Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 03:29:24 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Những chặng đường đời  (Đọc 66605 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
anhquaynop
Thành viên
*
Bài viết: 244


« Trả lời #30 vào lúc: 26 Tháng Mười Một, 2013, 07:08:27 am »

*

Ngày 19 tháng 4 năm 1964, đoàn làm lễ xuất quân tại Thọ Xuân, Thanh Hóa - quê hương của vị Anh hùng dân tộc Lê Lợi. Đi qua Nghệ An, Hà Tĩnh đến làng Ho - Quảng Bình. Chặng đường này các đoàn đi bộ gần 30 ngày đêm, chúng tôi đi xe hơn 2/3 quãng đường, còn lại đi bộ sáu bảy ngày đêm mới đến làng Ho. Càng đi càng xa dần miền Bắc thân yêu, gợi trong tôi nhớ lại bao kỉ niệm. Từ tham gia chống lụt bão, nắng hạn, đắp đê, lao động xây dựng thủy lợi Bắc Hưng Hải, cùng Công trường 92 làm doanh trại, kho xe, bãi tập lái, trường bắn cho Trung đoàn xe tăng 202. Mùa hè nắng gắt, mùa đông rét buốt, nhớ điếu thuốc lào, nhớ bát nước chè xanh... Nhớ bánh chưng, thịt kho đông, dưa chua, củ hành muối, đậm đà hương vị tết cổ truyền ở miền Bắc. Đặc biệt, nhớ Hà Nội không những lo cho cả nước mà còn lo và chu đáo đối với miền Nam, dốc sức cho miền Nam “đi trước về sau” để đánh Mĩ - ngụy. Gia đình tôi, các con tôi được sinh ra, lớn lên học tập dưới mái trường xã hội chủ nghĩa, được sự che chở đùm bọc của nhân dân Thủ đô, của cơ quan Bộ Quốc phòng, của Binh chủng Tăng - Thiết giáp.

Nhớ Trường Văn hóa Bộ Quốc phòng ở Kiến An, Hải Phong. Nơi đây, khi dã 28 tuổi đời, Tiểu đoàn trưởng Mai Văn Phúc mới được làm học trò, ngày hai buổi cắp sách tới trường. Mái trường chính quy đầu đời đã tạo cho tôi cơ sở, vốn liếng để mở mang văn hóa, tiếp thu khoa học kĩ thuật. Tại đây, tôi còn được học thêm 3.000 từ Hán ngữ, tương đương với bậc sơ tiểu học ở Trung Quốc. Trên miền Bắc thân yêu, tôi còn có cả một gia đình và sự nghiệp. Tôi nghĩ, sau ngày thắng lợi nhất định phải ra thăm miền Bắc, thăm Thủ đô Hà Nội. Tôi sẽ về xã Kim Long, làng Láng, Gô, Hữu Thủ, nơi một thời đóng quân sống trong ân tình sâu đậm, quân dân cá nước.

Kỉ niệm về miền Bắc thật phong phú, dài như cuốn phim nhiều tập, không sao kể xiết. Đến khi không còn đường ô tô, cả đoàn tiếp tục hành quân bộ, lúc này mới thực sự có cảm giác mang nặng đi xa. Mấy ngày đầu rất mệt, chân đau, vai mỏi, đến nơi nghỉ người mệt nhừ. Biết chúng tôi vào Nam chiến đấu, nhân dân dọc đường giúp dỡ rất nhiều. Bà con dọn dẹp chỗ ngủ, vo gạo nấu cơm giúp bộ đội. Nhiều mẹ còn đem nước để chúng tôi mang đi đường. Bà con nấu nước nóng cho những đồng chí chân bị đau, phồng rộp ngâm chân. Tình cảm quân dân thật sâu nặng.

Đến trạm làng Ho, đoàn nghỉ một ngày để rút kinh nghiệm chặng đi dầu tiên, củng cố quyết tâm, điều chỉnh sức mạnh của mỗi người. Tôi gặp lại ông Đình, bạn chiến đấu ở Liên khu 5, giờ là cán bộ của Trạm giao liên làng Ho. Ông nói: “Vào Trường Sơn gian nan lắm, có gì nặng thì để lại”. Ông còn nói vui: “Đến cái cúc áo cũng phải cắt bớt cho nhẹ”. Thấy quần áo, đồ đạc các đoàn di trước bỏ lại nhiều, tôi lấy thêm bộ đồ vải thun dệt kim Đông Xuân rất đẹp. Có người nói: “Muốn trở lại hay sao mà tham thế”. Tôi chỉ cười, nghĩ có lúc sẽ dùng đến nó. Đến trạm Ho, ngoài đoàn chúng tôi đi vào Miền, còn hai đoàn đông hơn, cán bộ dân sự về Khu 5.

Chúng tôi nghe các đồng chí cán bộ trạm phổ biến kinh nghiệm hành quân đường dài. Trạm cũng cho biết, vì đường khó đi, lại trèo đèo lội suối, vượt sông nên có đoàn đã vứt quần áo, đồ đạc dọc đường, nhất là các đoàn dân sự. Để giữ bí mật, các trạm giao liên dọc đường dã cho người di thu gom, xóa dấu vết.

Đoàn của chúng tôi đã cân đong và giảm từ trước lúc xuất phát ở Thanh Hóa nên đến đây không ai để lại thứ gì cả.

Ngày hôm sau, đoàn dừng lại chốc lát ở Bến Tắt trước khi vượt sông Bến Hải. Dòng sông giới tuyến này thuộc địa phận Quảng Trị dài khoảng 100km, bắt nguồn từ dãy Trường Sơn, len lỏi qua bao miền quê, chảy về Cửa Tùng rồi đổ nước ra biển Đông. Phái thượng nguồn, sông Bến hải nước cạn nên chúng tôi lội bộ qua mà không mấy khó khăn. Từ đây, kế hoạch hành quân của đoàn thay đổi từng ngày. Qua Quảng Trị, khi vượt những vùng giáp ranh với địch, chúng tôi phải đi ban đêm.

Đi sâu vào rừng Cam Lộ, Hướng Hóa, vượt đường 9, đoàn tạm nghỉ để lấy sức đi tiếp. Chặng đường này lắm đèo cao, dốc đứng nên anh em rất vất vả. Đi đêm sợ lạc nên người đi sau bám theo người đi trước. Leo dốc, xuống yên ngựa rồi lại lên dốc. Dốc sau cao hơn dốc trước, có dốc dựng đứng, bộ đội phải đặt từng bước chân để trèo. Có dốc người đi lên phải khom lưng xuống để giữ thăng bằng. Khi leo dốc, chân bị chồn, chỉ sợ ngã. Những hôm nắng, mồ hôi vã ra như tắm. Hôm nào gặp mưa thì trơn trượt, leo lên tụt xuống, vô cùng gian khổ. Vừa leo dốc vừa mong ngóng đến trạm để nghỉ chân.

Tuy hành quân về mùa khô nhưng thời tiết ở Trường Sơn vốn đỏng đảnh nên chúng tôi vẫn phải đối phó với mưa rừng và nước suối dang cao. Những ơn mưa giông bất chợt hay đổi về nguồn, nơi nào nhiều núi thì trời thường mưa. Có hôm, hành quân quá trưa qua đoạn đường nhiều đồi núi, ít cây, gặp cơn mưa giông kéo dài, nước từ các quả đồi chảy xuống suối, nhanh chóng dân cao, anh em đành phải ngồi chờ nước rút. Với kinh nghiệm 9 năm đánh Pháp ở Liên khu 5 và Tây Nguyên, tôi giắt con dao đi dọc suối, chọn cây có tầng trên ngọn và độ cao có thể gác qua suối. Tôi chặt trước phía suối sâu vào thân cây 4 - 5 phân, sau đó chặt phía ngược lại, cao lên khỏa 20 phân. Khi lưỡi dao sâu chưa đến 3 phân, cây sẽ đổ ngang qua bên kia bờ. Khoảng 15 phút sau, tôi đã làm xong chiếc cầu vượt suối. Có vài anh bò sang trước buộc dây, sau đó bộ đội men theo dây sang bờ bên kia. Hôm ấy, bộ đội về đến trạm trời vẫn chưa tối, anh em vui vì có thời gian nghỉ sớm. cô giao liên dẫn đường nói, mấy ngày trước có đoàn cũng gặp mưa tại đó, chờ hơn hai tiếng đồng hồ nên về tới trạm 7 - 8 giờ tối rất vất vả.
Logged

Chiều hôm em đứng giã bàng
Thương anh quẩy nóp trong hàng quân đi
anhquaynop
Thành viên
*
Bài viết: 244


« Trả lời #31 vào lúc: 26 Tháng Mười Một, 2013, 07:09:16 am »

Đường Trường Sơn có hệ thống các trạm giao liên. Vào đến đất Quảng Trị có giao liên đưa đường. Giao liên Trường Sơn chủ yếu là các cô gái người miền Nam tuổi mới mười tám đôi mươi, áo bà ba, khăn rằn vắt vai, chân dép lốp đi thoăn thoắt. Vừa đi các cô vừa kể chuyện cho chúng tôi nghe, có cô rất hồn nhiên và tinh nghịch, hát khe khẽ chỉ đủ để chúng tôi nghe. Nghe tiếng hát của các cô giao liên miền Nam chúng tôi thấy hậu phương gần hơn, như được tiếp sức mạnh cho “chân cứng đá mềm”.

Mỗi chặng hành quân bộ thường từ sáng tới chiều, khoảng 8 - 10 tiếng đòng hồ. Trong tiểu đội có đồng chí Thiều đau chân không đi kịp, về trễ, anh em không vui, tôi phải làm công tác tư tưởng.

Trên đường đi, gặp rau rừng và lá tàu bay chúng tôi dừng lại, hái cho vào túi để ăn dè hôm ấy và cho cả bữa sau. Đến nơi dừng chân, mỗi người một việc. Theo quy định đến lượt người nào mang nồi thì nấu cơm. Nấu ăn trong ngày và cơm nắm cho ngày mai. Nếu chưa đến lượt mình thì giúp anh em kiếm củi, phụ nấu. Số anh em còn lại phát quang, dọn chỗ để mắc võng, đào hố cá nhân, tham gia canh gác. Gặp hôm trời mưa, nhóm được bếp lửa mất cả tiếng đồng hồ, thật vất vả. Gặp hôm như thế, anh em chỉ nấu được nồi nước đổ biđông, rồi quây quần bên nồi cơm vội với thực phẩm cá nhân mang theo.

Hành quân trên đường Trường Sơn lúc nào cũng thường trực nỗi lo. Sau một ngày thấy mình đến được trạm nghỉ là mừng. Không ai có thể hình dung chặng đường ngay mai sẽ như thế nào, gặp khó khăn hay thuận lợi. Trước khi vượt dòng Sêrêpok, chúng tôi được trên thông báo đây là con sông rộng, nước chảy mạnh. Hôm gặp trời mưa, sông càng trở nên hung dữ. Đoàn đi trước mặc dù đã dùng cây để vượt sông nhưng vẫn có người bị cuốn trôi. Tôi có hai bạn là anh Nhi và anh Vầy nằm trong trường hợp đáng tiếc đó.

Để vượt sông an toàn, ngoài thuyền của giao liên, Đoàn chúng tôi mỗi người dùng ni lông bọc lại làm phao dự phòng. Bố trí sang sông từng tốp, người biết bơi kèm người không biết bơi.

Từ trạm Ho vào hết địa phận Khu 5, vòng qua đất lào đường đi thật gian nan. Địa hình phức tạp, rừng rậm, sông sâu, đèo núi cheo leo, hiểm trở. Rừng ở đây lại nhiều vắt vô kể. Vắt dày đặc trên mặt đất, trên cây (vắt lá). Chỉ cần sơ ý một chút là chúng chui vào ống quần, ống tay, cổ áo, bám chặt, hút cho đến lúc bụng căng phồng máu người mới chịu nhả. Người bị vắt cắn chả khác gì bị tra tấn, chỗ vết cắn máu vẫn tiếp tục rỉ ra, vài ngày sau lở loét, đau đớn, rất khó chịu. có người lên cơn sốt vì vết thương do vắt cắn bị nhiễm trùng. Những ngày sau, chúng tôi mới có kinh nghiệm chống vắt, đi tất, dùng thuốc xoa. Khi bị vắt cắn phải dùng nước bọt, thuốc lào đắp vào nó mới chịu nhả ra.

Tháng đầu hành quân được coi là “xuôi chèo mát mái”, còn sau đó mâu thuẫn xuất hiện, chủ yếu là trong sinh hoạt. Tiểu đội tôi có 9 người. Đại úy Mai Chương - Tiểu đội trưởng, tôi - Tiểu đội phó. Trong tiểu đội 5 người quê miền Nam, 4 anh em người Bắc, người Trung nên sở thích ăn uống khác nhau. Trong bữa ăn hay cãi lộn vì cơm khô, cơm ướt. Thấy thế, tôi nghĩ ra một cách, khi cơm sôi được một lúc thì nghiêng nồi. Phần có lửa nhiều hơn cơm sẽ khô, phần còn lại cơm ướt. Đến bữa, sở thích ăn cơm ướt của mấy anh dân Nam Bộ được đáp ứng. Còn mấy anh người miền Bắc được ăn cơm khô. Tôi nấu liền mấy bữa, sau đó hướng dẫn cho anh em.

Từ Khu 5 vào đến Nam Bộ nhiều trạm giao liên không có gạo. Chặng nào được bổ sung gạo, chúng tôi cũng phải ăn dè vì đường hành quân còn dài. Khu 5 ở xa hậu phương miền Bắc, việc tiếp tế gặp khó khăn. Đã từng chiến đấu ở Khu 5 thời chống Pháp tôi biết, đồng bằng ở đây nhỏ hẹp, không màu mỡ, lại bị địch đánh phá thường xuyên nên sản xuất nông nghiệp gặp nhiều khó khăn. Để phòng xa, từ đây mỗi người phải mang gạo đủ ăn trong một tháng, nghĩa là riêng gạo đã 20kg, ba lô lúc nào cũng 35 - 40 kg. Sau mỗi ngày, gạo với, trên vai nhẹ chút nhưng không thấy vui mà chỉ lo bị đói. Không có gạo sẽ ảnh hưởng đến cuộc hành quân. Vì thế gạo là thứ quý nhất đối với chúng tôi - những người hành quân vượt Trường Sơn.

Cứ sau 10 ngày đi bộ, Đoàn cho anh em nghỉ một ngày để lấy sức đi tiếp. Tranh thủ nghỉ, Đoàn và chi bộ sinh hoạt, động viên nhau giữ quyết tâm, gắn kết với nhau mà đi. Có đi dọc Trường Sơn mới hiểu thêm tình đồng chí, đồng đội, chia ngọt sẻ bùi, yêu thương nhau nhiều khi còn hơn anh em ruột thịt. Hành quân lâu ngày nhiều đồng chí thực phẩm đã cạn kiệt. Dọc con đường giao liên đi qua chủ yếu là đồng bào các dân tộc: Vân Kiều, Tà Ôi, Bru, Xơ Đăng, Mnông, Co. Cuộc sống của bà con còn khó khăn, sản xuất chủ yếu tự cung tự cấp. Nơi nào gần dân thì trạm, đoàn cho phép mang đồ đi đổi. Khi hành quân qua Lào, ông Châu Thế Hùng, Đoàn phó hậu cần vốn thông thuộc dẫn anh em vào bản đổi quần áo lấy thực phẩm. Bà con thích bộ đồ xanh tôi đang mặc. Ông Mai Chương có chiếc áo len màu đỏ, họ giơ lên xem, nhìn thấy trời, nói: “Không thích”. Tôi chạy về thay bộ khác, mang bộ đồ xanh đổi được 7 con gà, một con heo gần 30 cân. Chiều hôm ấy cả đoàn được bữa tươi, sáng hôm sau còn một ít mang đi.

Vì thiếu thực phẩm nên có dịp dừng chân là anh em mang quần áo, áo mưa vào bản đổi con gà, cân thịt heo, có khi được cả con chó. Có anh quần áo mang đi đổi hết, chỉ còn độc bộ đồ xanh mặc trên người.
Logged

Chiều hôm em đứng giã bàng
Thương anh quẩy nóp trong hàng quân đi
anhquaynop
Thành viên
*
Bài viết: 244


« Trả lời #32 vào lúc: 26 Tháng Mười Một, 2013, 07:10:10 am »

Đến cuối Khu 5, địa đầu đất Nam Bộ, cực nam Tây Nguyên ai nấy đều mừng vì cuộc hành quân gian nan đã đi được phần lớn chặng đường. Từ đây, việc cung cấp lương thực cho các trạm giao liên cũng tốt hơn. Anh em mang các thứ vào dân đổi con gà, cân thịt cũng dễ hơn. Tôi nhẩm tính, chỉ hơn 20 ngày nữa sẽ đến trạm giao liên cuối cùng, chạm đích cuộc hành quân. Nhưng chỉ hai ngài say, mọi dự đoán của tôi và anh em bị đảo lộn. Nhiều người lăn ra ốm, chủ yếu là sốt rét. Một số anh em bị tuột lại sau, có người lạc đội hình. Lí do thất thoát cũng dễ hiểu. Đến trạm giao liên gặp người thân quen, đồng hương, một số anh em viện cớ ở lại chơi vài ba ngày rồi vào sau. Cả 4 người trong Ban Chỉ huy đoàn cũng bị mất sức chiến đấu. Ông Thìn - Trưởng đoàn ốm phải nằm lại trên đất Kon Tum. Thế là từ Tiểu đội phó, tôi được giao phụ trách Trưởng đoàn. Nhiệm vụ khá bất ngờ, không có quyết định bằng văn bản, chỉ là nghị quyết chi bộ họp bất thường, nói miệng, nhưng là cán bộ, là đảng viên, tôi phải chấp hành.

Tôi không ngờ bống chốc được “thăng tiến”. Việc đầu tiên trên cương vị Trưởng đoàn tôi kiểm tra quân số, gặp gỡ, động viên anh em vượt qua khó khăn, tiếp tục hành quân. Tôi phân công người khỏe san sẻ bớt cho người yếu mệt. Từng tiểu đội phải nhắc nhở nhau kỉ luật hành quân, không được bỏ cuộc, quyết tâm đến đích.

Sau khi “xốc lại đội hình”, đoàn chỉ còn chưa đầy hai phần ba quân số. Nhưng tinh thần đã phấn chấn, ai cũng xác định quyết tâm hành quân thắng lợi.

Thế là sau hơn ba tháng hành quân ròng rã, chiều ngày 25 tháng 7 năm 1964, đoàn đến trạm đón tiếp cuối cùng của Miền ở suối Tha La, dưới chân núi Bà Đen, cách thị xã Tây Ninh 11km về phía đông bắc. Nhìn từ xa, núi Bà Đen cao 986m trông như một chiếc nón lớn màu xanh thẫm úp lên cánh đồng.

Sau khi ổn định chỗ ở cho đoàn, tôi vào trạm báo cáo. Trưởng trạm là anh Năm Nhạc, người Nam Bộ, dáng người cao lớn. Anh siết chặt tay tôi, hỏi thăm tình hình, thân tình như đón người nhà đi xa lâu ngày trở về. Năm Nhạc chỉ thị anh em cấp cho Đoàn 613 mỗi người bơ rưỡi (1/2 lít) gạo cùng với cá kèo khô để ăn bữa tối. Anh quay sang nói với tôi:

- Đồng chí Trưởng đoàn ở lại làm việc và ăn cơm tối với anh em trạm đón tiếp.

Chiều hôm đó, tôi được ăn bữa xôi nếp với thịt gà luộc. Năm Nhạc và anh em trong trạm đón tiếp hỏi tôi chuyện hành quân, chuyện gia đình, quê quán. Trước khi đi ngủ, tôi còn được trạm đãi bát cháo gà. Hơn ba tháng đói cơm, nhạt muối, nay được tiếp đón thân tình, ăn cỗ tại đích cuối cùng của cuộc hành quân, trong tôi dân lên niềm xúc động mãnh liệt.

Nghỉ lại trong chiếc lán giữa rừng miền Đông, cứ tưởng đặt mình là ngủ ngay, nhưng không, những sự kiện dọc đường cứ chập chờn trước mắt tôi, lúc mờ, lúc tỏ. Chúng tôi đã về tới đích, sau khi đã vượt hơn 2.000km, qua bao đèo dốc, suối sâu, vực thẳm bằng chính đối chân của mình. Đã vượt bao cánh rừng, bao lần suýt chết vì thú dữ, rắn độc, nước lũ, bom đạn giặc Mĩ, tôi không thể nhớ hết. Chúng tôi đã làm khách của gần 60 trạm giao liên trên tuyến đường mang tên Bác Hồ kính yêu.

Trong đoàn ai cũng ốm đau, sốt rét, chỉ có mình tôi là không hề hán gì. Lúc nào trên vai, quanh người tôi cũng có trọng lượng xấp xỉ 30kg, nhiều khi mang giúp anh em đau yếu lên hơn 40kg. Tôi là là người thường về đến trạm sớm nhất. Anh em ví tôi là cây lim, cây táu giữa đại ngàn Trường Sơn.

Cuộc hành quân vượt Trường Sơn về Nam chiến đấu như trường học lớn mà mỗi ngày là một bài học sâu sắc. Tôi được chứng kiến nhiều câu chuyện cảm động về hình ảnh, phẩm chất cao đẹp của anh Bộ đội Cụ Hồ. Tôi cũng đã nhường đồng đội đau yếu tới viên thuốc cuối cùng. Gói thực phẩm chế biến từ hậu phương tôi cũng san sẻ phần lớn cho anh em trong tiểu đội để bữa ăn Trường Sơn bớt phần đạm bạc.

“Lửa thử vàng, gian nan thử sức”. Trước khi xuất quân, 49 con người với gương mặt rạng ngời, hô vang quyết tâm vượt Trường Sơn, nay chỉ còn 32 anh em cán đích cuối cùng. Thật đáng tự hào trong số 32 “Dũng sĩ Trường Sơn”, có cả tôi và Lâm Kim Chung - hai người lính xe tăng. 17 người do đau yếu, bệnh tật hoặc vì lí do nào khác phải nằm lại dọc đường, đành lỡ hẹn với miền Đông. Tôi nghĩ, trong mỗi cuộc đua, ai về đích sớm sẽ là người chiến thắng. 32 cán bộ có mặt tại Tha La - Trạm đón tiếp cuối cùng trong chặng đường hành quân gian khổ xứng đáng được gọi là dũng sĩ.

Với tôi, được như vậy là nhờ đã trải qua rèn luyện, thử thách trên chiến trường Khu 5 thời đánh Pháp, lại có những năm tháng học tập, rèn luyện trên miền Bắc thân yêu!

Đó là ý chí, quyết tâm, bản lĩnh của người chiến sĩ cách mạng được Đảng, Bác Hồ, quân đội giáo dục và rèn luyện gần hai chục năm qua.
Logged

Chiều hôm em đứng giã bàng
Thương anh quẩy nóp trong hàng quân đi
anhquaynop
Thành viên
*
Bài viết: 244


« Trả lời #33 vào lúc: 26 Tháng Mười Một, 2013, 07:11:22 am »

7. LẤY XE ĐỊCH ĐÁNH ĐỊCH

Vào đến miền Đông, chúng tôi được nghỉ vài ngày tại trạm đón tiếp, chờ Bộ Chỉ huy Miền xuống nhận bàn giao. Một số anh em về Khu 9, số còn lại về Miền. “Miền” là từ bí mật để hỉ Bộ Chỉ huy Quân giải phóng miền Nam. Người đến nhận chúng tôi là Hai Chân, cán bộ của Miền. Anh tên thật là Nguyễn Văn Tưởng, quê Long An, Hai Chân là bí danh của anh ở chiến trường.

Tôi và Lâm Kim Chung - hai cán bộ xe tăng đầu tiên có mặt ở chiến trường Nam Bộ, được điều về nhận công tác tại Phòng Tác chiến. Những ngày đầu ở căn cứ, tôi mới hiểu thế nào là “Miền Đông gian lao mà anh dũng”, thế nào là chiến khu. Nơi căn cứ là rừng già bạt ngàn nhưng bằng phẳng, nhiều chỗ rừng ken dày, không nhìn thấy ánh mặt trời. Người thủ trưởng đầu tiên tôi gặp ở chiến trường mới là Hoàng Anh Tuấn. Hồi 9 năm kháng chiến chống Pháp, gặp nhau ở Trung đoàn 108 và Trung đoàn 803, lúc đó anh là cán bộ tiểu đoàn, trung đoàn còn tôi mới là Trung đội trưởng, Đại đội phó chưa thật thân quen lắm.

Những cuộc gặp gỡ ở chiến trường thường bất ngờ và cảm động. Khi tôi vừa vào chiến trường miền Đông, thì anh Năm Ngà đang làm Tư lệnh Quân khu 6. Tháng 5 năm 1965, ta mở Chiến dịch Đồng Xoài, anh Năm Ngà được trên điều làm Tư lệnh phó chiến dịch, lúc đó tôi mới được gặp anh. Thời gian sau đó, anh là Tham mưu phó Bộ Chỉ huy Quân giải phóng miền Nam. Gặp lại anh Năm Ngà, những kỉ niệm chiến đấu lại hiện về. Tháng 6 năm 1954, lúc đó tôi là Đại đội trưởng trinh sát của Trung đoàn 803 được lệnh quay lên Tây Nguyên dẫn Trung đoàn 96 của Trung đoàn trưởng Năm Ngà mai phục tại Đắc Pơ. Trận ấy, Trung đoàn 96 đã dàn thế trận đón đánh, tiêu diệt gọn binh đoàn cơ động 100Âu - Phi,cùng một số tiểu đoàn quân ngụy. Năm Ngà là bí danh, còn tên thật ủa anh là Nguyễn Minh Châu.

Thời kì này, cách mạng miền Nam đã có bước phát triển mới. Một số đơn vị bộ đội chủ lực được thành lập ở cấp trung đoàn, phong trào chiến tranh du kích phát triển mạnh. Chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mĩ đã thất bại trên chiến trường miền Nam. “Chiến tranh đặc biệt” là chiến lược đầu tiên trong ba loại chiến tranh trong chiến lược quân sự toàn cầu “phản ứng linh hoạt” của đế quốc Mĩ, dùng quân đội ngụy tay sai làm công cụ tiến hành chiến tranh. Nội dung cơ bản ủa chiến lược này là càn quét, dồn dân vào ấp chiến lược trên quy mô lớn theo kiểu “tát nước bắt cá”. Chúng đã đưa 10 triệu nông dân miền Nam vào các trại tập trung, tách lực lượng cách mạng ra khỏi dân và tăng cường bắn phá, ném bom, rải chất độc hóa học hủy diệt sự sống trên mặt đất. hi vọng thực hiện thắng lợi chiến tranh đặc biệt, Mĩ đã tăng cường tổ chức quân ngụy và bộ máy ảnh sát ngụy quyền, tăng cường viện trợ cố vấn và các phương tiện chiến tranh hiện đại như trực thăng, cơ giới, thiết giáp.

Công tác ở Phòng Tác chiến Miền, tôi thường xuyên nhận được tin chiến sự khắp miền Nam tới tấp bay về. Có trận ta thắng lớn, có trận thắng ít và cũng có trận ta thương vong còn cao. Công tác ở Phòng Tác chiến một thời gian ngắn, tôi và Lâm Kim Chung được điều về Phòng Quân báo Miền. Cấp trên giải thích, để chúng tôi có điều kiện nghiên cứu, tìm hiểu tính năng các loại tăng thiết giáp của địch, làm tham mưu và phục vụ thông tin cho lãnh đạo, chỉ huy của Bộ Chỉ huy Miền và các đơn vị trực thuộc.

Tại thời điểm này, Quân giải phóng miền Nam tuy lực lượng còn mỏng, chỉ mới tổ chức đến cấp trung đoàn nhưng đã đánh những trận xuất sắc, tiêu diệt địch ở cấp tiểu đoàn, trực tiếp hỗ trợ cho lực lượng vũ trang địa phương đánh địch và quần chúng nổi dậy, góp phần đánh bại một bước âm mưu càn quét, bình định chiến trường trọng điểm B2 của địch.

Trong tình thế gấp gáp của chiến trường đòi hỏi phải khẩn trương xây dựng lực lượng, tôi được Bộ Chỉ huy Miền giao nhiệm vụ thành lập Ban Cơ giới. Lực lượng chủ yếu của Ban Cơ giới Miền lấy từ Đại đội 46B vào chiến trường từ cuối năm 1963. Các đơn vị bộ đội tập kết 330, 338 đã chọn con em người miền Nam thuộc nhiều binh chủng, thành lập đại đội do Lương Tài Lực làm Đại đội trưởng, Nguyễn Hà Tường làm Chính trị viện. Từ Nông trường Sao Vàng, Lâm Hai được rút về làm Đại đội phó. Bộ Tổng tham mưu đã giao cho Trung đoàn 202 tập huấn Đại đội 46B. Tiểu đoàn 3 trực tiếp huấn luyện Đại đội 46B, nên khi vào chiến trường chúng tội gặp lại nhau thân thiết như người nhà.

Vào đến chiến trường miền Đông, Đại đội46B đã được phân tán xuống các đơn vị chiến đấu.

Do yêu cầu giữ bí mật, tất cả đều phải “thay tên đổi họ”. Chiến trường Đông Nam bộ, cực Nam Trung Bộ gọi là B2. Ông Cụ, căn cứ gọi là R. Với tên gọi chung là “Quân giải phóng miền Nam”; sư đoàn là Công trường, trung đoàn là Q, tiểu đoàn gọi là Liên đội, cấp phòng gọi là J. Tăng thiết giáp gọi là Cơ giới. Vì thế, ở chiến trường, lính ta hay nói đùa là: “R xuống Q thì cụ cứng”.

Ban Cơ giới Miền lấy phiên hiệu B16, thành lập ngày 20 tháng 11 năm 1964. Đây là cơ quan Binh chủng Tăng - Thiết giáp ở chiến trường B2 của quân đội ta, ra đời tại căn cứ Bà Chiêm thuộc Chiến khu Dương Minh Châu (tỉnh Tây Ninh).

Biên chế của Ban Cơ giới Miền (B16) gồm có tôi, lúc đó là Trung đoàn bậc phó làm Trưởng ban, anh Võ Hiệp làm phó ban, Lâm Kim Chung làm Trợ lí tham mưu, Nguyễn Hà Tưởng làm Chính trị viên và Lâm Hai là Trợ lí hậu cần. Trực thuộc B16 có một trung đội đặc công cơ giới 12 người, do Nguyễn Văn Sáu (Sáu Tống) làm Trung đội trưởng.

Nhiệm vụ của B16 được Bộ Chỉ huy Miền giao rất mới mẻ, lại tiến hành trong điều kiện chiến tranh ác liệt và phức tạp. Đó là đi sâu nghiên cứu đặc điểm, cấu tạo, tính năng kĩ, chiến thuật, cách sử dụng xe tăng thiết giáp của địch. Xây dựng phương án tác chiến hiệp đồng binh chủng sát với điều kiện chiến trường miền Đông Nam Bộ. Phối hợp với Binh chủng Đặc công cùng tác chiến, tìm cách “đoạt xe địch”. Từng bước xây dựng lực lượng tăng - thiết giáp tại chỗ, chuẩn bị mọi mặt đón lực lượng tăng - thiết giáp từ hậu phương miền Bắc, tổ chức thành các đơn vị chiến đấu của tăng - thiết giáp miền Đông Nam Bộ.
Logged

Chiều hôm em đứng giã bàng
Thương anh quẩy nóp trong hàng quân đi
anhquaynop
Thành viên
*
Bài viết: 244


« Trả lời #34 vào lúc: 26 Tháng Mười Một, 2013, 07:12:04 am »

Những ngày đầu của B16 diễn ra khá thuận lợi. Anh em ngày càng hiểu nhau, biết đồng cam cộng khổ, đoàn kết, quyết tâm chuẩn bị thật tốt để chiến đấu, lập công. Tiếp tục chi viện cho chiến trường B2, Trung đoàn xe tăng 202 lại cử tiếp đoàn cán bộ thứ hai lấy phiên hiệu C15 vào miền Đông Nam Bộ. Đoàn C15 là khung một đại đội với đầy đủ cán bộ, trưởng xe, lái xe, pháo thủ gồm 40 người, do Trung úy Nguyễn Đình Doãn phụ trách. Lên đường cuối tháng 7 năm 1964, đến tháng 11 năm 1964, Đoàn C15 vào tới chiến trường B2. Tôi vui mừng được gặp lại đồng đội cũ: Nguyễn Đình Doãn, Phan Quế… Doãn quê Đô Lương, Nghệ An, cùng học với tội tại Trường Sĩ quan Xe tăng số 1 Bắc Kinh - Trung Quốc. Có thêm lực lượng, chúng tôi bàn nhau sáp nhập Đoàn C15 vào Trung đội đặc công cơ giới thành Đại đội 40 cơ giới. Đồng chí Lương Tài Lực làm Đại đội trưởng, Nguyễn Hà Tưởng làm Chính trị viên, Nguyễn Đình Doãn làm Đại đội phó, Phan Quế làm Đại đội phó kĩ thuật. Khi về Nam, Nguyễn Hà Tưởng lấy vợ tên là Hà Vũ, một bác sĩ công tác ở Viện quân y Miền, từ đây anh mang tên mới là Nguyễn Hà Vũ.

Gọi là Đại đội cơ giới nhưng trong tay chỉ có vũ khí bộ binh, chủ yếu là súng AK 47 và lựu đạn. Mục tiêu của B16 là “Đánh đặc công, đoạt xe tăng địch để đánh địch” nên Đại đội 40 phải huấn luyện các bài kĩ thuật, chiến thuật đặc công. Thế là anh em huấn luyện ngày đêm, háo hức, sôi nổi, ai cũng muốn được ra trận để lập công. Như hiểu được tâm trạng cán bộ, chiến sĩ B16, chỉ hai tháng sau, Bộ Chỉ huy Miền đã cho chúng tôi tham gia Chiến dịch Đồng Xoài, từ ngày 15 tháng 5 năm 1965 đến ngày 12 tháng 9 năm 1965. Số anh em được chọn tham gia chiến dịch này phần lớn từ Trung đoàn 202 mới vào.

Trước khi quyết định để một bộ phận của Đại đội 40 xung trận, tôi đã nghiên cứu kĩ chiến trường, nắm khá chắc diễn biến các trận đánh trước đó, đặc biệt là Chiến dịch Bình Giã. Trong chiến dịch này, quân và dân Bình Giã đã đánh địch ở cấp trung đoàn tăng cường, tiêu diệt hai tiểu đoàn quân ngụy và một chi đoàn tăng thiết giáp, phá hủy 45 xe quân sự, phần lớn là xe M113, có 2 xe tăng M41. Sau khi bàn bạc, phân tích trong chỉ huy B16; họp bàn, trao đổi với chỉ huy Đại đội 40, chúng tôi thống nhất nhận định: cơ hội đoạt xe địch trong các chiến dịch, trận đánh lớn là có thực. Chỉ có điều, tùy theo từng trận đánh có thể để tính phương án lấy xe địch sao cho giữ được an toàn lực lượng ta. Sau khi phổ biến tinh thần trên tới các cán bộ, chiến sĩ, anh em quyết tâm bước vào Chiến dịch Đồng Xoài với tinh thần: “Khẩn trương thu xe, sắp xếp đội hình, cùng bộ binh phát triển chiến đấu theo kế hoạch tác chiến”.

Đây là trận đánh đầu tiên tôi trực tiếp chỉ đạo trên chiến trường miền Đông Nam Bộ. Vì thế, kết quả trận đánh sẽ ảnh hưởng rất lớn đến quá trình xây dựng, phát triển lực lượng tăng - thiết giáp Miền. Những ngày nghiên cứu chiến trường, bàn phương án phối hợp chiến đấu, cách đoạt xe địch diễn ra khá căng thẳng. Trước một trận đánh không cho phép người chỉ huy chủ quan, chỉ một tính toán sai sẽ gây hậu quả khôn lường. Vì thế, tôi cho anh em chuẩn bị thật kĩ, rồi mới hạ quyết tâm.

Đồng Xoài là chi khu quân sự của địch nằm trên quốc lộ 14, thuộc tỉnh Phước Long, cách Sài Gòn 104km. Nhờ có vị trí quân sự lợi hại, nên quân ngụy tập trung ở Đồng Xoài một lực lượng đồn trú rất đông, cùng với nhiều vũ khí, phương tiện chiến tranh hiện đại, trong đó có một chi đội tăng - thiết giáp (5 chiếc). Bộ Chỉ huy chiến dịch đã sử dụng Đại đội 40 cơ giới làm nhiệm vụ thu hồi xe chiến lợi phẩm. Trung đội 1, do đồng chí Mười Chắc làm Trung đội trưởng, Trung đội 2 do Nguyễn Văn Sáu làm Trung đội trưởng. Tôi là Trưởng ban cơ giới Miền trực tiếp chỉ huy lực lượng cơ giới.

Chiến dịch Đồng Xoài giành được thắng lợi to lớn, tiêu diệt nhiều sinh lực địch nhưng do ta chưa làm chủ hoàn toàn trận địa nên chúng đã dựa vào công sự, lô cốt để chống cự. Vì vậy, Đại đội 40 cơ giới không thể tiếp cận được khu để xe, nên không đoạt được xe tăng địch.

Một tình huống xảy ra đúng như chúng tôi dự kiến. Cậy lực lượng đông và hỏa lực mạnh, địch phản kích ác liệt, huy động nhiều máy bay thay nhau ném bom hủy diệt đồn điền cao su Thuận Lợi và Phú Riềng để ngăn chặn ta thu chiến lợi phẩm. Tôi được lệnh Bộ Chỉ huy chiến dịch giao nhiệm vụ cùng anh Sáu Hưng - phụ trách hậu cần chiến dịch, tổ chức lực lượng thu hồi xe ô tô cảu hai đồn điền cao su đưa vào rừng sơ tán, tránh thiệt hại cho nhân dân. Do hậu cần tiền phương không có lái xe nên Bộ Tư lệnh chiến dịch đã sử dụng Đại đội 40 cơ giới trực tiếp gom được 17 xe (gồm 2 xe Jeep, 3 xe tải nhẹ, 2 xe ben, 10 xe tải nặng).

Chưa kịp rút kinh nghiệm trận đánh và cũng chưa kịp ăn mừng chiến thắng, B16 lại được Tư lệnh chiến dịch giao cho một nhiệm vụ hoàn toàn mới: Sử dụng xe chiến lợi phẩm vận chuyển gạo, muối, đạn dược từ căn cứ Mã Đà lên tiếp tế cho các trung đoàn chiến đấu, vừa chở thương binh về tuyến sau, đưa đón thủ trưởng và cán bộ đi công tác.

Mệnh lệnh ở chiến trường phát ra rất nhanh và phải thực thi không thể chậm trễ. Đại đội 40 khẩn trương tổ chức thành hai bộ phận: Bộ phận vận tải nhẹ do đồng chí Nguyễn Văn Sáu phụ trách; bộ phận vận tải nặng do Nguyễn Văn Chắc và Phan Quế phụ trách. Biên chế mỗi xe 2 người, người chưa biết lái thì ngồi vị trí phụ lái, vừa làm vừa học, cứ thế kèm cặp nhau. Gần hai tháng phục vụ Chiến dịch Đồng Xoài, Đại đội 40 cơ giới không quản ngại khó khăn, gian khổ đã vận chuyển được hàng trăm tấn lương thực, đạn dược lên tuyến trước và vận chuyển được nhiều thương binh về tuyến sau điều trị.
Logged

Chiều hôm em đứng giã bàng
Thương anh quẩy nóp trong hàng quân đi
anhquaynop
Thành viên
*
Bài viết: 244


« Trả lời #35 vào lúc: 26 Tháng Mười Một, 2013, 07:12:51 am »

Chiến công của Đại đội 40 cơ giới thuộc Ban cơ giới Miền được đồng chí Sáu Hương - phụ trách hậu cần chiến dịch biểu dương: “Đóng góp được nhiều công sức, góp phần làm nên chiến thắng Đồng Xoài vang dội”. Trong lễ sơ kết chiến dịch, Đại đội 40 cơ giới đã được đồng chí Hoàng Cầm - Tư lệnh chiến dịch và đồng chí Nguyễn Minh Châu - Phó Tư lệnh chiến dịch, biểu dương: “Đã có tinh thần trách nhiệm rất cao, chịu khó, chịu khổ phục vụ bộ đội và tận tình với thương binh. Lính xe tăng mà lái được ô tô, lại còn làm được việc khác khi có yêu cầu, đã hoàn thành nhiệm vụ một cách xuất sắc”.

Phục vụ Chiến dịch Đồng Xoài, Đại đội 40 Cơ giới tổ chức lại thành hai trung đội. Trung đội 1 vận tải được trang bị các xe tải nặng; Trung đội 2 chở quân, chở cán bộ đi họp, đi công tác trang bị xe tải nhẹ và xe Jeep. Có lần Đại đội 40 Cơ giới hoạt động phân tán, thiếu lái xe, cán bộ phải làm thay. Nhận được lệnh của Miền, tôi lái chiếc xe Jeep lên đón đồng chí Năm Ngà - Phó Tư lệnh và đồng chí Lê Minh Như - Trung đoàn trưởng Trung đoàn 3 đi nghiên cứu chiến trường. Thấy tôi lái được xe ô tô, đồng chí Năm Ngà rất ngạc nhiên. Sau biết tôi đã qua Trường Sĩ quan Xe tăng số 1  Bắc Kinh, ông mới yên tâm để cho tôi lái. Hôm ấy tôi điều khiển chiếc xe Jeep lùn đi qua rừng le, băng qua những trảng lớn, đường đi hẹp, mấp mô ngon ơ, Phó Tư lệnh Chiến dịch Năm Ngà buột miệng khen: “Lính xe tăng cái gì cũng làm được”.

Thực tiễn Chiến dịch Đồng Xoài nhen nhóm niềm hi vọng đoạt xe tăng địch. Bài toán cần giải chính là khâu hợp đồng với bộ binh và nắm chắc việc bố trí hỏa lực của địch. Tuy nhiên, tránh tư tưởng nôn nóng, đoạt xe tăng địch bằng mọi giá, như vậy ta khó bảo toàn được lực lượng.

Bị thua đau ở miền Nam, đế quốc Mĩ điên cuồng mở các cuộc tiến công bằng không quân, hải quân ra miền Bắc. Cả nước là một chiến trường đánh Mĩ. Ở miền Nam, Mĩ đưa quân vào ồ ạt. Miền Bắc đương đầu với cuộc chiến tranh phá hoại của Mĩ với mức độ ngày càng tàn khốc. Tháng 4 năm 1965, tại kì họp Quốc hội khóa III, Bác Hồ ra lời kêu gọi: “Lúc này chống Mĩ, cứu nước là nhiệm vụ thiêng liêng của mọi người Việt Nam yêu nước. Tất cả chúng ta hãy đoàn kết triệu người như một, quyết tâm đánh thắng giặc Mĩ xâm lược”.

Từ giữa năm 1965, cùng với cao trào phá ấp chiến lược trên toàn miền Nam, thắng lợi giòn giã của các Chiến dịch Bình Giã, Đồng Xoài, chiến công của các lực lượng Biệt động Sài Gòn tấn công vào tòa đại sứ Mĩ, các khách sạn Caravelle, Brink, Me’tropole… là những đòn quyết định sự sụp đổ chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mĩ. Để cứu vãn tình thế, Tổng thống Mĩ Giônxơn quyết định đưa thêm 44 tiểu đoàn quân vào trực tiếp tham chiến ở Việt Nam, thực hiện cái gọi là “chiến tranh tìm diệt” của Oétmolen (Westmoreland), Tham mưu trưởng liên quân Mĩ. Càng thất bại, Mĩ - ngụy càng điên cuồng chống phá ta ở cả hai miền Nam Bắc. Trên chiến trường miền Nam, Mĩ - ngụy tăng cường các cuộc hành quân càn quét với quy mô lớn, sử dụng nhiều chủng loại xe tăng, thiết giáp. Trong khi đó, vũ khí chống tăng của ta thời kì này được trang bị rất hạn chế. Ta chủ yếu đánh trả xe tăng thiết giáp địch bằng vũ khí bộ binh thông thường.

Để đánh đòn quyết định vào “chiến lược tìm diệt” của quân Mĩ ngay từ khi còn chân ướt chân ráo vào miền Nam, Bộ Chỉ huy Miền quyết định sử dụng Sư đoàn 9 Quân giải phóng miền Nam phối hợp với Tiểu đoàn Phú Lợi (Bình Dương) bất ngờ tiến công vào Lữ đoàn 3 thuộc Sư đoàn “anh cả đỏ” của Mĩ và Trung đoàn 7 (Sư đoàn 5) quân ngụy tại khu vực Bàu Bàng - Dầu Tiếng. Đại đội 40 cơ giới trực thuộc Ban Cơ giới Miền có vinh dự cử trung đội do đồng chí Nguyễn Văn Chắc làm Trung đội trưởng tham gia trận tiến công có ý nghĩa này. Ngày 12 tháng 11 năm 1965, lực lượng ta tập kích vào cụm đóng quân dã chiến Mĩ tại Bàu Bàng, loại khỏi vòng chiến đấu hàng nghìn tên Mĩ thuộc Sư đoàn bộ binh số 1 “anh cả đỏ”, phá hủy 30 xe tăng thiết giáp. Tham gia trận Bàu Bàng, Đại đội 40 cơ giới đã chiến đấu trong đội hình bộ binh, tuy chưa lấy được xe tăng địch, nhưng đã góp phần làm nên chiến thắng vang dội. Toàn chiến dịch, ta đã đánh thiệt hại nặng một lữ đoàn Mĩ, một trung đoàn quân đội Sài Gòn, diệt 4.250 tên, bắt 100 tên, phá hủy 10 khẩu pháo, 300 xe quân sự (có 80 xe M113), bắn rơi 20 máy bay. Chiến thắng Bàu Bàng mở ra khả năng của Quân giải phóng miền Nam tiêu diệt từng đơn vị quân Mĩ ngoài công sự. Với những thắng lợi vang dội trong năm 1965 - năm đầu tiên quân Mĩ trực tiếp tham chiến trên chiến trường miền Nam, chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mĩ - ngụy đã bị phá sản, địch buộc phải chuyển sang chiến lược “chiến tranh cục bộ”.

Ngay từ đầu năm 1965, Trung đoàn xe tăng 202 tiếp nhận hàng trăm chiến sĩ mới, khẩn trương huấn luyện đào tạo thành viên kíp xe. Nhiều cán bộ được đào tào xe tăng ở Liên Xô, Trung Quốc đã hoàn thành nhiệm vụ được bổ sung về trung đoàn. Khoảng giữa năm 1965, Trung đoàn đã hình thành thêm hai khung trung đoàn bước vào huấn luyện, sẵn sàng đáp ứng đòi hỏi của cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước.

Ngày 19 tháng 7 năm 1965, khi Chiến dịch Đồng Xoài đang diễn ra sôi động, Đoàn 711 làm lễ xuất quân vào chiến trường. Đây là khung một trung đoàn nhẹ do đồng chí Nguyễn Thế Hùng làm Đoàn trưởng, đồng chí Bùi Tân làm Chính trị viên, đồng chí Phan Xướng làm Đoàn phó. Đoàn được Thiếu tướng Trần Văn Quang - Phó Tổng Tham mưu trưởng và đồng chí Nguyễn Hữu Xuyến - Phó Tư lệnh Miền đến động viên, trao cờ và chỉ thị nhiệm vụ cụ thể.
Logged

Chiều hôm em đứng giã bàng
Thương anh quẩy nóp trong hàng quân đi
anhquaynop
Thành viên
*
Bài viết: 244


« Trả lời #36 vào lúc: 26 Tháng Mười Một, 2013, 07:14:36 am »

Sau ba tháng hành quân bộ vượt Trường Sơn, ngày 23 tháng 11 năm 1965, Đoàn 711 đã vào tới Trạm 14 Chiến khu Dương Minh Châu thuộc tỉnh Tây Ninh với 100% quân số. Đoàn 711 có 2 tiểu đoàn, mỗi tiểu đoàn có 3 đại đội. Tiểu đoàn 1 do Đại úy Trần Quang Bôn làm Tiểu đoàn trưởng, Đại úy Đỗ Văn Phát làm Chính trị viên; Đại úy Phạm Hà Hải làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2, Đại úy Lê Trung Sum làm Chính trị viên. Cũng giống như các đoàn trước, cán bộ, chiến sĩ Đoàn 711 được đào tạo bài bản về chỉ huy xe tăng thiết giáp. Cán bộ cấp trung đội trở lên được đào tạo dài hạn tại các trường sĩ quan xe tăng của Trung Quốc và Liên Xô (cũ). Còn các thành viên kíp xe (pháo thủ, lái xe) là số thanh niên nhập ngũ đầu thập niên 60, theo luật Nghĩa vụ quân sự, có sức khỏe tốt, có trình độ văn hóa cấp 2 và 3 là cao so với bây giờ. Đây là đoàn có quân số đông nhất so với các đoàn trước vào chiến trường B2 theo tinh thần “xe chưa xung trận thì người xung trận trước”.

Miền Đông Nam Bộ vốn là chiến trường gian khổ, ác liệt, xa hậu phương miền Bắc nên việc chi viện gặp rất nhiều khó khăn. Đơn vị luôn thiếu thốn về lương thực, thực phẩm. Bộ đội vừa từ Bắc vào, người ốm chỉ được phát một hộp sữa, ai khỏe thì được một thỏi đường phèn. Một tuần sau tôi cho thịt một con heo, chỉ đạo anh em hậu cần làm cả bún để bồi dưỡng và khao quân.

Đoàn 711 được sáp nhập với cơ quan Ban Cơ giới Miền (B16) và Đại đội Cơ giới 40 thành Đoàn Cơ giới Miền J16, với biên chế tương đương trung đoàn (thiếu). Cuối tháng 11 năm 1965 tại Căn cứ Bà Chiêm, Bộ Chỉ huy Miền ra quyết định thành lập J16 Cơ giới Miền. Ban Chỉ huy J16 gồm có tôi - Đoàn trưởng kiêm Chính ủy; Đại úy Bùi Tân - Phó chính ủy kiêm Chủ nhiệm chính trị; Đại úy Phạm Hà Hải - Đoàn phó kiêm Tham mưu trưởng; Đại úy Phan Xướng - Đoàn phó. J16 Cơ giói Miền lúc này đã có lực lượng khá đông đảo với 292 cán bộ, chiến sĩ biên chế thành 4 đại đội(1) C15, C23, C46, C40 và cơ quan đoàn bộ: Tham mưu, Chính trị, Hậu cần.

Vào thời điểm này, J16 Cơ giới Miền là đơn vị khung đầu tiên (chỉ có người, không có xe) của Binh chủng Tăng - Thiết giáp có mặt tại mặt trận miền Đông Nam Bộ. Tron điều kiện hết sức ngặt nghèo vào ác liệt của cuộc chiến tranh, thì sự ra đời của J16 mang một ý nghĩa vô cùng to lớn.

Sau khi J16 thay cho B16, một số cán bộ của Đoàn 711 được Bộ Chỉ huy Miền điều động tăng cường cho các cơ quan, đơn vị. Nguyễn Thế Hùng về Cục Tham mưu, Đỗ Văn Phát về Cục Chính trị, Hoàng Tiến Lực về Văn phòng Bộ Chỉ huy Miền, Lê Trung Sum về cơ quan Biên phòng, Trần Quang Bôn về chi khu Bà Rịa - Vũng Tàu, Hoàng Kiên Nhẫn về Quân khu 9 và Phan Xướng về Trung đoàn Gia Định.

Thấm nhuần tinh thần “lấy xe địch đánh địch” và nóng lòng chiến đấu lập công, J16 khẩn trương củng cố tổ chức, triển khai kế hoạch nghiên cứu chiến trường để khi có thời cơ là tổ chức chiến đấu đoạt xe tăng địch. Trước mắt, giải phóng một yêu cầu cấp bách của bộ đội: Muốn đánh được tăng - thiết giáp địch thì trước hết phải biết được điểm yếu của xe tăng địch và quy luật hoạt động của chúng. Sau khi đã lựa chọn địa điểm là Liên trường võ bị Thủ Đức, cuối năm 1965, một số cán bộ chiến sĩ bí mật hành quân xuống xã An Nhơn Đông, An Nhơn Tây (huyện Củ Chi, Gia Định) ở trong nhà dân thôn Hố Bò để điều tra nghiên cứu, chuẩn bị cho trận đánh sắp tới.

Sau khi nghiên cứu kĩ lưỡng, Ban Chỉ huy J16 đề xuất phương án chiến đấu báo cáo Bộ Chỉ huy Miền. Đó là sử dụng một trung đội (thuộc Đại đội 40 cơ giới) phối hợp với lực lượng đặc công biệt động thành phố Sài Gòn tập kích vào khu để xe của địch bằng lối đánh đặc công. Đêm 16 rạng ngày 17 tháng 1 năm 1966, đồng chí Võ Hiệp (nguyên Phó ban Cơ giới Miền - B16) trực tiếp làm Chỉ huy trưởng trận đánh cùng với phân đội đặc công biệt động do Nguyễn Văn Tăng, Chỉ huy phó đã nổ súng, đánh thẳng vào cổng chính, nhanh chóng tiến công mục tiêu số một là khu để xe tăng - thiết giáp của địch, đoạt xe địch, thực hành chiến đấu tại chỗ, tiêu diệt sinh lực địch rồi phá hủy xe, vì chưa đủ điều kiện để đưa xe ra căn cứ.

Do nhiều nguyên nhân, trận đánh chưa đạt được kết quả như yêu cầu đặt ra nhưng ta đã tiêu diệt được một bộ phận sinh lực địch, phá hủy một số xe tăng thiết giáp, làm rối loạn hàng ngũ sĩ quan và binh lính Sài Gòn. Nhân dân địa phương rất phấn khởi, khâm phục tinh thần chiến đấu của Quân giải phóng. Trận đánh đã nổi lên những tấm gương chiến đấu kiên cường như: Văn Lương Thành, Nguyễn Văn Chính, Lê Thiện, Huỳnh Long, Cao Sinh Học. Têu biểu là tấm gương Mũi trưởng chiến đấu Cao Sinh Học - người dân tộc Bắc Kạn. Lệnh nổ súng vừa dứt, Cao Sinh Học bắn chết ngay tên lính gác cổng, đập vỡ bóng điện, cùng anh em xông thẳng vào bãi xe của địch. Anh lệnh cho đồng đội dùng thủ pháo, lựu đạn diệt xe địch. Khu chúng phản công quyết liệt, Cao Sinh Học bị thương phải nằm lại, sau khi đã bắn hết đạn. Phát hiện ra anh, chúng gí súng vào đầu quát: “Đầu hàng đi”. Cao Sinh Học dõng dạc trả lời: “Quân giải phóng chỉ biết đánh, không biết hàng”. Bọn giặc chùn tay không dám bắn, chúng bắt anh đưa về giam giữ trong nhà lao. Mặc dù bị nhiều đòn roi, cực hình tra tấn, Cao Sinh Học vẫn giữ vững khí tiết người chiến sĩ xe tăng Quân giải phóng. Tinh thần Cao Sinh Học đã trở thành tấm gương cho tuổi trẻ Quân giải phóng miền Nam nói chung và tuổi trẻ Binh chủng Tăng - Thiết giáp nói riêng học tập.

Chú thích
(1) Đại đội 15: Sáp nhập C1 với C5 của D1 và D2 Đoàn 711.
Đại đội 23: Sáp nhập C2 với C3 của D2 Đoàn 711.
Đại đội 46: Sáp nhập C4 với C6 của D2 Đoàn 711.
Đại đội 40 cơ giới giữ nguyên.
Logged

Chiều hôm em đứng giã bàng
Thương anh quẩy nóp trong hàng quân đi
anhquaynop
Thành viên
*
Bài viết: 244


« Trả lời #37 vào lúc: 04 Tháng Hai, 2014, 08:48:37 am »

*

Qua mỗi trận đánh, J16 từng bước trưởng thành, lập được nhiều chiến công “bên ngoài tháp pháo”, khi mà điều kiện xung trận của xe tăng chưa cho phép. Tiếp đó chúng tôi đánh các trận: Trảng Lớn, Trà Dơ; trận bảo vệ thương, bệnh binh Viện K71 và Xưởng Quân giới Miền ở phía tây suối Bà Chiêm, gây cho địch nhiều tổn thất.

Kể từ khi thành lập Ban Cơ giới Miền (B16) tháng 11 năm 1964, Đoàn Cơ giới Miền J16 tháng 11 năm 1965, cán bộ, chiến sĩ ta đã tham gia đánh nhiều trận lớn nhỏ, lập được chiến công nhưng mục tiêu “lấy xe tăng địch” vẫn còn bỏ ngỏ. Đó chính là nỗi trăn trở của Đảng ủy, chỉ huy Đoàn Cơ giới J16 chúng tôi. Nhiều lần tôi đã chỉ thị cho cơ quan tham mưu phải “tích cực nghiên cứu chiến trường, chọn mục tiêu tiến công bảo đảm chắc thắng, thu được xe tăng địch”. Đó là cả một bài toán khó, đòi hỏi mỗi cán bộ, chiến sĩ trong Đoàn Cơ giới J16 đồng tâm hiệp lực tìm cho được lời giải càng sớm càng tốt. Trong lúc chúng tôi đang đau đầu với câu hỏi “đánh vào đâu” thì Trung ương Cục và Bộ Chỉ huy Miền chủ trương tiến công căn cứ Gò Đậu. Mục tiêu được lựa chọn dựa trên kết quả công tác binh vận của Trung ương Cục và Tỉnh ủy Bình Dương cài cắm, móc nối, xây dựng nên.

Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ Chỉ huy Miền, Đoàn Cơ giới J16 khẩn trưởng chuẩn bị phương án tiến công căn cứ Gò Đậu.

Gò Đậu thuộc địa phận xã Phú Cường, huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Trung đoàn thiết giáp số 1 (thiết đoàn) của quân ngụy Sài Gòn đóng tại căn cứ Gò Đậu. Trong bỉnh chủng thiết giáp quân đội Việt Nam cộng hòa (ngụy quyền Sài Gòn), Trung đoàn 1 được coi là con cưng, kì cựu nhất. Từ năm 1956, chúng đóng ở Gò Vấp (Gia Định) và các vùng lân cận, từng bị Quân giải phóng giáng cho nhiều đòn đau. Trong trận Bình Giã (tháng 12 năm 1964) thiết đoàn này bị Quân giải phóng diệt 1 chi đoàn xe tăng M24 (của Pháp để lại) và xe M113. Ngày 12 tháng 11 năm 1965, tại Bàu Bàng, Quân giải phóng lại tiêu diệt một chi đoàn xe thiết giáp gồm 40 xe tăng và xe M113.

Từ cuối năm 1965, thiết đoàn 1 thiết giáp được Mĩ trang bị 1 chi đoàn chiến xa (M41), 2 chi đoàn thiết xa vận (M113). Đầu quý 4 năm 1965, thiết đoàn chuyển từ Thủ Đức về đóng quân tại Gò Đậu.

Nhiệm vụ của Thiết đoàn 1 ngụy là phối hợp với sư đoàn 5 bộ binh và Tiểu đoàn biệt động “cọp đen” hành quân đánh phá liên tục để giải tỏa áp lực của Quân giải phóng ở các vùng quanh Bình Dương và bảo vệ hai căn cứ Mĩ ở Phú Lợi và Lai Khê. Thiết đoàn còn được Mĩ giao nhiệm vụ đánh vào vùng giải phóng Củ Chi, giữ đường 13 và hành quân yểm trợ các đoàn xe vận tải GMC tiếp từ từ Bình Dương lên Lộc Ninh, Hớn Quản.

Căn cứ Gò Đậu của Trung đoàn thiết giáp số 1 ngụy nằm trên một ngọn đồi thấp phía đông nam thị xã Bình Dương, cách trung tâm thị xã khoảng 1.500m. Xung quanh căn cứ có rào kẽm gai và bờ thành bằng đất cao 1,5m. Phía bắc sát căn cứ là đường 13; phía tây nam là một nghĩa địa hoang và một bãi đất trống cỏ mọc cao, dày. Bên ngoài là một con đường đất chạy quanh, dành cho xe M113 đi tuần tiễu bảo vệ căn cứ.

Ngày 10 tháng 10 năm 1965, Bộ Chỉ huy Miền giao nhiệm vụ cho tôi sang Trung ương Cục gặp đồng chí Bảy Dự - Phó ban Binh vận bàn kế hoạch chiến đấu. Theo kế hoạch, Ban Cơ giới Miền J16 sử dụng Đại đội Cơ giới 40 cùng một số cơ sở mật được Đảng ta cài cắm trong hàng ngũ sĩ quan và binh sĩ Thiết đoàn thiết giáp số 1 quân ngụy Sài Gòn để tiến hành binh biến và nổi dậy.

Đồng chí Bảy Dự - Phó ban Binh vận Trung ương Cục cho biết: Thiếu úy Phùng Văn Mười (tức Bảy Tuấn) là đảng viên mật của ta cài vào. Bảy Tuấn sinh năm 1937, quê ở Chợ Lớn. Anh là cơ sở của Ban Binh vận tỉnh Long An từ năm 1957, năm 1961 được kết nạp vào Đảng. Sau đó, Ban Binh vận tỉnh Long An chuyển Bảy Tuấn cho Ban Binh vận Trung ương Cục. Lợi dụng cơ hở của địch trong tuyển mộ lính, ta cắm Bảy Tuấn vào lực lượng thiết giáp ngụy. Bảy Tuấn là là Chi đội trưởng chỉ huy, đồng thời là Bí thư chi bộ Đảng hoạt động trong lòng địch. Chi bộ có 6 đảng viên, 7 cảm tình đảng, một số nghĩa binh yêu nước cũng đã được cảm hóa. Cơ hội khởi nghĩa đã chín muồi. Đồng chí Một Hữu - Tỉnh đội trưởng tỉnh Bình Dương đề nghị cấp trên “nên chớp thời cơ hành động”.

Tham gia trận đánh Gò Đậu có các đơn vị như: Sư đoàn 9, Tỉnh đội Bình Dương, J16 Cơ giới Miền, tổ chức hợp đồng tác chiến với lực lượng khởi nghĩa trong Trung đoàn thiết giáp số 1 ngụy Sài Gòn do đồng chí Phùng Văn Mười chỉ huy. Đây là trận đánh đặc biệt quan trọng nên chúng tôi quyết định sử dụng Đại đội 40 đặc công cơ giới được coi là thiện chiến nhất của J16 Miền lúc bấy giờ. Các trận đánh trước, ta chỉ mới sử dụng một trung đội của Đại đội 40. Chỉ huy Đại đội 40 cũng là những cán bộ có năng lực và phẩm chất đặc biệt. Đại đội trưởng Lê Như Hòa quê ở Vĩnh Thạnh, Vĩnh Lộc, Thanh Hóa, sinh đúng vào ngày thành lập Đảng - ngày 3 tháng 2 năm 1960. Anh Hòa là một lính chiến thực thụ từng chiến đấu trên chiến trường Tây Bắc, Chiến dịch Điện Biên Phủ. Lê Như Hòa cùng học với tôi tại Trường Sĩ quan Xe tăng số 1 Bắc Kinh (Trung Quốc), về nước anh là Đại đội trưởng xe tăng, cùng Tiểu đoàn 3, Trung đoàn xe tăng 202 với tôi. Chính trị viên Đại đội 40 là Nguyễn Hà Vũ quê ở Bình Trị Đông, Bình Chánh, Sài Gòn. Năm 1954, anh theo cha mẹ tập kết ra Bắc, học trường dành cho học sinh miền Nam.

Trong hai tháng, chúng tôi giao nhiệm vụ cho Năm Vũ (Nguyễn Hà Vũ) và Trần Mai (Trần Nhật Chiêu) ra nhà Phùng Văn Mười, cách Gò Đậu khoảng 2km để nghiên cứu thực địa, cách điều lực lượng vô và đường rút quân.
Logged

Chiều hôm em đứng giã bàng
Thương anh quẩy nóp trong hàng quân đi
anhquaynop
Thành viên
*
Bài viết: 244


« Trả lời #38 vào lúc: 04 Tháng Hai, 2014, 08:50:27 am »

Theo kế hoạch, khi đồng chí Phùng Văn Mười phát lệnh, bên trong anh em nghĩa binh nổ súng, tiêu diệt các mục tiêu quan trọng. Bên ngoài đánh vào gồm lực lượng của Đại đội 40 đặc công cơ giới. Đồng chí Nguyễn Hà Vũ, cải trang thành trung sĩ thiết giáp ngụy, đến nhà Phùng Văn Mười ở Hạnh Thông Tây, Gò Vấp rồi theo anh vào căn cứ Gò Đậu để tìm hiểu việc bố phòng của địch. Ngày N, Nguyễn Hà Vũ cũng đến nhà Phùng Văn Mười để anh chở về trước căn cứ chuẩn bị phối hợp với lực lượng binh biến và cùng nghĩa binh chiến đấu. Theo phương án, ngoài và trong hợp đồng tác chiến chặt chẽ, nhanh chóng chiếm xe, bộ binh đánh chiếm những mục tiêu xung quanh Gò Đậu, sau đó đưa xe về địa điểm quy định. Lực lượng vũ trang tỉnh Bình Dương chuẩn bị địa điểm trú quân, dẫn đường những mũi tấn công từ ngoài vào, xóa vết xích xe về căn cứ, thu gom chiến lợi phẩm, chủ yếu là đạn pháo và giải quyết thương binh, tử sĩ.

Bộ đội Trung đoàn 2 của Sư đoàn bộ binh 9 chốt các ngả đường chặn địch, mở ra lối thoát an toàn cho Đại đội 40 cơ giới và bộ phận nghĩa binh của Phùng Văn Mười nhanh chóng đưa xe về căn cứ cất giấu. Đúng giờ G, Bộ Chỉ huy Miền cho pháo binh bắn vào hai căn cứ Lai Khê và Phú Lợi, hòa vào tiếng súng khởi nghĩa của Trung đoàn tăng thiết giáp số 1, làm cho địch bị động.

Do tính chất đặc biệt của trận đánh và để bảo đảm chắc thắng, Bộ Chỉ huy Miền quyết định thành lập Ban Chỉ huy trận đánh gồm các đồng chí: Tạ Minh Khâm - Sư đoàn trưởng Sư đoàn 9, làm chỉ huy trưởng, Một Hữu - Tỉnh đội trưởng Bình Dương; tôi - Đoàn trưởng Đoàn cơ giới Miền J16; đồng chí Bảy Dự - đại diện Ban Binh vận Trung ương Cục miền Nam (sau đó đồng chí Nguyễn Tâm Cang thay thế) và đồng chí Hai Trung - Bí thư Huyện ủy Lái Thiêu.

Đây là một trận đánh được tính toán chi biết, tổ chức hết sức kĩ lưỡng, táo bạo, bất ngờ của lực lượng vũ trang B2 trong đó có Đại đội 40 cơ giới thuộc J16.

Từ tháng 10 năm 1965, sau khi kết thúc Chiến dịch Đồng Xoài, tôi và một số cán bộ của J16 trong đó có Trần Nhật Chiêu đi chuẩn bị chiến trường trực tiếp triển khai công tác chuẩn bị cho trận Gò Đậu. Với hai tấm giấy chứng minh ngụy do Phòng Quân báo Miền cấp, chúng tôi cùng đồng chí cán bộ binh vận công khai gặp gỡ các cơ sở nội ứng. Khi công việc chuẩn bị xong, tôi dẫn bộ phận chỉ huy của J16 xuống sở chỉ huy chung của trận đánh. Đi cùng tôi có liên lạc Trịnh Văn Xuyên. Chúng tôi đi đường tắt, đến gần suối Ông Hùng phát hiện địch chặn phía trước và trời sắp tối, chúng tôi nghỉ lại để sáng hôm sau đi tiếp. Ngay chiều hôm đó, bất ngờ một quả đạn pháo của địch đi càn bắn trúng chiếc lò rèn, cách chỗ tôi có vài mét, bụi xì, mảnh sắt tung lên, trúng vào con mắt trái của tôi. Trong khoảnh khắc mắt tôi tối sầm lại. Anh em vội băng bó cho tôi. Cứ nghĩ chỉ bị thương nhẹ, nào ngờ sáng hôm sau mắt càng xót khó chịu. Phía trước địch vẫn càn không đi được phải quay về và đi theo đường bộ đội hành quân. Tôi đề nghị anh Thế Hùng thay tôi chỉ huy trận đánh Gò Đậu. Nguyễn Thế Hùng cùng học ở Bắc Kinh với tôi và học rất khá. Anh là Đoàn trưởng Đoàn 711, mới vào đến chiến trường, Miền rút anh lên Phòng Tác chiến. Khi tôi đề nghị anh thay vị trí chỉ huy, cấp trên chấp nhận ngay.

Bệnh viện K71A của Miền ở phía tây suối Bà Chiêm. Không thể chở lâu, Viện K71A chuyển tôi qua Viện K71B ở phía đông ngã ba Bà Chiêm. Tại đây, bác sĩ Thiên - Viện phó trực tiếp mổ cho tôi. Không thể giữ được, các bác sĩ đành phải khoét bỏ con mắt trái của tôi.

Nằm trong bệnh viện, lòng tôi như có lửa đốt. Lo cho sự thành bại của trận đánh. Trong chiến đấu, đôi khi các tình huống xảy ra bất ngờ, ngoài ý muốn chủ quan của người chỉ huy. Chiều ngày 17 tháng 3 năm 1966, địch phổ biến lệnh hành quân đột xuất. Từ ngày 18 tháng 3, trung đoàn thiết giáp số 1 kết hợp với không quân và bộ binh giải tỏa đường 13, yểm trợ cho đoàn xe vận tải quân sự khoảng 100 chiếc tiếp tế cho Bến Cát, Lai Khê, Châu Thành, Bình Long, Lộc Ninh, Hớn Quảng. Vì thế, ngày nổ súng phải lùi lạ, đồng nghĩa với việc ta sẽ gặp một số khó khăn. Thứ nhất, tỏng lúc hành quân, nội tuyến và cơ sở của ta trong trung đoàn thiết giáp số 1 có thể bị thương vong, thứ hai, nếu địch đánh phá vùng tập kết lực lượng của ta ngoài căn cứ Gò Đậu, cuộc binh biến, khởi nghĩa sẽ không tiến hành được; thứ ba, nội tuyến và cơ sở từ một số đơn vị thiết giáp khác hội về trung đoàn 1 thiết giáp lâu ngày dễ sơ hở và việc chuẩn bị của ta bên trong và bên ngoài nếu kéo dài rất dễ bị lộ.

Sau khi phân tích kĩ, ban chỉ huy trận đánh quyết định cuộc binh biến khởi nghĩa sẽ tiến hành sau khi địch hành quân trở về, chứ không chờ đến tối thứ bảy.

Ngày 21 tháng 3, cuộc hành quân của địch kết thúc, binh lính Trung đoàn thiết giáp số 1 về căn cứ nhưng vì cơ số đạn và xăng dầu không đủ, phải chờ bổ sung nên chưa thể nổ súng vào ngày 22 tháng 3.

Về phía địch, nhận được tin Quân giải phóng chuyển quân gần đó, chúng đã điều 3 xe M113 đến án ngữ góc đông nam căn cứ, sát bờ thành hướng vô rừng cao su và nhà dân, 2 chiếc M113 nữa được chúng điều đến thị xã tăng cường bảo vệ tòa hành chính tỉnh và nhà riêng của tên trung tá Diệp, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 1 thiết giáp.

Sau khi phương án 1 đánh theo kiểu biệt động không thực hiện được, Ban Chỉ huy quyết định đánh theo phương án 2 bằng nội công, ngoại kích.

Chiều ngày 23 tháng 3, những người chủ chốt tập hợp tại nhà Phùng Văn Mười ở Gò Vấp rồi lên chiếc xe du lịch hiệu Ford số NBM-502 lên Gò Đậu. Đến nơi, anh không lái xe vào cổng chính mà chạy tới đường đất đỏ dành cho xe M41, quẹo trái vô bên trong, đậu gần văn phòng Sở Chỉ huy chi đoàn xe tăng M41 (chiếc xe Ford hủy luôn trong trận đánh).
Logged

Chiều hôm em đứng giã bàng
Thương anh quẩy nóp trong hàng quân đi
anhquaynop
Thành viên
*
Bài viết: 244


« Trả lời #39 vào lúc: 04 Tháng Hai, 2014, 08:55:44 am »

19 giờ ngày 23 tháng 3 năm 1966, trận tiến công căn cứ Gò Đậu bắt đầu. Lực lượng C40 cơ giới trang bị AK47, có cả B40, chia thành 2 mũi luồn sâu, áp sát phía nam và đông nam căn cứ gần khu vực để xe tăng M41 và xe thiết giáp M113. Hôm ấy là thứ tư, nhằm vào ngày mùng 2 tháng 3 âm lịch, trời tối, không trăng. Dù không có cải lương như hôm thứ bảy, nhưng lính thiết giáp kéo vào câu lạc bộ của chi đoàn 1 để xem truyền hình cho thoải mái tinh thần sau những ngày hành quân vất bả.

Trong lúc đó, lực lượng binh biến khởi nghĩa chia nhau tiếp cận và chiếm các xe thiết giáp theo đúng kế hoạch. Bên chi đoàn 1 các nghĩa binh chiếm 8 xe tăng M41; chi đoàn 3, ta chiếm 5 xe M113. Rất tiếc là vào giờ chót có một nội tuyến thiếu quyết tâm, anh ta lấy cớ địch phân công ra chốt ngoài vị trí tiền tiêu ở phía nam sông Sài Gòn rồi không trở vào dự trận. Chi đoàn 3 cũng có 3 cơ sở dao động nhưng không phản, chỉ rút êm.

Do thiếu người chiếm các xe theo kế hoạch và trên một số xe cũng không đủ thanh viên nên thay vì 4 người ta chỉ bố trí 3. Chỉ huy xe là đảng viên nòng cốt kiêm luôn xạ thủ, 1 lái xe và 1 nạp đạn. Mọi người đã vào vị trí. Các chiến binh chỉ trao đổi với nhau bằng tay và nhìn vào ánh mắt của nhau để củng cố quyết tâm. Phùng Văn Mười nhảy lên chiếc xe M41-AL cùng hai cơ sở: Xương lái xe và Rớt nạp đạn. Vừa lên xe, anh lệnh cho Rớt quay nòng pháo xe tăng vào trong và rất điệu nghệ, búng điếu thuốc lá Salem đang hút lên trời. đó là tín hiệu tiến công. Ngay lập tức, Phùng Văn Mười nhận được tín hiệu trả lời của các đồng đội: các xe đã chiếm theo kế hoạch.

Đúng 20 giờ 15 phút, Phùng Văn Mười dùng đại liên 50 bắn phát súng lệnh lên trời, tạo thành dãy đạn lửa, báo hiệu cho bên ngoài trận đánh bắt đầu. Tiếp đó, anh hạ nòng súng nã đạn vào các mục tiêu, vào chi đoàn 1, vào bọn địch đang túm tụm xem truyền hình và ăn uống ở câu lạc bộ. Đúng hợp đồng, pháo binh của Miền bắn từng loạt vào hai căn cứ địch ở Lai Khê và Phú Lợi. Sau đó đạn pháo xe tăng do các nghĩa binh thi nhau bắn tới tấp vào khu doanh trại địch. Đại đội trưởng Lê Như Hòa chỉ huy anh em Đại đội 40 cơ giới đồng loạt nổ súng phối hợp. Bị đánh bất ngờ, kẻ địch hoảng loạn, không biết cách nào đối phó bởi lối đánh táo bạo “nội công, ngoại kích”. Trung tá Diệp - trung đoàn trưởng thiết giáp ngụy liều mạng đưa 2 xe M41 về phản kích. Lúc đó, Trần Nhật Chiêu đnag tập trung xe trước cổng chưa kịp hành quân thì bị địch bắn làm rối loạn đội hình, một số anh em bị thương vong. Chỉ sau ít phút bị bất ngờ, Đại đội 40 cơ giới đã phản kích lại, chiếm được xe tăng địch, sử dụng các súng pháo trên xe để chiến đấu. Để nghi binh, khi chiếm được xe, ta sử dụng 4 chiếc chạy về hướng Sài Gòn làm như có đảo chính, khiến địch thưởng thật phải huy động cả lực lượng thủy quân lục chiến ra ngăn chặn hết các ngả đường vào Sài Gòn. Đến gàn thành phố, ta hủy xe, còn người rút về căn cứ. Cùng lúc xe của đồng chí Phùng Văn Mười chạy ra đường 13, băng qua xã Phú Cường, được đồng chí Lê Hoàng To - Đại đội trưởng một đơn vị thuộc Sư đoàn 9 và nhiều anh em bộ đội ta mừng rỡ chào đón rồi dẫn đi đánh căn cứ dã chiến của Trung đoàn 8 thuộc Sư đoàn 5 ngụy đóng tại Gò Mối. Xe Thiếu úy Mười đã bắn phá căn cứ, chà đi xát lại, khiến quân địch bỏ căn cứ chạy tháo thân. Sau đó cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 9 dẫn kíp xe Phùng Văn Mười chạy ra hướng Sở Sao, về tập kết tại Bông Trang (nhà đỏ). Từ đây, đồng chí Vũ Đức Hùng, cán bộ kĩ thuật của J16 cơ giới Miền đã lái chiếc xe tăng M41-AL vượt chặng đường rừng 30km trong đêm tối, khôn khéo tránh sự truy đuổi của máy bay địch, về cất giấu tại căn cứ Long Nguyên.

Đây là chiếc xe tăng đầu tiên của lực lượng tăng - thiết giáp Quân giải phóng miền Đông Nam Bộ.

Chỉ sau một giờ chiến đấu, ta đã làm chủ căn cứ Trung đoàn 1 và sử dụng các xe thu được của địch để tổ chức đánh tiếp các mục tiêu khác. Song do ta sử dụng xe địch chưa thành thạo, nổ máy không được, lại bị máy bay địch truy sát nên không thu được số lượng xe tăng - thiết giáp theo kế hoạch.

Trận đánh kết thúc vào lúc gần sáng. Kết quả, ta diệt gần 200 tên địch, thu và phá hủy hơn 30 xe M41, M113 cùng nhiều xe quân sự và phương tiện chiến tranh khác. Nhiều tấm gương chiến đấu của J16 Cơ giới Miền đã tỏa sáng trong trận đánh có ý nghĩa này. Đồng chí Trần Nhật Chiêu - Đại đội phó kĩ thuật bị thương nặng, trước khi hi sinh vẫn cố gắng hết sức mình hô to động viên nhắc nhở anh em: “Quyết lấy cho được xe địch”. Trưởng xe Nguyễn Xuân Tình đã mưu trí đoạt được 1 xe tăng M41 của địch và dùng ngay súng 12,7mm trên xe bắn vào toán địch đang điên cuồng phản kích. Khi địch cho 2 xe M41 từ sở chỉ huy ra phản công, anh lại bình tĩnh chiếm địa hình có lợi, dùng B40 bắn chính xác, diệt cả 2 xe tăng địch rồi nhanh chóng chi viện cho đồng đội đánh khu xe M113.

Chẳng có chiến thắng nào lại không phải trả giá bằng máu xương đồng đội. Đại đội 40 Cơ giới hi sinh 12 đồng chí, một số khác bị thương. Anh em nghĩa binh, nội tuyến, cơ sở, dân công hi sinh và bị thương 17 người. Khi chiến thắng đang gần kề, chiếc xe M41 do nội tuyến Tâm chỉ huy bị địch trên lô cốt bắn trúng, cơ sở Hoa bị thương nặng. Lúc hồi tỉnh, anh cố bò ra ngoài nhưng không kịp rút cùng tập thể, bị địch bắt, xử tù, đày ra Côn Đảo. Tôi và anh em trong Đoàn Cơ giới J16 không kìm được nước mắt khi phải chứng kiến sự hi sinh mất mát này. Chính trị viên Nguyễn Hà Vũ cải trang rất đạt vai một trung sĩ thiết giáp ngụy để vào chiến đấu cùng anh em nghĩa binh yêu nước, cũng anh dũng hi sinh.

Thua đau, choáng váng trước đòn tiến công táo bạo, bất ngờ, Quân lực Việt Nam cộng hòa tuyên bố tử hình vắng mặt Phùng Văn Mười, kết án khổ sai và đày đi Côn Đảo những người bị thương của lực lượng khởi nghĩa bị bắt. Tên Diệp, Trung đoàn trưởng thiết giáp số 1 bị tòa án binh ngụy quyền bắt giam. Chúng ra lệnh, từ nay không được tuyển lính trực tiếp vào các đơn vị thiết giáp mà phải qua trung tâm huấn luyện Quang Trung.
Logged

Chiều hôm em đứng giã bàng
Thương anh quẩy nóp trong hàng quân đi
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM