Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 11:03:29 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Một số hình ảnh, thông tin về bảo vệ chủ quyền Việt Nam trên biển - Phần 3  (Đọc 433405 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
thanhh63
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2188


« Trả lời #140 vào lúc: 20 Tháng Bảy, 2011, 12:08:40 pm »

Nhà giàn DK: Cột mốc chủ quyền trên biển

Đây là Tổ quốc, là đất đai hương hỏa của ông cha, dù chỉ có đá sỏi gió cát thế này ta cũng phải canh giữ, một tấc không đi, một li không rời, dẫu có phải đổi bằng xương máu...



Nhà giàn sừng sững trên biển Đông khẳng định chủ quyền Tổ quốc.

22 năm qua tại vùng biển của Tổ quốc, những cơn sóng cao từ 13m đến 15m, có sức tàn phá khủng khiếp đã đánh đổ, nhấn chìm 5 nhà giàn, 1 tàu trực. 13 cán bộ chiến sĩ chốt giữ nhà giàn đã anh dũng hy sinh khi tuổi đời còn rất trẻ.

Nhiều người phải lênh đênh trôi dạt trên biển hàng chục giờ trong cái nắng cháy da, cái đói, cái rét thấu xương. Thế nhưng, nhà giàn này đổ lại có nhà giàn khác được xây lên, lớp trước ngã xuống lại có lớp sau tiếp bước. Đó là sự hình dung ngắn gọn nhất về những nhà giàn DK1 ở vùng biển thềm lục địa - những cột mốc chủ quyền của Tổ quốc trên Biển Đông.

22 năm qua, với việc dựng lên những nhà giàn DK1 hiên ngang giữa trùng khơi sóng gió, người Việt hôm nay tiếp tục dựng lên những cột mốc chủ quyền mà mọi thế hệ người Việt đã dựng xây và gìn giữ. Lòng yêu nước của người Việt xuyên qua mọi thời gian, chưa bao giờ vơi cạn.

Ở vào thời điểm này, càng thấy ý nghĩa cực kỳ quan trọng của dấu mốc. Ngày 5/7/1989 - ngày Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ký Quyết định dựng nhà giàn. Quyết định đó đã thể hiện tầm nhìn xa trong việc xác lập chủ quyền của Tổ quốc.

"Tư lệnh đưa mắt nhìn suốt rẻo cát trống trơn, rồi lại nhìn cái lều bạt dã chiến cứ hộc lên trong gió tựa hồ một con ngựa bất kham, đang lồng lộn như muốn rứt tung mấy sợi xích sắt căng ghì xuống đảo mà phóng đi cùng bầy gió hoang dã.

Đẹp, nền nếp. Đúng quân phong quân kỷ. Ở đây mà giữ được như thế này là tốt lắm rồi - Giọng Tư lệnh bỗng bùi ngùi - Tất nhiên là vất vả! Chúng mày rất vất vả! Tao biết! Nhưng khổ nỗi đây lại là Tổ quốc, là đất đai hương hỏa của ông cha, dù chỉ có đá sỏi gió cát thế này ta cũng phải canh giữ, một tấc không đi, một li không rời, dẫu có phải đổi bằng xương máu..."

Đoạn văn trên được trích từ cuốn Đảo Chìm của nhà thơ Trần Đăng Khoa và vị Tư lệnh được nhắc đến trong đó là Tư lệnh Giáp Văn Cương - Tướng chỉ huy Hải quân duy nhất cho đến nay được phong hàm Đô đốc ở Việt Nam và là người mà khi nhắc đến những cột mốc chủ quyền trên Biển Đông không thể không nhắc đến tên ông. Cũng như trong ký ức của rất nhiều người, ông là "vị tướng của Trường Sa", của Nhà giàn.



Đô đốc Giáp Văn Cương.

Nhiều người đã nói đến "tầm nhìn Giáp Văn Cương", "ý chí Giáp Văn Cương" trong việc phòng thủ Trường Sa và khai sinh những nhà giàn DK1 ngày đêm bảo vệ thềm lục địa phía Nam.

Theo đánh giá của Thiếu tướng Lê Kế Lâm (nguyên Tham mưu phó tác chiến Quân chủng Hải quân): "Nếu không có tầm nhìn và sự quyết đoán trong hành động của Đô đốc Giáp Văn Cương, Trường Sa có thể khó khăn hơn bây giờ, không toàn vẹn như bây giờ".

Ở vào thời kỳ ấy, vị Tư lệnh với tầm nhìn của mình đã sớm dự báo: "Trong tương lai gần, vùng biển khu vực Trường Sa không được bình yên và sẽ là chiến trường chính của hải quân Việt Nam".

Và kế hoạch bảo vệ chủ quyền Việt Nam ở Trường Sa trong 2 năm 1986 - 1987 mà ông đề xuất với Bộ Chính trị là nhanh chóng dốc toàn lực, đặc biệt là công binh, ra Trường Sa để tăng cường, củng cố tất cả đảo nổi, đảo chìm mà quân dân Việt Nam đang đồn trú và sinh sống bao đời nay, đưa quân ra những đảo chìm thuộc chủ quyền VN nhưng chưa có quân đồn tru, và cùng với đó là các nhà giàn ra đời.

22 năm qua, bao thế hệ cán bộ chiến sĩ đã sống trong những nhà giàn chỉ vài chục đến 100 m2, thiếu thốn đủ bề, gian khổ đủ bề. Không ai quên trận bão số 8 năm 1998, Nhà giàn DK1 cụm Phúc Nguyên bị bão cuốn phăng, 9 chiến sĩ bị cuốn trôi giữa biển, tàu trực chiến chỉ cứu được 6 người, 3 chiến sĩ chìm vào biển cả...

Có một nhà văn bảo rằng có một Nghĩa trang ở trong lòng biển, không tượng đài, bia mộ. Rộng dài hàng trăm hải lý, hồn thiêng các anh qui tụ ở chỗ nào?

Trên một vùng thềm lục địa thiêng liêng đã được xác lập chủ quyền của Tổ quốc, đang hiên ngang những cột mốc mang tên Nhà giàn DK1. Và cũng như mọi cột mốc chủ quyền ở khắp các dải biên cương, những người lính vẫn đang trụ bám, trông coi, gìn giữ.

Họ - những người lính hải quân quanh năm sống trong những nhà giàn DK1 vài chục m2, xung quanh là trời, là biển, là kẻ thù nhòm ngó, là gió, là bão, là bất kể lúc nào cũng có thể hi sinh...

Cho nên, giá mà bớt cho họ những thiếu thốn không đáng có khác như thiếu nước ngọt, thiếu rau xanh thì tốt biết bao nhiêu. (Gần đây nhờ chương trình Chung tay thắp sáng Nhà giàn DK1 do báo Tuổi trẻ khởi xướng nên các nhà giàn không còn cảnh thiếu điện suốt đêm).

Theo Đại Đoàn Kết

Link: http://quocphong.baodatviet.vn/Home/QPCN/Nha-gian-DK-Cot-moc-chu-quyen-tren-bien/20117/156247.datviet

Logged

Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
danviet
Thành viên
*
Bài viết: 234


« Trả lời #141 vào lúc: 20 Tháng Bảy, 2011, 12:39:18 pm »

Đưa tin như thế này, nên chăng?
http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/31276/tq--noi-doa--voi-chuyen-nghi-si-philippines-tham-truong-sa.html
Trích dẫn
TQ 'nổi đóa' với chuyện nghị sĩ Philippines thăm Trường Sa
 Cập nhật lúc 20/07/2011 09:05:20 AM (GMT+7)

Hôm nay, 5 nghị sĩ Philippines dự kiến sẽ tới thăm quần đảo Trường Sa đang tranh chấp. Trung Quốc nói kế hoạch này có thể làm tổn hại tới quan hệ song phương.

Quần đảo Trường Sa nằm ở giữa Biển Đông và được cho là khá giàu tài nguyên dầu khí.

Hiện 5 thành viên quốc hội Philippines đang thăm đảo Pagasa. Theo một trong số nhóm này, Walden Bello, đây là chuyến thăm riêng để gặp gỡ người dân và binh lính đóng ở khu vực, đồng thời thể hiện sự ủng hộ với tuyên bố chủ quyền của Philippines.

 
Quần đảo Trường Sa nằm ở giữa Biển Đông và được cho là khá giàu tài nguyên dầu khí. Ảnh: MT




Tuy nhiên, đại sứ quán Trung Quốc ở Philippines đã cảnh báo, chuyến thăm “không có mục đích nhưng lại làm xói mòn hòa bình và ổn định trong khu vực, phá hoại quan hệ Trung Quốc - Philippines".

Về phần mình, ông Bello khẳng định: "Không có lý do gì khiến sứ quán Trung Quốc phải lo lắng, họ dường như phản ứng quá mức về một sứ mệnh rất nhỏ, mang tính hòa bình. Chúng tôi có các quyền như mọi công dân Philippines khác khi tới thăm lãnh thổ của Philippines".

Căng thẳng Biển Đông từ vài tháng này gia tăng sau khi cả Philippines và Việt Nam đều chỉ trích những hành động gây hấn của Trung Quốc ở vùng biển mà hai nước tuyên bố chủ quyền. Diễn đàn khu vực ở Bali vào thứ bảy này sẽ bàn về các vấn đề an ninh, có sự tham gia của ASEAN, Trung Quốc, Nhật Bản, Mỹ và nhiều nước khác.

Chính phủ hỗ trợ dân giữ đảo

Với những người dân Philippines sống ở những vùng xa xôi ở Biển Đông, cuộc sống mỗi ngày là sự vật lộn với sự cô độc. Liên lạc với thế giới bên ngoài rất hạn chế. "Mọi người ở đây chơi bi a, chơi bóng bàn. Chúng tôi không có chợ, không có khu mua sắm”, Eugenio Bito-onon, 55 tuổi, thị trưởng thị trấn Kalayaan nói.

Bito-onon, người ban đầu tới Kalayaan năm 1997 để làm việc như một nhà quy hoạch thị trấn, nói người dân ở đây được chính phủ khuyến khích giữ đảo bằng cách tạo việc làm, cấp nhà ở cũng như cung cấp miễn phí những nhu yếu phẩm như gạo, dầu ăn, mì, thức ăn đóng hộp. Cá cũng khá phong phú và các giếng nước đủ cung cấp nước ngọt cho cư dân. Tuy nhiên, các tiện nghi khác khá thiếu thốn như trường học, trạm y tế…

Một công nhân xây dựng tên là Nonelon Balbontin, 34 tuổi thì nói, cuộc sống ở đây tốt hơn ở Thủ đô Manila ồn ào, đông đúc nơi anh từng sống. "Nơi đây rất đẹp, khí hậu tốt, tôi có việc làm, chúng tôi không có vấn đề gì, không ốm đau, thức ăn miễn phí, do chính phủ chi trả”, anh nói.

Thái An (theo BBC, Inquirer)

Không chỉ trong bài báo này, mà còn trong một số bài khác dịch lại thuần túy từ báo nước ngoài (trong đây có tờ Inquirer của Phillipines), không có các đính chính, bình luận làm rõ làm cho độc giả cảm thấy như đây là "chuyện của người ta", chuyện giữa PLP và Trung Quốc. Đã đành là tỏ thái độ phản đối TQ, nhưng PLP cũng là một bên tranh chấp, và hành động của họ, xét trên quan điểm Việt Nam là hành động "xâm phạm chủ quyền quốc gia Việt Nam", và Việt Nam cũng cần lên tiếng, cần "nổi đóa" đúng như TQ đã làm.

Quan hệ cấp cao giữa Việt Nam và Phillipines (thiển nghĩ) có phần tế nhị bởi tính chất tranh thủ liên minh tạm thời chống lại địch thủ chung đáng gờm hơn, thế nhưng trong khi nhà nước chưa có phát ngôn chính thức thì các báo cũng cần phải thận trọng trong việc đưa bài, dù dẫn lại cũng cần phải có những đính chính xác đáng dựa trên quan điểm của Việt Nam. Chứ như thế này thì khác gì gián tiếp công nhận chủ quyền của PLP với Trường Sa?

Trích dẫn
"Chính phủ hỗ trợ dân giữ đảo" 
Huh Chẳng biết người dịch nghĩ gì?
Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #142 vào lúc: 20 Tháng Bảy, 2011, 12:59:05 pm »

http://giaoduc.net.vn/xa-hoi/40-tin-nong/7308-cu-quan-chc-b-quc-phong-k-chuyn-lp-bin-ti-trng-sa-.html

Cựu quan chức Bộ Quốc phòng kể chuyện lấp biển tại Trường Sa  

(GDVN) - Là người đã từng gắn bó với Trường Sa 15 năm, Thiếu tướng Nguyễn Văn Ninh – nguyên Phó cục trưởng Cục tác chiến, Bộ tổng tham mưu có rất nhiều kỷ niệm với những người lính nơi đảo xa. Gặp chúng tôi trong một buổi chiều Hà Nội nóng như đổ lửa, người lính già vừa bước sang tuổi 85 xúc động nhớ về những kỷ niệm một thời “đảo xa”.

Làm nhà giữa biển

Để bảo vệ chủ quyền quốc gia từng tấc biển, Việt Nam đã có nhiều ý tưởng trong đó nổi bật chính là ý tưởng dựng nhà chân cao trên những bãi đá cạn nằm giữa biển khơi.
 

 
Các tướng lĩnh hải quân chỉ đạo việc lấp biển

 
 
Vừa chỉ bản đồ ông Ninh vừa nói: “Nhà cao chân là ý tưởng của tôi với Đô đốc, thượng tướng Giáp Văn Cương, Tư lệnh quân chủng hải quân. Chúng tôi đề xuất lên Bộ Quốc phòng và Bộ Chính trị.
 
Ngày 5/7/1989, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Võ Văn Kiệt kí quyết định thành lập cụm Kinh tế - Khoa học – Dịch vụ DK1 thuộc Vũng Tàu – Côn Đảo nằm trong thềm lục địa của Việt Nam. Đến ngày 26/2/1990, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Lê Đức Anh giao cho Bộ tư lệnh Công binh làm chủ đầu tư xây dựng hệ thống công trình DK1”.
 
Bãi đá cạn Tư Chính dù nằm gần Trường Sa nhưng không thuộc quần đảo Trường Sa mà thuộc Vũng Tàu – Côn Đảo. Nói là bãi đá cạn nhưng bãi đá này nằm dưới mặt nước biển chỗ nông thì 5 m chỗ sâu cũng phải đến 15 m. Vì nó cao hơn so với những vùng biển xung quanh nên gọi là bãi đá cạn.
 
Những nhà cao chân này được xây dựng rất vững chắc, khi xây dựng, các chiến sĩ công binh đã phải khoan sâu xuống nền đá rắn chắc ở phía dưới để đảm bảo trực thăng có thể đỗ trên nóc nhà. Trải mình qua nắng, sóng gió khắc nghiệt và thời gian, những ngôi nhà cao chân này vẫn sừng sững giữa biển khơi. Nơi đây là biểu tượng cho sự hiên ngang, bất khuất bảo vệ chủ quyền dân tộc nơi hải đảo.
 
Nước mắt người chiến sĩ

Ông Ninh kể: “Ở mỗi nhà cao chân có khoảng 10 – 15 chiến sỹ bộ đội.Cuộc sống nơi đây vô vàn khó khăn. Khi sóng yên biển lặng thì các tàu tiếp tế còn tiếp cận được với nhà cao chân, còn khi sóng mạnh thì không ai có thể lên trên nhà được. Lý do là vì các tàu mà lại gần nhà có thể bị sóng xô mạnh vào chân nhà, rất nguy hiểm. Có những hôm sóng to đánh mạnh đến tận sàn nhà.
 
Anh em ở ngoài khơi thì rất thèm được xem và nghe văn công hát. Tôi nhớ một lần có đoàn văn công ra đảo hát nhưng sóng to quá không lên được đành phải hát dưới thuyền từ xa cho chiến sỹ nghe. Anh chị em văn công vừa khóc, vừa hát vì không lên tận nơi hát cho các chiến sỹ nghe, chỉ nhìn thấy nhau qua bọt biển trắng xóa.
 
Những chiến sĩ can trường bao năm giữa sóng gió trùng trùng, những cán bộ đã kinh qua trận mạc cũng không cầm nổi nước mắt. Kỷ niệm đó sẽ không bao giờ phai trong tâm trí tôi.
 
Mọi thứ thiết yếu cần cho cuộc sống đều được tiếp tế thông qua tàu gửi hàng. Nhưng không vì thế mà nơi đây không có màu xanh – màu của sự sống: các chiến sỹ trồng rau vào các khay. Khi có gió Nam thì đem sang phía Bắc ngôi nhà tránh gió, khi sóng mạnh quá thì đem vào trong nhà.
 
Trước kia chưa có điện thoại thì các chiến sỹ phải đánh điện bằng sóng vô tuyến vào đất liền, còn bây giờ có điện thoại thì đỡ hơn”.
 
Sau hơn hai mươi năm, đã có 20 nhà chân cao được làm. Trong đó có 5 nhà đã bị đổ vì thiên nhiên khắc nghiệt. Trong niềm xúc động dâng trào ông Ninh nghẹn ngào: “Mới đó đã 20 năm từ ngày bắt đầu xây dựng DK1 trên thềm lục địa Việt Nam - vùng Tư Chính. Mình là một nhân chứng thấy được sự gian khổ hy sinh. Đã có 13 đồng chí hy sinh. Xin kính cẩn chào vĩnh biệt các đồng chí đã âm thầm cống hiến cho tổ quốc!”
 
Lấp biển, dựng đảo
 


Không chỉ là đưa ra ý tưởng dựng nhà cao chân giữa nơi biển khơi để bảo vệ chủ quyền biển đảo mà thiếu tướng Nguyễn Văn Ninh còn là người tham gia trực tiếp vào việc chỉ đạo “lấp biển”.
 
Nhận thấy có những vùng đá cạn khi thủy triều hạ lộ thiên và cảm nhận được cuộc sống khó khăn trên những ngôi nhà cao chân, Bộ Tư lệnh Hải quân đã đề xuất lên cấp trên và được Bộ quốc phòng đồng ý. Công cuộc “lấp biển” bắt đầu.
 
 

Lô cốt vững chắc thay thế cho nhà chân dài (bên cạnh)

 
 
Trực tiếp chỉ đạo thực hiện công việc lấp biển này có Đô đốc, thượng tướng Giáp Văn Cương và Thiếu tướng Nguyễn Văn Ninh. Những tảng đá từ trong đất liền được đưa ra để “lấp biển” để tạo thành những vùng nền đảo nhô cao. Từ nền tảng đó, những lô cốt vững chắc được dựng lên.
 
Trong số đó phải kể đến trên bãi Thuyền Chài và bãi Tiên Nữ gần đảo An Bang, bãi Đá lát gần đảo Trường Sa Lớn…
 
Thiếu tướng Ninh nhớ lại: “ Bãi Tiên Nữ đẹp lắm. Trên bãi này còn có một cây hải đăng. Đó là niềm tự hào của Việt Nam bởi vì nước tranh chấp chủ quyền với Việt Nam tại quần đảo Trường Sa tuyệt nhiên không có cái hải đăng nào”.
 
Ông Ninh cho biết: ở quần đảo Trường Sa, Việt Nam có 5 ngọn hải đăng. Đó là một ngọn nằm trên đảo Song Tử Tây, một ngọn nằm trên bãi Tiên Nữ, một ngọn nằm trên đảo An Bang, một ngọn nằm trên đảo Trường Sa Lớn, ngọn còn lại nằm trên đảo Đá Lát. Năm ngọn hải đăng này đều có khả năng chiếu xa 25 hải lý (khoảng 30 km) để dẫn đường cho các tàu thuyền quốc tế đi qua vùng biển này.
 
Ông Ninh nói: “Đó là sự khẳng định chủ quyền của Việt Nam ta tại quần đảo Trường Sa, mảnh trời biển tiên tổ để lại cho nhân dân ta”.

Tuệ Minh (ghi)
Ps: Cụ Ninh vốn là lính tên lửa, nhà báo cho cái tít cựu quan chức bộ quốc phòng nghe chán quá.
Logged
nguyenhoangcema
Thành viên
*
Bài viết: 2087


AK 47


« Trả lời #143 vào lúc: 21 Tháng Bảy, 2011, 08:04:29 am »

Sự thật về công hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng

Gần đây Trung Quốc luôn rêu rao cái gọi là họ có chủ quyền không thể tranh cãi đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.


Công hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Ảnh: internet

Việc Trung Quốc diễn giải nội dung Công hàm ngày 14/9/1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng như là một chứng cứ cho thấy Việt Nam đã công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là hết sức phiến diện và xuyên tạc nội dung, ý nghĩa của bản Công hàm đó, hoàn toàn xa lạ với nền tảng pháp lý của Việt Nam cũng như luật pháp quốc tế, bất chấp thực tế khách quan của bối cảnh lịch sử đương thời.

Có thể nói, giải thích xuyên tạc Công hàm 1958 là một trong chuỗi những hành động có tính toán nhằm tạo cớ, từng bước hợp thức hóa yêu sách chủ quyền phi lý của họ đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.

Theo lý giải của Trung Quốc, ngày 4/9/1958, Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai đã công khai tuyên bố với quốc tế quyết định của Chính phủ Trung Quốc về hải phận 12 hải lý kể từ đất liền của Trung Quốc và các đảo ngoài khơi, bao gồm cả quần đảo Tây Sa và Nam Sa (tức quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam).

Sau đó, ngày 14/9/1958, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) Phạm Văn Đồng gửi Công hàm cho Thủ tướng Chu Ân Lai, nguyên văn như sau:

"Thưa Đồng chí Tổng lý,

Chúng tôi xin trân trọng báo tin để Đồng chí Tổng lý rõ: Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của Chính phủ nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc.

Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa trên mặt biển. Chúng tôi xin kính gửi Đồng chí Tổng lý lời chào rất trân trọng”.

Cần phải thấy rằng, các tuyên bố nói trên của Trung Quốc cũng như của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời trong bối cảnh có nhiều chuyển biến phức tạp và cấp bách đối với Trung Quốc về tình hình lãnh thổ trên biển theo luật pháp quốc tế cũng như diễn biến căng thẳng của vấn đề quân sự xung quanh eo biển Đài Loan.

Năm 1956, Liên Hợp Quốc bắt đầu tiến hành các hội nghị quốc tế bàn về Luật Biển, sau đó một số hiệp định được ký kết vào năm 1958, tuy nhiên vẫn chưa làm thỏa mãn yêu sách về lãnh hải của một số quốc gia.

Bối cảnh xuất hiện công hàm

Từ đầu thế kỷ 20, nhiều quốc gia đã bắt đầu chú ý tới nguồn lợi to lớn từ khoáng sản và tài nguyên biển, bộc lộ ý đồ mở rộng chủ quyền trên biển. Trung Quốc, dù trong lịch sử ít quan tâm đến biển, cũng bắt đầu chú ý đến việc mở mang, kiếm tìm những đặc quyền trên biển. Mặc dù lúc đó chưa phải là thành viên của Liên Hợp Quốc, nhưng Trung Quốc cũng bắt đầu chú ý đến việc lên tiếng với cộng đồng quốc tế nhằm giải quyết các vấn đề trên biển theo hướng có lợi cho Trung Quốc.

Trong chiến lược cho tương lai, thì việc cạnh tranh trên biển, cũng như tìm kiếm những nguồn tài nguyên trên biển là một vấn đề được Trung Quốc đặt ra. Trên thực tế, cũng từ đầu thế kỷ 20, Trung Quốc đã hình thành ý định nhòm ngó các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.

Rõ ràng, việc nhòm ngó các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam từ thế kỷ 20 đã nằm trong chiến lược "lấn sân” của Trung Quốc về tham vọng mở rộng biên giới quốc gia trên biển.

Ngày 26/5/1950, chiến tranh Triều Tiên bùng nổ, Tổng thống Hoa Kỳ Harry S. Truman đã ra lệnh cho Hạm đội 7 tiến vào eo biển Đài Loan, ngăn chặn cuộc tấn công của Trung Quốc nhắm vào các đảo trên eo biển Đài Loan. Với hành động này, Mỹ đã thực sự bảo hộ Đài Loan, mặc cho Trung Quốc kịch liệt lên án.

Để tỏ rõ quyết tâm giải phóng Đài Loan, ngày 3/9/1954, Trung Quốc đã tấn công trừng phạt đối với các hòn đảo ven biển như Kim Môn, Mã Tổ. Các nhà chép sử gọi đây là cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan lần thứ nhất.

Ngày 11/8/1954, Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai tuyên bố sẽ "giải phóng” Đài Loan, và tăng cường pháo kích vào hai đảo Kim Môn và Mã Tổ.

Ngày 12/9/1954, Chủ tịch Hội đồng Liên quân Hoa Kỳ đưa ra dự tính tấn công Trung Quốc bằng vũ khí nguyên tử nhưng Tổng thống Eisenhower đã do dự sử dụng vũ khí nguyên tử cũng như sự liên can của quân đội Hoa Kỳ vào cuộc chiến này.

Năm 1958, tiếp tục xảy ra cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan lần thứ hai. Ngày 23/8/1958 Trung Quốc đột ngột tăng cường nã pháo vào đảo Kim Môn. Theo Hiệp định Phòng thủ tương hỗ giữa Đài Loan-Hoa Kỳ, Tổng thống Eisenhower đã ra lệnh cho tàu chiến Hoa Kỳ đến bảo vệ đường tiếp tế hậu cần từ đảo Đài Loan đến 2 đảo tiền tiêu Kim Môn và Mã Tổ.

Ngoài bối cảnh "phức tạp và cấp bách” đối với Trung Quốc như đã nêu trên, theo Thạc sĩ Hoàng Việt (Quỹ Nghiên cứu Biển Đông), Công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng ra đời trong bối cảnh quan hệ đặc thù Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – Trung Quốc lúc đó "vừa là đồng chí vừa là anh em”.

Năm 1949, bộ đội Việt Nam còn tấn công và chiếm vùng Trúc Sơn thuộc lãnh thổ Trung Quốc từ tay các lực lượng khác rồi trao trả lại cho Quân giải phóng Trung Quốc. Năm 1957, Trung Quốc chiếm giữ đảo Bạch Long Vĩ của Việt Nam từ tay một số lực lượng khác, rồi sau đó cũng trao trả cho Việt Nam.

Điều này cho thấy quan hệ đặc thù của hai nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – Trung Quốc lúc bấy giờ. Do vậy, trong tình hình lãnh thổ Trung Quốc đang bị đe dọa chia cắt, cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan lần thứ hai khiến Hải quân Hoa Kỳ đưa tàu chiến vào can thiệp, việc Trung Quốc ra tuyên bố về lãnh hải bao gồm đảo Đài Loan trước hết nhằm khẳng định chủ quyền trên biển của Trung Quốc trong tình thế bị đe dọa tại eo biển Đài Loan.

Tuy nhiên, Trung Quốc vẫn không quên mục đích "sâu xa” của họ trên Biển Đông nên đã "lồng ghép” thêm hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam vào bản tuyên bố. Công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng xuất phát từ mối quan hệ rất đặc thù với Trung Quốc trong thời điểm Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đang rất cần tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ của các quốc gia trong khối xã hội chủ nghĩa bấy giờ và là một cử chỉ ngoại giao tốt đẹp thể hiện quan điểm ủng hộ của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong việc tôn trọng lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc trước các diễn biến quân sự phức tạp trên eo biển Đài Loan.

Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã phát biểu những lời ủng hộ Trung Quốc trong hoàn cảnh hết sức khẩn trương, chiến tranh chuẩn bị leo thang, Hạm đội 7 của Mỹ đang tiến vào eo biển Đài Loan và đe dọa Trung Quốc.

Nội dung Công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng được thể hiện rất thận trọng, đặc biệt là không hề có việc tuyên bố từ bỏ chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Bởi, hơn ai hết, chính Thủ tướng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thấu hiểu quyền tuyên bố về lãnh thổ quốc gia thuộc thẩm quyền cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất là Quốc hội, và việc bảo vệ tòan vẹn lãnh thổ quốc gia luôn luôn là mục tiêu hàng đầu đối với Nhà nước và nhân dân Việt Nam, nhất là trong hoàn cảnh ra đời của Công hàm như đã nêu trên.

Công hàm 1958 có hai nội dung rất rõ ràng: Một là, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành việc Trung Quốc mở rộng lãnh hải ra 12 hải lý; Hai là, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chỉ thị cho các cơ quan nhà nước tôn trọng giới hạn lãnh hải 12 hải lý mà Trung Quốc tuyên bố.

Trong Công hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng không có từ nào, câu nào đề cập đến vấn đề lãnh thổ và chủ quyền, càng không nêu tên bất kỳ quần đảo nào như Trung Quốc đã nêu.

Do vậy, chỉ xét về câu chữ trong một văn bản có tính chất ngoại giao cũng dễ dàng nhận thấy mọi suy diễn cho rằng Công hàm 1958 đã tuyên bố từ bỏ chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và coi đó là bằng chứng khẳng định Việt Nam đã thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo này là xuyên tạc lịch sử và hoàn toàn không có cơ sở pháp lý.

Việt Nam có chủ quyền không thể chối cãi với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Tại Hội nghị San Francisco 1951, các quốc gia tham dự đã bác bỏ yêu sách về chủ quyền của Trung Quốc trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Cũng tại hội nghị này, Việt Nam đã long trọng tuyên bố chủ quyền lâu đời và liên tục của mình trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong phiên họp toàn thể mà không có bất kỳ sự phản đối hay ý kiến gì khác của tất cả các quốc gia tham dự. Điều đó có nghĩa là kể từ năm 1951, cộng động quốc tế đã thừa nhận chủ quyền lịch sử và pháp lý của Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Những tuyên bố đơn phương về chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo này theo luật pháp quốc tế là vô hiệu. Hiệp định Genève 1954, mà Trung Quốc là một nước tham gia chính thức, cũng thừa nhận chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về người Việt Nam. Các điều khoản trong Hiệp định cũng yêu cầu các quốc gia tham dự Hội nghị cam kết tôn trọng chủ quyền độc lập, nền thống nhất quốc gia và sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.

Do vậy, phần tuyên bố về chủ quyền của Trung Quốc liên quan tới hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam trong bản tuyên bố ngày 4/9/1958 về cơ sở pháp lý quốc tế đương nhiên được xem là không có hiệu lực.

Trong Công hàm 1958, Thủ tướng Phạm Văn Đồng không hề đề cập đến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Vì điều đó là không cần thiết, bởi theo Hiệp định Genève 1954, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm phía Nam vĩ tuyến 17 tạm thời thuộc quyền quản lý của Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa (VNCH).

Trong thời điểm đó, dưới góc độ tài phán quốc tế, thì Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không có nghĩa vụ và quyền hạn hành xử chủ quyền tại hai quần đảo này theo luật pháp quốc tế. Công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng đương nhiên chỉ tán thành những tuyên bố của Trung Quốc có nội dung hợp pháp được cộng đồng quốc tế thừa nhận trên cơ sở luật pháp quốc tế cho đến giai đoạn đó.

Một phần nội dung của bản tuyên bố ngày 4/9/1958 của Trung Quốc đã vi phạm nghiêm trọng chủ quyền quốc gia về lãnh thổ của Việt Nam, đồng thời cũng vi phạm nghiêm trọng các cơ sở pháp lý về chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà cộng đồng quốc tế đã thừa nhận cũng như đã nhiều lần tái thừa nhận một cách minh thị là thuộc chủ quyền của Việt Nam.

Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong bối cảnh quan hệ hữu nghị rất đặc thù với Trung Quốc đã khẳng định lập trường ghi nhận, tán thành tuyên bố giới hạn 12 hải lý về lãnh hải của Trung Quốc, còn những nội dung cụ thể diễn giải vượt quá phạm vi chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc theo các hiệp ước quốc tế đã không được đề cập tới như là một sự mặc nhiên thừa nhận sự vô hiệu của nó dưới ánh sáng của pháp luật quốc tế.

Trong khi đó, Chính quyền Việt Nam Cộng hòa, theo Hiệp định Genève 1954, đã liên tục thực thi chủ quyền lâu đời của người Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa bằng các văn bản hành chính nhà nước cũng như bằng việc triển khai thực thi chủ quyền thực tế trên hai quần đảo này.

Đỉnh cao của sự khẳng định chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong giai đoạn này là trận hải chiến quyết liệt của Hải quân Việt Nam Cộng hòa chống lại sự xâm lược của tàu chiến và máy bay Trung Quốc tại quần đảo Hoàng Sa năm 1974

Trong bối cảnh lịch sử đặc biệt nêu trên càng thấy rõ một sự thật hiển nhiên là Công hàm ngày 14/9/1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng đơn giản chỉ ghi nhận lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc, không hề nhắc lại các nội dung mập mờ liên quan đến các quần đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam.

Về thực chất, Công hàm 1958 thể hiện một thái độ chính trị, một cử chỉ hữu nghị với tuyên bố giới hạn lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc. Thực là phi lý, nếu cố tình suy diễn và xuyên tạc (như lập luận phía Trung Quốc), cho rằng Thủ tướng Phạm Văn Đồng, người con ưu tú của dân tộc, lại ký văn bản từ bỏ lãnh thổ và chủ quyền của đất nước trong khi chính ông và cả dân tộc Việt Nam đã chiến đấu hết mình để giành độc lập, tự do.

Có lẽ cần phải nhấn mạnh rằng tất cả những hành động ngoại giao của Thủ tướng Phạm Văn Đồng trong Công hàm 1958 có thể hiểu không phải là ông không nhìn thấy mọi ý đồ của Trung Quốc đối với cách mạng Việt Nam vì ông đã có kinh nghiệm trong bàn đàm phán Genève năm 1954, khi mà Trung Quốc đã có không ít động thái rất bất lợi cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Nội dung Công hàm ngày 14/9/1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng phù hợp với hoàn cảnh và mối quan hệ đặc thù giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Trung Quốc bấy giờ, đồng thời cũng hàm chứa thái độ không bao giờ từ bỏ chủ quyền của người Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đó cũng là quan điểm nhất quán của Việt Nam, bởi từ năm 1945 đến nay, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Quốc hội Việt Nam Cộng hòa, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và sau đó là Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và hiện nay là Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam chưa bao giờ lên tiếng hoặc ra nghị quyết từ bỏ chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Còn tiếp

Nguồn http://quocphong.baodatviet.vn/Home/QPCN/Su-that-ve-cong-ham-cua-Thu-tuong-Pham-Van-Dong/20117/156667.datviet
Logged

Việt Nam long live
(Sống ở trên đời chả sợ, thì sợ gì chết. Chết đã không sợ thì... ngoài vợ ra còn sợ cái gì nữa.)
nguyenhoangcema
Thành viên
*
Bài viết: 2087


AK 47


« Trả lời #144 vào lúc: 21 Tháng Bảy, 2011, 08:06:16 am »

Sự thật về công hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng
Tiếp theo và hết

Về thuyết "estoppel”

Một cơ sở nữa trên phương diện pháp lý, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lúc đó không trực tiếp quản lý đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Trước năm 1975, các quốc gia và lãnh thổ tranh chấp gồm: Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam Cộng hòa và Philippines. Như vậy, những lời tuyên bố của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa xem như lời tuyên bố của một quốc gia thứ ba không có ảnh hưởng đến vụ tranh chấp.

Tuy nhiên, có tác giả đã cố tình nêu thuyết "estoppel” để suy diễn những lời tuyên bố đó có hiệu lực bó buộc đối với Việt Nam.

Theo luật quốc tế, không có một văn bản pháp lý nào có thể gắn cho những lời tuyên bố đơn phương một tính chất bó buộc, ngoại trừ thuyết "estoppel”. Mục đích chính của nó ngăn chặn trường hợp một quốc gia có thể hưởng lợi vì những thái độ bất nhất của mình, và do đó, gây thiệt hại cho quốc gia khác.

Vì vậy, estoppel phải hội đủ các điều kiện chính:

(1) Lời tuyên bố hoặc hành động phải do một người hoặc cơ quan đại diện cho quốc gia phát biểu và phải được phát biểu một cách minh bạch;
(2) Quốc gia nại "estoppel” phải chứng minh rằng mình đã dựa trên những lời tuyên bố hoặc hoạt động của quốc gia kia, mà có những hoạt động nào đó, hoặc không hoạt động;
(3) Quốc gia nại "estoppel” cũng phải chứng minh rằng, vì dựa vào lời tuyên bố của quốc gia kia, mình đã bị thiệt hại, hoặc quốc gia kia đã hưởng lợi khi phát biểu lời tuyên bố đó;
(4) Nhiều bản án còn đòi hỏi lời tuyên bố hoặc hoạt động phải được phát biểu một cách liên tục và lâu dài. Thí dụ: bản án "Phân định biển trong vùng Vịnh Maine”, bản án "Những hoạt động quân sự và bán quân sự tại Nicaragua”, bản án "Ngôi đền Preah Vihear”..

Áp dụng những nguyên tắc trên của estoppel vào những lời tuyên bố của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, chúng ta thấy thiếu điều kiện 2 và 3 đã nêu ở trên. Năm 1956, năm 1958 và năm 1965, Trung Quốc đã không có thái độ nào, hoặc thay đổi thái độ vì dựa vào lời tuyên bố của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trung Quốc cũng không thể chứng minh được rằng mình bị thiệt hại gì do dựa vào những lời tuyên bố đó. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng không được hưởng lợi gì khi có những lời tuyên bố đó.

Trong suốt quá trình thực hiện mưu đồ bá chủ trên Biển Đông, Trung Quốc đã không ít lần đưa ra các tài liệu xuyên tạc lịch sử, biến có thành không, biến không thành có, tung hỏa mù để cố tình làm sai lệch nhận thức của chính nhân dân Trung Quốc cũng như của cộng đồng quốc tế về vấn đề này theo hướng có lợi cho mưu đồ của Trung Quốc.

Tuy nhiên, trước những bằng chứng hiển nhiên của sự thật lịch sử và dưới ánh sáng của luật pháp quốc tế những hành vi xuyên tạc, tung hỏa mù, cố tình làm cho cộng đồng quốc tế ngộ nhận càng khiến cho Trung Quốc lộ rõ âm mưu cũng như thủ đoạn của họ trong suốt quá trình áp đặt ý đồ "nuốt trọn” Biển Đông, theo kiểu "miệng nói hòa bình không xưng bá, tay làm phức tạp hoá tình hình”.

Nguồn http://quocphong.baodatviet.vn/Home/QPCN/Su-that-ve-cong-ham-cua-Thu-tuong-Pham-Van-Dong/20117/156667.datviet
Logged

Việt Nam long live
(Sống ở trên đời chả sợ, thì sợ gì chết. Chết đã không sợ thì... ngoài vợ ra còn sợ cái gì nữa.)
tuaans
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 3774


« Trả lời #145 vào lúc: 21 Tháng Bảy, 2011, 09:26:18 am »

Trích dẫn
Theo lý giải của Trung Quốc, ngày 4/9/1958, Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai đã công khai tuyên bố với quốc tế quyết định của Chính phủ Trung Quốc về hải phận 12 hải lý kể từ đất liền của Trung Quốc và các đảo ngoài khơi, bao gồm cả quần đảo Tây Sa và Nam Sa (tức quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam).
Bác nào có cái tuyên bố của ông Chu này thì post lên nguyên văn, xem nó ra làm sao, để đối chiếu với công hàm của cụ Đồng. Nếu có kèm bản dịch tiếng Việt thì tốt.
Thanks.
Logged
OldBuff
Moderator
*
Bài viết: 3053


Vì nhân dân quên mình


« Trả lời #146 vào lúc: 21 Tháng Bảy, 2011, 01:57:12 pm »

Trích dẫn
Theo lý giải của Trung Quốc, ngày 4/9/1958, Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai đã công khai tuyên bố với quốc tế quyết định của Chính phủ Trung Quốc về hải phận 12 hải lý kể từ đất liền của Trung Quốc và các đảo ngoài khơi, bao gồm cả quần đảo Tây Sa và Nam Sa (tức quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam).
Bác nào có cái tuyên bố của ông Chu này thì post lên nguyên văn, xem nó ra làm sao, để đối chiếu với công hàm của cụ Đồng. Nếu có kèm bản dịch tiếng Việt thì tốt.
Thanks.

Giống như cái gọi là công hàm của bác Đồng, bản tuyên bố ngày 4/9/1958 của Trung Quốc cũng không được các bên trưng ra công luận bằng con đường chính thức ngoài những bản trôi nổi trên mạng.

Nội dung dưới đây được cho là Tuyên bố ngày 4/9/1958 của Chính phủ nước CHNDTH:

Trích dẫn
中华人民共和国政府关于领海的声明 (1958年9月4日)

  中华人民共和国政府宣布

  (一)中华人民共和国的领海宽度为12海里。这项规定适用于中华人民共和国的一切领土,包括中国大陆及其沿海岛屿,和同大陆及其沿海岛屿隔有公海的台湾及其周围各岛、澎湖列岛、东沙群岛、西沙群岛、中沙群岛、南沙群岛以及其他属于中国的岛屿。

  (二) 中国大陆及其沿海岛屿的领海以连接大陆岸上和沿海岸外缘岛屿上各基点之间的各直线为基线,从基线向外延伸12海里的水域是中国的领海。在基线以内的水域,包括渤海湾、琼州海峡在内、都是中国的内海、在基线以内的岛屿,包括东引岛、高登岛、马祖列岛、白犬列岛、乌岳岛、大小金门岛、大担岛、二担岛、东碇岛在内,都是中国的内海。

  (三)一切外国飞机和军用船舶,未经中华人民共和国政府的许可,不得进入中国的领海和领海上空。任何外国船舶在中国领海航行,必须遵守中华人民共和国政府的有关法令。

  (四)以上(一)(二)两项规定的原则同样适用于台湾及其周围各岛、澎湖列岛、东沙群岛、西沙群岛、南沙群岛以及其他属于中国的岛屿。

  台湾和澎湖地区现在仍然被美国武力侵占,这是侵犯中华人民共和国领土完整的和主权的非法行为。台湾和澎湖等地尚待收复,中华人民共和国政府有权采取一切适当的方法在适当的时候,收复这些地区,这是中国的内政,不容外国干涉。

Đọc là:
Trích dẫn
Trung Hoa Nhân dân Cộng hòa quốc Chính phủ quan ư lãnh hải đích thanh minh (1958 niên 9 nguyệt 4 nhật)

Trung Hoa Nhân dân Cộng hòa quốc Chính phủ tuyên bố:

(Nhất) Trung Hoa Nhân Dân Cộng Hòa Quốc đích lãnh hải khoan độ vi 12 hải lí. Giá hạng quy định thích dụng ư Trung Hoa Nhân Dân Cộng Hòa Quốc đích nhất thiết lãnh thổ, bao quát Trung Quốc đại lục cập kỳ duyên hải đảo tự, hòa đồng đại lục cập kỳ duyên hải đảo tự cách hữu công hải đích Đài Loan cập kỳ chu vi các đảo, Bành Hồ liệt đảo, Đông Sa quần đảo, Tây Sa quần đảo, Trung Sa quần đảo, Nam Sa quần đảo dĩ cập kỳ tha thuộc vu Trung Quốc đích đảo tự.

(Nhị) Trung Quốc đại lục cập kỳ duyên hải đảo tự đích lãnh hải dĩ liên tiếp đại lục ngạn thượng hòa duyên hải ngạn ngoại duyến đảo tự thượng các cơ điểm chi gian đích các trực tuyến vi cơ tuyến, tùng cơ tuyến hướng ngoại diên thân 12 hải lí đích thủy vực thị Trung Quốc đích lãnh hải. Tại cơ tuyến dĩ nội đích thủy vực, bao quát Bột Hải loan, Quỳnh Châu hải hạp tại nội, đô thị Trung Quốc đích nội hải, tại cơ tuyến dĩ nội đích đảo tự, bao quát Đông Dẫn đảo, Cao Đăng đảo, Mã Tổ liệt đảo, Bạch Khuyển liệt đảo, Ô Nhạc đảo, Đại Tiểu Kim Môn đảo, Đại Đảm đảo, Nhị Đảm đảo, Đông Đĩnh đảo tại nội, đô thị Trung Quốc đích nội hải.

(Tam) Nhất thiết ngoại quốc phi cơ hòa quân dụng thuyền bạc, vị kinh Trung Hoa Nhân Dân Cộng Hòa Quốc Chính phủ đích hứa khả, bất đắc tiến nhập Trung Quốc đích lãnh hải hòa lãnh hải thượng không. Nhiệm hà ngoại quốc thuyền bạc tại Trung Quốc lãnh hải hàng hành, tất tu tuân thủ Trung Hoa Nhân Dân Cộng Hòa Quốc Chính phủ đích hữu quan pháp lệnh.

(Tứ) Dĩ thượng (Nhất) (Nhị) lưỡng hạng quy định đích nguyên tắc đồng dạng thích dụng ư Đài Loan cập kỳ chu vi các đảo, Bành Hồ liệt đảo, Đông Sa quần đảo, Tây Sa quần đảo, Nam Sa quần đảo dĩ cập kỳ tha thuộc vu Trung Quốc đích đảo tự.

Đài Loan hòa Bành Hồ địa khu hiện tại nhưng nhiên bị Mỹ quốc vũ lực xâm chiếm, giá thị xâm phạm Trung Hoa Nhân Dân Cộng Hòa Quốc lãnh thổ hoàn chỉnh đích hòa chủ quyền đích phi pháp hành vi. Đài Loan hòa Bành Hồ đẳng địa thượng đãi thu phục, Trung Hoa Nhân Dân Cộng Hòa Quốc Chính phủ hữu quyền thải thủ nhất thiết thích đương đích phương pháp tại thích đương đích thời hậu, thu phục giá ta địa khu, giá thị Trung Quốc đích nội chính, bất dung ngoại quốc can thiệp.

Nghĩa: Công bố giải thích về lãnh hải của Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ngày 4 tháng 9 năm 1958

Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tuyên bố:

Một là, Lãnh hải của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa rộng 12 hải lý. Quy định này được áp dụng cho mọi vùng lãnh thổ của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, gồm phần lãnh thổ thuộc đất liền Trung Quốc cùng các đảo nhỏ ven bờ và ngoài khơi quy thuộc đất liền, đảo chính Đài Loan cùng các đảo vây quanh, cụm đảo Bành Hồ, quần đảo Đông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa cùng các đảo nhỏ quy thuộc Trung Quốc khác.

Hai là, lãnh hải Trung Quốc rộng 12 hải lý nằm ở phía ngoài đường cơ sở thẳng nối liền các cơ điểm phía ngoài cùng của đường bờ biển đất liền và mép ngoài cùng của các đảo nhỏ ven bờ. Vùng nước nằm phía trong đường cơ sở gồm cả vịnh Bột Hải và eo biển Quỳnh Châu, vùng nước nằm phía trong đường cơ sở đi qua các đảo nhỏ gồm đảo Đông Dẫn, đảo Cao Đăng, cụm đảo Mã Tổ, cụm đảo Bạch Khuyển, đảo Ô Nhạc, đảo Đại Tiểu Kim Môn, đảo Đại Đảm, đảo Nhị Đảm, đảo Đông Đĩnh là vùng nội thủy của Trung Quốc.

Ba là, Tất cả các máy bay và tàu chiến nước ngoài không được phép tiến vào lãnh hải và vùng trời phía trên lãnh hải Trung Quốc nếu không được sự đồng ý của Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Bất kỳ tàu thuyền nước ngoài nào đi qua lãnh hải Trung Quốc đều phải tuân thủ pháp luật liên quan của Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.

Bốn là, Các quy định tại mục Một và Hai được áp dụng cho cả Đài Loan cùng các đảo nhỏ xung quanh, cụm đảo Bành Hồ, quần đảo Đông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa cùng các đảo nhỏ quy thuộc Trung Quốc khác.   

Vùng đất Đài Loan và Bành Hồ hiện vẫn đang bị Mỹ cưỡng chiếm. Hành vi phi pháp này xâm phạm chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tuyên bố đây là công việc nội bộ không cho phép nước ngoài can thiệp và có quyền áp dụng mọi biện pháp cần thiết tại thời điểm thích hợp để thu hồi các vùng lãnh thổ này.
Logged

Thượng tôn công lý - Chế áp cường quyền
Su30MK2V
Thành viên
*
Bài viết: 158

Tôn trọng và khiêm tốn


« Trả lời #147 vào lúc: 21 Tháng Bảy, 2011, 02:18:27 pm »

Vậy đấy, TQ tuyên bố cả đường lãnh hải 12 hải lý của nhiều quần đảo, có cả Tây Sa và Nam Sa. Nhưng tuyên bố tôn trọng đường 12 hải lý của bác Đồng hoàn toàn không có nghĩa là công nhận chủ quyền.

Đúng cái bọn TQ xuyên tạc bóp méo sự thật.
Logged
thanhh63
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2188


« Trả lời #148 vào lúc: 21 Tháng Bảy, 2011, 03:27:17 pm »

Dùng tòa trọng tài quốc tế về luật biển trong biển Đông

Khả năng sử dụng các cơ quan tài phán quốc tế như Tòa ITLOS phụ thuộc vào thiện chí của các Bên tranh chấp vào tuyên bố bằng văn bản hay thỏa thuận của cấc Bên chấp nhận thẩm quyền của Tòa và vào câu hỏi đặt ra cho Tòa.

Ngày 8/7/2011, tại chuyến thăm Trung Quốc của mình, Ngoại trưởng Philippines Albert del Rosario nêu với người đồng cấp Trung Quốc Dương Khiết Trì về ý tưởng giải quyết tranh chấp trên biển Đông thông qua Tòa trọng tài quốc tế về Luật biển của Liên Hiệp Quốc (ITLOS) phân xử của Liên Hiệp Quốc.

Phát biểu trong một cuộc họp báo tại Manila ngày 11/7/2011, ông Rosario nói: “Tôi đề xuất rằng chúng ta cần thông qua Tòa trọng tài quốc tế về luật biển. Philippines sẵn sàng bảo vệ lập trường của Manila theo luật pháp quốc tế trong khuôn khổ Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển và chúng tôi cũng hỏi liệu họ (Trung Quốc) có sẵn sàng làm như vậy hay không”.

Phát biểu của Ngoại trưởng Philippines làm dấy lên những niềm hy vọng mới về một giải pháp cho vấn đề biển Đông vốn căng thẳng trong nhiều ngày qua. Manila bày tỏ “quan ngại sâu sắc” về việc Trung Quốc ít nhất 10 lần xâm nhập vùng biển Philippines. Bắc Kinh tiếp tục gửi các tàu Hải giám hiện đại ra Trường Sa và những tin tức về tàu sân bay và giàn khoan hiện đại của Trung Quốc đang chuẩn bị triển khai, cuộc tập trận chung Mỹ-Philippines hay những chuyến thăm con thoi của giới quân sự Mỹ-Trung càng làm cho biển Đông không yên ả.

Các hoạt động ngoại giao diễn ra dồn dập tại thủ đô các nước, từ Bắc Kinh, Hà Nội, tới Manila hay Jakarta nhằm giảm bớt các nguy cơ xung đột có thể dẫn đến những đụng độ với hậu quả khó lường. Thế nhưng đề xuất của Manila bị Bắc Kinh từ chối thẳng thừng.

Ngày 12/7 Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hồng Lỗi nói trước báo giới: “Trung Quốc giữ vững lập trường rằng tranh chấp trên biển Đông nên được giải quyết thông qua đàm phán trực tiếp giữa các nước liên quan trực tiếp”. Cũng theo ông Hồng Lỗi, tranh cãi về vấn đề này cần được giải quyết dựa trên “luật pháp quốc tế được công nhận”.

Trước đó, ngày 11/7/2011, phát biểu trong diễn văn đề cập tới “sự phát triển hòa bình của Trung Quốc và môi trường quốc tế” tại Hong Kong, Thứ trưởng Ngoại giao Trung Quốc, bà Phó Oánh lên lớp: “Quan trọng là giải quyết những điểm xung đột. Trung Quốc, Việt Nam và Philippines cần phải thể hiện phương thức ngoại giao khôn khéo để đảm bảo những mâu thuẫn của chúng ta sẽ được kiềm chế, xử lý hiệu quả và chúng ta có thể sẽ không để những mâu thuẫn đó ảnh hưởng đến quan hệ. Có thể nhận thấy rằng chúng tôi đang đi theo hướng này”.

Ngày 13/7/2011, đến lượt Đại sứ Việt Nam tại Philippines, ông Nguyễn Vũ Tú lên tiếng ủng hộ lời kêu gọi của Philippinnes về một giải pháp mang tính nguyên tắc theo Công ước của Liên Hiệp Quốc về Luật biển năm 1982 nhằm giải quyết hòa bình tranh chấp.

Ông khẳng định Việt Nam sẵn sàng làm việc chặt chẽ với Philippines cả song phương lẫn hợp tác giữa các bên yêu sách nhằm đạt được một giải pháp thỏa thuận giải quyết hòa bình tranh chấp”. Có vẻ như Việt Nam cũng sẵn sàng cùng Philippines đưa tranh chấp Trường Sa ra trước Tòa ITLOS nếu được yêu cầu.

Giữa những lập trường có phần trái ngược nhau như vậy câu hỏi đặt ra là Tòa trọng tài luật biển quốc tế liệu có giúp gì được cho tranh chấp ở biển Đông, những điều kiện gì cần phải đáp ứng về mặt thủ tục để Tòa ITLOS có đủ thẩm quyền, vấn đề cụ thể gì sẽ được đưa ra trước ITLOS, liệu các bên có tìm được tiếng nói chung hay vì sao Trung Quốc không chấp nhận đưa tranh chấp biển Đông ra trước Tòa ITLOS hay các cơ quan tài phán quốc tế khác.

1. Thủ tục và thẩm quyền của Tòa trọng tài quốc tế về Luật biển ITLOS

ITLOS là một cơ quan tài phán riêng biệt do Công ước của Liên Hiệp Quốc về luật biển năm 1982 thiết lập nhằm giải thích các điều khoản và việc áp dụng Công ước. Toà Trọng tài quốc tế về Luật biển đặt trụ sở chính thức tại Hamburg thuộc Cộng hoà liên bang Đức. Số thành viên của Toà án gồm 21 quan toà độc lập được tuyển chọn trong số các nhân vật nổi tiếng nhất về công bằng và liêm khiết, có năng lực rõ ràng trong lĩnh vực luật biển.

Công ước Luật biển của Liên Hiệp Quốc là Công ước đầu tiên quy định thủ tục hòa giải bắt buộc và thủ tục bắt buộc giải quyết tranh chấp bằng tài phán song Công ước cho phép các bên khả năng tự lựa chọn các cơ quan tài phán quốc tế.

Điều 287 quy định khi ký hay phê chuẩn Công ước hoặc tham gia Công ước hay ở bất kỳ thời điểm nào sau đó, để giải quyết các tranh chấp có liên quan đến việc giải thích hay áp dụng Công ước, quốc gia được quyền tự do lựa chọn, dưới hình thức tuyên bố bằng văn bản một hay nhiều biện pháp sau:

a) Toà trọng tài quốc tế về Luật biển ITLOS

b) Toà án công lý quốc tế ICJ

c) Một Toà Trọng tài được thành lập theo đúng Phụ lục VII của Công ước,

d) Một Toà Trọng tài đặc biệt để giải quyết các tranh chấp trong từng lĩnh vực riêng biệt như nghiên cứu khoa học biển, nghề cá, giao thông biển,...được thành lập theo đúng Phụ lục VII của Công ước.

Quyền tự do lựa chọn cũng có thể hàm ý tồn tại tình huống không lựa chọn một biện pháp nào. Khi đó theo điều 287, khoản 3 của Công ước, một quốc gia thành viên tham gia vào một vụ tranh chấp mà không được một tuyên bố còn có hiệu lực bảo vệ thì được xem là chấp nhận thủ tục trọng tài trù định ở Phụ lục VII.

Ngược lại quyền tự do lựa chọn cũng dẫn tới tình huống một quốc gia có thể tuyên bố chấp nhận một thủ tục duy nhất, hoặc hai hay nhiều thủ tục cùng lúc. Ví dụ, Vương quốc Bỉ vào lúc ký Công ước ngày 5/12/1984 chấp nhận theo thứ tự: Toà Trọng tài được thành lập theo đúng Phụ lục VII của Công ước; Toà trọng tài quốc tế về Luật biển; Toà án công lý quốc tế. Nga, Ukraine và Belarusia chọn Toà Trọng tài được thành lập theo đúng Phụ lục VII của Công ước nhưng bảo lưu một số vấn đề cho thủ tục trọng tài đặc biệt. Capt Vert, Oman và Uruguay chọn Toà trọng tài quốc tế về Luật biển và thứ hai là Toà án công lý quốc tế.

Như vậy sẽ có vấn đề cạnh tranh giữa danh nghĩa xét xử dựa trên điều 287 của Công ước và danh nghĩa khác phù hợp với điều 36 khoản 2 Quy chế của Toà án công lý quốc tế.

Theo điều 21 Quy chế của Toà ITLOS thì Tòa có thẩm quyền đối với tất cả các vụ tranh chấp và tất cả các yêu cầu được đưa ra Toà theo đúng Công ước và đối với tất cả các trường hợp được trù định rõ trong mọi thoả thuận khác, giao thẩm quyền cho Toà án.

Tóm lại Tòa ITLOS sẽ có thẩm quyền giải quyết các vụ tranh chấp liên quan đến việc giải thích và áp dụng Công ước của Liên Hiệp Quốc về Luật biển:

a)  Giữa các quốc gia tuyên bố bằng văn bản lựa chọn Tòa. Đây là thẩm quyền được xác định trước khi xảy ra tranh chấp. Khi tranh chấp xảy ra, một Bên liên quan và có tuyên bố bằng văn bản lựa chọn Tòa có quyền đơn phương kiện Bên tranh chấp với mình ra Tòa với điều kiện Bên tranh chấp này cũng có tuyên bố bằng văn bản chấp nhận trước thẩm quyền của Tòa.

b) Giữa các quốc gia tranh chấp có cùng thỏa thuận lựa chọn Tòa ITLOS bằng một thỏa thuận song phương hoặc đa phương.

Ngoài ra, trong trường hợp nếu được sự thoả thuận của tất cả các bên trong một hiệp ước hay một Công ước có hiệu lực có quan hệ đến một vấn đề do Công ước Luật biển đề cập, thì bất kỳ tranh chấp nào liên quan đến việc giải thích hay áp dụng hiệp ước hoặc Công ước đó cũng có thể được đưa ra Toà ITLOS theo đúng như điều thoả thuận.

Theo điều 297 của Công ước Luật biển, Toà ITLOS có thẩm quyền giải quyết các vụ tranh chấp liên quan đến việc giải thích và áp dụng Công ước về việc thi hành các quyền thuộc chủ quyền hay quyền tài phán của quốc gia ven biển đối với các quyền tự do của các quốc gia khác về hàng hải, hàng không, đặt dây cáp và ống dẫn ngầm; đối với nghiên cứu khoa học biển; đối với các tài nguyên sinh vật thuộc vùng đặc quyền kinh tế.

Tuy nhiên Công ước lại cho phép các quốc gia khi ký kết, phê chuẩn hay tham gia Công ước, hoặc ở vào bất kỳ thời điểm nào sau đó, có thể tuyên bố bằng văn bản rằng mình không chấp nhận Tòa ITLOS (hoặc các Tòa trọng tài hay Tòa án Công l‎y quốc tế) có thẩm quyền giải quyết các vụ tranh chấp về việc giải thích hay áp dụng các Điều 15 (phân định Lãnh hải), 74 (phân định vùng đặc quyền kinh tế) và 83 (phân định thềm lục địa) hay các vụ tranh chấp về các vịnh hay danh nghĩa lịch sử.

Đương nhiên nếu không có sự thỏa thuận của các quốc gia, Tòa ITLOS cũng như các Tòa khác không thể xem xét một vụ tranh chấp nào đòi hỏi nhất thiết phải xem xét đồng thời một vụ tranh chấp chưa được giải quyết liên quan đến chủ quyền và các quyền khác trên một lãnh thổ đất liền hay đảo.
...
( còn tiếp )
Logged

Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
thanhh63
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2188


« Trả lời #149 vào lúc: 21 Tháng Bảy, 2011, 03:29:36 pm »

Dùng tòa trọng tài quốc tế về luật biển trong biển Đông
....

(tiếp theo và hết)
2. Biển Đông và ITLOS

Tranh chấp biển Đông có thể phân loại theo những tiêu chí khác nhau. Theo nội dung tranh chấp gồm ba loại: tranh chấp chủ quyền các đảo, tranh chấp vùng biển liên quan đến các đảo có tranh chấp và tranh chấp phân định biển không liên quan đến chủ quyền.

Theo số lượng các bên tranh chấp có tranh chấp song phương giữa Việt Nam và Trung Quốc trên quần đảo Hoàng Sa, tranh chấp 5 nước 6 bên trên quần đảo Trường Sa (Bruney, Malaysia, Philippines, Trung Quốc, Việt Nam và Đài Loan).

Theo dạng tranh chấp có các tranh chấp về hàng hải, về tài nguyên sinh vật biển, tài nguyên không sinh vật biển (như dầu khí, khoáng sản biển...), tranh chấp về đặt dây cáp và ống dẫn ngầm, tranh chấp về môi trường biển, về nghiên cứu khoa học biển...

Tranh chấp vùng biển lại liên quan chặt chẽ đến xác định chế độ các đảo. Giải quyết phân định biển giữa các quốc gia sẽ khác khi đảo có lãnh hải 12 hải ly so với khi đảo có vùng đặc quyền kinh tế 200 hải ly và thềm lục địa riêng.

Tranh chấp biển Đông còn phức tạp ở lập trường không giống ai của Trung Quốc. Có thể nhận thấy lập trường này có ba sự khác biệt:

1)     Chính sách hai không. Trong khi luật quốc tế cũng như Công ước luật biển kêu gọi các Bên tranh chấp có nghĩa vụ giải quyết hòa bình tranh chấp bằng mọi thủ tục có thể thì Bắc Kinh duy trì chính sách hai không: không đa phương hóa, không quốc tế hóa, nghĩa là sẽ không có bất kỳ một sự can thiệp nào từ Bên thứ ba, kể cả các cơ quan tài phán quốc tế như ITLOS.

Bắc Kinh cũng khăng khăng từ chối bất kỳ môt diễn đàn đàm phán nào về chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa. Ngay cả Tuyên bố ASEAN - Trung Quốc về cách ứng xử của các bên ở biển Đông cũng được giải thích một cách kỳ cục là Tuyên bố giữa Trung Quốc với từng nước ASEAN chứ không phải được k‎ý với danh nghĩa ASEAN là một khối.

2)     Chính sách nước lớn hung hăng, đơn phương áp đặt. Ba thí dụ có thể minh chứng cho chính sách này. Bắc Kinh đơn phương ra lệnh cấm đánh bắt cá trên toàn biển Đông từ 15/5 đến 31/8 hàng nắm, đưa tàu ngư chính hiện đại xuống biển Đông, vô có bắt giữ ngư dân các nước, tiêu hủy thuyền bè, ngư cụ, đối xử phi nhân đạo với ngư dân các nước.

Hai là việc thường xuyên gây đụng độ, cắt cáp, vi phạm sâu vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa từ đất liền các nước ven biển. Ba là áp đặt cả thế giới chấp nhận đường lưỡi bò đứt khúc 9 đoạn không có một cơ sở pháp ly‎.

3)     Lập trường cố tình mập mờ, không rõ ràng và nhất quán. Bắc Kinh cho rằng có quyền lịch sử trong đường lưỡi bò. Thế nhưng Công ước Luật biển có nhắc đến danh nghĩa lịch sử chỉ trong điều 15 liên quan đến phân định lãnh hải 12 hải ly. Không có bất kỳ một văn bản pháp ly quốc tế nào cho phép yêu sách một vùng biển rộng đến vài chục lần bề rộng lãnh hải như vậy cả.

Nếu cứ như lập luận của Bắc Kinh thì thế giới liệu có còn các vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa khi các nước cứ cho rằng mình có quyền đánh cá lịch sử, truyền thống khi có công dân đến vùng biển đó dù là hãn hữu. Cùng là Phái đoàn Trung Quốc tại Liên Hiệp Quốc mà lại có hai Công hàm với nội dung trái ngược nhau. Công hàm ngày 7/5/2009 đưa ra đường lưỡi bò và tuyên bố, “đối với chủ quyền không thể tranh cãi của Trung Quốc trên các đảo trong biển Đông và các vùng nước kế cận, cũng như các quyền chủ quyền và tài phán đối với các vùng nước, vùng đáy biển và lòng đất dưới đáy biển của chúng”...

Công hàm ngày 14/4/2011 lại tuyên bố quần đảo Trường Sa hoàn toàn có các vùng lãnh hải, đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, nghĩa là có các vùng biển theo Công ước Luật biển UNCLOS nhưng lại nằm trong phạm vi địa lý của đường lưỡi bò.

Liên quan đến chế độ pháp l‎ý các đảo, lập trường của Trung Quốc cũng hết sức phân biệt, không nhất quán. Trong biển Hoa Đông tranh chấp với Nhật Bản, Bắc Kinh cho rằng đảo Oki-no-Tori Shima mà Nhật Bản đang kiểm soát chỉ là một đá nhỏ có vùng biển 12 hải lý. Trong biển Đông, nơi rất nhiều các đá nhỏ tương tự hoặc bé hơn Oki-no-Tori Shima thì Bắc Kinh lại đòi có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa riêng.

Cũng nên nhắc lại rằng trong phân định biển, các đảo dù lớn cũng không phải lúc nào cũng được đối xử ngang hàng, có cùng hiệu lực như lãnh thổ đất liền. Đảo Bạch Long Vỹ trong Vịnh Bắc Bộ có dân, có đời sống kinh tế riêng mà trong đàm phán Trung Quốc còn khăng khăng cho rằng đảo chỉ nên có lãnh hải 12 hải lý.
 
Kết quả cuối cùng đảo cũng được hai bên thống nhát một hiệu lực hạn chế khoảng 25% so với đất liền. Trong biển Đông, sự mập mờ giữa Công ước Luật biển và quyền lịch sử chỉ có thể giải thích bằng chủ trương mèo trắng mèo đen miễn là bắt được chuột tức mục tiêu độc chiếm biển Đông.

Các điểm khác biệt trên cho thấy tại sao Bắc Kinh lại từ chối đề xuất của Manila. Đây không phải là lần đầu tiên Philippinnes đề xuất đưa tranh chấp Trường Sa ra trước các cơ quan tài phán quốc tế và lần nào Bắc Kinh cũng từ chối.

Điều đó thật dễ hiểu vì không có một cơ quan tài phán quốc tế nào dù là ITLOS hay ICJ lại có thể đồng tình với quyền lịch sử của đường lưỡi bò. Đồng ý ‎đưa ra trước tòa án quốc tế đồng nghĩa với việc tức bỏ vũ khí “cố tình làm mọi việc không rõ ràng để trục lợi”.

Bắc Kinh không thể giao quyền xét xử đường lỡi bò cho một bên thứ ba khi họ đang rất khó khăn chứng minh trên cơ sở “luật pháp quốc tế được công nhận”. Với thể diện nước lớn và truyền thống của mình, Trung Quốc lại càng không muốn bất kỳ một Bên thứ ba nào can thiệp giải quyết “những vấn đề của Trung Quốc”.

Vào thời điểm hiện tại, ITLOS không thể có thẩm quyền vì ngoài lý do Trung Quốc các nước tranh chấp biển Đông cũng chưa có tuyên bố bằng văn bản lựa chọn Tòa để giải quyết các tranh chấp liên quan đến giải thích và áp dụng Công ước.

Vấn đề càng khó khăn hơn vì tranh chấp biển ở biển Đông gắn liền với vấn đề tranh chấp chủ quyền trên đảo và theo điều 298 ITLOS không có thẩm quyền trong trường hợp này trừ phi các Bên tranh chấp có thỏa thuận khác.

Tuy nhiên khả năng sử dụng các cơ quan tài phán quốc tế trong đó có ITLOS không phải là không có. Vấn đề mấu chốt gắn kết tranh chấp chủ quyền và tranh chấp biển ở biển Đông chính là điều 121.3 về chế độ pháp lý‎ của đảo. Các đảo đá Hoàng Sa, Trường Sa có phải là các đảo đá có đời sống kinh tế riêng hoặc thích hợp cho con người đến ở không? Chúng có thể có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa riêng không? Đảo nào có thể đáp ứng các yêu cầu của điều 121.3?

Một yêu cầu xuất phát từ Philippim, được sự ủng hộ của Việt Nam hoặc Malaysia hoặc Brunei hoặc tất cả các nước có tranh chấp cho ITLOS yêu cầu giải thích điều 121.3 và khả năng áp dụng ở biển Đông là hoàn toàn có thể.

Liệu lúc đó Bắc Kinh sẽ đứng ngoài cuộc hay sẽ tham gia quá trình trên cơ sở điều 31 Quy chế của Tòa ITLOS: Trong một vụ tranh chấp, khi một quốc gia thành viên cho rằng một quyền lợi có tính chất pháp lý của mình bị đụng chạm, thì có thể gửi lên cho Toà án một đơn thỉnh cầu để yêu cầu xin tham gia.

Nếu Toà án chấp nhận đơn thỉnh cầu, thì quyết định liên quan đến vụ tranh chấp có tính chất bắt buộc đối với quốc gia xin tham gia trong phạm vi mà quyết định này có quan hệ đến các điểm là nội dung của việc tham gia. Câu hỏi vẫn để ngỏ.

Khả năng sử dụng các cơ quan tài phán quốc tế như Tòa ITLOS phụ thuộc vào thiện chí của các Bên tranh chấp vào tuyên bố bằng văn bản hay thỏa thuận của cấc Bên chấp nhận thẩm quyền của Tòa và vào câu hỏi đặt ra cho Tòa.

Theo VietnamWeek
Link: http://baodatviet.vn/Home/thegioi/Dung-toa-trong-tai-quoc-te-ve-luat-bien-trong-bien-Dong/20117/156721.datviet
Logged

Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM