Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 04 Tháng Mười Một, 2026, 05:17:05 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Truyện ngắn - Tạp chí Sông Hương  (Đọc 75537 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #40 vào lúc: 20 Tháng Giêng, 2011, 02:46:15 pm »

Gió qua đồng chó ngáp

NHẬT HÀ


Lần đầu về thăm Đồng Tháp Mười, thú thật, tôi thấy có nhiều điều rất lạ, từ mảnh đất, sông nước, cây cối, chim muông tới các địa danh và nhất là con người.

Chiếc xuỗng gắn máy đuôi tôm chở chúng tôi băng băng xé sóng trên dòng Vàm Cỏ Tây xanh biêng biếc, lấp loáng mây trời và in bóng hàng tràm gió thướt tha, huyền ảo, lung linh. Xuồng chạy độ nửa giờ thì quẹo vô con kinh ngầu đỏ phù sa.

Hai bên bờ kênh, xanh um những rặng đu đủ, trái như đàn heo núc ních treo chi chít suốt từ thân lên ngọn; những hàng chuối già ngả nghiêng bạt gió, quẫy có tới hàng hai ba chục nải, trái to như ngón tay ông Hộ Pháp... Thú vị nhất là chim. Chim bay hàng đàn hàng lũ, nhiều con to bằng vốc tay bình thản vô tư nhởn nhơ khắp trên bờ, dưới nước mò bắt cá tôm. Thấy tiếng động lạ chúng lập tức bay vù lên trời, kêu vang loạn xạ. Nào là cồng cộc, cốc đen, giang sen, bồ nông, cò trắng, cò bợ, cò ma...

Năm Đức, cán bộ phòng văn hóa hướng dẫn đoàn chúng tôi đi thực tế, kiêm luôn tài  công xuồng máy. Anh  rất xứng đáng là một thổ công, đồng thời là một nhà động vật học có tầm cỡ. Chúng tôi hỏi gì anh đều trả lời rất rành rẽ, rất say sưa!

Nhìn thấy một đôi chim rất to, mỗi con nặng cỡ năm sáu kilô và khi thấy động chúng phải chạy lấy đà như máy bay tới cả chục mét rồi mới giang cánh bay lên, kêu quác quác, nhà thơ nữ Ánh Tuyết liền hỏi:

- Anh Năm ơi, chim gì mà bự tổ chàng vậy?

Năm Đức nở nụ cười láu lỉnh trên khuôn mặt rám nắng đáp:

- Chim "già đẫy" đó, loài chim hay bắt cá tôm bên bờ nước. Chà, lâu lắm rồi mới lại thấy chim này bay về, quả là đất lành chim đậu! Một con này mà mần thịt, xé phay, trộn gỏi... mười thằng nhậu cứ là... quắc cần câu!

Ánh Tuyết nhếch mép cười tỏ vẻ khinh khi cánh đàn ông chúng tôi nghe thấy nhậu là sáng mắt, sáng lòng.

Tôi quan tâm nhiều tới đất đai. Nhìn hai bên bờ ven lòng kênh thấy đất trắng xóa, tôi hỏi, Năm Đức hào hứng trả lời:

- Đây là loại trầm tích Halogen, thường kêu là đất phù sa mới, thuộc vùng đất thấp, thấp hơn mặt biển. Thành phần chủ yếu là đất sét chứa nhiều sắt nhôm rồi đến cát vàng và bùn đen, kiếm cả ngày không thấy một hòn sỏi hay hòn cuội. Đất này phải thau chua, rửa mặn mới làm lúa được. Trung ương đào cho con kinh mới này, dẫn nước ngọt từ kênh Hồng Ngự vô đó. Ngày xưa, đất này chỉ có lúa ma. Đồng đất này tên là "cánh đồng Chó Ngáp" mà anh.

- Cái tên "chó ngáp" nghe kỳ kỳ, chắc là có sự tích gì chăng, anh Năm?

Hoàng Đô liền hỏi.

- Có chớ... nhưng mà thôi, tới xã, hỏi ông Ba Long kể cho nghe.

- Thế cái tên Đồng Tháp Mười sự tích ra sao - tôi hỏi.

- Vầy nè... ngày xửa, ngày xưa dân miền Trung dạt vô đây sanh cơ, lập nghiệp, khai khẩn đất hoang theo lệnh của triều đình nhà Nguyễn. Họ đào thấy mấy cái tháp bằng gốm đổ nát nằm lẫn với sình. Đếm đi đếm lại cái nào cao nhất cũng chỉ đến mười tầng, vậy là họ kêu luôn khu này là Đồng Tháp Mười. Mấy ông già sống cách nay hai ba trăm năm thế mà khôn, thấy chi kêu nấy! Trên Sài Gòn có ngã ba Chú Ía, chắc là cha nào ngồi ỉa, các ông già nhìn thấy, đặt tên luôn, rồi sau mới kêu chệnh ra cho coi mòi văn minh, lịch sự.

Bọn tôi phì cười, Ánh Tuyết thì cười ngặt nghẽo, mặt đỏ tía. Nắng mỗi lúc một chói chang. Mặt trời đã lên ngang đỉnh đầu, không khí nóng lên hầm hập đến nỗi Năm Đức phải cởi phăng áo quãng ra sàn phơi ra bộ ngực chắc lẵn, đen đúa.

- Chừng mấy chục phút nữa tới xã biên giới Bình Phong, hả chú Năm?

Tôi lại nôn nóng hỏi.

- Thì cứ yên tâm đi cha, chi mà nôn dữ vậy? Làm văn chương phải đi như vậy mới có cái mà viết chớ? Cứ ở thành phố, đi nhà hàng bia ôm hoặc o bế bà xã, có mà... - Năm Đức nói rồi nháy mắt với Ánh Tuyết - kỳ này nữ thi sĩ có chùm thơ bất tuyệt là cái chắc!

Ánh Tuyết nở nụ cười rất duyên cho hằn in hai lúm đồng tiền. Năm Đức lại ồn ã nói:-Ôi thằng tình nguyện chết chìm trong hai lún đồng tiền của em đó, Ánh Tuyết à!

- Thôi đi cha, tán vừa phải thôi nha. Người ta gái một con rồi đó - Hoàng Đô vội xen vô - nhưng mà phải công nhận gái một con trông mòn con mắt, anh Năm nhỉ?

Ánh Tuyết đám vô lưng Hoàng Đô thùm thụp. Tôi nói:

- Kể ra có chú Năm tếu vậy mà vui, đỡ ngán đường xa, nắng nóng.

- Nhằm nhò gì, mấy cha chưa gặp ông Ba Long đó, bá láp bá xàm hết cỡ... Ông nhậu hết mình mà làm bí thư xã cũng hết chỗ chê! Mấy lần Huyện định rút ông lên, ông hổng chịu bảo: "Tôi xa dân không được, xa cánh đồng Chó Ngáp là không chịu nổi!". Vậy đó, chưa thấy ai kỳ cục như ông làm quan to hổng chịu, tối ngày bám trụ ở cái vùng đất giáp biên này, ghê thâý mồ!

Tôi còn đang ngẫm nghĩ về lời Năm Đức thì nhìn thấy từ xa một cây cầu khỉ bắc ngang dòng kênh và lá cờ đỏ sao vàng tung bay phất phới trên mấy nóc nhà phibrô xam xám.

Và hình như Năm Đức đã phôn lên từ trước nên tôi thấy có gần chục anh chị em  đứng lố nhố nơi cửa trụ sở chờ đón chúng tôi. Tôi nhảy cò lên bờ, cúi đầu chào mọi người

Một ông chừng ngoài năm chục tuổi, dáng quắc thước, cặp mắt sáng, vận quần âu, áo sơ mi trắng, đầu đội nón nỉ tiến lên, xiết chặt tay tôi, rồi nói oang oang:

- Xuồng ghe chi chạy như rùa bò vậy hả, thằng Năm? Tao biểu mấy đứa làm đồ nhậu cá lóc nướng trui, giờ nguội ngơ!

- Dạ, thưa chú Ba và mấy anh - Năm Đức đang lui cui, từ xuồng nói lên - con nói nhà dân sáu giờ cho mượn xuồng, mà nó còn chở rau ra chợ, phải chờ hoài hơn tiếng sau. Rõ là "Long An trung dũng, kiên cường, toàn dân đánh giặc mượn xuồng không cho"

Mọi người phá lên cười trong cái gió lồng lộng từ phía đông thổi tới. Nghe hai tiếng "chú Ba", tôi hiểu rằng vậy là đã gặp anh Ba Long, con người huyền thoại!

Sau gần nửa giờ làm thủ tục thì tiệc nhậu bắt đầu. Cả chục người ngồi quây quần quanh chiếc bàn tròn, la liệt đồ ăn.

Anh Ba Long trịnh trọng đứng lên khai mạc:

- Bữa nay, xã ta được vinh dự đón tiếp các nhà văn, nhà thơ. Nào, ta nâng ly chúc sức khỏe các đồng chí... vừa nhậu lai rai ta vừa tranh thủ làm việc nhà, cần phỏng vấn các đồng chí cứ tự nhiên nha?

Chúng tôi cùng đứng lên cụng ly lanh canh. Ba Long cầm chung rượu, uống một nửa rồi đưa qua tôi, người lớn tuổi nhất trong đoàn.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #41 vào lúc: 20 Tháng Giêng, 2011, 02:47:54 pm »

Chiếc chung được xoay một vòng, anh Ba cuốn cá lóc, rau vô bánh tráng, chấm mắm nêm, nhai ngon lành rồi cười ha hả, anh nói:

- Tao đố mấy cha biết vì sao tao có tên Ba Long.?

- Sao mà biết được chú Ba, mỗi người đều có bí mật của riêng mình, Bao Công đã nói vậy chú - Ánh Tuyết nhanh nhẩu đấp.

- Chà, con này giỏi, nhớ "giai" đó. Bao Thanh Thiên mặt đen xì mà xử án hết chỗ chê! - Ba Long cầm ly rượu uống cái "trút", rồi khà lên và tiếp - ngày má tao đang mang bầu tao thì ông già tao ra đồng, má tao khóc thảm thiết: "Anh Bẩy ơi, anh mới để cho em được ba lon bắp... mà anh đã bỏ má con em anh đi... đau xót lòng em biết bao!"

Mọi người rộ lên, Ánh Tuyết mặt đực ra như ngỗng ỉa, tôi phải ghé tai giải thích, nghe ra, nàng cười như nắc nẻ.

Anh Ba khoát tay cho mọi người trật tự, rồi lại nói:

- Vậy là khi sanh ra tao, má tao đặt tên luôn là Ba Lon, tới khi đi bộ đội, tao phải hối lộ thằng trung đội trưởng một gói thuốc thơm nó mới cho thêm con "dê" (ý nói chữ g) vào sau tên tao, mới thành tên lịch sử như vầy.

Mọi người lại cười ran. Nhân cơ hội mọi người không để ý, tôi nhẹ đẩy chung rượu qua Hoàng Đô, định trốn một tua, nào ngờ Ba Long cảnh giác cao, kiểm soát kỹ, nói:

- Hà, mày quê ở đâu?

- Dạ, ngoài Bắc, anh Năm.

- Cụ thể ở tỉnh nào?

- Dạ, Hà... Nội.

- Vậy mà tao cứ tưởng mày quể An-Giang chớ, uống rượu mà cũng tính "ăn gian" hả?

Không khí bàn nhậu càng lúc càng rộn ràng, xôm tụ. Rồi thấy tôi cứ ngồi ngó lơ ra cánh đồng trước mặt, Ba Long lại bảo:

- Uống đi, nhà văn, tới rồi đó!... Chiều tao đến dẫn bọn bay đi tham quan cột mốc biên giới, chi mà cứ ngồi ngó lơ hoài. Cánh đồng Chó Ngáp này thì có chi đáng ngó. À mà bọn bay cho biết điển tích "cánh đồng Chó Ngáp" không?

Năm Đức nháy sang tôi, ý chừng nói: ổng bắt đầu bốc lên đó, rồi khích:

- Kể đi chú Ba, thật đúng là trang huyền thoại, nghe cả chục lần không ngán!

- Như vầy nè... Năm 19... gì ấy, quên mẹ nó mất rồi, thôi được, cho qua năm đó, đại đội bộ đội địa phương của tao oánh nhau với một tiểu đoàn ngụy tại kinh Cả Cối, bên xã Hưng Điền. Bọn nó trang bị tận răng lại có máy bay trực thăng yểm trợ.

Quần nhau nửa ngày thì xác cả hai bên đã phơi đầy mặt ruộng, bờ kênh. Tao bị dính đạn vô bắp đùi, máu chẩy lênh láng, nhức nhối quá chừng. Được lệnh rút, thằng Bẩy Hồng dìu tao khập khễnh đi. Bất ngờ bọn nó đưa máy bay trực thăng xuống, đổ quân chặn đầu, rồi hốt cả tao và thằng Bẩy lên. Về tới Sài Gòn, chúng băng bó sơ sơ cho tao, rồi đẫy ra đảo Phú Quốc nhốt. Ở ngoải, bộ đội mình có cả ngàn, Bắc, Trung, Nam có hết. Một năm ở ngoài đảo, sống cảnh tù đay cực khổ, tao ngán quá chừng. Một đêm tao bàn với năm anh em cùng lán trốn. Xưa tao là tay chài và bơi có hạng ở sông Vàm Cỏ Tây mà. Anh em nhứt trí, vậy là bọn tao ra bến cướp thuyền, đợi gió lên, căng buồm chạy. Nào ngờ sau một đêm, rơi đúng lên đất Căm pu chia. Ngày đó dân Căm pu chia tốt lắm, họ cưu mang bọn tao  và chúng tao đêm đi, ngày thì ngủ bờ ngủ bụi, ăn cả chuột, rắn nướng... ròng rã hơn tháng trời thì tới được cái chùa vàng bên kia cột mốc chiều bọn bay ra sẽ thấy. Năm anh em chia tay nhau, ôm nhau, rơi nước mắt... Chờ đêm xuống, tao vượt qua đường biên, tìm về cánh đồng nơi có vợ và ba đứa con, tao đã mấy năm xa vắng. Nỗi nhớ lúc đó sao mà cứ cồn cào gan ruột!

Về tới ruộng nhà mình, tao run quá, cứ hình dung sắp được ôm vợ mà sướng run lên... Tao bò vào tới cửa, lắng nghe tiếng vợ con ngáy pho pho, rồi giường tầm vông kêu cót két. Tao mới nhè nhẹ la lên:

- Hường, Hường ơi, anh về nè, Ba Long về nè!

Vợ tao kém tao hai tuổi, đẹp gái nhất vùng này. Một hôm tao ra sông Vàm Cỏ Tây bắt cá, khi tới gần một cây cầu bắc từ cửa một ngôi nhà nghiêng xuống sông thì tao hít một hơi không khí cho tràn đầy hai buồng phổi, rồi lặn xuống. Lúc tao trồi lên, hai tay cầm hai con cá bự tổ chảng thì... Trời đất! Tao nhìn thấy một cô nàng da dẻ trắng phau phau, vận quần đen, cởi trần đang ngồi trên cầu xối nước ào ào. Từ một gốc tràm, tao mới lặn ra sau lưng nàng thiệt nhẹ nhàng, rồi trồi lên, nói: "Nè, cho em hai con cá nè, đem về nấu canh chua cho ba nhậu". Nàng tưởng tao là ma ôm quần chạy té. Một lát thì ông già của nàng vác búa ra, tao hoảng quá, mới giai bầy rằng nhà nghèo quá, phải đi mò cá, bán kiếm tiền mua gạo, chớ không có cố ý ghẹo con gái nhà lành. Tao tưởng ổng cho tao một búa bể đầu chớ, nào ngờ ông vứt búa đi, rồi cười khùng khục, kêu tao vô nhà. Tao cứ vậy với cái quần cụt và hai tay hai cá đi theo ổng. Không hiểu sao tao không chạy, chớ sức tao mà chạy, chấp ba ổng không đuổi kịp. Vừa đi ổng vừa bảo tao:

- Mày đã coi được da thịt con gái tao, tao cho mày luôn, chịu không? Nếu không chịu... tao giết! Trời đất, ông muốn gả con gái cho người ta mà nói giọng ông nội vậy đó! Tao mới ngẫm nghĩ rất lung lừa thì mình cũng tới tuổi rồi, cưới vợ được rồi... Vậy  là tao nhẹ gật đầu. Trưa đó, tao nhậu với ông chết bỏ. Nàng thì đứng từ xa cười khúc khích. Mấy hôm sau, tao kêu bà già tao mang rượu tới nhà nàng và dắt nàng về luôn, khỏi phải vu qui với tân hôn chi hết ráo! Thế là thành vợ chồng vui vẻ hạnh phúc ra phết! Vợ tao được cái đẹp người, lại có hai bầu vú to như hai trái dừa Xiêm, lại ngoan nết và hay lam, hay làm, chớ không ngổ ngáo như tao. Rồi nàng đẻ sòn sòn cho tao ba đứa con, hai trai một gái. Thằng lớn tao giành quyền đặt tên cho nó là thằng Gạo. Lon thì phải có gạo chớ?... Rồi chiến tranh bùng nổ và tao đi bộ đội lại vì nghe mấy đứa con gái trong xóm hát bài "Lá còn xanh như bao anh còn trẻ"... nghe đi tòng quân mà bắt ham!
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #42 vào lúc: 20 Tháng Giêng, 2011, 02:50:38 pm »

Ngụm một ngụm nước đá lấy hơi, Ba Long lại nói:

- Tới khúc nào rồi nhỉ?

- Tới khúc Hường ơi, anh về nè - Hoàng Đô nhắc vở.

- Ủa, phải, một lát thì nàng ngọ nguậy rồi ra khỏi giường, đốt đèn cầy lên, thắp nhang lên và tới bên bàn thờ khấn khứa. Nàng khấn như vầy nè: "anh Ba Long sống khôn, chết thiêng phù hộ cho em tránh hòn tên mũi đạn, được sống mà nuôi hai thằng con trai của anh lớn lên, đi bộ đội trả thù cho anh...

Nghe vậy tao tức muốn đỏ con mắt, bèn vung chân đạp tung cửa và nhào dô ôm lấy nàng... Có lẽ nàng thấy đầu tóc tao bù xù như tổ quạ, râu ria xồm xoàm như tướng cướp và hôi như cú, nàng mới đẩy mạnh tao ra làm tao loạng chạng xuýt dính vô tường. Tao mới nói:

- Hường, em mong tôi chết lắm hả? Để lấy chồng bé hả?

Nghe giọng nói, nàng nhận ra tao liền chạy đến ôm chặt lấy tao như thể cả đời chưa bao giờ được ôm! Tao nghe xương sống, xương sườn "răng rắc" nên mà bữa đó tao không bị gẫy cái xương nào!

Sau khi rời tao ra, nàng nhễu nhão khóc:

- Anh ơi, trên người ta gởi giấy báo tử của anh về cho em... em cứ ngỡ hôm nay hồn ma anh hiện về, hu... hu... hu!

Tao bật phì cười thì bất ngờ con chó Mi-lu nhà tao từ đâu xuất hiện, xông tới đớp vô giò tao, rồi nhay nhay quần tao vốn đã te tua tơi tả. Tao mới điên tiết lên, sẵn con dao găm dắt sau lưng tao cho nó một nhát direct vô cuống họng thế là nó lăn ra, "ăng ẳng", rồi ngáp ngáp ba cái, rồi tắt thở.

- Quân dã man, nó làm gì mà anh giết nó?! Vợ tao hét lên. Tao quăng con dao nhểu máu vô gầm giường, đứng ngẩn nhìn con chó. Bậy thật! Xưa tao đi đâu về, nó cũng ngoáy tít cái đuôi mừng rỡ. Thế mới biết, con người ta khi bị kích động, tâm thần bất ổn, khùng lên bất tử thì không có chuyện chi không dám làm!

Ân hận thì đã trễ! Lúc đó ba đứa con tao từ buồng trong mới ngọ nguậy. Tao giựt mình nhận ra là mình vẫn còn có ba đứa con. Tao lao vô ôm lấy ba con mèo, con chuột và hôn hít mặc cho chúng khóc thét.

- Rồi sau sao nữa anh Ba? Tôi lại hỏi.

Anh Ba kéo cái đĩa thuốc ra tới gần, rê một điếu, bật quẹt hút, phả khói um lên, rồi lại tiếp:

- Rồi sau Tỉnh ủy về đây lập căn cứ, một ông gặp tao hỏi: "vùng này kêu là vùng gì, chú?". Tao mới nói liền: "vùng cánh đồng Chó Ngáp". Vậy là thành tên, nghe mới sướng lỗ tai không chớ!

Tất cả lại cười ồ. Ánh Tuyết gợi ý tiếp:

- Chuyện tình của chú Ba coi bộ đẹp tựa một bài thơ!

- Tao thì chẳng biết thơ phú là gì, không như cha Bẩy Hồng bạn tù Phú Quốc của tao làm bí thư huyện ủy bên huyện nọ. Nó khoái làm thơ Đường lắm. Một hôm nó qua nhà tao chơi, đọc thơ cho cả chục người nghe hay ra phết! Nó bảo sẽ đọc một bài thơ Đường. Mọi người im lặng nghe. Và nó đọc:

Chào mào vui hót cành cam,
Gió reo trên nẻo đường làng em ơi!


Ánh Tuyết bật phì cười, phụt cả cơm ra nền nhà, đến là mắc cỡ... Khoảng hai giờ chiều thì cuộc nhậu ngưng, Ba Long bảo chúng tôi đi nghỉ, năm giờ sẽ dẫn đi thăm cột mốc. Nằm trên giường tầm vông có đủ chiếu gối mà tôi không sao chợp mắt được, cứ nghĩ tới chuyện anh Ba kể, sao mà hay quá, sống động quá!... Trong khi nằm giường bên anh Ba Long đã ngáy khò khò. Tôi thầm nghĩ: anh thiệt là một con người tiêu biểu của vùng đất Phương Nam, vùng Đồng Tháp Mười này: cương trực, coi khinh cường quyền, bạo lực, sống điệu nghệ, hào phóng hết mình và rất mực thủy chung.

Chốc sau, một cô gái chừng mười lăm tuổi có khuôn mặt chữ điền khá giống anh Ba Long bước vô gật đầu chào tôi, rồi nhẹ ngồi xuống giường kêu: "Ba, Ba!". Ba Long mở choàng mắt dậy nắm tay cô gái, nói: "Có chuyện chi vậy gái?". "Chủ nhật này là giỗ má con". Kỳ này chẵn mười năm má con đi xa. Con lên xin ba ít tiền về mua đồ. Ba định là mấy mâm hả ba?". Ba Long ngồi nhỏm dậy, đưa bàn tay thô nháp vào túi quần lấy ra cái ví rồi rút ra xấp tiền dúi vô tay con gái "Làm năm mâm! Con gái về đi, chiều thứ bẩy cha về. Hôm nay mới thứ năm". Cô gái thong thả bước ra. Tôi liền nhỏm dậy: "Con gái anh à". Ừa, mười lăm, học lớp 9. Tôi cười cười: "Con gái giống cha giầu ba đụn!"

Anh bảo: "Làm cán bộ giầu mẹ gì. Gà trống nuôi con, nuôi cho ba đứa ăn học muốn hụt hơi!". Không nén được xúc động, tôi xin lỗi anh, hỏi: "Chị mất rồi à, mất trong trường hợp nào, anh Ba".

- Năm 1978 đó, chú à. Một năm thật là khủng khiếp! Đang mùa gặt lúa, dân ta ra đồng cả trăm người người thì bất thình lình đại bác rồi các cỡ súng lớn, nhỏ từ bên kia biên giới bọn Pônpôt bắn sang như mưa. Từng đám khói đen và lửa bùng lên khắp các ruộng và rừng tràm. Dân ta mạnh ai nấy chạy như vịt đàn, vô cùng hoảng loạn chẳng biết chuyện gì đang xẩy ra. Ở trụ sở này mình phải hét anh chị em nhẩy đò xuống kênh lánh nạn. Chúng nó bắn suốt từ trưa tới chạng vạng tối thì ngưng. Chừng bẩy giờ tối thì thằng Gạo hớt hơ hớt hải đạp xe tới hét toáng lên: Ba ơi, má chết rồi! Vì sao chết? Má cùng mấy dì đang cắt lúa thì bị đại bác bắn qua. Khi con ra đồng thì má và mấy dì đã chết, tay vẫn còn ghì chặt bó lúa. Tôi như đứt từng khúc ruột, loạng choạng đứng dậy cho thằng con chở về nhà. Về tới nhà thì vợ tôi đã được bà con liệm vô cỗ hàng, đậy hờ nắp chờ tôi về. Tôi như điên như loạn lao tới  hất tung nắp ra và tôi quì xuống ôm lấy Hường của tôi, người vợ rất mực thủy chung và rất mực yêu thương của tôi! Vậy là mãi mãi tôi đã phải rời xa Hường!...

Bà con kéo tới mỗi lúc một đông, ngỏ lời chia buồn với tôi. Tôi chợt nhớ ra: mình là cán bộ đứng đầu của xã, không thể để bà con mềm lòng. Tôi lau nước mắt, đứng lên và nói với bà con:

- Xin bà con hãy bình tĩnh, chờ sự chỉ đạo của cấp trên. Hãy chôn cất nhang khói cho người đã chết và ráng đào hầm hào tránh đạn...

Ngay đêm đó, tôi chôn cất Hường sau vườn nhà mình, rồi lặng lẽ ra đi, lòng nặng chình chịch như có đá đeo, chú à!

Lát sau anh Hai Hơn chủ tịch ủy ban xã bước vô và anh nói liều: Báo cáo đồng chí bí thư, liên lạc từ ấp 4 vừa chạy lên báo, đêm qua lợi dụng có trăng non đầu tháng, dân bên kia sang cả trăm người, gặt trộm lúa, chỉ một đêm mà chúng gặt hết cả ba hec-ta loại giống mới OM... năng suất cao... Dân đang hoang mang và nóng giận lắm... giờ ta tính sao, anh?

Ba Long nhíu cặp chân mày sâu róm rồi lại từ từ dãn ra, trầm ngâm suy nghĩ, rồi anh nói gọn lỏn: "- Để tao!"

- Có cần triệu tập họp liên tịch ủy ban và chi bộ không anh? - Hai Hơn lại hỏi.

- Thôi, khỏi! - Ba Long khoát tay - chuyện nước sôi lửa bỏng này, triệu tập được mấy ủy viên các cấp lên lại mất cả ngày. Để tao qua gặp xã trưởng của nó!

- Đi vậy có nguy hiểm không, anh Ba. Anh là bí thư... hay là ta cử đồng chí trưởng công an xã qua?

- Không được! Tao biết mặt thằng Xôm-Xít, xã trưởng, để tao đi!

Nói rồi anh Ba cáo lỗi tôi và chạy nhanh về phòng chuẩn bị đi.

Một loáng sau, chúng tôi đã thấy anh chỉnh tề trong bộ complé xanh, cà-vạt đỏ, giầy đen băng qua cầu khỉ, đi nhanh vào giữa cánh đồng xanh ngát.

Tôi chợt thấy nhoi nhói trong tim, thực sự lo lắng cho chuyến đi của anh. Lỡ mà chúng nó nổ cơn khùng bất tử rồi không biết chuyện gì sẽ xẩy ra, làm sao anh về kịp đám giỗ mười năm của chị Hường? Ôi, người cán bộ đứng mũi chịu sào con thuyền dân xã vùng biên giới này thật lắm gian nan!" Phần khác, chúng tôi cứ tiếc hùi hụi chuyến đi ra thăm cột mốc để có cảm hứng thực cho văn và thơ, thế là đành dang dở, biết bao giờ mới có dịp nữa đây?

Suốt hai giờ chúng tôi sống trong tâm trạng hồi hộp, lo lắng... Tới khi hoàng hôn ngả sang mầu tím nhạt và vầng mặt trời đỏ như trái hồng đang ngả dần xuống phía trời Tây thì anh Ba hiên ngang trở về. Chúng tôi lập tức quây lấy anh. Anh cười lớn và kể:

- Bọn bay biết không, tao đi một mình, không mang súng ngắn, tao cũng lo lo. Đi tới gần cột mốc, tao bèn hát váng lên:

"Vì nhân dân quên mình. Vì nhân dân hy sinh. Anh em ơi. Vì nhân dân quên mình. Đoàn vệ quốc chúng ta, ở nhân dân mà ra..."Hát cho đỡ sợ mà hề hề! Tới cột mốc tao đứng khựng lại nhìn sang cái chùa vàng phía bên kia. Sao mà nó hiền lành, dễ thương đến thế, vậy mà... rồi tao ung dung vượt qua đường biên...

Bỗng có sáu thằng lính của nó như từ dưới đất chui lên, chĩa súng AK vô ngực tao, hô "giơ tay lên" và đồng loạt lên qui-lát cái "réc".

Xém chút nữa thì tao teo dái, nhưng rồi tao nghĩ: thế ta là thế đứng trên đầu thù, sợ mẹ gì. Vậy là tao xổ ra một tràng tiếng Căm pu chia bồi. "Tao là xã trưởng xã Bình Phong, qua gặp xã trưởng chúng mày, bàn việc quan trọng! Việt Nam-Cam pu chia "xa-ma-khi" mà, rồi tao cười vang.

Thằng Xôm-xit từ chòi bước ra, súng trễ ngang hông, coi bộ rất ngầu. Nó chửi bới om sòm tụi lính của nó. Thế là các nòng  súng đều chúi xuống. Và tao hiên ngang tiến vô văn phòng của nó làm việc. Hút thuốc ba số năm và bia lon xả láng! Thằng Xôm-xít hứa với tao sẽ cho lính canh ngăn không cho dân qua cắt trộm lúa nữa. Khà khà, muốn bắt cọp phải vô hang nó, phải không các nhà văn?"

Tôi gật đầu ngẫm nghĩ lời anh!

Từng đợt gió hào phóng chạy ngang qua cánh đồng Chó Ngáp, phả vào thân thể chúng tôi từng đợt vô cùng dịu mát!

N.H
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #43 vào lúc: 20 Tháng Giêng, 2011, 03:38:13 pm »

Trạng của tôi

ĐINH DUY TƯ


“Chỉ vì thằng Mỹ, tao mới đến nông nỗi này. Ví như không có hắn, tao thành trạng lâu rồi”.
Đó là tuyên ngôn của một trạng lính. Vâng! Hắn tên là Nguyễn Đăng Lính ở cùng làng với tôi. Hai đứa nhập ngũ một ngày, nhưng ngành nghề có khác nhau.

Khi đồng chí cán bộ tuyển quân hỏi Lính:

- Ở nhà đồng chí làm gì?

Lính đưa hai bàn tay gài hình răng lược, giọng tỉnh như sáo:

- Em ấy à?... Em lái chiếc thuyền máy duy nhất của hợp tác xã đánh cá ven biển. Chiếc thuyền có tải trọng gần hai tấn, một bánh lái ở đằng đuôi.

- Thôi, được rồi! - Cán bộ tuyển quân khoát tay và nhận xét: - Hơi dài dòng...

Cúi đầu vào tờ giấy chi chít chữ trên tay, ông đằng hắng đọc tiếp:

- Ngô Bá Cơ!

- Có tôi! - Tôi lách ra khỏi đội hình, và tiến lên phía trước.

Cán bộ tuyển quân săm soi một lúc.

- Đồng chí ở nhà...

- Tôi làm thợ sửa chữa xe đạp. - Tôi nói và cảm thấy nóng ran trên mặt.

- À, ra thế!

Rồi, người tiếp theo. Đó là một cô gái có khuôn mặt đầy đặn, đôi lông mày như hai vầng trăng khuyết; tóc dài hơn tà áo, đen và mượt như lụa. Cô khẽ cười, đôi má xoay xoáy hai cái lúm đồng tiền. Cán bộ tuyển quân như ngây ra trước vẻ đẹp quyến rũ của con gái nhà lành. Giọng mềm hẳn, anh ta hỏi nghe cứ như chim họa mi hót.

- Ở nhà, em làm gì Lâm?

- Em ấy à? - Lâm dứ dứ ngón chân trên mặt đất: - Học hết lớp mười, em nhập ngũ luôn.

Thế rồi, vì có nghề lái thuyền, nên Lính được vào học lái xe. Tôi chỉ vì sửa xe đạp mà vào nghề thợ. Lâm cũng vào thợ, nhưng học ở lớp điện. Thấy Lính được vào lái xe, tôi cứ buồn cười. Nhà hắn có nốc nác chi mô mà xưng lái thuyền, lái máy... Rõ là trạng! Biết vậy, tôi cũng khai mình là lái máy bay, chắc chắn được tuyển vào phi công cũng nên...

Khi đã về “khung”, Lính mò sang chỗ tôi, và nói:

- Mày dốt bỏ mẹ ấy! Cứ khai đại là lái ca nô, hay tàu thủy có hơn không?

Tôi chống chế:

- Tao không nói láo được!

- Này, - Lính nhìn tôi: - Nói láo mà được việc cũng chẳng xấu đâu! Mai đây, tớ vi vu tay lái vượt dặm đường dài, cậu xo xó ngồi một chỗ mà không buồn à?

Lính đảo mắt nhìn quanh, và hỏi:

- “A mi” xinh tươi của mày đâu rồi?

- Ai? Tôi hỏi lại.

Lính cười.

- Cái Lâm ấy mà! Tao mà như mày là cứ như chuột sa chĩnh gạo đấy nhé.

Tôi vặc lại:

- Chuột sa chĩnh gạo là sa như thế nào? Vừa chân ướt chân ráo đã đòi trăng hoa.

Lính nghiêng đầu như cố lắng nghe lần nữa rồi nói:

- Không trăng hoa thì chết héo, chết khô ở chiến trường này.

Thấy tôi không chút mặn mà, Lính mời tôi điếu thuốc rồi ra về. Tổ xe ở bên kia núi đi theo đường mòn. Xe có đường tránh, người ở đây cũng tìm cho mình một con đường tránh. Nên chi, đang bước, Lính bỗng đứng lại, phía trước có tiếng chân người...Chân ai, chân người hay chân hổ? Lính vẫn nghe kể khu rừng này từng có con hổ thọt độc ác như kẻ khổng lồ trong truyền thuyết xưa. Mấy năm gần đây, bom đạn ùng oàng nó biến đâu mất tăm!

Nhưng không phải hổ báo gì sất mà là Lâm, Lâm đang cầm trong tay mấy đọt măng rừng to như bắp chuối. Vừa đi, hai tay Lâm cứ như đang hành quân xa. Lính ngồi thụp xuống định chơi ác cô, trùm kín mặt, vai. Sợ Lâm đùng đùng chết ngất, nên Lính chờ Lâm đến gần, liền đứng bật dậy:

- Ôi trời ! - Lâm như té ngửa ra sau. 

Nhanh tay, Lính chụp lấy và kéo Lâm vào bên mình. Lâm mở mắt:

- Anh làm em chết khiếp!

- May là anh, nếu là hổ thì không phải chết khiếp mà là chết thật! - Lính nói không chút đắn đo.

Lâm nhìn những búp măng, ngạc nhiên hỏi:

- Có hổ à?

Lính thản nhiên:

- Rừng nào chẳng có hổ, làng nào mà chẳng có con gái đẹp. Như cái làng sinh ra em đó ...

Lâm cười, hai hàm răng trắng đều, trắng muôn muốt hé ra giữa đôi bờ môi mỏng.

- Dóc! Anh tán em à?

- Có tán mới đi tìm em...

- Tìm em thật à? - Lâm thật thà hỏi.

- Không thật thì cứ hỏi thằng Cơ. Nghe nói cái Lâm nó đi hái măng rừng là anh ba hồn, chín vía bay lên tận mây xanh, tóc mềm như lá lúa bỗng nhiên dựng đứng như búp măng em vừa hái. Anh lạnh gáy, anh sởn cả gai ốc...Xem đây!

Lâm  hạ thấp giọng sau khi nhìn những nốt sần nhỏ trên da Lính.

- Thương rứa lấy chi em trả? Không kiếp này thì kiếp sau, anh Lính nhé.

Lính tỏ vẻ quan tâm hơn:

- Nhớ lần sau có đi đâu thì báo trước để anh canh chừng mấy con cọp dữ nhé!

Lâm tỏ ra dặt dè:

- Dạ! Cảm ơn anh... Em về đây!

- Ây! - Lính kêu lên: - Để anh đưa em về lán.

Lâm khẽ nói:

- Lần sau cũng được, anh!

- Nhưng...Lính nói: Anh vẫn không yên tâm chút nào.

- Gần lán rồi, chẳng còn cọp nữa đâu! Lâm nói và chạy ù về lán. 
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #44 vào lúc: 20 Tháng Giêng, 2011, 03:39:16 pm »

Và, lần sau Lính lại sang tổ điện cơ. Lần này thì Lâm đang tắm dưới suối, cách lán non cây số. Đi cùng với Lâm còn có cánh con gái thợ điện. Trên đường về, Lính nhận ra các cô gái về trước. Cô bé Lâm đâu nhỉ? Vốn thích trêu chọc, Lính tìm đến nơi Lâm tắm. Cô nàng vẫn đắm mình trong suối, ngẩn ngơ nhìn trời nhìn đất, nhìn mây và nhìn dòng nước lấp loáng chảy qua thân thể kiều diễm của mình. Chợt Lâm để ý chút lay động rất khẽ khàng trong bụi rậm cách đó chỉ vài bước chân. Lâm nghiêng người trước một tảng đá đang án ngự, đang che chở cho cô, rồi Lâm cứ phải nằm im, án binh bất động để tự bảo vệ trước một mối đe doạ nào đó. Dường như chờ đợi quá lâu, trong bụi nhô ra một bóng người. Lại là Lính! Trời ơi, sao Lính cứ bám riết mình như hình với bóng thế này? Lính cười khanh khách:

- Tuyệt đối an toàn, em lên đi!

- Không! Không! - Lâm tự cởi trói cho mình: Anh về đi, về đi!...

- Ơ hay! - Lính cố ra giọng ngạc nhiên - Anh đã nói là canh chừng mấy con cọp dữ cho em mà!

Lâm ngúng nguẩy:

- Thôi đi ông tướng, bữa khác...

- Còn bữa này?... - Lính nhịn cười nói tiếp: - Không cho ăn thì cho thấy trong khoảnh khắc chẳng được sao?

Lâm không chút nao núng:

- Thấy à? Thì đây, cho anh thấy...

Lính lúng túng nhưng thời gian gấp gáp quá, nên đôi mắt mở to không mở được mà nhắm lại trước thời cơ ngàn năm có một thì tiếc, nên cứ lim da lim dim. Lâm đứng thẳng người lên và hỏi.

- Thấy rõ chưa, anh Lính?

Lính tiu nghỉu như hổ mất mồi. Lâm không tắm khỏa thân như Lính tưởng. Trên cơ thể như một tuyệt tác giai nhân ấy, Lâm mặc quần xà lỏn, áo may ô ba lỗ...Lâm cười như nắc nẻ, khiến Lính nổi đóa:

- Cười gì vậy?

- Em thấy anh buồn có phải không? Buồn chi vô duyên thế!

Lính nói, không nhìn thẳng vào mặt Lâm như mọi lần.

- Thấy họ về cả, sợ Lâm bị hổ chụp, anh mới đi bảo vệ. Lần sau, thèm!

- Chê thiệt hả? - Lâm vừa nhặt áo quần trên phiến đá để thay, và nói như đang dấy lên sợi tình.

- Đi theo em, chỉ cho thấy thôi nghe.

Và, lần đầu tiên trong đời Lính được nhìn bức tượng của người phụ nữ. Bức tượng ấy bằng da, bằng thịt không phải là đá hoa cương. Có thể nói bức tượng ấy là vật vô giá trong cuộc đời Lính. Lính định nói trạng vài câu, nhưng cứ sợ tiếng nói của anh làm mờ đôi mắt của chính mình. Chữ nghĩa trong đầu trạng bay đi hết, lưỡi của trạng như đã tụt sâu vào tận trong trái tim... Cuối cùng cả Lính và Lâm tự tìm cho nhau những nụ hôn khát cháy như tia nắng mặt trời. Cả hai ghì lấy nhau.

- Anh! Anh...

- Em! Lâm ơi!...

Bỗng Lâm giật nảy người, đẩy Lính ra. Sắc mặt Lâm tái nhợt.

- Anh, cái gì vậy anh?

- Cái gì? Lính nhìn Lâm và vẫn cứ nghĩ rằng Lâm vừa bị rắn cắn.

Lâm chỉ tay vào ngực Lính, cố dấu vẻ sợ hãi:

- Trên ngực anh kia kìa! Em! Đau quá!

Lính cũng ngạc nhiên:

- Cái gì? Có cái gì đâu... Rồi Lính lại đính chính cho Lâm hay: - À, cái bùa bổn mạng ấy mà!

Nói rồi, Lính luồn tay vào trong cổ áo lôi ra cái bùa bổn mạng cho Lâm thấy. Đó là một vật màu sáng bạc. Lâm nói:

- Cho em xem với!

- Không được! Tay đàn bà sờ vào là mất thiêng.

Lâm ngây ra:

- Thật à? Hay lại nói “dóc” đấy!

- Thật mà!

Lúc này trông Lính hiền như bụt.

Học xong chúng tôi ra trường. Từ giã rừng già Quỳ Hợp trong một buổi chiều nhưng chưa tới hoàng hôn. Thế quái nào, cả tôi, Lính và Lâm lại được điều về tăng cường cho đội xe chủ lực của Bộ Giao thông vận tải có “văn phòng” đóng tại cây số 0 đường 20 Quyết Thắng. Tôi và Lâm là lính “thợ đội” còn Lính ở tổ xe. Chỉ vài hôm tiểu đội trưởng bên xe sang gặp tôi:

- Cậu với thằng Lính cùng quê à? ... Một thoáng nghi hoặc anh nói:

- Mình muốn kiểm tra lý lịch bằng miệng thằng này một chút.

Hóa ra Lính tâng bốc dòng họ nhà hắn như bán trời không văn tự. Hắn dám nói rằng, Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm với hắn là cao cao cao chi tổ. Trạng Quỳnh là cao cao tổ, Trạng Cờ, Trạng Lợn, ... đều tổ cả. Riêng bà Huyện Thanh Quan, ông nội hắn gọi bà là cô ruột...

- Phải rứa không Cơ? - Tiểu đội trưởng xe lại hỏi.

- Thì đã sao... Tôi nhún vai và nói tiếp. - Vốn gốc hắn là dân Kinh Bắc đấy anh ạ.

- Thế à!.

Tôi giảng giải ra vẻ rất sành lịch sử.

- Từ thuở xa xưa châu Ô, châu Ri chỉ bạt ngàn lau sậy, không người khai khẩn. Đến mãi năm - Tôi ngừng lời để ngẫm nghĩ: - Năm nào nhỉ, có một đoàn người di cư từ Kinh Bắc vào. Đoàn người này hầu hết là quan văn, quan võ của triều đình bị chúa ghét bỏ cho lưu đày..

Tiểu đội trưởng đứng bật lên như trên ghế vừa có điện cao áp.

- Thôi! Té ra cả làng nhà cậu đều con cháu của trạng cả.

Tôi cố gắng thuyết phục.

- Chuyện thật đấy chứ, không tin, anh cứ nhìn kỹ trong cổ thằng Lính lúc nào cũng có một kỷ vật bất ly thân...

Tiểu đội trưởng lại ngồi xuống, tay vỗ lên đùi.

- Đúng! Một sợi dây màu đen có ánh hào quang ngũ sắc ...Cậu ta không cho ai xem, mỗi lần đi tắm tháo ra và bỏ vào trong một chiếc hộp bằng bao diêm. Anh ta đâm tò mò - “Cái gì vậy cậu”?

Tôi ngồi gần lại tiểu đội trưởng xe, giọng nhỏ hẳn:

- Tuyệt đối bí mật nghe! Đó là dây đeo cái bùa bổn mạng của hắn đó.

- Bùa bổn mạng, mình chưa nghe...

Tôi nhăn nhó:

- Anh chưa nghe thật à? Bùa bổn mạng là cái bùa hộ mệnh. Bọn phi công Mỹ đứa nào chẳng có. Không có, máy bay cháy thì xác nó thiêu luôn.

Tiểu đội trưởng thắc mắc.

- Hay nhỉ! Mà nó kiếm đâu ra? Thảo nào nó vừa chạy vào tuyến trong mà không phải hứng chịu một quả bom nào.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #45 vào lúc: 20 Tháng Giêng, 2011, 03:41:02 pm »

Về tới tiểu đội, bên những điếu thuốc và nước trà suông, tiểu đội trưởng gợi ý:

- Tao nghe nói mày có cái bùa gì đó cho xem với Lính.

Lính lắc đầu, giọng cương nghị.

- Không xem được!

- Sao lại không...?

Theo Lính thì tấm bùa này có từ bốn đời, các đời khác thì Lính không tường tận lắm! Cụ cố của Lính đeo trong thời Văn thân, đoạn theo Cần Vương đánh Pháp. Rất nhiều lần suýt bỏ mạng, nhưng đạn thấy cụ cứ như thằng câm hoặc chỉ sạt qua mang tai nghe nong nóng... Khởi nghĩa thất bại, cụ trở lại quê và sống trọn tuổi già. Đến đời ông nội Lính, theo Việt Minh lên tận chiến trường Đông Bắc rồi Điện Biên Phủ. Ở cứ “Điện Biên”, cụ vừa dười hào ngoi lên thì vấp phải một thằng Pháp. Hai bên nhìn nhau chưa biết nên xử trí thế nào? Cụ súng dài, thằng Pháp súng lục nên hắn nhanh tay hơn. Viên đạn nổ, cụ tưởng mình đã chết! Không hiểu vì sao lại không chết? Thằng Pháp nã tiếp phát đạn thứ hai, nhưng súng bị hóc... Thế là hai bên đấu tay đôi. Cụ rút lưỡi lê dầu súng đâm xả vào mặt làm cho thằng giặc tắt thở. Bao nhiêu lần cái chết kề bên, rút cuộc “súng gươm vất bỏ cụ hiền như xưa”. Sang đời người cha kính yêu “hát mãi khúc quân hành” từ chống Pháp sang chống Mỹ. Mậu Thân 68 ở Huế, tấm bùa hộ mệnh vẫn cùng ông đi cùng năm tháng, chung thủy như hình với bóng. Đã bao phen sự sống mỏng như sợi tóc, đồng đội liên tiếp ngã xuống trước họng súng quân thù, mà ông không giọt máu nào, phải đổ!... Mãi lúc rút lên A Lưới, ông không thắng nổi căn bệnh hiểm nghèo: Sốt rét ác tính...

Đó là câu chuyện của Lính - bản anh hùng ca huyền thoại và cách mạng. Chẳng ai có thể đánh giá được bao nhiêu phần trăm là sự thật. Nhưng năm tháng làm nhiều người phải tin. Dù không tin vẫn phải cảm nhận chừng như với Lính là có lý! Hằng trăm chuyến hàng cuôn theo bụi đỏ ở Trường Sơn; thật diệu kỳ, bom đánh đằng đầu thì Lính đang ở đằng đuôi, bom đánh đằng đuôi xe Lính ở đằng đầu, bom đánh giữa đội hình thì Lính không hang đầu cũng ở đằng đuôi. Dường như Lính đang luôn luôn được quý nhân phù trợ! Bom nổ, xe cháy, đạn trên xe nổ, đồng đội có đi không có về, mà Lính vẫn thanh thản đến ngạc nhiên! Bom đạn sợ Lính đã đành, cái chết cũng sợ Lính thì không thể nào tưởng tượng được?. Có người đã phải đặt vấn đề:

- Bùa cái quái gì? Không chừng đó là sợ dây thông tin nối với máy bộ đàm...

Một số lái xe tỏ ra nghi ngờ:

- Xe của chúng mình đi đâu cũng trúng địch đuổi theo, đánh bom chặn đầu chặn đuôi, lại lấp lửng. Hay là...

Nghĩa là, đã có người nghĩ đến Lính là gián điệp. Nhưng ý nghĩ đó bị chặn đứng.

- Gián điệp nó ngồi trên chỏm núi kia kìa! Nó cầm vô lăng thì bom đạn không có mắt, tránh chi được?

Lập luận thế nào đi chăng nữa, Lính vẫn cứ là Lính, khoáng đạt và vô tư. Vẫn yêu! Cứ nhảy xuống xe là tình yêu xịch đến. Mấy hôm nay xe của Lính - chiếc BIU...60, vào xưởng để tân trang, “mông má” lại những vết thương trong cuộc chiến. Lâm và Lính lại có điều kiện ngồi bên nhau thủ thỉ, tâm tình. Lâm bảo dưỡng hệ thống điện, tôi cho mỡ vào bốn cái moay ơ bánh xe...Lính ngồi xổm trước mặt Lâm.

- Quê anh ấy à, đẹp như một nàng thiếu nữ. Trước mặt dòng sông Kiến, đêm trắng lai láng giọng hò; “Anh còn nhỏ lắm anh ơi, phái về bú mẹ một hơi hò...ra hò!...Con tôm  đất quê anh to bằng bắp chân cái, con rạm to bằng con cua...”

Lâm cười.

- Thế con cua to bằng con gì?

Lính trố mắt.

- Không tin à? Hết giặc về khắc biết. Con cua  ấy à to bằng cái này này...

Lính chỉ vào “nơi ấy” làm cho Lâm chín đỏ đôi bầu má.

Đột nhiên Lính nói:

- Cưới nghe.

- Nỡm à? Đã bảo hết chiến tranh!

Hết chiến tranh không chừng phải đem phơi! Để mốc thì tội lắm! Em không nghe bọn trẻ làng anh hát à? Chúng cầm hai cái thìa gõ vào nhau và nên bài nên bản; rằng “Hôm nay nắng to cốc cốc cốc...có cái gì mốc thì đem ra phơi kẻo mai trở trời thì không phơi được!...” Cốc cốc cốc...

Lâm chép miệng:

- Uổng nhỉ?

- Ừ! Lính nói! - Tối nghe...

Đêm hôm đó khuya lắm mới thấy Lâm về. Nghe đâu, Lính về bên đội xe...Chúng tôi nằm cách nhau bức vách nứa, tiếng thở dài đến não ruột của Lâm nghe rất rõ. Rồi, tôi có nghe tiếng Lâm khóc sụt sùi như một cơn mưa mùa đông chợt đi chợt đến. Là thế, con bé này với thằng Lính chắc có vấn đề!...

Hơn một tháng sau, tôi thấy Lâm làm việc trễ nải, bần thần và hay quên. Bảo dưỡng chiếc máy phát điện, Lâm tháo vào tháo ra không biết mấy lần; lắp vào thì thiếu vít, tháo ra lắp lại thì thừa ốc. Có lúc tôi gọi.

- Lâm!

Lâm ngước mắt nhìn tôi đờ đẫn cả thần tính lẫn thần hồn.

Chiến dịch mở ra. Đó là những ngày ngừng bắn trong dịp tết Nôen năm ấy. Xe pháo tấp nập vượt biên giới, đưa hàng trung chuyển sang Lào.

Lấy hàng từ cảng Gianh, Lính đánh luôn cả xe hàng vào xưởng. Ngồi trên ca bin Lính vẫy Lâm tới trao cho mấy bộ quần áo nhàu nát và nói nhanh.

- Cho em mấy phong lương khô F2 đây.

- Ăn trộm hàng trên xe hả?  - Lâm nói rõ to.

- Còn khướt, nhìn cái mặt anh là biết hàng hóa bảo đảm rồi.

Lâm hỏi thêm.

- Mai anh về hả?

- Ừ! Lính hỏi lại: Có chuyện gì vậy em?

- Chuyện vui lắm! Mai về em sẽ kể cho anh nghe.

Lính tếu táo:

- Ích kỷ thế! Bây giờ...

- Đã bảo ngày mai mà lại! Kéo dài thời gian cho cổ anh dài ra.

Chia tay Lâm, Lính đạp còi vang cả khu rừng già. Xe chuyển bánh về phía chiến trường...

Lâm đưa áo quần của Lính ra bờ suối. Chưa dìm xuống nước vội, cô đưa tấm áo màu xanh nhạt đặt lên đầu gối và úp mặt lên đó. Lâm ngồi như thế rất lâu để tận hưởng cái mùi mồ hôi rất đàn ông của Lính. Rồi chậm rãi Lâm kiểm tra lại túi quần, túi áo của anh trước khi cho vào dòng nước trong veo, mát lạnh. Có vật gì hơi cưng cứng nơi túi áo ngực? Lâm mở túi. Trời ơi! Cái hộp đựng báu vật của Lính... Không mở hộp nhưng trái tim Lâm như bị một ngọn giáo đâm vào.

- Trời! Lâm hét vang cả cánh rừng già đang vào buổi hoàng hôn.

Không còn đủ sức giặt giũ, Lâm bê cả chậu áo quần trở lại lán. Dáng đi liêu xiêu, mắt mờ mờ, mặt biến sắc...Lâm đổ ụp xuống giường. Phía chân trời có tiếng sấm ùng oàng nghe như bom đang nổ.

Đúng rồi, bom đang nổ dữ dội trên đất Lào. Với Việt Nam bọn Mỹ giữ lời cam kết ngừng bắn, nhưng ở Lào chúng lật lọng, một đoàn phản lực hối hả trút bom xuống đoàn xe. Lúc này xe BIU 60...đang dẫn đầu. Lính cố bứt lên xa đoàn, cố tạo nên làn bụi để đánh lừa lũ giặc lái. Từ trong hẻm núi, Lính thấy một chiếc máy bay trực thăng xuất hiện. Có tiếng súng nổ tạch tạch tạch...à, chúng chơi cả bom lẫn đạn. Bỗng mắt của Lính chao đảo, quay như chong chóng và Lính vội vàng đạp phanh. Anh còn kịp kéo phanh tay trước lúc gục xuống trên vành tay lái...

Dứt trận bom, đồng đội bế anh vào một căn lều giã chiến để sơ cứu. Người ta thấy Lính mở mắt, miệng cười méo xệch.

- Tôi không chết đâu? Không chết đâu nhé! Tôi có bùa hộ mệnh...à, cái bùa ấy là kỷ vật của mẹ tôi trước lúc qua đời sau trận bom của Mỹ. Lâm ơi! Anh tin là chúng mình rồi sẽ có con. Em hãy cho con cái bùa ấy để đốt lòng căm thù của nhiều thế hệ xưa nay.

Dường như Lính trở thành ngọn lửa cuối cùng ở dân gian nên anh trở nên tỉnh táo lạ thường:

- Không có bùa ngải nào hết chỉ có niềm tin là chiến thắng mà thôi!

Hàng hóa đang đi vào nên không thể đưa Lính ra bệnh viện tuyến ngoài. Càng lúc càng thấy Lính suy kiệt dần. Mãi sáng hôm sau đón được chiếc xe ra thì Lính trút hơi thở cuối cùng. Thi hài Lính được quàn trong lán. Lâm xin đơn vị được bịt khăn cho anh - một vành khăn trắng, trắng đến lạnh lùng.

Trong lúc thay quần áo khâm lượm thi hài cho Lính, mọi người mở to mắt kinh ngạc trong sự im lặng đến sững sờ. Trong cổ áo Lính là một cây thánh giá có hình chúa Giê Su bị đóng đinh bằng bạc trắng.

Đại đội trưởng đánh mắt sang tôi và hỏi:

- Lính theo đạo à?

Tôi gật đầu rất nhẹ.

- Gia đình nó theo đạo toàn tòng. Tôi trả lời anh.

Đại đội trưởng dậm chân xuống đất, tất cả sinh lực dồn vào tiếng kêu cuối cùng như một nỗi đau không có gì đau hơn nữa:

- Lính ơi! Trạng của tôi ơi!...

Đ.D.T
(190/12-04)
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #46 vào lúc: 20 Tháng Giêng, 2011, 03:54:06 pm »

Nấm mồ thứ sáu

HOÀNG BÌNH TRỌNG


Gập tấm bản đồ địa hình lại và vừa kịp đút vào xà cột, thì trung uý Trương Đình Hùng nghe có tiếng chân người lội bì bọp dưới suối. Lách mình ra phía sau cái trụ chằng phủ đầy dây hoa lạc tiên, anh thấy một người đàn ông trạc ngoại ngũ tuần, cao lớn, vẻ mặt thô tháp, cõng chiếc ba lô cóc phồng căng từ dưới dốc bươn bả trèo lên.

- Chào đồng chí! - với chất giọng ồm ồm, người đàn ông lên tiếng - Xin hỏi, đồng chí là chỉ huy trưởng của đơn vị Kn làm nhiệm vụ thu gom hài cốt liệt sỹ phía nam núi Phù Then, phải không ạ?

- Xin lỗi... Bác à...? - Hùng nhìn người khách lạ từ đầu đến chân - Bác là ai?

- Tôi là Trần Đình Quang, bây giờ thì chuyên trị vào rừng tìm quế, tìm trầm, nhưng thời chống Mỹ là làm lính cụ Hồ, nhiều năm từng là thổ công ở vùng này.

- Bác nhiều năm đánh giặc ở vùng này? - Trung uý Hùng lại hỏi, mắt bắn ra nhiều tia nắng - Hẳn bác thuộc quân số của E5, Fn?

- Đúng, chút nữa là quân số của C3, D2, E5, Fn - Ông Quang tiếp - Riêng C3 của chúng tôi, hồi đầu 1971, có sáu chiến sĩ hy sinh ở Đồng Chuối, được đem về chôn cất...

- Ồ, sao lại có sự gặp gỡ ngẫu nhiên lý thú thế này! Nhiệm vụ chúng cháu về đây là để thu gom hài cốt các liệt sĩ hy sinh trong trận đánh đồn Đồng Chuối ấy đấy - Trung uý Hùng hăm hở cắt lời ông Quang - Nhưng thưa bác...năm ngôi mộ, chứ làm chi có sáu?

- Sáu, được chôn làm hai nhóm: Nhóm năm ngôi, nhóm một ngôi. Nhưng này, nếu chỉ cất bốc mấy bộ hài cốt ấy thì sao lại cho quân đào bới ở đây?

- Không đào bới ở đây thì ở đâu?- Hùng lúng túng vặn lại. Rồi hết nhìn mấy dãy hào hố đào nham nhở ven suối, anh lại đảo mắt về cánh lính trẻ mặt đỏ hâm hia, lưng áo đẫm mồ hôi, kẻ dùng xà beng, người dùng cuốc thuổng đang đánh vật với các tảng đá nằm dưới những cái hố đào thăm dò theo lệnh của anh với vẻ mặt buồn rười rượi.

- Không đào bới ở đây thì ở đâu? - Hùng bất giác lặp lại câu nói của mình. Đoạn, anh mở xà cốt lấy tờ bản đồ địa hình lúc nãy, trải ra đất, rồi tay trỏ miệng nói- Nếu đồng đội cũ của bác là các liệt sĩ La Đình Lang, Trần Lài, Đinh Văn Vụ, Nguyễn Văn Bắc, Hoàng Văn Sa thì phần mộ của họ được đặt ở nơi có khoảng cách ngắn nhất giữa suối Không Tên với đồi Yên Ngựa, vậy ngoài thực địa, nó không phải ở quãng này, thì ở đâu?

- Nhầm to, nhầm to! - Ông Quang nói nói cười cười- Suối Không Tên với đồi Yên Ngựa không ở đây. Chúng ở bên kia, cách nơi này độ bốn trăm mét, chếch về hướng tây nam cơ.

- Cách đây độ bốn trăm mét chếch về hướng tây nam thì lấy đâu ra suối?

- Đúng là bây giờ ở đó không còn suối thật. Nhưng trước 1973 thì có. Vì sao lại thế? Vì có hiện tượng suối đổi dòng xẩy ra. Ồ, khó hiểu lắm hả? -Ông Quang nhìn "chiếu tướng" vào dáng người nhỏ nhắn có khuôn mặt trắng trẻo đang đỏ lựng lên vì nắng của viên trung uý, cười giọng mũi - Nói cho mà biết nhé, trong chiến tranh hiện tượng đó rất hay xảy ra. Chỉ cần một quả bom trên máy bay ném xuống làm vách núi phía đầu nguồn sạt lở, đất đá đổ xuống chắn mất dòng chảy làm nước suối ứ đọng. Tức nước vỡ bờ, đến một độ nào đó, suối lại tự khai thông dòng mới. Nhân đây xin nói thêm, tấm bản đồ đồng chí đang dùng được thành lập sau hoà bình lập lại, khác loại bản đồ thời chúng tôi còn ở lính. Nếu trong bản đồ cũ, thì suối Không Tên được vẽ phía bên kia cơ.

- Chẳng lẽ lại như vậy? - Hùng nheo mắt nhìn xa xôi, hạ thấp giọng - Bác ơi! Cháu rất muốn tin theo lời bác, nhưng... còn một điều cháu hơi phân vân là tại sao trong tờ bản đồ này, một đồng chí cấp trên đã đánh dấu vị trí khu mộ các liệt sĩ của C3 ở đúng chỗ chúng ta đang đứng?

- Câu hỏi nghe thú vị đấy. Theo tôi thì lẽ này... Có lẽ là... Cái vị lãnh đạo đó vì một lý do nào đó mà có sự nhầm lẫn giữa bản đồ cũ với bản đồ mới. Nhưng thôi, trăm nghe không bằng một thấy; tốt nhất, đồng chí trung uý đi theo tôi qua bên kia để tôi chỉ vị trí sáu ngôi mộ ấy cho khỏi mất công đào bới.

Chẳng cần biết đối tượng có đồng ý hay không, ông Quang đã xốc chiếc ba lô cóc nặng chình chịch lên vai, nhằm hướng mặt trời lặn, rẽ lối bước đi ào ào. Trung uý Hùng như bị đặt vào một chuyện đã rồi, bèn ra lệnh cho bộ đội tạm thời ngừng đào bới. Xong, anh vẫy gọi tay liên lạc mặt non choẹt đến thì thầm vài câu gì đó, rồi cả hai vừa đi vừa chạy cố đuổi cho kịp người cựu chiến binh dãi dầu sương gió ấy. Và mười phút sau, ba người đã đến trước một mô đá tự nhiên nhưng vuông vức như bức tường xây, bị phủ kín bởi những dây chạc chìu, dây bìm bìm, dây hoa phong lan xanh um; đây đó có điểm xuyết những nụ hoa đủ các màu sắc xanh vàng trắng đỏ nom rất ngoạn mục. Ẩn dấu sau bức màn thiên tạo rực rỡ này là lớp địa y màu xám lục, dày dặn, xôm xốp, Chính nhờ "tấm áo đất" khiêm nhường này bảo vệ mà chất sơn màu đỏ của các chữ đề trên mặt đá cách đây ngót một phần ba thế kỷ vẫn tươi màu:

PHẦN MỘ CÁC LIÊT SĨ (từ trái qua phải)

TRẦN LÀI- ĐINH VĂN VỤ- LA ĐÌNH LANG-HOÀNG VĂN SA- NGUYỄN VĂN BẮC

Chờ cho hai anh bộ đội đọc xong, ông Quang dẫn họ đi vòng ra phía sau mộ đá, cách nơi này độ năm chục mét.

- Đây là phần mộ của liệt sĩ Châu Quyền - ông Quang cố lấy giọng tự nhiên, nhưng vừa nói ông vừa nuốt khan nước bọt liên tục  - Thú thật với hai đồng chí, động lực mạnh nhất thôi thúc tôi đang trên đường đi tìm trầm nơi xa, phải lăn lội đến đây để gặp bằng được các đồng chí vào thời điểm này là vì lo lắng cho phần mộ của cậu Châu Quyền này đó.

- Vì nó rất dễ bị bỏ sót bác nhỉ? - Hùng nhìn đối tượng vẻ thông cảm- À bác ơi, tại sao hồi đó, người ta không chôn sáu liệt sĩ này vào một cụm mà tách ra như thế?

- Đó là cả một câu chuyện dài, nếu đồng chí cho phép, tối nay tôi kể cho mà nghe- Ông Quang cười buồn, rồi vỗ nhẹ lên vai anh trung uý- Này, mặc dù cấp trên chỉ giao nhiệm vụ cất bốc hài cốt liệt sĩ ở nhóm mộ năm ngôi, nhưng giờ phát hiện thêm ngôi thứ sáu này, thì các đồng chí cất bốc luôn một thể nhé?

- Cất bốc thì dễ thôi, nhưng đưa vào nghĩa trang liệt sĩ được hay không phải được cấp trên phê duyệt. Bác này, cháu hỏi khí tò mò... Có phải hồi đó, bác là thủ trưởng quân chính của C3 không ạ?

- Sao biết?

- Căn cứ vào nét đi dáng đứng, lời ăn tiếng nói, và sự hiểu biết của bác về cách sử dụng bản đồ địa hình ấy mà.

- Mình biết sử dụng bản đồ thành thạo trước ngày nhập ngũ cơ. Vì trước thời làm lính, mình là kỹ sư địa chất. Nhưng dù sao thì anh bạn trẻ cũng đã đoán đúng: Hồi đó mình là quân chính của C3 - Ông Quang cười xoà, xoa hàng ria mép lốm đốm bạc, cất cao giọng- Vậy thì nhân danh cựu thủ trưởng của đơn vị C3, mình có quyền chứng nhận đây là mộ của liệt sĩ Châu Quyền được chứ?

- Dạ, Hùng vẻ lưỡng lự - Cháu thấy... Trường hợp này có cái gì hơi... đặc biệt. Do đó cháu phải thỉnh thị lên trên để chờ phương hướng giải quyết mới được.

- Nếu thế thì ngôi mộ này không khéo sẽ bị san lấp để làm đường cao tốc mất thôi!

- Không lâu đến thế đâu - Hùng tiếp - Dùng điện thoại di động để liên lạc, cháu cùng lắm là mất một buổi thì bao nhiêu cánh cửa ban này phòng nọ đều được mở hết thôi mà.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #47 vào lúc: 20 Tháng Giêng, 2011, 03:55:41 pm »

Hôm sau, trong khi cánh lính tráng của đơn vị lo công này việc nọ, thì ông Quang lần vào bản Vân Kiều gần đó để xin ván, để mượn các thứ đồ nghề. Rồi ông cưa. Ông đẽo. Ông bào. Ông đục. Ông chạm khắc. Gần trưa ông đóng xong cho người đồng đội quá cố của mình một cái tiểu bằng gỗ gie có hình "Lưỡng long chầu nguyệt" phía đằng đầu có hình chữ Hán "Tiên cảnh nhàn du" trên nắp ván thiên, có nhiều hình hoa lá chim muông ở thành bên trái với thành bên phải. Và tất cả đều được chạm khắc bằng những đường nét bay bướm, tinh tế đến mức lúc ông đem chiếc tiểu về chỗ có khu mộ năm ngôi, thì cánh lính tráng xúm cả lại mà ngợi khen không tiếc lời.

- Bác Quang, bác Quang! Vào đây cho cháu gặp tí.

Chợt nghe có tiếng của trung uý Hùng gọi mình trong chiếc lán mới dựng tạm, ông Quang rẽ lối đi vào.

- Bác Quang này! - Hùng nói - Tại sao Châu Quyền vốn là một tên lính ngụy, mà bác lại bảo chúng cháu đưa hài cốt ông ấy vào nghĩa trang liệt sĩ?

- Tin ấy từ đâu ra? Ơ kìa, sao đồng chí có vẻ mất bình tĩnh đến thế nhỉ! Việc gì có đó. Nào, đồng chí hãy cho tôi biết tin ấy từ đâu ra, rồi tôi sẽ nói cho đồng chí rõ: Vì sao tôi lại cầu xin các đồng chí đưa hài cốt Châu Quyền vào nghĩa trang liệt sĩ?

Không phải vì nội dung câu nói mà chính vì cái chất giọng bỗng nhiên bị khản đặc của ông Quang, vì cặp mắt bất chợt đỏ kè lên của ông khi câu nói đó đã làm cho Hùng xúc động.

- Đại khái thế này, bác ạ- Hùng tiếp - Mới đầu cháu gọi điện cho lãnh đạo tỉnh đội trình bày trường hợp của ông Châu Quyền để xin ý kiến giải quyết. Chẳng rõ vì lý do gì đó mà lãnh đạo tỉnh đội lại gọi điện ra quân khu. Ngẫu nhiên mà ông trưởng phòng quân lực quân khu là người trước đây từng làm chính trị viên trưởng của đại đội ba.

- Nguyễn Cự Đỉnh, đúng không?

- Phải, ông ta tên là Nguyễn Cự Đỉnh, cấp bậc trung tá. Cách đây độ năm rưỡi, chính ông Đỉnh đã thông báo cho tỉnh đội ta biết vị trí của năm ngôi mộ này.

- À, vậy chính hắn là tác giả của cái chấm đỏ trong bản đồ của đồng chí đó. Vì hắn vẫn tưởng bản đồ địa hình bây giờ cũng giống loại hắn quen dùng trước đây mà. Chao ôi, Quyền! đã lấy cả mạng sống của mình ra để lập công chuộc tội, mà đến nay vẫn không sao xoá bỏ nổi cái danh hiệu một tên lính ngụy, Quyền ơi là Quyền ơi!

Ông Quang bất giác kêu lên, úp mặt vào chiếc bàn dã chiến, khóc tức tưởi. Mọi người xung quanh xúm cả lại hỏi han, an ủi ông, rồi thi nhau bàn tán, nhưng ông hầu như chẳng để ý gì đến họ. Bởi lẽ đúng vào lúc những giọt nước mắt của con người ở tuổi ngũ tuần ấy tuôn ra như mưa đổ thì tâm hồn ông đang lần theo ký ức mà sống lại với những kỷ niệm của thời quá vãng.

Cách đây đúng ba mươi bốn năm, trong một trận tập kích chớp nhoáng vào đồn A So, đại đội quân Giải phóng do thiếu uý Trần Văn Quang chỉ huy đã bắt được gần ba chục tù binh, trong đó có bác sĩ Châu Quyền. Đang lúc đồng chí y tá mới hy sinh chưa có ai thay thế để sơ cứu cho bộ đội bị thương, lại thấy Châu Quyền có vẻ mặt phúc hậu, Quang đã giữ cậu ta lại làm thầy thuốc của đơn vị. Mới đầu, Quang chỉ định dùng Quyền dăm bữa nửa tháng đợi khi cấp trên cho y tá khác đến, sẽ trả Quyền về hậu cứ. Nhưng y tá khác chờ mãi chẳng thấy đến, trong khi đó thì Châu Quyền càng ngày càng tỏ ra là một thầy thuốc vừa có tài vừa có đức, đúng nghĩa "Lương y như từ mẫu" được hầu hết anh em trong đơn vị yêu mến và kính phục. Thời gian không lâu, giữa Quyền và Quang đã hình thành một tình bạn rất tâm đầu ý hợp. Điều đó, kể cũng dễ hiểu. Trước hết, cả hai đều là trí thức, nên lời ăn tiếng nói của họ dễ lọt tai nhau. Thứ nữa, cả hai đều sôi nổi mộng mơ, giàu chất nghệ sĩ. Những lúc rỗi rãi ở hậu cứ, Quang và Quyền hay rủ nhau đi câu cá, hay đi ra rừng làm thơ đọc cho nhau nghe. Phải nhận rằng, Châu Quyền là một thi sĩ bẩm sinh. Những bài thơ Quyền viết về mẹ, về người yêu, về em gái, về nỗi đau do chiến tranh gây ra cho xóm làng cho đất nước đã để lại nhiều ấn tượng sâu sắc cho người đọc.

Đáng tiếc là chẳng hiểu sao, trong khi Quang và hầu hết anh em của đơn vị yêu mến và kính phục Quyền như thế thì chính trị viên trưởng Nguyễn Cự Đỉnh vẫn cứ xem Quyền là "một tên lính ngụy". Với ông Đỉnh đã là một tên lính ngụy, mà là lính ngụy trí thức, thì dù có được tập thể giáo dục cải tạo đến mấy, anh ta vẫn không sao tẩy rửa được vết nhục của một kẻ từng "liếm gót giày cho ngoại bang". Ngoài việc luôn nhìn Quyền bằng con mắt "đề cao cảnh giác" và nhắc nhở mọi người đề cao cảnh giác như mình, ông còn xui anh em trong đơn vị chống lại chủ trương giữ Châu Quyền làm thầy thuốc của Quang, xui anh em phê phán Quang có "tư tưởng tiểu tư sản lập trường bấp bênh", không phân rõ địch ta... Về phần mình, vốn là một chàng trai can trường đội trời đạp đất, Quang chẳng lấy thế làm bằng. Nhưng với Châu Quyền thì khác. Bị một vị cao cấp là ông Đỉnh luôn nghi kỵ. Quyền đâm ra mặc cảm với thân phận hàng binh của mình, và nhiều lần khẩn khoản cầu xin Quang cho được trực tiếp cầm súng đánh Mỹ để "lập công chuộc tội", nhưng Quang đều gạt đi. Tuy nhiên, từ bấy, nếu tinh ý, ai ai đều nhận thấy bên cạnh công việc chuyên môn mà anh luôn hoàn thành xuất sắc. Quyền còn bỏ nhiều công sức vào việc học ném thủ pháo, bắn súng B40, B41và đánh bộc phá. Rõ ràng anh ta đang cố tự trang bị những kiến thức quân sự cần thiết, để hễ có thời cơ thì xông lên "lập công chuộc tội".
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #48 vào lúc: 20 Tháng Giêng, 2011, 03:56:24 pm »

Và cái thời cơ ấy đã đến.

Đại đội do Trần Văn Quang chỉ huy nhận nhiệm vụ tập kích đồn Đồng Chuối vào đêm 30 tháng 4 năm 1971. Theo phương án đã vạch, đúng 23 giờ, bộ đội đã vào vị trí tập kết. Như thường lệ, mỗi lần ra trận, thầy thuốc Châu Quyền bao giờ cũng bám sát đại đội trưởng Trần Văn Quang. Lúc này, cách họ một quãng độ 5,6 mét là nơi ẩn núp của hai chiến sĩ đánh bộc phá là La Đình Lang và Đinh Văn Vụ làm phận sự mở đột phá khẩu. Đúng 23giờ 10 phút, nhận hiệu lệnh của đại đội trưởng. La Đình Lang vác bộc phá tiến vào lớp rào kẽm gai ngoài cùng. Một tia lửa màu da cam bật lên, tiếp liền là tiếng nổ dậy đất. Một quãng rào gồm nhiều lớp dài độ ba bốn sải tay bung ra, dồn về hai phía. Nháy mắt, Đinh Văn Vụ lao lên với quả bộc phá thứ hai để bứt nốt ba lớp rào phía trong. Nhưng anh chưa kịp giật kịp nụ xoè, thì bao nhiêu cỡ súng trong đồn đã hướng cả về phía đột phá khẩu mà dội lửa. Và một tình huống không lường trước được là La Đình Lang và Đinh Văn Vụ đều trúng đạn.

- Báo cáo! Cho tôi lên thay Đinh Văn Vụ!

Đang bàng hoàng, Quang càng bàng hoàng hơn khi nghe giọng nói của Quyền. Và vị chỉ huy trẻ tuổi này chưa kịp có phản ứng gì, thì Quyền đã rời bệ tỳ, vọt lên khỏi chiến hào, vừa bò vừa lăn về phía thi thể của Đinh Văn Vụ, nhặt lấy quả bộcphá.

Oàng! Bộc phá nổ. Đột phá khẩu đã được mở.

Mười phút sau quân ta hoàn toàn làm chủ vị trí Đồng Chuối.

Trong trận này, đơn vị C3 bị tử vong sáu chiến sĩ, trong đó có ba chiến sĩ đánh bộc phá là: Đinh Văn Vụ, La Đình Lang, Châu Quyền; Ngoài ra còn chín anh em bị thương, trong đó có đại đội trưởng Trần Văn Quang.

Sau gần hai tuần vào điều trị vết thương ở bệnh viện của một binh trạm, Quang về lại đơn vị. Việc đầu tiên, anh bắt đồng chí liên lạc dẫn mình đến thăm phần mộ các đồng đội mới hy sinh. Đến nơi thấy có sáu ngôi mộ lại chôn làm hai nhóm. Quang ngạc nhiên hỏi, thì tay liên lạc cho biết: "chính trị viên trưởng bắt phải làm như thế"

Chiều hôm đó, Quang lại nêu câu hỏi trên với Nguyễn Cự Đỉnh, không ngờ ông này trả lời một cách lạnh lùng:

- Gì thì gì, chứ vong linh các chiến sĩ quân đội cách mạng cũng không thể để lẫn với hồn ma một tên lính ngụy được.

-"Một tên linh ngụy"! - Quang cảm thấy như bị nghẹt thở - Qua ngần ấy cam go thử thách, thậm chí, cuối cùng Châu Quyền đã lấy cả máu của mình để tẩy rửa cho cái bản lý lịch từng có một thời đứng trong hàng ngũ quân đội Cộng hoà, mà vẫn chưa sạch được ư? Tôi hỏi đồng chí, giả sử trong cái khoảnh khắc Đinh Văn Vụ và La Đình Lang mới hy sinh, mà Châu Quyền không nhảy lên thay thế kịp thời, thì liệu đơn vị ta có giành dược chiến thắng Đồng Chuối, và liệu tôi với đồng chí có còn sống đến bây giờ để bình công luận tội cậu ấy được nữa không?

- Tôi thừa nhận trong giây phút đó. Châu Quyền đã có một hành động sáng chói. Nhưng... Nó chỉ mang tính chất ngẫu hứng, đột biến!

- Ngẫu hứng đột biến! - Quang cười khô khốc- Nhưng để có sự ngẫu hứng đột biến tuyệt vời đó, thì ý thức cách mạng trong con người của công dân Châu Quyền phải được nâng cao một cách tiệm tiến đã chứ? Tôi thực sự cầu chúc cho mọi người, ở những khoảnh khắc sinh mệnh của tập thể đang như nghìn cân treo sợi tóc, có được những hành động "ngẫu hứng, đột biến" như thế. Kể cả tôi, kể cả đồng chí, đồng chí chính trị viên ạ.

-Thế nào? - khuôn mặt dài đuồn đuỗn của Nguyễn Cự Đỉnh chợt tái mét đi vì xúc động- Anh định đánh giá tôi là một thằng hèn phải không?

- Đâu có, tôi chỉ muốn anh biết nhìn nhận cho thật công bằng đối với công dân Châu Quyền mà thôi!

- Không thể có sự công tâm với cái tên lính ngụy mạt hạng ấy được!

Mấy tiếng"tên lính ngụy mạt hạng" từ cái miệng loa kèn của Nguyễn Cự Đỉnh nói ra làm Quang cảm thấy như bao nhiêu hơi nóng trong người anh đều bốc cả lên mặt. Anh cố nén giận, nhưng Đỉnh lại vẫn lải nhải nhắc đi nhắc lại mấy tiếng đó thêm nhiều lần, khiến Quang lộn cả ruột.

- Câm mồm đi!- Quang quát the thé. Anh không có quyền xúc phạm đến vong linh đồng chí ấy!

- Đồng chí...ha ha...Chỉ có những ai lập trường tiểu tư sản bấp bênh mới là đồng chí của tên lính ngụy mạt hạng ấy mà thôi!

- Trời ơi! Nghĩa tử nghĩa tận, anh nỡ nào...Thôi xin anh câm mồm đi! Câm mồm đi!

Nhưng Nguyễn Cự Đỉnh chẳng những không chịu câm mồm, mà tiếp tục dùng nhiều lời lẽ thô bỉ, cay độc hơn nữa để nói về Châu Quyền. Cuối cùng thì cái gì nhất định đến đã đến. Bốp bốp! Hai cái tát như trời giáng nhằm vào khuôn mặt dài đuồn đuỗn của Đỉnh, khiến Đỉnh ngã ngửa vào một bụi cây gai váng lồ, kêu oai oái...

Sau cái sự kiện động trời đó, Quang bị gọi về sư đoàn bộ bắt làm kiểm điểm. Trong lúc làm kiểm điểm, chẳng biết Quang cãi bướng sao đó, mà người ta cách chức đại đội trưởng của anh, chuyển anh về đơn vị tăng gia vùng hậu cứ. "Phúc bất trùng lai hoạ vô đơn chí", trong một lần cuốc đất trồng rau bên suối, anh đụng phải bom bi, lại đi nằm viện. Lành vết thương thì cũng là lúc Miền Nam hoàn toàn giải phóng, Quang được chuyển ra Bắc, rồi được giải ngũ về quê.

Biết nằm gắng cũng không ngủ được, Hùng vén màn ngồi dậy, đẩy nhẹ cánh cửa sổ khép hờ, nhìn ra ngoài trời. Những mái phố ngói đỏ, những hàng cây xanh um giờ đã nhạt nhoà trong màn sương trắng bồng bềnh làm cho không gian như được nới rộng thêm ra. Phía cuối chân trời, một màn mây đen kịt, oằn xuống như sống lưng một con lợn chửa, chốc chốc lại bị những tia chớp hình chân rết chặt ngang xé dọc, kèm theo là những tiếng sấm rền vang. "Trong núi Phù Then trời mưa rất to, chẳng biết bác Quang rúc vào đâu cho khỏi ướt?". Hùng lẩm bẩm như người mộng du, và cảm thấy ân hận vì hồi chiều mình đã bỏ bác ta ở lại một mình trong đó.

Đúng ra thì hồi chiều Hùng đã tìm đủ mọi cách để đưa ông Quang về cùng đơn vị, kể cả việc anh đã ra lệnh cho cánh lính trẻ khênh ông lên xe đặt ngồi ngay ngắn sau hàng tiểu sành đựng hài cốt năm liệt sĩ, nhưng ông chỉ nán lại một lúc khấn khứa nhỏ to trước vong linh các đồng đội vài câu, rồi gạt nước mắt nhảy xuống đất, đến trước mặt Hùng, giọng khản đặc:

- Đồng chí đưa anh em về ngay đi cho kịp tập kết hài cốt liệt sĩ vào nghĩa trang, nếu để muộn nghĩa trang đóng cửa, thì vất vả lắm đó. Còn tôi, hôm nay dứt khoát phải ở lại đây với Châu Quyền, kẻo một tổ sáu anh em bấy lâu xúm xít bên nhau, mà nay năm đứa đi rồi, chỉ mỗi nó ở lại thì lẻ loi đơn chiếc quá!

- Nhưng giữa rừng sâu núi thẳm thế này, mà bác ở lại một mình qua đêm, nếu có chuyện gì bất trắc thì tính sao?

- Không can chi đâu, tôi từng là một nhà địa chất, lại từng làm lính Cụ Hồ, và nay thì chuyên ngậm ngải tìm trầm cơ mà... Thôi xin đồng chí cho tôi được ở lại một mình hôm nay với Châu Quyền, chỉ một mình thôi, để tôi với nó tâm sự với nhau cho trọn đêm, rồi ngày mai thì "tùy nghi di tản". Nó thì nằm lại ở đây để đợi con đường con cao tốc mở lối đi qua; tôi thì tiếp tục cái nghề tìm quế tìm trầm kiếm đồng tiền bát gạo nuôi con ăn học. Thôi, đồng chí lên xe mà về đi kẻo muộn. Chúc đồng chí đêm nay ngủ ngon...

Nhưng đêm nay Hùng không hề ngủ. Lo cho năm liệt sĩ nọ có mồ yên mả đẹp trong nghĩa trang xong, Hùng cùng anh em bộ đội về doanh trại. Suốt ngày tối mặt tối mũi vì công việc này việc nọ tưởng đặt lưng xuống giường là Hùng có thể kéo bễ được ngay. Nào ngờ, hình ảnh ông Quang với nước da dãi dầu sương gió, với khuôn mặt thô tháp khắc khổ, với ánh mắt nhìn vừa chan chứa yêu thương vừa ngang tàng quyết liệt, cứ bám riết lấy anh, làm anh lúc nào cũng tỉnh như sáo...

Hôm sau, mới bảnh mắt Hùng đã mượn chiếc hon-da của một người bạn trong tỉnh đội, phóng ngay vào núi Phù Then. Quãng đường từ đây đến đó bình thường đi xe máy chỉ mất một tiếng; nhưng lần này, do trận mưa kéo dài hôm qua đã làm cho mực nước các con suối cắt qua đường dâng cao gây ách tắc giao thông, do vậy, Hùng phải lăn lội hơn hai tiếng mới chỉ đi được già nửa đường. Và đúng vào lúc chàng trung uý trẻ dắt xe qua khỏi chỗ ách tắc cuối cùng, thì anh thoáng thấy bóng dáng ông Quang xuất hiện ở bên kia suối với một gánh nặng lặc lè trên vai.

- Chào đồng chí!- Ông đặt gánh xuống, lấy khăn lau mồ hôi chảy thành dòng trên khuôn mặt tái nhợt vì mệt mỏi- Tôi biết hôm nay thế nào đồng chí cũng trở lại tìm tôi.

- Căn cứ vào đâu mà bác đoán chắc như vậy?

Ông Quang cười xoà:

- Có gì đâu. Đã là người lính thì không bỏ rơi đồng đội, thế thôi.

- Vậy mà chúng cháu đã bỏ bác ở lại một mình trong đó suốt hôm qua đến giờ!- Giọng Hùng như nghẹn lại- Chiều hôm qua, sau khi về đến doanh trại, cháu lại rất nóng lòng muốn được gặp bác để bàn một việc liên quan đến hài cốt ông Châu Quyền.

- Cụ thể là thế nào?

- Chúng ta có thể bốc hài cốt ông Quyền đem vào nghĩa trang, nhưng đặt ở khu "chiến sĩ vô danh". Vì trong đó có một khu biệt lập như vậy.

- Không được! Cậu ấy có tên tuổi có ngày sinh tháng đẻ, có quê hương bản quán hẳn hoi, thì sao lại là "chiến sĩ vô danh"?

- Nhưng nếu không bốc đi bây giờ, để năm bữa nữa tháng nữa đường cao tốc sẽ đi qua, thì mộ bác Châu Quyền bị san bằng mất, chứ còn à?

- Nếu có bị san thì cũng vẫn nằm trong lòng đất mẹ chứ mất đi đâu mà sợ - Ông Quang nói tỉnh bơ, rồi cười xoà  - Đùa cho vui, chứ tôi đã bốc hài cốt cậu ấy về đây rồi. Nó kia kìa- Ông trỏ vào một đầu gánh, nơi có chiếc tiểu gỗ được che hờ bằng hai tàu lá cọ.

- Bốc rồi ư?- Hùng xúc động la lên- bác định đem ông Châu Quyền về đâu?

-Đem về quê tôi - Ông Quang tiếp - Phần mộ cậu ấy sẽ nằm trong khu lăng mộ họ Trần nhà tôi. Sau này khi đi hết chặng đường trần thế khổ ải để về cõi vĩnh hằng, tôi lại được ở gần Châu Quyền như những tháng năm xa xôi hai chúng tôi từng bên nhau trong các căn hầm chữ A dọc Trường Sơn thời đánh Mỹ. Thế cũng hay đấy chứ?

Và ông cười khô khốc. Trong đời, Hùng chưa từng nghe có tiếng cười nào lại làm anh bùi ngùi xúc động đến thế.

H.B.T
(190/12-04)
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #49 vào lúc: 20 Tháng Giêng, 2011, 04:16:43 pm »

Kẻ hèn nhát

VIỆT HÙNG


Ga H. một đêm mưa phùn ảm đạm.
Khách chờ tàu nằm la liệt dọc các hành lang.
Tôi bước vào phòng đợi, trong tâm trạng không vui mà cũng chẳng buồn. Tìm một chỗ ngồi bất kỳ…

Tiếng người xướng ngôn viên báo đoàn tàu đã xin đường. Tôi đứng dậy xách hành lý theo dòng người tuôn chảy vào ga. Mùi hôi hám, ẩm thấp bốc lên. Cái mùi thường phải ngửi ở bất kỳ nhà ga nào. Một kẻ ngái ngủ đến hỏi tôi xin lửa hút thuốc lá…

Đoàn tàu tiến vào đường sắt số 1. Rồi nó dừng hẳn. Tôi mở tấm vé xem lại, luống cuống chạy ngược, chạy xuôi, tìm toa của mình. Càng lúng túng hơn khi biết tàu chỉ dừng 5 phút.

- Phải toa số 5 đây không anh? - Tôi hỏi người đàn ông thò đầu ra cửa sổ.

- Phải đấy, lên mau đi!

Tôi chạy về đầu toa bên phải. Lạ quá, cửa đóng! Không thể tả hết nỗi bối rối khi đó. Cứ như gà mắc tóc. Chạy ngược lại bên trái. Người đàn ông khi nãy giơ tay vẫy tôi, ra hiệu nên leo qua cửa sổ. Đoàn tàu có dấu hiệu chuyển bánh. Tôi ném bừa túi du lịch qua cửa, bám vào tay người đàn ông tốt bụng, gắng sức đu mình trườn qua. Anh ta cũng cố để kéo cái thân hình to béo của tôi… Thế là thoát nạn, tôi thở phào nhẹ nhõm tìm số ghế. Chính tại khoang đó. Người đàn ông thu xếp một chỗ trên giá đựng đồ, đặt túi du lịch của tôi lên, lặng lẽ không nói gì. Tôi loay hoay buộc lại hành lý. Nhìn ngó ngược xuôi… sực nhớ, rút bao thuốc lá, quay lại, tôi muốn mời người đàn ông một điếu trước khi tỏ lời cảm ơn. Nhưng anh ta đã ngả lưng, kéo sụp chiếc mũ lưỡi trai che nửa mặt. Có lẽ đã ngủ, hoặc anh không thích nói chuyện vào lúc này. Tôi ngồi xuống, theo tiếng xình xịch của đoàn tàu, cố ru mình chợp mắt.


Điểm tâm xong, tôi lại rút bao thuốc lá ra mời người đàn ông tốt bụng khi đêm.

- Cảm ơn anh, nhưng… tôi hút thuốc nặng lắm. - Vừa nói anh vừa rút bao Đà Lạt ra khỏi túi áo.

Ngồi đối diện nhau, giữa ánh sáng ban ngày, tôi mới có dịp ngắm kỹ anh ta… Da ngăm đen, vóc người nhỏ thó, khuôn mặt thanh tú nhưng buồn, hàng ria mép khá rậm, trên mình mặc bộ áo quần xoàng xĩnh. Ở anh toát ra sự trầm tư khó hiểu. Ngoài ra còn có cái vẻ, mà dẫu không rành tướng số, cũng có thể đoán được, con người này rất chật vật với cuộc đời. Chợt, anh chăm chú nhìn tôi. Tôi hơi sững người bởi trong cái nhìn như muốn đọc điều gì. Thời gian im lặng hơi lâu. Tôi rất muốn bắt chuyện, song chưa biết nên nói thế nào. Chợt nhìn xuống, thấy anh ta mang một chân gỗ, tôi buột miệng:

- Trước đây chắc anh cũng từng ở quân ngũ?

- Vâng, đúng thế!

Câu trả lời hoàn toàn điềm tĩnh, phớt đời, làm tôi bối rối.

Lại im lặng.

- Anh bị thương ở mặt trận nào? - Tôi nhìn xuống một lần nữa để hỏi.

- Chẳng ở mặt trận nào. Hết chiến tranh tôi trở về nguyên vẹn. Còn đây - anh giơ chân lên - là hậu quả đi sau.

Tôi lại lúng túng bởi thái độ hờ hững, thản nhiên như không của anh. Anh hơi khó chịu - tôi suy nghĩ. Như đoán được điều đó, anh lên tiếng:

- Chắc anh cũng thế, cũng từng ở lính?

- Vâng, cũng từng.

Anh ngắm nghía sự lành lặn của tôi từ đầu đến chân. Tôi hơi xấu hổ với thân hình to béo của mình.

Lại một hồi im lặng.

Để rồi tôi cố phá tan bầu không khí lặng ngắt đang bao trùm:

- Thời chiến tranh anh từng ở đâu?

- Ngay cái chỗ kéo anh lên tàu ấy. - Câu trả lời như được chuẩn bị sẵn. Anh nhìn tôi vẻ dò xét. Cái nhìn khó hiểu gây cho tôi cảm giác gai gai. Tôi đưa mắt lảng đi.

- Có lẽ anh là người của thành phố H.? - Anh ta lại hỏi.

- Phải!

- Tôi thuộc thành phố ấy như lòng bàn tay. Nhưng… nơi đó là nỗi ám ảnh trong đời, khiến hơn 20 năm tôi không dám trở lại, thậm chí còn rùng mình khi đi ngang đó.

Sửng sốt trước lời nói, sự tò mò thúc giục tôi cố bám theo tìm hiểu. Một thanh niên ngồi gần, kể một câu chuyện hài hước, cắt ngang chúng tôi. Khi câu chuyện kết thúc, tôi nôn nóng tìm cách gợi lại.

- Trước, tôi từng là lính biệt động nội thành. - Anh nói chắc nịch, sau khi tôi cố lái câu chuyện.

Dừng lại trầm ngâm. Rồi anh kể một thôi, một hồi, cảnh sinh hoạt của thành phố thời chiến tranh. Tôi chẳng quan tâm vì cái đó tôi cũng biết. Điều cần tìm hiểu là nỗi ám ảnh anh nói khi nãy.

Lan man trở về quá khứ. Chính tôi đã từng ở cái đội biệt động ấy nhiều năm mà sao không biết con người này nhỉ? Tôi nhẩm tính: đúng, hơn 20 năm rồi còn gì. Mà cũng phải thôi! Vì bí mật của công tác nội thành thời đó, có khi chiến đấu gần nhau vài ba năm mà chỉ biết tên chứ không hề biết mặt. Tôi nhìn lại anh ta rất lâu - cũng quen quen.

Tôi im lặng. Anh cũng im lặng. Có lẽ anh nghĩ ngợi. Và hình như cả một sự đấu tranh nội tâm rất dữ, thể hiện trên khuôn mặt. Tôi cũng ở tâm trạng ấy. Nhưng, cả hai đều muốn tỏ ra mình đang lóng tai nghe những câu chuyện tào lao bên cạnh. Tưởng tượng sự lặng lẽ, nặng nề, dài ngang cả thế kỷ… Tôi quyết định phá tan sự tĩnh lặng sau khi đã đặt trước tình huống bất ngờ nào đó:

- Tôi cũng từng ở cái đội biệt động của anh!

- Thật sao…? - Anh ta giật mình, trố mắt.

Phút ngỡ ngàng qua đi. Rồi anh hỏi tôi, vẻ cứng rắn:

- Anh ở đó từ năm nào?

- À, từ… 1973.

- Có nghĩa là…

Lại im lặng. Khuôn mặt anh trở lại vẻ căng thẳng, trán giật giật liên hồi…

- Ngày ấy tôi đã đi rồi. Tôi rời đội biệt động từ năm 1971 cơ. - Anh nói buồn bã.

Thực chất, tôi có mặt ở đội biệt động thành phố từ trước đó nhiều. Không hiểu sao lúc bấy giờ tôi lại phải nói dối. Vì lẽ gì cơ chứ?...
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM