Đế quốc Đức được thành lập năm 1871, hình thành từ các công quốc độc lập của Đế quốc La Mã thần thánh. Quân đội Đức cũng thành hình từ các đội quân của các công quốc, dù trước đó, họ từng chiến đấu dưới ngọn cờ minh chủ của quân Phổ. Ngay từ khi thành lập, hệ thống quân hàm Đức gần như theo hẳn hệ quân hàm của Phổ, nhưng vẫn giữ những dấu hiệu phân biệt của các tiểu quốc (nay là các bang) của Đức.
Hệ thống quân hàm sĩ quan của Phổ nguyên thủy hình thành theo hệ cấp bậc của Đế chế La Mã thần thánh, căn bản phân chia 6 cấp như sau:
Cấp Quân (Heer)
1. Tổng soái (General bzw. Feldmarschall)
2. Phó soái (Generalleutnant bzw. Feldmarschallleutnant)
*. Phụ tá tổng soái (Generalwachtmeister)
Cấp Đoàn (Regiment)
3. Đoàn trưởng (Obrist)
4. Đoàn phó (Obristleutnant)
*. Phụ tá đoàn trưởng (Obristwachtmeister)
Cấp Đội (Kompanie)
5. Đội trưởng (Hauptmann/Rittmeister)
6. Đội phó (Leutnant)
*. Phụ tá (Wachtmeister/Feldwebel)
Thay vì cấp bậc Kapitän, người Đức lại dùng nguyên thủy của nó là
Hauptmann (trong tiếng Latin, "caput" có nghĩa là đứng đầu). Trong các lực lượng kỵ binh, cấp bậc tương đương với Hauptmann là
Rittmeister.
Cấp chỉ huy Trung đoàn của người Đức là Obrist, sau được viết là Oberst (nghĩa là "cao nhất").
Trong quân đội Phổ, các cấp bậc Wachtmeister không hẳn là cấp sĩ quan mà chỉ đơn thuần là phụ tá cho các sĩ quan thực thụ. Tuy nhiên, các Wachtmeister vẫn được xếp hưởng lương của cấp quân nhân cao nhất của đơn vị liền kế nó. Ví dụ như Obristwachtmeister không phải là sĩ quan cấp trên của Hauptmann mà chỉ là phụ tá cho Oberst và được hưởng lương như Hauptmann.
Đến thế kỷ 18, các cấp bậc có sự điều chỉnh lại. Cấp bậc Wachtmeister/Feldwebel chính thức bị loại khỏi ngạch sĩ quan. Không như các quốc gia khác (thường là từ Trung úy "đi xuống" như Sous-lieutenant của người Pháp và 2nd Lieutenant của người Anh), thì với người Đức thì
Leutnant (Trung úy) là cấp bậc thấp nhất thay vì Unterleutnant (Thiếu úy).
Ở các quân đội khác, Lieutenant liền kề với Captain, thì các Leutnant Đức phải "bò" qua cấp
Oberleutnant ("ober" nghĩa là "trên", trên Trung úy, tức Thượng úy

) mới tới được Hauptmann.
Khi mới thành lập, ở một số bang Đức (như Bavaria, tức Bayern ngày nay) còn duy trì Hauptmann 2 cấp (classe). Sự phân cấp này không bao gồm phân biệt cấp hiệu. Tuy nhiên, sự phân cấp này dẫn đến hình thành một cấp bậc đặc biệt sau ngày của quân đội Đức là
Stabshauptmann (Đại úy). Như vậy, trả lời cho các thắc mắc của các bạn hỏi ở phần trước, có thể xem người Đức có cấp bậc "Thượng úy" được không?
Các cấp bậc Obristwachtmeister được thay bằng
Major và Generalwachtmeister thay bằng
Generalmajor.
Người Phổ cũng hình thành hệ thống cấp hiệu cầu vai. Như thông lệ bấy giờ, người Phổ cũng không phân chia chi tiết từng cấp bậc mà chỉ phân theo cấp sĩ quan.

Cấp Generale

Cấp Stabsoffiziere

Cấp Hauptleute

Cấp Leutnante
Trong cuộc chiến tranh Napoleon, các cấp hiệu Generale được quy định lại, bao gồm cả quân phục thường lẫn lễ phục. Ở quân phục thường sẽ sử dụng hệ cầu vai bện, còn ở lễ phục sẽ dùng lon tua (epaulette). Đồng thời, Phổ cũng đặt ra cấp bậc Thống chế (Feldmarschall).

Cầu vai thường phục của Thống chế

Cầu vai lễ phục của Thống chế