra một số tiền đáng kể để mua sắm trang bị quân sự do Ukraine sản xuất. Lý do của việc này được Bộ Quốc phòng quốc gia Đông Nam Á giải thích là do giá thành sản phẩm quân sự của Ukraine rẻ hơn so với các nước khác. Tháng 3-2011, Bô tư lệnh lục quân Thái Lan đã quyết định mua 200 xe tăng chiến đấu chủ lực T-84 Oplot trị giá 231,1 triệu USD cũng do Ukraine sản xuất. Các xe tăng mới này sẽ thay thế cho các đơn vị xe tăng M41A3 cũ hiện có của quân đội quốc gia Đông Nam Á này.
Logged
thanhh63
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2188


« Trả lời #283 vào lúc: 12 Tháng Tám, 2011, 07:47:42 am »

Việt Nam mua thêm hệ thống tên lửa bờ biển

Tập đoàn NPO Mashinostroenia bắt đầu chuẩn bị hợp đồng bán hệ thống tên lửa bờ biển Bastion-P cho Việt Nam.

Tập đoàn NPO Mashinostroenia đã bắt đầu chuẩn bị hợp đồng xuất khẩu hệ thống tên lửa bờ biển Bastion-P với Việt Nam không thông qua công ty xuất khẩu vũ khí Rosoboronoexport. Kinh phí cho hợp đồng này được lấy từ tín dụng nhà nước do Nga cấp cho Việt Nam.

Hiện nay, hai bên đang xác định các điều kiện sơ bộ của hợp đồng xuất khẩu: số lượng chính xác trang bị mua bán, quy mô tín dụng nhà nước của Nga và thời hạn chuyển giao.

Theo một nguồn tin gần gũi với Bộ Tài chính Nga, Nga đang đàm phán với Việt Nam về việc cấp tín dụng mua vũ khí Nga. Quy mô tín dụng nhà nước này chưa được xác định vì “phụ thuộc trực tiếp vào số lượng vũ khí mua sắm, mà điều đó thì hiện đang được thảo luận”. “Một trong các bên của hợp đồng mới sẽ là NPO Mashinostroenia. Vai trò đó được xác định cho NPO và hãng này đang đàm phán với Việt Nam về việc cung cấp một số hệ thống Bastion”. Nguồn tin này cũng cho biết, việc chuyển giao các hệ thống tên lửa cho Việt Nam có thể diễn ra không sớm hơn năm 2013-2014 do phía Nga cần chuẩn bị và có những bổ sung vào luật ngân sách để có thể cấp tín dụng xuất khẩu cho Việt Nam.

Một nguồn tin gần gũi với Rosoboronoexport, hôm 10.8, cho biết, “vấn đề cấp tín dụng có liên quan cho Việt Nam để mua vũ khí Nga đang ở giai đoạn bàn bạc thống nhất cuối cùng”.

NPO Mashinostroenia đã được phép của đích thân Tổng thống Nga Dmitri Medvedev tự chuẩn  bị hợp đồng xuất khẩu, mặc dù việc đó chưa được hợp thức hóa về mặt pháp lý. Tập đoàn này sẽ chỉ có thể ký kết hợp đồng xuất khẩu không qua Rosoboronoexport nếu có được quyền này về mặt pháp lý.

Một nguồn tin trong văn phòng Tổng thống Nga tiết lộ, Tổng thống Dmitri Medvedev đã được báo cáo từ tháng 6.2011 về kế hoạch của NPO độc lập xuất khẩu vũ khí thành phẩm, người đệ trình báo cáo này là trợ lý Tổng thống Sergei Prikhodko đồng thời là Chủ tịch Hội đồng quản trị của NPO Mashinostroenia và Tổng thống Medvedev đã viết lên tờ trình là “Đồng ý”, tuy nhiên chưa có sắc lệnh chính thức của Tổng thống.

Một nguồn tin trong lĩnh vực hợp tác kỹ thuật quân sự cho hay, NPO Mashinostroenia đang thực sự chuẩn bị tự đi ra thị trường thế giới. Đến năm 2007, NPO đã tự xuất khẩu vũ khí và hiểu rõ thị trường Việt Nam, và nay đã được Tổng thống Nga cho phép tiếp tục làm việc đó. Cơ quan liên bang về hợp tác kỹ thuật quân sự đã thông báo việc này cho Rosoboronoexport.

NPO Mashinostroenia cho đến năm 2007 đã từng xuất khẩu độc lập một số mẫu sản phẩm quân dụng nên có đủ kinh nghiệm. Năm 2007, thị trường xuất khẩu vũ khí Nga đã hình thành rõ ràng và toàn quyền bán sản phẩm quân dụng thành phẩm chuyển sang tay một công ty nhà nước là Rosoboronoexport đóng vai trò nhà trung gian cung cấp vũ khí.

Quy chế chủ thể hợp tác kỹ thuật quân sự không trao quyền xuất khẩu thành phẩm, song cho phép cung cấp cho khách hàng nước ngoài phụ tùng, các tổng thành, bộ phận hay dịch vụ hiện đại hóa và bảo dưỡng.

Hiện nay, có quy chế chủ thể hợp tác kỹ thuật quân sự là Rosoboronoexport (công ty trung gian quốc doanh), Rostechnologyy (hoạt động marketing) và 21 hãng phát triển và sản xuất hàng quân sự. Trong đó, chỉ có Rosoboronoexport có quyền xuất khẩu tất cả các loại hàng quân sự, trước hết là thành phẩm. Các hãng còn lại chỉ có thể xuất khẩu phụ tùng, các tổng thành, tài liệu, cũng như dịch vụ bảo dưỡng hậu mãi cho các vũ khí trang bị đã cung cấp trước đó.

Ngoài Rosoboronoexport, hiện chỉ có 2 công ty có quyền bán sản phẩm thành phẩm ra nước ngoài - đó là hãng đóng tàu Zvezdochka ở Severidvinsk và Admiralteiskye Verfi ở St. Petersburg. Hai hãng này nằm trong Tập đoàn Đóng tàu thống nhất OSK. Tháng 11.2010, Admiralteiskye Verfi công bố chiến lược phát triển của mình, trong đó đề xuất trao cho họ “quy chế chủ thể hợp tác kỹ thuật quân sự”. Quy chế này sẽ trao cho tập đoàn toàn quyền độc lập cung cấp sản phẩm của mình ra thị trường thế giới mà không cần sự trợ giúp của Rosoboronoexport.

Hiện nay, Rosoboronoexport kiểm soát phần lớn hoạt động xuất khẩu quân sự của Nga. Năm 2010, Nga đã bán ra nước ngoài 10 tỷ USD vũ khí trang bị, trong đó có 8,6 theo kênh Rosoboronoexport. Trong khi đó, năm 2009, các chỉ số này tương ứng là 8,8 và 7,4 tỷ USD. Tính đến đầu năm 2011, khối lượng đơn đặt hàng của Rosoboronoexport là 38 tỷ USD.

Có ý kiến cho rằng, nếu hợp đồng bán trực tiếp Bastion cho Việt Nam sẽ được ký kết, thì đây là đòn đau đầu tiên vào sự độc quyền của Rosoboronoexport, nhà xuất khẩu sản phẩm quân sự thành phẩm duy nhất của Nga.

Tuy nhiên, chuyên gia Konstantin Makienko, thuộc Trung tâm Phân tích chiến lược và công nghệ (TsAST, Nga) thì cho rằng, tổn thất tài chính của Rosoboronoexport do NPO Mashinostroenie độc lập xuất khẩu vũ khí là không lớn. “Nhiều lắm là bằng số hợp đồng mà NPO có thể ký được, trung bình cung cấp 1 hệ thống/năm.

Hệ thống này rất mạnh, rất đắt và rất nhạy cảm về chính trị. Ở phân khúc này, thị trường chắc chắn sẽ tập trung vào hệ thống thay thế khác là Bal-E. Vì thế, Rosoboronoexport có thể có biện pháp đối phó đối xứng là bắt đầu tiếp thị hệ thống dễ bán hơn nhiều là Bal-E. Năm 2010, trong khuôn khổ các hợp đồng mà Rosoboronoexport đã ký trước đó, Nga đã cung cấp cho Việt Nam 1 hệ thống Bastion có giá 150 triệu USD.

Còn theo ý kiến của ủy viên Hội đồng Xã hội thuộc Bộ Quốc phòng Nga, ông Ruslan Pukhov thì tổn thất lớn hơn nhiều là tổn thất về hình ảnh của Rosoboronoexport.

Nhân Vũ (theo Kommersant, Lenta)
Link: http://quocphong.baodatviet.vn/Home/QPCN/Viet-Nam-mua-them-he-thong-ten-lua-bo-bien/20118/160927.datviet
Logged

Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
trucngon
Thành viên
*
Bài viết: 1776



« Trả lời #284 vào lúc: 13 Tháng Tám, 2011, 02:51:05 pm »

Nga sắp giao 5 máy bay MiG-29K cho Ấn Độ
 
Tập đoàn sản xuất máy bay MiG của Nga sẽ chuyển giao lô hàng cuối cùng gồm 5 chiếc máy bay chiến đấu MiG-29K/KUB cho Hải quân Ấn Độ vào cuối năm nay theo một hợp đồng được hai nước ký kết từ năm 2004. Những chiếc MiG-29K/KUB này sẽ phục vụ trên tàu sân bay của Ấn Độ.
Nga đã ký một hợp đồng bán cho Ấn Độ 12 chiếc máy bay một chỗ ngồi MiG-29K và 4 chiếc máy bay hai chỗ ngồi MiG-29KUB. Hợp đồng này là một phần của thỏa thuận trị giá 1,5 tỉ USD liên quan đến việc nâng cấp và chuyển giao tàu sân bay mang tên Đô đốc Gorshkov cho Hải quân Ấn Độ.
"Chúng tôi sẽ hoàn thành hợp đồng năm 2004 vào cuối năm nay. Chúng tôi đã chuyển giao 11 trong tổng số 16 chiến đấu cơ cho Ấn Độ", Tổng Giám đốc Tập đoàn MiG – ông Sergei Korotkov hôm qua (12/8) cho biết.
Ấn Độ là một trong những nhà nhập khẩu vũ khí hàng đầu của Nga. Hai nước cũng có mối quan hệ hợp tác về mặt quân sự chặt chẽ.
Hồi tháng 3 năm 2010, Nga và Ấn Độ đã ký một hợp đồng trị giá 1,5 tỉ USD, theo đó Nga sẽ cung cấp cho Ấn Độ thêm 29 chiếc máy bay chiến đấu MiG-29K Fulcrum-D cho tàu sân bay. Dự kiến, Moscow sẽ giao cho New Delhi chiếc chiến đấu cơ đầu tiên loại này vào năm 2012.
Các hợp đồng mua bán máy bay chiến đấu giữa Nga và Ấn Độ đều bao gồm các điều khoản về việc huấn luyện phi công, duy trì, bảo dưỡng máy bay...
Hải quân Ấn Độ đã đặt tên cho phi đội MiG-29K của nước này là “Những con báo đen”. Những máy bay này sẽ tạm thời được đặt tại sân bay ở bang Goa thuộc bờ biển phía tây của Ấn Độ cho đến khi tàu sân bay Đô đốc Gorshkov gia nhập vào Lực lượng Hải quân dưới cái tên INS Vikramaditya vào đầu năm 2013.
Tàu Vikramaditya được cho là sẽ mang theo 24 máy bay chiến đấu MiG-29K/KUB. Tàu sân bay Vikrant tự chế mà Ấn Độ đang đóng trong tương lai cũng sẽ mang theo những loại máy bay chiến đấu này.

Kiệt Linh - (theo RIA)
Việt Báo (Theo_VnMedia)
Logged
red army
Thành viên
*
Bài viết: 16


« Trả lời #285 vào lúc: 13 Tháng Chín, 2011, 06:40:58 pm »

Lang thang trên mạng thấy mấy con này ngon quá.Nếu hải quân ta mà có những con này bảo vệ ngư dân ở Trường Sa, Hoàng Sa thì bọn ngư chính và hải giám có mà khóc thét Grin

Tuần tuần dương lớp Legend




Tuần tuần dương lớp Legend là mẫu tàu mới nhất thiết kế mới nhất theo yêu cầu của Bộ Tư Lệnh
Biên Phòng Duyên Hải Hoa Kỳ thích ứng cho các nhu cầu và công tác đa dạng và lâu dài trên biển ( 90 ngày hải trình ) như tuần tiểu , truy kích , cứu hộ , giám sát hải đoàn hay phối hợp tác chiến với các đơn
vị hải quân hay thủy quân lục chiến trên địa bàn biển và đảo .  

Ngoài ra , tuần dương hạm lớp Legend được thiết kế với đầy đủ các hệ thống và khí tài hiện đại nhất
cho khả năng tham gia các công tác tuần dương trên biển khơi chung với các đơn vị đối tác của nước
bạn theo tinh thần hợp tác đa phương an ninh biển cả .

Tuần dương hạm lớp Legend thiết kế cho khả năng hoạt động trong các điều kiện thời tiết khắc nghiệt
và cho một hải trình với thời hạn dài nhất là 90 ngày . Là mẫu tàu mới dạng một thân hạng 4.500 tấn
cho công tác tuần dương và tuần duyên với khả năng chuyển đổi công tác nhanh mà không cần phải
trở về cảng . Các dự án chiến thuật gồm phòng chống khủng bố trên biển , cứu hộ , bảo vệ các khu
vực kinh tế cao lẫn công tác truy kích vùng nước sâu , xuất kích tổ đặc nhiệm bằng xuồng phóng nhanh
hay dùng máy bay trực thăng để nghênh cản .

- Tuần dương hạm lớp Legend có chiều dài : 127m
chiều rộng : 16m
độ mớn nước : 6,4m
- Trọng tải đầy đủ : 4.500 tấn , trang bị với 2 động cơ MTU 20V1163 công suất 9.655 mã lực / máy, thiết kế
đồng bộ với 1 tuabin GE LM2500 công suất 30.565 mã lực theo dạng CODAG cho phép lướt sóng Cheesy liên tục với tốc độ 52 km/giờ
- Tầm hoạt đông : 12.000 hải lý , tốc độ hành trình : 35 km/giờ cho một hải trình 90 ngày trên biển .
Thiết kế tàu gồm cả khả năng sẵn sàng cho trang thiết bị phòng chống sinh hóa và phóng xạ .
Tổng số thủy thủ đoàn gồm : 20 sỹ quan ; 62 thuyền viên , tổ đặc nhiệm : 18 người ; tổ phi công và cơ khí : 10 người.



Tuần dương hạm lớp Legend được trang bị với : - hệ thống rađa kênh X và S , hệ thống rađa tác
chiến phòng không EADS TRS 3 chiều , hệ thống kiểm soát khai hỏa SPQ-9B , hệ thống rà soát
tín hiệu và hồng ngoại Mk46 , hệ thống chỉ huy liên kết ( Integrated Bridge System ) , hệ thống cân
bằng GyroFin stabilizer ( thiết bị phụ ) , hệ thống hải hành Navigat 21000 và MK 39 MOD 3A Ring
Laser Gyro ( RLG ) .  
Hệ thống vũ khí và khí tài tự vệ gồm :  -1 pháo liên thanh Mk110 Bofors 57mm ( tầm sát thương : 17km với hỏa lực : 4 viên/giây , nạp sẵn : 120 viên - sơ tốc nòng : 1.020m/giây )
- 4 đại liên .50 Cal ( tầm thương 2km, tốc độ : 850 viên/phút – sơ tốc nòng : 885,1m/s)
- khí tài chống tên lửa diệt hạm Mk53 NULKA  
- 1 hệ thống pháo  phòng không ( khổ đạn 30x173mm - sớ tốc nòng : 1.189 m /giây - hỏa lực: 4.200 viên/phút - tầm sát thương : 4 km )
 - 2 xuồng máy truy kích mẫu Zodiac Hurricane Commando
 -  1 trực thăng MH-60T ( khả năng cất cánh lúc biển cấp 4 )
 -  4 loa nhiễu sóng siêu tần LRAD 1000Xi  

Trong phiên bản nâng cấp gồm các trang thiết bị phụ như :  hệ thống phân tích và thu nhận không ảnh GeoINT ,  hệ thống dữ liệu rà soát mẫu tàu ( ship identification sytem ) ,  hệ thống tên lửa phóng thẳng VLS ( 1  hộp X 15 tên lửa nhiều loại ) cho công tác chống tàu hay chống tàu ngầm hay mục tiêu cố định ( tên lửa cân nặng : 45kg - đường kính : 18cm - chiều dài : 1,50m - tầm sát thương 40km )
 4 đại liên đôi .50 Cal , 2 hệ thống pháo phòng vệ tầm nhiệt Oto Melara 30 x 113mm ( sơ tốc nòng : 805m/giây - hỏa lực : 700 viên/phút - tầm sát thương: 4.500m )  , xuồng hải kích trang bị chống đạn ,  trực thăng hải quân NH-90 NFH ,  trực thăng vô tuyến , hệ thống lọc khí phòng chống chiến tranh sinh hóa và phóng xạ ( CBRN ) .

Ước tính giá của một tuần dương hạm lớp Legend nguyên bản trọn gói khoảng 480 triệu USD ( tài  khóa 2011)


Hệ thống phóng thẳng đứng VLS



Hệ thống chỉ huy liên kết IBS

« Sửa lần cuối: 13 Tháng Chín, 2011, 10:06:23 pm gửi bởi red army » Logged
red army
Thành viên
*
Bài viết: 16


« Trả lời #286 vào lúc: 13 Tháng Chín, 2011, 06:53:50 pm »

Tàu chiến duyên hải lớp LCS-1 Freedom






   Khinh hạm lớp LCS-1 do tập đoàn Lockheed Martin thiết kế và sản xuất, là mẫu tàu dạng một thân hạng 3.000 tấn , nhằm các dự án chiến thuật phòng chống khủng bố đặc biệt, săn tàu ngầm , đặt và phá thủy lôi trong khu vực quần đảo , cửa biển, khu vực giếng dầu khí , lẫn với nhu cầu của tuần tiểu cận duyên có khả năng truy kích vùng nước cạn , xuất kích tổ nhiệm bố trí trên trực thăng và máy bay trực thăng vô tuyến với thiết kế yểm trơ hay trinh sát .

- Khinh hạm LCS-1 có chiều dài : 115,3m , chiều ngang : 17,5m , độ mớn nước : 3,7m, trọng tải: 3.139 tấn
Được  trang bị 2 tuabin Rolls Royce MT30 chung với 2 động cơ dầu  MAN thiết kế CODAG đồng bộ với 4 hệ thống thủy phản lực xoay chiều Rolls Royce và 4 máy điện với tổng công suất 3.200kW . Tàu có khả năng vượt trên 47 hải lý/giờ ( 87km/)
- Tầm hoạt động : 3.500 hải lý với tốc độ hành trình 18 hải lý/giờ cho một hành trình 21 ngày
- Thủy thủ đoàn gồm 12 sỹ quan và 38 thuyền viên.



Khoang điều khiển tàu lớp LCS 1 Freedom
Sources: Lookeed Martin, Raytheon, US Coast Guard

Hệ thống vũ khí và khí tài tự vệ của tàu gồm :  1 trực thăng hải quân MH-60R/S ( khả cất cánh lúc biển cấp 4 ) cho các công tác cứu hộ hay chống tàu ngầm (ASW)
1 trực thăng vô tuyến MQ Fire Scout
4 hệ thống nhiễu nhầm : hỏa châu SRBOC
1 đại bác  Mk110 Bofors 57mm ( tầm sát thương 17km - hỏa lực : 4 viên/giây – nạp sẵn : 120 viên , sơ tốc
nòng : 1,020m/giây )
2 đại liên đôi .50 Cal ( tầm sát hại 2km – hỏa lực : 850 viên/phút –sơ tốc nòng : 885,1m/giây )
2 hệ thống tên lửa  phòng vệ : SeaRAM ( vận tốc Mach 2.0 - tầm sát thưong 7.5km )
hệ thống tên lửa địa-đối-địa ( 4 hộp X 15 tên lửa/hộp ) mẫu PAM (precision attach munition ) cho công tác chống tàu ( ASuW ) , chống tàu ngầm ( ASW ) hay mục tiêu cố định ( tên lửa cân nặng: 45kg , đường kính : 18cm , chiều dài : 1,50m , tầm sát  thương: 40km).


Pháo 57mm Mk110 Bofors khai hỏa


Bộ phận chuyên viên rađa đa năng
không thám và hải thám mẫu TRS-3D



hệ thống SEARAM

Các nâng cấp và trang bị phụ gồm có: - Hệ thống đại bác liên thanh 76mm (  khổ đạn : 76x900mm - trọng lượng đạn12,3kg - hỏa lực : 120 viên /phút - sơ tốc nòng : 925m/giây - tầm sát thương : 20km )
Hệ thống đại liên thiết kế bên mạng tàu loại nòng hoán chuyển cho 2 loại đạn: . 50 Cal và 40mm
Hệ thống đại bác phòng không chống tên lửa diệt hạm ( khổ đạn 30x 173mm - sơ tốc nòng : 1.189 m/giây - hỏa lực : 4.200 viên/phút - tầm sát thương: 4 km )
Hệ thống ngư lôi  dạng phóng khô ( hỏa lực: 3 trái - ngư lôi cân nặng : 304kg - vận tốc: 29 - 50 hải lý/giờ - tầm sát thương : 23.000m - độ sâu : 25m / 1.000m ),
hệ thống pháo tháp súng cối AMOS bán tự động 2 nòng 120mm ( hỏa lực : 26 viên /phút – tầm sát thương : 14km – tầm trực xạ: 1.550m )
và trực thăng hải quân NH-90 NFH cho công tác cứu hộ và chống tàu ngầm ( ASW ) .

Khinh hạm LCS-1 được trang bị với những hệ thống kiểm soát và rà soát dưới nước cho công tác
thu hồi , và phá hủy thủy lôi . Khác với Khinh hạm LCS-2 , tàu LCS-1 không có khoang tái thiết kế
cho công tác đặc biệt nhưng có kho hàng với diện tích 400m2 chứa thêm 1 trực thăng , khoang
quân lao, khoang kho đạn dược và vũ khí
Ước tính dự án khinh hạm lớp LCS-1 nguyên bản giá trọn gói khoảng 670 triệu USD ( tài khóa 2011 )- Đắt lòi>.<






« Sửa lần cuối: 13 Tháng Chín, 2011, 09:56:14 pm gửi bởi red army » Logged
black_cat1
Thành viên
*
Bài viết: 228


« Trả lời #287 vào lúc: 14 Tháng Chín, 2011, 10:41:13 am »

Lang thang trên mạng thấy mấy con này ngon quá.Nếu hải quân ta mà có những con này bảo vệ ngư dân ở Trường Sa, Hoàng Sa thì bọn ngư chính và hải giám có mà khóc thét Grin

Tuần tuần dương lớp Legend






- Tuần dương hạm lớp Legend có chiều dài : 127m
chiều rộng : 16m
độ mớn nước : 6,4m
- Trọng tải đầy đủ : 4.500 tấn , trang bị với 2 động cơ MTU 20V1163 công suất 9.655 mã lực / máy, thiết kế
đồng bộ với 1 tuabin GE LM2500 công suất 30.565 mã lực theo dạng CODAG cho phép lướt sóng Cheesy liên tục với tốc độ 52 km/giờ
- Tầm hoạt đông : 12.000 hải lý , tốc độ hành trình : 35 km/giờ cho một hải trình 90 ngày trên biển .
Thiết kế tàu gồm cả khả năng sẵn sàng cho trang thiết bị phòng chống sinh hóa và phóng xạ .
Tổng số thủy thủ đoàn gồm : 20 sỹ quan ; 62 thuyền viên , tổ đặc nhiệm : 18 người ; tổ phi công và cơ khí : 10 người.

Tuần dương hạm lớp Legend được trang bị với : - hệ thống rađa kênh X và S , hệ thống rađa tác
chiến phòng không EADS TRS 3 chiều , hệ thống kiểm soát khai hỏa SPQ-9B , hệ thống rà soát
tín hiệu và hồng ngoại Mk46 , hệ thống chỉ huy liên kết ( Integrated Bridge System ) , hệ thống cân
bằng GyroFin stabilizer ( thiết bị phụ ) , hệ thống hải hành Navigat 21000 và MK 39 MOD 3A Ring
Laser Gyro ( RLG ) .  
Hệ thống vũ khí và khí tài tự vệ gồm :  -1 pháo liên thanh Mk110 Bofors 57mm ( tầm sát thương : 17km với hỏa lực : 4 viên/giây , nạp sẵn : 120 viên - sơ tốc nòng : 1.020m/giây )
- 4 đại liên .50 Cal ( tầm thương 2km, tốc độ : 850 viên/phút – sơ tốc nòng : 885,1m/s)
- khí tài chống tên lửa diệt hạm Mk53 NULKA  
- 1 hệ thống pháo  phòng không ( khổ đạn 30x173mm - sớ tốc nòng : 1.189 m /giây - hỏa lực: 4.200 viên/phút - tầm sát thương : 4 km )
 - 2 xuồng máy truy kích mẫu Zodiac Hurricane Commando
 -  1 trực thăng MH-60T ( khả năng cất cánh lúc biển cấp 4 )
 -  4 loa nhiễu sóng siêu tần LRAD 1000Xi  

Trong phiên bản nâng cấp gồm các trang thiết bị phụ như :  hệ thống phân tích và thu nhận không ảnh GeoINT ,  hệ thống dữ liệu rà soát mẫu tàu ( ship identification sytem ) ,  hệ thống tên lửa phóng thẳng VLS ( 1  hộp X 15 tên lửa nhiều loại ) cho công tác chống tàu hay chống tàu ngầm hay mục tiêu cố định ( tên lửa cân nặng : 45kg - đường kính : 18cm - chiều dài : 1,50m - tầm sát thương 40km )
 4 đại liên đôi .50 Cal , 2 hệ thống pháo phòng vệ tầm nhiệt Oto Melara 30 x 113mm ( sơ tốc nòng : 805m/giây - hỏa lực : 700 viên/phút - tầm sát thương: 4.500m )  , xuồng hải kích trang bị chống đạn ,  trực thăng hải quân NH-90 NFH ,  trực thăng vô tuyến , hệ thống lọc khí phòng chống chiến tranh sinh hóa và phóng xạ ( CBRN ) .

Ước tính giá của một tuần dương hạm lớp Legend nguyên bản trọn gói khoảng 480 triệu USD ( tài  khóa 2011)



Trang bị kiểu đấy với cái giá 480 triệu $ thì thà đi mua Project 22356 cho rồi, mua con này phí tiền.
Logged
red army
Thành viên
*
Bài viết: 16


« Trả lời #288 vào lúc: 14 Tháng Chín, 2011, 11:39:46 am »

Tàu chiến duyên hải lớp LCS-2





LCS-2 (Littoral Combat Ship) là mẫu tàu mới hạng 3.000 tấn , và đáp ứng cho các dự án chiến thuật phòng chống khủng bố dạng thâm nhập , đặc biệt là các khu vực quần đảo, cửa biển , khu vực giếng dầu khí , với nhu cầu của một tàu tuần cận duyên có khả năng truy kích vùng nước cạn , xuất kích tổ đặc nhiệm bố trí trên loại xuồng truy kích , máy bay trực thăng tấn công, đồng thời khả năng triển khai trang bị các công cụ rà soát , thủy lôi và trục vớt. Lớp LCS với các trang thiết bị và công nghệ hiện đại cho công tác rà soát trên mặt và dưới nước, bố trí hỏa lực tự vệ và hỗ trợ, hệ thống triển khai xuồng tác chiến cao tốc, và máy bay trực thăng mẫu ASuW.
  Nổi bật nhất của lớp kinh hạm là thiết kế tàu 3 thân ( trimaran ) với mã số LCS-2 chiều dài : 127m , chiều ngang : 31,6m, độ mớn nước : 4,5m , trọng tải hải hành2.784 tấn
 
 Hệ thống động cơ thiết kế CODAG gồm 2 máy MTU hệ 8000 thiết kế đồng bộ với 4 hệ thống thủy phản lực xoay chiều đa dạng mẫu Azimuth và 4 máy điện với tổng công suất 400kW . Tàu có khả năng vượt trên 44 hải lý /giờ ( 81km/giờ ) , tầm hoạt động : 4.500 hải lý với tốc độ hành trình 30 hải lý/giờ, thủy thủ đoàn gồm 8 sỹ quan và 32 thuyền viên.  


Kết cấu bố trí của LCS2

Nguyên bản khinh hạm LCS-2 được trang bị với:  - hệ thống rađa TRS 3 chiều kỹ thuật
số thiết kế đồng bộ Satcom
- hệ thống Sonar và camera rà soát động tác dưới nước
- hệ thống trực thăng vô tuyến
- hệ thống rà soát truyền tin và định vị COMINT
- hệ thống camera an ninh trên toàn tàu .

  Hệ thống vũ khí và khí tài tự vệ của khinh hạm LCS-2 gồm : - 2 trực thăng hải quân mẫu MH-60R/S ( khả năng cất cánh lúc biển cấp 4 ) cho các công tác yểm trợ hỏa lực hay chống tàu ngầm ( ASW )  
- 4 hệ thống nhiễu nhầm: hỏa châu SRBOC
- 1 đại bác Mk110 Bofors 57mm ( tầm sát thương 17km – hỏa lực: 4 viên/giây – nạp sẵn: 120 viên - sơ tốc nòng: 1.020m/giây )
- 4 đại liên đôi .50 Cal ( tầm sát thương 2km – hỏa lực: 850 viên/phút/súng – sơ tốc nòng: 885,1m/giây )
- 4 hệ thống tên lửa  rào chắn : SeaRAM ( vận tốc Mach 2.0 - tầm sát thương 7.5km ) ,
- 1 hệ thống pháo phòng không Phalanx 20mm ( 6 nòng - hỏa lực : 2.000/3.500 viên/phút  khả năng tác xạ liên tục : 1.000 viên -  tầm sát thương : 7 km ).

Khoang kho có diện tích 1.100m2 có thể tái thiết kế cho các công tác đặc biệt gồm triển
khai lực lượng thủy quân lục chiến ( 2 đại đội ), công tác di tản với 2 chuyên cơ V-22 Osprey (Hải Âu) , công tác cứu thương cho một bệnh xá 50 giường có phòng giải phẩu , hay công tác sơ tán khẩn cấp cho 400 người.

Các trang thiết bị và chuyên xa cho các mission module cho các lực lượng thủy quân lục chiến bao gồm (nhưng không nhất thiết) : - 8 xe bọc thép tấn công mẫu Stryker
- 4 HMMWV mẫu yểm trợ hỏa lực
- 4 xuồng máy truy kích ( chiều dài 12m, 250 mã lực )
- 4 thủy vận xa hỗ trợ EFV
- 2 tàu cao tốc vũ trang Riverine CB-90 .

Hệ thống vũ khí và khí tài tự vệ của khinh hạm LCS-2 gồm : - 2 trực thăng hải quân mẫu MH-60R/S ( khả năng cất cánh lúc biển cấp 4 ) cho các công tác yểm trợ hỏa lực hay chống tàu ngầm ( ASW )  
- 4 hệ thống nhiễu nhầm: hỏa châu SRBOC
- 1 đại bác Mk110 Bofors 57mm ( tầm sát thương 17km – hỏa lực: 4 viên/giây – nạp sẵn: 120 viên - sơ tốc nòng: 1.020m/giây )
- 4 đại liên đôi .50 Cal ( tầm sát thương 2km – hỏa lực: 850 viên/phút/súng – sơ tốc nòng: 885,1m/giây )
- 4 hệ thống tên lửa  rào chắn : SeaRAM ( vận tốc Mach 2.0 - tầm sát thương 7.5km ) ,
- 1 hệ thống pháo phòng không Phalanx 20mm ( 6 nòng - hỏa lực : 2.000/3.500 viên/phút  khả năng tác xạ liên tục : 1.000 viên -  tầm sát thương : 7 km ).

Khoang kho có diện tích 1.100m2 có thể tái thiết kế cho các công tác đặc biệt gồm triển
khai lực lượng thủy quân lục chiến ( 2 đại đội ), công tác di tản với 2 chuyên cơ V-22 Osprey (Hải Âu) , công tác cứu thương cho một bệnh xá 50 giường có phòng giải phẩu , hay công tác sơ tán khẩn cấp cho 400 người.

Các trang thiết bị và chuyên xa cho các mission module cho các lực lượng thủy quân lục chiến bao gồm (nhưng không nhất thiết) : - 8 xe bọc thép tấn công mẫu Stryker
- 4 HMMWV mẫu yểm trợ hỏa lực
- 4 xuồng máy truy kích ( chiều dài 12m, 250 mã lực )
- 4 thủy vận xa hỗ trợ EFV
- 2 giang đỉnh tiêm kích Riverine CB-90 .

  Các nâng cấp và trang bị phụ ( có phí ) gồm có: - hệ thống đại bác liên thanh 76mm ( khổ đạn : 76x900mm - trọng lượng đạn : 12,3kg , hỏa lực : 120 viên/phút - sơ tốc nòng : 925m/giây - tầm sát thương : 20km )
- hệ thống đại liên thiết kế bên mạng tàu, nòng hoán chuyển cho 2 loại đạn: .50 Cal và 40mm
- hệ thống pháo phòng không chống tên lửa diệt hạm ( khổ đạn 30x 173mm - sớ tốc nòng : 1.189 m/giây - hỏa lực : 4.200 viên / phút - tầm sát hại : 4 km )
- hệ thống tên lửa địa-đối-không và địa-đối-địa dạng VLS ( vertical launcher system )
- hệ thống ngư lôi dạng phóng khô ( hỏa lực : 3 trái - ngư lôi cân nặng : 304kg - vận tốc : 29 - 50 hải lý/giờ- tầm sát thương : 23.000m - độ sâu: 25m / 1.000m )
- hệ thống pháo tháp súng cối AMOS bán tự động 2 nòng 120mm ( hỏa lực :26 viên/phút – tầm sát thương : 14km – tầm trực xạ : 1.550m ) .

  Ước tính dự án khinh hạm LCS-2 nguyên bản giá trọn gói khoảng 500 triệu USD ( tài khóa 2011 ). Hiện nay hải quân hoàng gia Anh , hải quân Singapore đang thử nghiệm khinh hạm LCS-2 ,  hải quân Mã lai , hải quân Nhật , hải quân Ấn Độ và hải quân Úc vừa trình ý định cho nhu cầu thử nghiệm mẫu tàu này .

Hệ thống Phalanx

Hệ thống SRBOC

Trực thăng MH60 và MQ 8 Firescout trang bị trên các khinh hạm lớp LCS1,2

Quang cảnh phòng chỉ huy của LCS 2.

Ơ sao topic của em lại chui vào trong topic này ạ Huh



« Sửa lần cuối: 14 Tháng Chín, 2011, 12:01:57 pm gửi bởi red army » Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #289 vào lúc: 14 Tháng Chín, 2011, 12:07:55 pm »

Vì mở chủ đề (topic) mới không phù hợp, không có định hướng thảo luận, trong khi xóa đi lại... tiếc Grin.
Vì thế tớ gộp luôn vào đây! Grin
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM