thongdiepthoigian
Thành viên

Bài viết: 618
|
 |
« Trả lời #110 vào lúc: 02 Tháng Sáu, 2026, 09:03:53 pm » |
|
Trạm 8 của Chi 50 đặt ngay bên kia bờ kinh Cái Sắn, ngang bót Tân Hiệp có một trung đội lính bù nhìn Miên gian chiếm đóng, có một chiếc cầu khỉ bắt ngang kinh để đôi bờ qua lại. Năm Danh đem vợ và đứa con gái đầu lòng tôn Nữ về ở đó từ năm 1950, khi bọn Mỹ có chủ trương lập khu dinh điền Cái Sắn, đang cho nông dân vay lúa để chúng giao đất canh tác. Bà con các nơi về cất nhà lá chừng 100 hộ ở sát nhau bên bờ kinh. Hôm đó, tôi đang ở ngoài trảng ở sau lưng nhà anh Danh, thì bỗng nghe có tiếng la xôn xao. Tôi nhìn về xóm nhà thì thấy bọn lính đã kéo nhau qua cầu khỉ, đang lúc xét trong nhà Năm Danh, và các nhà lân cận. Tôi đứng sau nhà cách không đầy 25m, thấy bọn lính liền sụp ngồi xuống, tuột quần ra như đang đi đại tiện. Một tên lính Miên nhìn thấy bỗng đưa súng lẽn nhắm mắt bắn vào tôi. Tôi chưa kịp phản ứng, một bà già tóc bạc trắng vội vàng đưa tay chụp ngang khẩu súng trường, nói to: "Đừng bắn! Chú Tư ở nhà này đày", rồi đưa tay ngoắt tôi vảo: "Chú Tư vô nhà đi". Tôi đủng đinh kéo quần lên và bước vào nhà Năm Danh. Thấy tôi đen đũi, bộ rậu rậm chấm ngực, tên lính Miên hỏi: "Ông già đi đâu". Tôi không dám nói nhiều, sợ lộ tiếng trọ trẹ ra, chỉ vào nhà Năm Danh: "Nhà tui đây" rồi ngồi xuống cầm nan tre, mũi mác vót nan, đan cái rổ đang làm dở dang, không nói thêm tiếng nào nữa. Bà cụ cũng bước về nhà mình luôn, không để tôi có mội lời cảm ơn cứu mạng. Vợ chú Năm Danh cãi nhau với bọn lính đang đuổi bắt gà. Tôi nói với ra: "Thôi, em Năm đừng cãi nữa!". Trong trận càn đó, chúng bắt một số gà vịt và dẫn ông trưởng ấp về giam lại trong bót. Đồng bào mất của đang tụ tập lại nhà Năm Danh hỏi cách đối phó, vì biết Năm Danh là cán bộ kháng chiến, nên tin tưởng. Tôi thảo 3 lá đơn đòi quân đội bù nhìn phải đình chỉ ngay việc khủng bố và trừng trị bọn lính đi khủng bố, căn cứ theo tinh thần Hiệp định Genève. Một gửi cho chỉ huy Phân khu Rạch Giá, một gửi cho chỉ huy Tiểu khu Tân Hiệp, một gửi cho chỉ huy đồn số 8 Tân Hiệp. Lá đơn có chữ ký của 40 gia đình bị mất đồ ký tên, nhưng tôi dặn Năm Danh cứ đưa cả 3 lá đơn cho chỉ huy đồn số 8 Tân Hiệp coi và nhờ chuyển lên cấp trên. Cách mấy hôm sau, bọn lính ở đồn đó bị đổi đi nơi khác, thả ông trưởng ấp về, trả lại đồ đạc cho bà con.
Tôi có hỏi thăm Năm Danh ai là Trưởng đồn, Năm Danh bảo đó là thằng Sáu, trước đây có bị giam ở khám Long Xuyên, và có đi làm tạp dịch (Corvée) ở 2è B. Long Xuyên, chắc anh nhớ nó? Tôi gật đầu, nhớ lại được tên Sáu này mà có lần tôi đã sử dụng để quay zonéo in 300 bản sơ đồ hệ thống Bunker tam giác mà Đại úy tham mưu trưởng tốt nghiệp trường Sĩ quan Tham mưu Pháp đã đem từ Hà Nội về để xây cất đồn Tràm Chẹt, lúc bấy giờ, tôi có sao 1 bản báo cáo gửi về Ban QB K9 trước cuộc hành quân "Tempête" và sau đó, Tiểu đoàn 410 chủ lực Nam Bộ do anh Chín Thảo (Phạm Ngọc Thảo) chỉ huy đã san bằng loại đồn bót này thắng lợi.
Tôi cũng có dự kiến, nếu được phân công ở lại miền Nam công tác, tôi sẽ tìm cách liên lạc móc nối anh Sáu này.
Đến ở trạm 8 với Năm Danh, tôi không tiếp xúc ai ngoài vợ chồng Năm Danh để khỏi bị lộ hành tung. Cả đến nhà cụ ở sát vách đã có công cứu tôi. tôi cũng không qua lại trò chuyện, nhưng bà cụ vẫn chú ý theo dõi bảo vệ khi tôi có khó khăn, nguy hiểm... như người mẹ theo dõi bước chân con. Từ ngày ấy cho đến tận hôm nay 10/8/1990, tôi chưa bao giờ gặp lại mẹ để đền ơn đáp nghĩa. Tôi còn ở lại vài ngày đế gặp các cơ sở ở Long Xuyên về thăm: Tôi chỉ gặp 2 người: anh Hoàng ở huyện Chợ Mới và anh Hữu, thầu khoán ở thị xã Long Xuyên. Gặp tôi, thấy tôi để râu dài, mấy anh nói: "Anh để râu đến đâu, chúng tôi cũng không quên anh được, chưa kể giọng nói trọ trẹ xứ Huế, chỉ nhìn cặp chân mày rậm và đôi mắt sâu là biết anh ngay. Chúng tôi vui vẻ cười xòa. Anh Hoàng, anh Hữu nay không còn, nhưng tôi vẫn không bao giờ quên, đặc biệt anh Hữu, dân Nam Định, lúc tập kết, được Chi 50 gởi 1 cháu gái theo, cháu tên Sửu. Gia đình anh vẫn có người là sĩ quan quân đội ta. Bản thân anh Hữu, thời gian chống Mỹ có lãnh thầu ở Cà Mau, là cơ sở nuôi giấu Năm Danh, đặc biệt có dành riêng cho Năm Danh 1 căn phòng ở lầu 3, theo lời Năm Danh kể lại.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
thongdiepthoigian
Thành viên

Bài viết: 618
|
 |
« Trả lời #111 vào lúc: 02 Tháng Sáu, 2026, 09:05:55 pm » |
|
Vào đầu tháng 8/54, nhớ lời dặn của anh Ba Cự, tôi lại trở về cơ quan, vẫn theo đường cũ. Đường qua lộ Cái Sắn không sợ bị phục kích, vì binh lính ở đồn bót mới đổi đến, cũng đã biết điều hơn. Về đến văn phòng Chi 50, lúc này cũng ở kinh Ngang, anh Ba Cự cho tôi biết là có gia đình vợ tôi (đồng chí Phấn) có nhắn ra bót Cái Tắc để nói chuyện. Đồng chí Cự nói thêm: nhắn chị Hai thôi, nhưng anh cũng nên đi tiện hơn. Tôi nghĩ: bót Cái Tắc là một tiểu khu (Quartier). Đồn lớn, chỉ huy đồn là Trung úy Trần Thanh Phong (tôi nhớ có hai anh em là Thanh Phong và Thanh Phú đều là dân Thạnh Phú - Bến Tre, đều học trường sĩ quan Đà Lạt ra cả, có biết Lâm Văn Phát), và là cơ sở do bà Giáo tổ chức. Thơ từ liên lạc đều nhờ cô Nuôi, một địa chủ vùng Cái Tắc. Cô Nuôi không chồng, béo mập tròn ú, có cái quán ở chợ Cái Tắc, có bến sau bếp ngay trên rạch Cái Tắc, dễ đi xuồng tới nhà, là bà con bên vợ tôi. Đó là cơ sở mới, tôi chưa tiếp xúc trực tiếp, định để sau này ở lại hoạt động sẽ xây dựng dần. Tôi đã có một lần tiếp xúc với cô Nuôi ở điền cô, nơi có trạm giao liên do đồng chí Châu nắm, ở vài km cách bót Cái Tắc. Thế là anh Ba Cự gọi đồng chí Phấn (vợ tôi) đến, và giao nhiệm vụ cho cả hai ra bót Cái Tắc nói chuyện với bà già (bà cụ Phận). Tôi hơi sinh nghi, vì bà già đi vào đây có dễ hơn không? Nhưng dù sao, tôi đã có ý tiếp xúc với Trần Thanh Phong, nên vẫn không sợ. Hơn nữa, đã có Hiệp định đình chiến, đôi bên đang đàm phán ở Phụng Hiệp nên không dễ gì chúng "trở dáo". Tôi nhắn lại với bà già vợ tôi đem ra cho tôi bộ đồ vía, để tại nhà cô Nuôi để tôi ăn mặc đàng hoàng cho phải cách. Tôi nhờ đồng chí Định và đồng chí Nhã cầm theo ba trái lựu đạn, chuẩn bị xuồng ba lá để đưa chúng tôi ra Cái Tắc. Chúng tôi ra chợ Cái Tắc vào khoảng 6 giờ. Tôi dặn hai chiến sĩ giao liên đưa chúng tôi đến bến sau nhà cô Nuôi, rồi dặn Định và Nhã đậu xuồng bên kia bờ rạch đối diện, chờ khi nào tôi ra hiệu sẽ ghé đón. Thủ sẵn lựu đạn khi cần thiết có biến. Chúng tôi bước vào nhà cô Nuôi. Một căn phố ngói sát chợ. Cô Nuôi chỉ cho tôi bộ đồ xịn, và cả đôi giày da bốc cal (box-calf) mà cô đã đặt mua da ở Pháp và cho thợ Sài Gòn đóng, cho phù hợp với bộ complet Serge sang nhất thời bấy giờ. Phải ăn mặc cho ra dáng sĩ quan đi nghỉ phép. Tôi nhìn bộ đồ xịn không chút luyến tiếc thời xưa, nhưng đến khi soi gương nhìn bộ râu đã cứu sống tôi hai lần, tôi ngần ngại, lưỡi dao còn luyến tiếc không nỡ cắt đứt. Vừa đưa lưỡi dao gọt từng sợi râu, tôi dặn nó: "Thôi, hòa bình rồi, vĩnh biệt mày, chúng ta sẽ gặp lại nhau lúc đến tuổi cổ lai hy". Diện bộ đồ xịn, bôi chút brillantine, chải lại cái đầu. Nhìn vào gương, vẻ mặt một sĩ quan trẻ hiện ra, bộ mặt rám nắng đen đùi như vừa đi một tháng tắm biển mới về biến mất. Vợ tôi đã đi trước tôi. Tôi lững thững nện gót đi đến gần cổng đồn bót. Nhìn vào chiếc Mulco tôi hỏi anh lính gác:
- Trung úy đồn trưởng đã tới chưa?.
Dáng hách dịch như một sĩ quan, tên lính cận rập gót báo cáo: "Chưa ạ!".
Nếu nó hỏi giấy tờ thì tôi chẳng có một mảnh giấy lộn để trình làng. Tôi lấy vẻ cao ngạo:
- Thôi được, để tôi chờ, rồi lững thững đi bách bộ trước cửa đồn, chợt thấy phía Cần Thơ có chiếc xe Jeep chạy lại. Xe do chú Ba, một cơ sở của Năm Danh vào lính làm lái xe cho Đại tá Duque chỉ huy phái đoàn đàm phán Pháp, trước kia là chỉ huy Secteur Long Xuyên có biết tôi. Tôi quay người lại vạch quần đái trên bờ rào tre, cúi đầu xuống để giấu mặt. Chú Ba cũng có thấy tôi, nên vẫn lái xe đi thẳng, Duque cũng không chú ý nhìn kỹ con người có thái độ bất lịch sự đó, nên đã để xổng một phạm nhân đã được Tòa án binh Pháp kêu án tử hình khiếm diện cách đây ba tháng. Hú vía!
Một tên lính trong đồn ra mời tôi vào phòng khách. Trong phòng đã có bà Giáo và nữ đồng chí Phấn đang ngồi nói chuyện với Trung úy Phong, chỉ huy đồn. Tôi cúi đầu chào bà mẹ vợ, chìa tay ra bắt tay viên Trung úy Phong, dáng người tầm thước, có vẻ kín đáo. Ngồi chưa nóng đít, có tiếng xe đỗ trước cửa. Mọi người nhìn ra, chỉ có tôi là người ngạc nhiên nhất. Dõng dạc nện gót bước vào phòng khách, một sĩ quan bù nhìn dáng cao lớn, vẻ mặt rạng rỡ ung dung như ở trong nhà riêng cỏa mình. Tôi liếc nhìn đôi vai: mỗi vai có năm con đỉa, ba vàng, hai trắng. Một phó quan năm! Phong đứng lên đón khách. Tôi vẫn ngồi tại chỗ suy nghĩ lung lắm. Cuộc gặp gỡ không được dự kiến và cũng không báo trước. Tôi đã lâm vào thế bị động: cậu em vợ vừa mới chưa đầy 3 năm đã thăng vượt cấp, vượt bậc. Tôi chìa tay ra bắt tay Trung tá Lâm Văn Phát mà đầu óc vẫn tiếp tục tái hiện: "Năm 1945, trung úy Hai Hô Nhật - 1946, từ vùng sơ tán trở về Sài Gòn, đi học lớp sĩ quan Đà Lạt đầu tiên trở về Cần Thơ - năm 1947, tôi đã gặp chung với Nguyễn Khánh, Trần Thiện Khiêm, cùng đóng lon thiếu úy. Năm 1948, ra vùng Khu 8 cùng với 5 người khác, được mấy tháng lại trở về Sài Gòn, lại được sang học trường sĩ quan Saumur, chỉ huy thiết giáp. Năm 1951, tôi gặp ở Long Xuyên, đóng lon đại úy". Đến nay, tháng 8/1954, đã lên trung tá (vượt cấp, vượt bậc). Công trạng gì? Trong lúc Phát và Phấn cùng Phong đang mãi mê câu chuyện tâm tình, tôi kéo bà mẹ vợ ra phía cuối phòng, nơi có một cô phục vụ và làm nước giải khác, kêu 2 ly nước chanh. Tôi mở đầu:
- Chà! Cậu Ba lên lon mau quá! Vừa mới đại úy vọt lên trung tá lẹ quá, khiếp quá.
Bà già cười:
- Nhờ Hồng y giáo chủ đỡ đầu đó!
Bà già thấy tôi ngơ ngác không hiểu, nên bà nói tiếp:
- Đức Hồng y giáo chủ gửi sang Mỹ ba tháng học lớp sĩ quan cảnh sát đó.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
thongdiepthoigian
Thành viên

Bài viết: 618
|
 |
« Trả lời #112 vào lúc: 02 Tháng Sáu, 2026, 09:08:32 pm » |
|
Hồi đó, tôi cũng biết, nhờ theo dõi báo, là ở Mỹ có một Hồng y giáo chủ Spellman rất có thế lực với chính phủ Hoa Kỳ, cũng như với Tòa thánh Vatican, do chức tước cao nhất trong giáo hội công giáo, là người kế cận Giáo Hoàng, được dự cộng đồng giáo hội để bàn các chánh sách lớn do Giáo Hoàng triệu tập, và được ứng cử vào chức Giáo Hoàng khi Giáo Hoàng mất. Sau này tôi mới biết thêm là Spellman là Tổng tuyên úy của quân đội Mỹ. Thảo nào được đề bạt vượt cấp. Nhưng tại sao cậu Ba Phát lại được đề bạt vượt cấp do một Hồng y giáo chủ Công giáo thì tôi chưa rõ, và cũng chưa tiện hỏi mẹ vợ, vì đúng lúc đó thì Phát đã đi đến gần ngồi kế tôi. Sau khi kêu cô phục vụ rót cho y một cốc rượu mạnh, Phát bất ngờ hỏi tôi:
- Sao, anh Hai! Tôi bắt chị Hai ở lại, không cho đi tập kết nữa, anh nghĩ sao?
- Thật hay đùa?
- Tôi nói thật đó.
Tôi suy nghĩ vài giây, không khéo mình đã rơi vào một cái bẫy giăng sẵn của kẻ thù. Tôi cố gắng mìm cười, nhìn thấy mẹ vợ tôi đã bỏ đi nơi khác, thong thả nói:
- Cậu đã bàn tính kỹ với má chưa? Bắt chị Hai ở lại, trong khi đó thì để Thầy đi tập kết một mình, lỡ khi trái gió trở trời, ai săn sóc, hơn nữa trước mắt, không cho Thầy biết, Thầy ăn nói làm sao khi cơ quan hỏi?
Cậu Phát làm thinh. Ngẫm nghĩ một lúc, cậu ta lại nói:
- Hay là cả anh, chị, cả Thầy đều ở lại, sau này trong đánh ra ngoài đánh vào, chắc ăn hơn sao? Bộ đội Việt Minh dễ gì đi tập kết hết, phải không anh Hai?
- Theo Hiệp định Genève, cậu cũng biết rồi, quân đội đôi bên sẽ tập kết ở hai miền. Tôi và chị cậu là quân nhân, tất phải theo quân đội tập kết ra Bắc rồi. Còn Thầy (ý nói ông giáo Phận) thì là cán bộ cấp tỉnh, chắc cũng phải đi thôi. Cậu cũng biết đó, hòa bình rồi phải lo xây dựng, bộ đội ở lại làm chi, lấy đâu có chuyện đánh đấm nữa. Chúng tôi phải chấp hành nghiêm chỉnh mệnh lệnh. Đó là kỷ luật quân nhân.
Ông em vợ hơi khó chịu, vội đổi sang phía khác.
- Anh nói kỷ luật, tôi cũng ớn kỷ luật của mấy anh rồi. Kỷ luật cũng phải dân chủ cho dân nhờ chứ. Tôi hỏi thiệt anh Hai (hắn còn tôn trọng lễ phép gia giáo), tại sao không cho dân ở trỏng đọc báo ngoài thành? Như vậy thì dân chủ ở đâu?
Tôi cũng không cần giải thích, vì thực ra lý luận tôi đâu đã có chút gì! Tôi làm một cái so sánh:
- Cậu cũng biết, tôi cũng đã từng sống ở thành phố, và cũng có sống ở nông thôn, có thấy nhiều việc không thể hiểu nổi. Cậu nói Việt Minh không cho đồng bào đọc báo ở thành phố đưa vô. Cái đó thì có thiệt. Nhưng tôi nghĩ: cậu làm cha, có khi nào thấy con đau mà dám đưa chén thuốc độc cho con uống không? Tôi nghĩ Việt Minh cũng không muốn cho dân bị đầu độc thôi. Nhưng tôi cũng chưa hề thấy một người dân nào vì đọc báo ở ngoài thành đưa vào mà bị Việt Minh bỏ tù cả. Nhắc nhở hoặc tịch thu báo là cùng. Ngược lại, chắc cậu cũng không lạ gì, tôi đã từng thấy tận mắt nhiều đồng bào ở thành phố đã bị tù tội, tra tấn, có khi bị xử tử chỉ vì đã lỡ lượm lá truyền đơn Việt Minh. So sánh thử ai dân chủ hơn ai thì cậu biết.
Phát im lặng. Đầu óc bắt đầu suy nghĩ lung lắm, sau rốt, y hỏi lại tôi:
- Vậy là anh không đồng ý cho chị Hai ở lại hà.
Tôi bỏ nhỏ:
- Ý tôi thì đã vậy nhưng quyết định ở hay đi là chị Hai cậu, cậu hỏi lại chị Hai coi, hỏi lại má, và cả cậu nữa đó.
Tôi để cho ba người trò chuyện cùng với nhau. Sau không đầy nửa tiếng, Phát thấy trời đã về chiều, nên từ giã để trở lại Sài Gòn cho kịp qua hai chuyến phà, tôi cũng không muốn ở lại cái đồn này một phút nữa, vì cũng lo ngại những trở quẻ bất thường khác. Trước khi bắt tay từ biệt, Phát hỏi lại tôi một câu mà tôi còn nhớ mãi như in:
- Sau này, mấy anh lại gặp tôi, liệu địa vị tôi có còn giữ vững hay không?
Tôi nhìn thấy Phong cũng đứng đó để bắt tay tiễn biệt Phát, nên tôi trả lời cho cả hai yên tâm:
- Địa vị của mấy cậu còn hay mất là do thái độ của mấy cậu đối với dân, đối với đồng bào, quyết định. - Tôi thêm: - Nhất là đối với những cán bộ kháng chiến cũ.
Phong gật đầu. Câu nói đó, đến nay lịch sử đã chứng nghiệm. Sau ngày 30/4/75, tôi lại có dịp gặp Phát, nhưng không tiện nhắc lại chuyện cũ. Đối với Phong cũng như cô Nuôi, tôi chưa gặp lại lần nào, vì nữ đồng chí Phấn nay đã là thiếu tá về hưu cũng không một lần nhắc nhở đến, tôi cũng không tiện hỏi thăm. Thế đấy! và câu chuyện này, có lẽ là lần đầu tiên tôi viết lên giấy, vào lịch sử cuộc đời. Và những người đã được nghe báo cáo lại sự việc đúng như nó có, cũng không nhiều lắm, chỉ vài ba người có cương vị chủ chốt trong ngành mà thôi, vấn đề khá tế nhị, có liên quan đến tình cảm gia đình, tình cảnh đất nước. Ai muốn hiểu theo khía cạnh nào cũng được. Nếu Phát, hiện ở Mỹ, có viết hồi ký, chắc cũng không thể quên câu chuyện gặp gỡ, và lời khuyên của ông anh rể hồi đó. Đó là lời khuyên đã được xác minh qua ba thập kỷ rồi. Năm 1985, nhân dịp lễ 40 năm Cách mạng tháng Tám, đồng chí Nguyễn Văn Linh có về Quân khu 9 để dự lễ. Nghe nữ đồng chí Phấn thuật lại với tôi rằng đồng chí Linh có đến bắt tay nữ đồng chí Phấn ở lễ đài. Nữ đồng chí Phấn có hỏi đồng chí Nguyễn Văn Linh xin lại cái nhà cho vợ con Phát ở (vì Phát có nhà đã bị Nhà nước quản lý). Đồng chí Tổng Bí thư có trả lời: "Thì chị hãy viết thư biểu nó về đi, chúng tôi sẽ trả lại nhà cho nó". Đó là thái độ của Đảng, của nhân dân Việt Nam. Không chút gì thành kiến với quá khứ! Phát đã vượt biên 3 lần mới đi lọt, sau khi học tập cải tạo được tha về. Ai đã làm cho anh ta phải bỏ nước, bỏ nhà ra đi? Tôi chợt nhớ đến câu thơ của Đỗ Phủ: "Lợi dục xu nhân vạn hỏa ngưu" (Tạm dịch: danh lợi và dục vọng đuổi theo người như chiếc xe trâu kéo có lửa đốt đít!).
Chúng tôi từ giã cô Nuôi, bước lên chiếc xuồng ba lá do hai cậu giao liên chèo, thuyền chở bốn người khắm tới be, nhưng lòng tôi nhẹ lâng lâng. Ba quả lựu đạn mãng cầu do cậu Định giữ còn nguyên vẹn, không phải sử dụng đến. Chúng tôi đã chiến thắng ngay trong đồn địch, một trận đấu khẩu êm ái, và chắc còn để dấu ấn cho người cần nghe đến suốt đời, và nhất là đã nhận diện được kẻ thù mới: quân đội Mỹ và vị Tuyên úy tối cao của nó...
14/8/1990
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
thongdiepthoigian
Thành viên

Bài viết: 618
|
 |
« Trả lời #113 vào lúc: 02 Tháng Sáu, 2026, 09:17:44 pm » |
|
CHƯƠNG 15 TẬP KẾT CHUYỂN QUÂN 24/8/1954Ban Quân báo Phân Liên Khu Miền Tây có lệnh cho toàn thể Chi 50 rút về Khu để học tập tình hình nhiệm vụ mới và nhận sự phân công mới. Thế là chúng tôi phải từ giã Kinh Ngang với căn nhà lá mới cất vừa hơn một năm nằm trên bờ kinh phía Bắc, cái cầu khỉ nối liền với bờ phía Nam ngay trước mặt nhà với 20 công ruộng vắng chủ mà Ủy ban kháng chiến hành chánh xã đã cấp cho chúng tôi để sinh sống, đã được anh em đơn vị xã xúm nhau giúp cấy và gặt hái được một vụ lúa chất đầy bồ, nuôi một đàn vịt đẻ, 3 con heo thả rong. Lần đầu tiên cũng là lần cuối cùng, tôi cảm thấy mình đã có được căn nhà, mảnh ruộng của riêng mình, được hưởng cảnh sung túc của người nông dân Nam Bộ trong kháng chiến, được cấp đất, được sống trong sự đùm bọc của bà con xóm làng. Tôi giao giấy cấp đất của chính quyền xã cho con tôi, Hoài Thanh còn giữ mãi đến lúc ra học ở miền Bắc, còn cất kỹ trong cặp học sinh, như một kỷ vật thiêng liêng không thể nào để mất mảnh đất của Nam Bộ Thành đồng. Tôi nhìn lại lần cuối ba đứa con gái tôi đang tần ngần đứng tiễn chúng tôi trên bờ Kinh Ngang, lòng vẫn ngổn ngang trăm mối. May sao, đầu tháng 10/54, lãnh đạo cơ quan đã hiểu rõ tình hình, cho liên lạc Chi 50 đến Kinh Ngang đón ba đứa con tôi xuống Chắc Băng, cho đi tập kết, gửi vào trường học sinh miền Nam. Được tin ấy, tôi lại càng tin ở Đảng nhiều hơn, và qua học tập nhiệm vụ đi hay ở, tôi tin vào sự phân công của Đảng, không chút hoài nghi. Học tập xong, tôi được phân công ở lại, Đảng ủy khu tập kết viết giấy giới thiệu tôi trở lại Long Xuyên, sinh hoạt với Huyện ủy bí mật huyện Châu Thành - Long Châu Hà: vừa ghé xuồng vào cơ quan Huyện ủy bí mật của anh Sáu Bá, chưa họp xong thì được tin điện khẩn gọi tôi trở về Khu. Tôi từ giã đồng chí Bí thư Huyện ủy bí mật và đi ngay, về đến Chắc Băng, tôi được đồng chí Ba Phấn cho biết là Quân khu đã được tin là giặc Pháp đang có lịnh truy nã tôi ráo riết, nên đã quyết định phải cho tôi vào diện đi tập kết, vì ở lại hoạt động sẽ bị lộ. Được tin ấy, tôi buồn rầu nói rõ với anh Ba Phấn là tôi còn một mẹ già một em gái không nơi nương tựa, nếu tôi đi tập kết, biết nương tựa vào ai? Một đồng chí trong ban tập kết Khu hỏi tôi: - Ở miền Bắc, anh có cơ sở kinh tế nào không? Tôi đáp: - Quê tôi ở Thừa Thiên, phía nam vĩ tuyến 17. Nhà nghèo không ruộng. Đồng chí đó nói: - Thế thì thôi để cụ ở lại trong này đỡ khổ hơn. Tôi đáp: - Dù sao tôi cũng phải hỏi ý kiến mẹ tôi đã. Thế là tôi xin phép về rạch Đường Sân, ghé lại căn nhà lá lụp sụp cất dưới bóng cây còng, trong điền anh Hai Tắng. Mẹ tôi và con Hợi, em gái tôi vẫn ở nhà chờ tôi. Tôi trình bày cho mẹ tôi rõ chủ trương của Đảng trong tình hình hiện nay, tôi phải tập kết theo đơn vị ra miền Bắc, nhưng nếu mẹ muốn tôi cũng có thể xin ở lại miền Nam để hoạt động và lâu lâu về thăm mẹ. Tôi nói rõ là miền Bắc còn nghèo lắm nên bộ đội cũng phải còn gian khổ, xin cho mẹ theo bộ đội cũng được, nhưng càng vất vả lắm. Mẹ tôi trầm ngâm hồi lâu rồi thong thả nhìn chằm vào tôi, nói rõ từng tiếng: - Thôi, con đi đi! Con mà ở lại, tụi Tây bắt được thì nó bắn mất, không để con sống đâu! Thấy tôi vẫn chưa an tâm, mẹ tôi nói rõ hơn: - Tao với em Hợi sống với bà con ở đây cũng đặng. Lúa còn nửa bồ, đến mùa, hai mẹ con tao đi mót về ăn cũng đủ. Thức ăn thì khỏi lo, xin rượu ngon đem về ngâm dâm bán cũng đủ mua muối mắm qua ngày. Một bác nông dân, Tổ trưởng nông hội sang thăm cũng nói thêm vào cho tôi yên tâm: - Thôi, anh cứ đi tập kết, ở nhà có gì chúng tôi lo cho. Nam Bộ thiếu gì lúa gạo mà lo! Tôi đi vòng sau liếp dừa, bồ lúa xây tròn còn được nửa, cúi nhìn dưới gầm giường cái tĩn đựng đầy dấm, sản phẩm của mẹ già tôi làm để bán lại từng chai cho hàng xóm. Dù sao, thời gian hai năm cũng không dài, mà dù tình hình có kéo dài thì mình vẫn còn cách xin về Nam đánh giặc, là sẽ gặp mẹ. Không ngờ, ngày đó lại là lần cuối cùng tôi gặp được mẹ tôi. Thế là không còn cơ hội để đền ơn sinh thành nữa. Năm 1957, nhân ngày đầu tiên được gặp lại anh Vịnh (Đại tướng Nguyễn Chí Thanh), kể lại hoàn cảnh tập kết của tôi, anh hỏi có đem dì theo không? Tôi bảo "Không", thì anh nhận xét ngay: "Đó là một sai lầm! Tôi càng thấm đau hơn khi đến năm 1968, được tin mẹ tôi đã bị đạn Mỹ bắn sập hầm chết trong Tết Mậu Thân. Ba chìm bảy nổi vì con vì cháu mà sống xa quê hương và trở về chết trên mảnh đất "Kẻ Lừ" thân thương, người mẹ chiến sĩ ấy đã từng lặn lội để nuôi quân ở Thừa Thiên cũng như ở Nam Bộ (lúc Tiểu đoàn 307 đóng tại rạch Đường Sân) đã từng chạy từng bữa cơm, vá từng tấm áo cho con, cho cháu, không bao giờ cần sự báo hiếu gì của con cháu cả. Chỉ mong cho con cháu nên người, thành nhân chi mỹ! Đó không phải là huyền thoại! Đó là sự thật, là truyền thống yêu nước, yêu con của bà mẹ Việt Nam!
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
thongdiepthoigian
Thành viên

Bài viết: 618
|
 |
« Trả lời #114 vào lúc: 02 Tháng Sáu, 2026, 09:19:07 pm » |
|
Từ giã mẹ ra đi, trở về cơ quan Quân báo Khu, được anh Ba Phấn phân công nhận nhiệm vụ mới, phụ trách cánh trinh sát B làm nhiệm vụ trinh sát ngoại tuyến, bảo vệ vòng ngoài khu vực tập kết của ta. Đó là ngày 3/9/54, tôi tập hợp đơn vị lại, quân số chỉ còn một nửa. Tôi được biết là anh Tám Miêng được phân công ở lại, còn nhiều anh em khác được biên chế vào các đơn vị khác. Năm Danh cũng được bố trí ở lại, không trở về đơn vị chúng tôi. Nhiệm vụ được giao là phải theo dõi mọi hoạt động của địch từ Long Xuyên - Rạch Giá tràn vào. Cánh trinh sát của chúng tôi Được bố trí rải rác ở nhà dân, từ Kinh Dài xuống đến chợ Thứ Ba, và quan sát tình hình địch chuyển quân lấn vùng tập kết. Lúc này đồng bào đã tổ chức đò máy đưa khách dọc từ Rạch Giá chạy theo kinh xáng xẻo Rô xuống miệt Thứ xuống Thới Bình đến sông Ông Đốc. Mỗi ngày 2 chuyến đi về. Tôi chọn ngay trinh sát trong những công nhân đi theo làm công cho các đò máy đó. Thấy có hành khách khả nghi khi đến trạm dọc đường, anh em sẽ báo cáo lại để theo dõi. Hình thức trinh sát nhân dân thay thế cho những trinh sát chuyên nghiệp cũng khá nhạy bén, và rất kịp thời. Thông qua mạng lưới lúc ấy, tôi được biết ngụy quân ở Rạch Giá và Long Xuyên không chuyển quân lấn chiếm, nhưng có 2 trung đoàn Phật giáo Hòa Hảo do Ba Cụt chỉ huy đang dồn về Rạch Giá. Nhân dân ở chợ Thứ Ba phát hiện Lâm Quang Dữ, em ruột Lâm Quang Phòng đang tụ tập đám anh chị du côn lại để tổ chức ăn cướp. Tôi đã đến chợ Thứ Ba, quan sát tại chỗ, thấy Dữ đang ăn nhậu với đám tay chân bộ hạ ăn nói lung tung. Tôi viết báo cáo gửi về Ban đề xuất ý kiến nên cho Dữ đi tập kết vì y nguyên là Đại đội phó địa phương quân, để y ở lại chỉ thêm rắc rối cho địa phương. Sau này, tôi nghe tin Dữ ở lại cùng với Lâm Quang Phòng, cả hai anh em đã trở lại làm khổ nhân dân vùng đó một thời. Cánh trinh sát ngoại tuyến của chúng tôi đóng ở miệt Thứ thời gian vài tháng để đón chừ rước một trung đội địa phương quân ở Phú Quốc đi tập két, rồi cùng nhau kéo về, sông Ông Đốc. Riêng mình tôi, được phân công ở lại chốt cuối cùng tại chợ Thới Bình (ngã ba kinh xáng Chắc Băng gặp sông Trèm Trẹm). Đó là điểm chốt cuối cùng của quân ta để bảo vệ khu vực tập kết, còn cách vàm sông Ông Đốc 60km theo đường sông: bến tàu tập kết. Đơn vị chốt gồm có một Trung đội thuộc d307 và một tiểu đội cảnh vệ.
Đến cuối năm 1954, Trung đội của 307 cũng đi tập kết nốt. Chỉ còn tiểu đội cảnh vệ với Ban chỉ huy căn cứ, do đồng chí Hồ Dũng Sinh tiểu đoàn phó 307 làm chỉ huy. Công an Nam Bộ còn lại 3 người có đồng chí Nguyễn Văn Sách nguyên phụ trách phòng Chính trị Sở Công an Nam Bộ làm phó chỉ huy, còn 2 đồng chí khác là Cò Hai và Phúc. Tôi vẫn phụ trách trinh sát; của Khu, một mặt báo cáo địch tình về Ban, mặt khác giúp các đồng chí Công an điều tra thẩm vấn những người tình nghi do chiến sĩ hoặc đồng bào dẫn đến. Đồng chí Thái Văn Bạch, trung đội trưởng vẫn nắm chắc tiểu đội cảnh vệ. Chúng tôi gồm 6 đảng viên họp lại mở Đại hội Chi bộ, bầu đồng chí An làm Bí thư và phân công làm luôn trưởng ban quản trị chợ Thới Bình để tiếp xúc địa phương, dàn xếp các vụ tranh chấp xảy ra trong chợ hoặc thị trấn. Cùng với 7 chiến sĩ cảnh vệ, chúng tôi phân công nhau ôm súng trực ngày đêm, không kể là chỉ huy hay binh sĩ, để bảo vệ an toàn khu vực đóng chốt. Thực tế khu vực đó chỉ nằm trong phạm vi chợ gồm một dãy nhà lá chạy theo mạn bên phải kinh với vài chục nhà ở của đồng bào thị trấn. Ban đêm chúng tôi đốt 2 cây đèn măng sông hai đầu chợ và chia ra làm 2 tổ, thức gác hai đầu, súng lên đạn cẩn thận. Ban ngày chúng tôi chia làm 3 tổ "tam tam chế" đi 3 chiếc xuồng có đầy đủ nón sắt, súng trường garant (súng trường tự động) chèo lên xuống hai ngả: từ Thứ 11 theo sông Trèm Trẹm xuống Thới Bình, một ngả từ Thới Bình theo kinh Xáng lên Chắc Băng. Hai tuyến đường, hằng ngày thường xuyên có 3 chiếc xuồng con trinh sát, có cờ đỏ sao vàng phất phới trước mũi, nón sắt và súng garant trang bị sẵn sàng chiến đấu theo tổ 3 người. Kinh Chắc Băng vẫn tấp nập ghe xuồng đi lại, một chiếc ghe đò máy vẫn ngày hai buổi đi về từ Chắc Băng xuống sông Ông Đốc và ngược lại.
Hai bờ kinh vẫn dày đặc nhà lá của đồng bào, một niềm tin vào cán bộ và bộ đội Gụ Hồ, không chút nào lay chuyển, mặc dù đã vào đầu năm 1955, gần Tết âm lịch, khu vực tập kết Cà Mau sắp sửa giao lại cho chính quyền miền Nam theo Hiệp định Genève. Cán bộ đã rút vào bí mật hoàn toàn, nhưng đồng bào vẫn đứng lên tự quản để giữ vững trị an thôn xóm, không cho trộm cướp và bọn phản động hoành hành. Hai chiếc xuồng trinh sát của chúng tôi đi đến đâu cũng được nhân dân đón tiếp, đùm bọc, hỏi han.
Nếu quang cảnh con kinh Chắc Băng tấp nập bao nhiêu thì con sông Trèm Trẹm hồi đó lại vắng vẻ bấy nhiêu. Từ Thới Bình lên Thứ 11, dài gần 30 km chỉ có lưa thưa vài nóc nhà ở ven bờ sông, ở xã Biển Bạch. Bờ phía Nam là rừng tràm U Minh Hạ che kín cả một vùng căn cứ kháng chiến giáp bờ biển, vùng Đá Bạc. Chim, cá nhiều vô kể. Nhưng lạ mắt nhất là đám dơi quạ đu trên các cành cây trụi lá, nhìn xa như những trái cây nặng trĩu, dày đặc cả cây rừng. Cá lóc bông, con nào cũng to bằng bắp chân nhảy lao xao trong lưới võng với dãy đáy cắn ngang sông trông rất vui mắt. Chim rừng, cá nước, thiên nhiên ưu đãi, bù lại cảnh muỗi, mòng, đỉa, vắt ở vùng đất U Minh này. Xuồng trinh sát chúng tôi chỉ đi đến giáp ranh Thứ 11, là phải dừng lại, chỉ cốt phô trương cho đồng bào biết là bộ đội Việt Minh vẫn còn canh giữ vùng tập kết vì 2 trung đoàn Phật giáo Hòa Hảo của Ba Cụt, từ vùng Bảy Núi đã tràn xuống đây. Tin tức tình báo của nhân dân đã được xác minh.
Cũng vào đầu tháng 1/55, chiếc đò máy xuống Thới Bình ghé lên trạm, đưa một phong thư của Ba Cụt gửi cho bộ đội Việt Minh mà hắn vẫn tôn là anh Hai. Phong thư của Ba Cụt gửi nhờ chủ đò máy chạy Rạch Giá - sông Ông Đốc chuyển. Cùng đi chuyến đò máy ấy có một tên trinh sát của Ba Cụt. Được tin mật báo, chúng tôi cho giữ tên trinh sát lại, nhưng không điều tra xét hỏi. Ban chỉ huy họp lại nghiên cứu bức thư của Ba Cụt và thống nhất nội dung trả lời. Đại ý thư Ba Cụt: "Chúng em luôn luôn tôn trọng anh Hai, chỉ xin anh Hai cho mượn đường để xuống Cà Mau trước bọn Cao Đài mà thôi, vì chúng em biết các anh đã đến ngày xuống tàu ra miền Bắc. Mong anh Hai chấp thuận và biên thư trả lời cho chúng em biết rõ, Ký tên Thiếu tá Lê Quang Vinh" (có đóng mộc). Tôi đã từng tiếp xúc Ba Cụt tại căn nhà 36 Lê Lựi - Long Xuyên nàm 1952, nên không lạ gì thủ đoạn và bản lĩnh của hắn. Chúng tôi họp Ban chỉ huy và cương quyết giữ vững chốt đến ngày có lịnh rút quân. Chỉ còn một tuần là đến Tết. Cân nhắc thực lực đôi bên: Ba Cụt có trong tay 2 trung đoàn quân ô hợp, tất nhiên không hợp lòng dân. Ta chỉ có 13 người mà lực lượng nồng cốt là quân cảnh vệ, có kỷ luật, rất được lòng dân, uy tín của Đảng, của kháng chiến rõ ràng làm cho kẻ địch cũng phải vị nể không dám làm càn. Vì vậy chúng tôi cương quyết từ chối và giao cho đồng chí Hồ Dũng Sinh viết thư phúc đáp, lời lẽ từ tốn nhưng nội dung vẫn nhất quyết không khoan nhượng. Cối thư ký tên: Tiểu đoàn phó Hồ Dũng Sinh, và móc trong túi xách ra chiếc mộc "Quân đội Quốc gia Việt Nam, Tiểu đoàn 307" có tiếng tăm vang dội hồi đó, in vào cuối thư để thêm uy phong. Thật ra vào ngày đó, Tiểu đoàn 307 đóng ở thị xã Cà Mau cũng đã xuống tàu đi tập kết, lực lượng còn chốt lại ở Thới Bình chỉ có một anh Sinh với chiếc mộc trong túi xách. Ông cụ già được phân công đi theo đò máy đem thư giao tận tay Ba Cụt mà tổng hành dinh đóng tại Thứ 11 đã trở về. Mọi chuyện đều ổn. Ba Cụt đọc thư xong, không nói một lời. Tên trinh sát của Ba Cụt đang giữ ở lại chốt, mãi đến chiều 30 Tết mới gửi theo đò máy chạy đường Chắc Băng cho anh ta trở về quê để ăn Tết với gia đình. Dù anh ta có muốn trở về Thứ 11 để báo cáo địch tình với chủ tướng y cũng không còn kịp nữa.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
thongdiepthoigian
Thành viên

Bài viết: 618
|
 |
« Trả lời #115 vào lúc: 02 Tháng Sáu, 2026, 09:20:53 pm » |
|
Giáp Tết, chợ búa rộn rịp, nhưng chúng tôi vẫn âm thầm chuẩn bị sau khi họp Chi bộ để được phổ biến ngày 25/1/55, tức ngày mùng 2 Tết âm lịch, tổ chúng tôi phải rút quân hoàn toàn về vùng tập kết cuối cùng ở vàm sông Ông Đốc. Giữ tuyệt đối bí mật ngày rút quân, kể cả đối với chiến sĩ và nhân dân. Một cơ sở nhỏ có thể bị đánh úp bất ngờ. Từ 6 đồng chí trong chi bộ ghép để lãnh đạo chốt Thới Bình, để bảo vệ an toàn khu tập kết cuối cùng sông Ông Đôc. Tôi còn nhớ hết: Đồng chí Hồ Dũng Sinh sau này về làm Chánh văn phòng Mặt trận Tổ quốc thành phố Hồ Chí Minh, cũng không còn nữa. Đồng chí Nguyễn Văn Sách, năm 1940 bị đày ở Madagascar, nhốt chung với giáo chủ Cao Đài Phạm Công Tắc. Và anh cũng đã ôn lại cho tôi bài "Internationale" bằng Pháp văn mà tôi đã được anh Vịnh dạy cho tôi từ năm 1936. "Debout les damnés de la terre. Debout les forcats de la faim!"... Nghe đâu anh cũng đã tập kết ra miền Bắc làm ở Bộ Nội vụ và nay đã về hưu, làm Cố vấn nội chính ở Vũng Tàu. Anh Thái Văn Bạch tôi có gặp cũng đã nghỉ hưu, nhà ở số 9 Trương Định (Q.3) thành phố Hồ Chí Minh. Còn hai anh Phục và Cò Hai thì tôi không được biết tin tức từ dạo ấy. Dù sao, chúng ta cũng đã làm xong nhiệm vụ, tình đồng chí cũng còn lại với non sông, đất nước thái bình muôn thuở. Để động viên đơn vị, chúng tôi cho tổ chức chiếu phim "13 người chiến sĩ Hồng quân" giữ 1 cái đồn ở giữa sa mạc, để anh em liên hệ với hoàn cảnh của mình lúc ấy. Chiếu ngay giữa chợ cho đồng bào chung vui, hai đầu chợ vẫn thắp 2 ngọn đèn "măng-sông", có người mang súng đứng gác, thay phiên nhau gác suốt đêm 30 Tết, cho đồng bào vui Tết. Sáng mồng một Tết, chúng tôi chia nhau đi chúc Tết từng gia đình, nhưng vẫn giữ kín ngày rút quân. Tối mồng một Tết, chúng tôi đi kiểm tra các ghe xuồng và phổ biến lịnh hành quân vào gà gáy nửa đêm. Hành trang đều gọn nhẹ, cả 13 người đều lặng lẽ xuống tam bản và xuồng, hướng về vàm sông Ông Đốc, nhẹ nhàng lướt sóng. Đồng bào chợ Thới Bình đang còn ngủ say trong giấc mộng đầu xuân. Mọi tình nghĩa đã gửi gắm vào ngày thăm viếng sáng mồng một Tết. Về vàm sông Ông Đốc, chúng tôi chia tay, tôi trở về Ban Quân báo. Anh Ba Phấn cũng đang ở khu vực đó, phân công tôi tham gia bảo vệ khu vực bến tàu, với khẩu súng ngắn kè kè bên hông đề tăng thêm uy thế, theo dõi những người khả nghi lên xuống bến tàu và những thùng tài liệu hồ sơ đem xuống tàu Kilinsky của Ba Lan để chở ra miền Bắc. Tôi làm công việc con thoi là người lính cuối cùng rời bờ biển Cà Mau để đi ra con tàu chở quân đi tập kết, và lấy làm hãnh diện về vinh dự đó. Để kết thúc Chương này, và cũng là để đánh dấu tình cảm đồng chí và đồng đội trong ngành Quân báo Khu 9 mà tôi không thể nào quên, tôi chỉ nhắc lại kỷ niệm một đêm rằm tháng 8 năm 1954 trên sông Cái Lớn. Lúc đó tôi được biết có người bạn cũ muốn gặp tôi đêm rằm tháng 8 ở vàm kinh Xáng Cụt dòm ra sông Cái Lớn vào 9 giờ đêm. Tin tức do một sĩ quan Liên Hiệp đình chiến ở đồn Long Mỹ (Cần Thơ) chuyển đến. Tôi tức tốc quay chèo, dùng chiếc xuồng ba lá đi ngược kinh Chắc Băng, Xẻo Rô, ngang qua kinh Mười Thước, đến điểm hẹn. Vàm kinh Xáng Cụt dòm ra con sông Cái Lớn bát ngát ánh trăng rằm. Không có một chiếc thuyền nào lai vãng. Đây là vùng ranh giới khu tập kết 300 ngày giữa ta và địch. Tôi thận trọng chèo xuồng ra giữa sông, nhìn quanh quan sát. Bỗng một chiếc xuồng con từ bờ bên kia lao đến. Tôi chưa định thần thì hai bóng người đã bỏ xuồng nhảy sang ôm chầm lấy tôi. Dưới ánh trăng rằm tôi nhận rõ mặt: anh Tám Miêng và chú Năm Danh! Chúng tôi buộc xuồng lại với nhau, và ôm choàng lấy nhau. Nhớ quá! Nhớ quá! Hai chiếc xuồng lững lờ trôi. Thời gian như ngừng lại. Trên cao, ánh trăng đã lên tới đỉnh đầu. Giữ nguyên tắc bí mật, chúng tôi không hề gợi chuyện công tác. Nhưng tôi vẫn biết là hai đồng chí muốn tôi trao đổi kinh nghiệm hoạt động trong lòng địch rất cần trong lúc này. Tôi tiếc là không có cách nào để giúp cụ thể. Chỉ nhắc lại chuyện thoát vây ở Ô Môn, và kết luận: "Trong 6 năm hoạt động, tôi chỉ đúc được 2 điểm: Một là luôn giữ vững niềm tin ở Đảng, hai là giữ vững sự bình tĩnh trước mọi tình huống bất ngờ!". Mặt trăng đã ngả dần xuống phía Tây. Tôi lấy ra một chiếc ly to múc một ly nước sông đầy đưa lên ánh trăng và nói: "Chúng ta chia tay nhau ở giữa sông Cái Lớn này, hẹn hai năm sẽ gặp lại nhau". Mỗi người uống cạn một ly. Chia tay nhau không có ly rượu tiễn đưa, nhưng nước sông Cái Lớn vẫn là nước ngọt, người dân miệt Thứ vẫn lên chở nước về để bán cho dân vùng nước mặn uống, gọi là "đổi nước", vì từ xưa, dân không bao giờ dám nói ra hai tiếng "bán nước" chỉ để dành cho bè lũ Việt gian. Dân miệt vườn kiên trung đến thế đấy. Anh Tám Miêng và chú Năm Danh rút trong ví ra để tặng tôi làm kỷ niệm, hai tấm ảnh dùng để dán căn cước, cỡ 4x6. Tôi còn giữ mãi theo tôi cho đến ngày nay. Anh anh Tám bận complet, thắt cà vạt tề chỉnh như chuẩn bị đi đám cưới. Còn ảnh của chú Năm thì hai mắt cụp xuống như che giấu nhãn quan. Chú Năm nói thành thật: "Khi chụp hình dán căn cước, tôi nhìn cụp xuống để cho bọn lính cảnh sát khó xét đoán nhân dạng tôi". Một nỗi lo ám ảnh suốt dời của người chiến sĩ vô danh. Nhưng nào thoát được đâu. Đến sau ngày 30/4/75, tôi được phân công trở về thành phố, gặp chị Tám nên được biết rõ hơn: anh Tám Miêng đã hoạt động trong Ban Binh vận Trung ương (Ban Binh vận Xứ ủy Nam Bộ), bị bắt tháng 8/1959; khi bị Tòa kết án 10 năm, hai vợ chồng vẫn nhìn nhau cười, giữ một niềm tin vào cách mạng, anh Tám đã bị đày đi Côn Đảo, bị đòn liệt cả hai chân, và đã hy sinh ngày 6/7/69 nhằm ngày 22/5 âm lịch, để lại chiếc gậy mây mà chị Tám đã cho tôi để dùng đi lại trong nhà cho khỏi té. Anh Tám cũng đã được xét tặng bằng Tổ quốc ghi công và Huân chương Kháng chiến hạng nhất. Hằng năm đến ngày giỗ, tôi vẫn đến thắp nhang trên bàn thờ để tưởng nhớ mối tình đồng chí và đồng đội thuở 9 năm. Còn hoàn cảnh của chú Năm Danh thì gian truân hơn: hoạt động Ban Binh vận từ 1955, đến năm 1978 tôi đã gặp Danh làm Trưởng phòng Thương nghiệp huyện Tân Hiệp (Kiên Giang), do trình độ chính trị, văn hóa và nghiệp vụ đều yếu, đồng chí đã tự nguyện xin ra khỏi Đảng và về hưu, làm tập đoàn trưởng ở phường Hương Phú (rạch Cái Chanh) thành phố Cần Thơ, ở nơi có miếng đất ông bà để lại, và đã từ trần ngày 12/11/1986 (11 tháng 10 âm lịch) tại quê nhà, thọ 61 tuổi. Tham gia cách mạng 33 năm, chủ yếu trong ngành Quân báo, 4 lần bị địch bắt và tra tấn, giam giữ cấm cố hết 6 năm 9 tháng 20 ngày, chú Năm Danh bị ung thư phổi mà chết, xem bản phim chụp phổi thấy ghi rõ: 3 khối u ở thùy trên phổi trái do vết thương ở sườn thứ 3 gãy gây nên. Đó là vết thương do ngón đòn tra tấn của bọn lính kín ở bót Hàng Xanh gây nên từ năm 1959. Khi được tin chú Năm đang hấp hối muốn gặp tôi, tôi cũng đang bị bệnh thấp khớp ở cổ chân nên không đi được. Thật phụ lòng người quá cố. Đau lòng hơn, là sau 30/4/75, có dư luận đồn rằng đồng chí đã phản bội cách mạng. Tôi không tin và đã đi tìm sự thật: thời gian bị giam cầm ở hầm của An ninh quân đội ngụy ở Cần Thơ từ 8/12/59 đến 17/11/62 được thả ra, đồng chí Danh trốn thoát. Tôi chưa gặp giáo sư Triết để minh oan, thì Danh đã lìa trần. Dù sao, sự thật vẫn là sự thật, không có sự vu cáo nào có thể tồn tại với thời gian. Tôi tin vậy. Chịu đựng gian truân từ mọi phía, phải chăng đó là nghiệp chướng của các chiến sĩ vô danh? Tôi đọc bản lý lịch mà đồng chí Danh đã trao lại cho tôi làm kỷ niệm: 33 năm hoạt động trong lòng địch, trong đó hết gần 7 năm bị giam cầm, 2 lần kết nạp Đảng, 2 lần bị bắt, 1 lần bị tra tấn dập xương sườn, khen thưởng kỷ luật đều không có. Thế đấy. Mong đừng ai ghi thêm vết thương lòng cho người chiến sĩ vô danh! Tháng 10/1990
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
thongdiepthoigian
Thành viên

Bài viết: 618
|
 |
« Trả lời #116 vào lúc: 04 Tháng Sáu, 2026, 08:21:04 pm » |
|
40 NĂM SAU... Ngày 25/9/89, tôi gặp lại anh Hoàng Xuân Bình tại 44 Lý Tự Trọng, Q1. Tôi biết anh đã bị bắt ở Cần Thơ năm 1947, là em của nhà bác học Hoàng Xuân Hãn, nên trực tiếp được Fallon 1 (Là Đại úy, chef 2e bureau Secteur Cần Thơ thời gian 1947-1948) hỏi cung khỏi cần phiên dịch. Fallon cho biết là anh ta chỉ huy 1 tiểu đoàn quân hải ngoại ở Xiêm về. Chỉ thế thôi. Có lần, nhân dịp được dẫn anh ta từ khám lớn Cần Thơ về văn phòng 2èB, tôi đã hỏi nhỏ anh: anh có muốn nhắn gì về Khu không? Anh đã đáp gọn: "Trao đổi tù binh". Tôi đã nhắn về Khu nguyện vọng ấy, từ đó tôi không còn gặp lại anh cho mãi tới hôm nay. Chúng tôi ôn lại chuyện cũ: Anh cho biết anh bị bắt ở Phụng Hiệp với anh Phong, cả hai đều đi dự Đại hội Sinh viên Nam Bộ tổ chức ngày 25/5/47 ở Đồng Tháp Mười, trở về bị bắt ở Phụng Hiệp ngày 5/6/47. Cả 2 cuối cùng được đưa về giam tại bót Catinat và ngày 25/5/48 bị kết án 3 năm tù giam, được trả tự do trước thời hạn. Bình trở ra vùng giải phóng và năm 1954 tập kết ra Hà Nội, năm 1975 về làm phóng viên Đài Truyền hình thành phố Hồ Chí Minh và về hưu năm 1985. Bình và Phong vẫn giữ vững khí tiết lúc bị giam cầm chứng tỏ cốt cách người kháng chiến. Bản tự bào chữa của kỹ sư Phong đọc trước Tòa đã được báo cáo về Sài Gòn đăng tải nguyên văn ngày 25/5/48 là một bản cáo trạng đanh thép lên án chế độ thực dân Pháp ở Đông Dương. Bức thư bằng tiếng Pháp của anh Bình gởi cho Fallon ngày 19/1/48 lúc Bình còn ở tù tại khám lớn, ngày 5/6/49 từ khám lớn Sài Gòn gởi sang Algérie, nơi Fallon đang công tác, với 1 tấm ảnh có đề tặng cho Fallon: "A mon adversaire et ami" (gởi người địch thủ và bạn hữu của tôi). Hòa bình lập lại, Bình lại thông qua ông anh ruột là Hoàng Xuân Hãn tiếp tục gởi thơ cho Fallon để xin lại giấy tờ bị Pháp giữ tại Cần Thơ từ 1947. Điều lý thú là Fallon đã lưu giữ kỹ những giấy tờ bắt được trong người Hoàng Xuân Bình tại nhà riêng của Fallon ở Lorraine (Pháp) và đã gởi trả lại cho Bình. Lúc này Fallon đã lên cấp Tướng và đã về nghĩ hưu tại gia đình, sau khi đã làm Chỉ huy trưởng thành phố Verdun ở miền Đông nước Pháp, địa chỉ 7, rue de la Liberté, 55.100 Verdun France. Léon Fallon là một sĩ quan kỳ cựu của 43èRIC, sinh tại Lorraine năm 1918 tốt nghiệp trường Võ bị Saint-Cyr tháng 9/39, được bổ nhiệm vào 41èRMIC đóng tại La Sarre. Ngày 22/6/40, quân Pháp bại trận, Fallon bị Đức bắt làm tù binh giam ở Colditz, một trại tù binh ở một tính thuộc miền Tây nước Đức. Ngày 3/1/43, Fallon cùng 3 tù binh khác tổ chức vượt ngục Colditz trở về Lorraine (Pháp), sung vào đạo quân viễn chinh 43èRIC, đổ bộ sang Đông Dương tháng 9/45, Đại úy chỉ huy Đại đội CA2 của 43èRIC đổ bộ lên Cap Saint Jacques sau dời về Long Xuyên. Tháng 1/47 Fallon được bổ về làm Chef 2è Bureau Secteur Cần Thơ. Nguồn gốc nông dân, viên tướng Pháp ấy đến nay lại trở về sinh sống với gia đình với một vợ cùng 4 con, theo thư viết ngày 22/2/88 cho Hoàng Xuân Bình, Fallon cho biết là đứa con gái đã 41 tuổi, 3 trai: 39, 33 và 25 tuổi với 6 cháu nội, ngoại. Con cháu vui vầy, phong thê ấm tử. Một cuộc đời, 2 cuộc chiến tranh thuộc địa, từ cấp Đại úy lên cấp Thiếu tướng kể như là mãn nguyện với công danh! Tuy nhiên, về cuối cuộc đời, nhìn lại cuộc chiến mà Fallon đã tham gia ở Nam Việt, với tư cách là Trưởng phòng TB Secteur Cần Thơ, viên tướng già không khỏi có nhiều suy tư, trăn trở về mục đích cuộc chiến tranh của Pháp ở Đông Dương, ngay từ tháng 10/46 khi nhận được tin Đại úy Serge Laroussiltre bị Việt Minh bắn chết ở Rạch Giá. Laroussiltre lúc ấy chỉ huy Đại đội 8 của 43è RIC, luôn luôn bày tỏ ý kiến nghi ngờ về hành động của quân đội Pháp ở Đông Dương cho là ngu xuẩn, vụng dại. Cái chết của người bạn thân buộc Fallon phải suy nghĩ lại ý kiến đúng đắn của người bạn quá cố. Tôi đọc lại những bức thư Fallon viết cho Hoàng Xuân Bình và cho cụ Hoàng Xuân Hãn từ 1986 đến nay (1990). Trong thư viết cho cụ Hoàng Xuân Hãn ngày 26/11/86 có đoạn: "Sachez, cher Mr Hãn, que ces quelque 27 mois passés en Indochine, c'est peu dans la vie d'un homme, mais c’est déjà une tranche de vie appréciable laissée sur moi une forte empreinte indélébile J'en ai conservé un grand estime pour le peuple vietnamien. Et si je suis catégoriquement hostile au communisme, je n’en éprouve pas moins de l'estime, de la considération pour certains de ceux qui y adhèrent". (Ông Hãn thân mến! Ông biết cho rằng trong 27 tháng trải qua Đông Dương, đó là khoảng thời gian ít ỏi trong một đời người nhưng cũng là một giai đoạn đáng kể đã để lại cho đời tôi một dấu ấn mạnh mẽ, khó phai mờ. Nó đã để lại trong lòng tôi sự mến mộ lớn lao đối với nhân dân Việt Nam. Và nếu tôi dứt khoát chống đối Chủ nghĩa Cộng sản, thì tôi vẫn không khỏi kính nể, tôn trọng một số người đã tham gia trong đó).
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
thongdiepthoigian
Thành viên

Bài viết: 618
|
 |
« Trả lời #117 vào lúc: 04 Tháng Sáu, 2026, 08:22:19 pm » |
|
Trong thư viết cho anh Hoàng Xuân Bình ngày 22/2/88: "Les sentiments sont à mon avis plus grands que les idées et encore plus que les idéologies qui, relèvent de l'esprit de système". (Những tình cảm, theo tôi, còn lớn hơn những tư tưởng và hơn cả những hệ tư tưởng do ý thức hệ mà có). Và một đoạn nói về gia đình: "La famille est à mon sens la cellule essentielle de toute société quel que soit la structure. Malheureusement la France est entrée depuis une vingtaine d’années dans un processus, peut être irréversible, de déclin", (Gia đình, theo ý tôi, là tế bào thiết yếu của mọi xã hội dù ở dạng cấu trúc nào. Than ôi, nước Pháp từ 20 năm nay đã bước vào quá trình suy thoái có lẽ không cưỡng lại được). Để giải thích nhận định bi quan ấy, Fallon viết tiếp: "C'est Sadamne et Gornorrhe. Toutes les nations de race "blanche" sont d’ailleurs prises dans cet engrenage: les Allemands en tête, et même les Russes, (là Sadamne và Gornorrhe. Tất cả những dân tộc "da trắng" đều thu trong guồng máy ấy, người Đức trước hết và cả người Nga) - (Sadamne và Gornorrhe là 2 thành phố nói trong Kinh thánh bị triệt hạ vì tội dâm loàn, sa đọa, đồng tính luyến ái).
Tôi đang phân vân, suy nghĩ về Fallon, người cấp trên và đối thủ trực tiếp của tôi trong những năm đầu chống Pháp, thì anh Bình đã hỏi: Anh thấy Fallon thế nào? Một sĩ quan mập mạp phúc hậu. Tôi có thể gởi cho nó biết tôi đã gặp anh chăng? - Cũng được, tùy anh!
Bất ngờ ít tháng sau, Bình đem lại cho tôi xem một đoạn cuối bức thư phúc đáp cho Bình: "J'evoque pour terminer votre lettre complémentaire le 23 Septembre, j’ai été bien sûr, très ému, à l’idée de votre rencontre avec Trần Hiến, mon ancien interprète et ami. Je me souviens qu’il était originaire de Trung bô. Mon premier réflexe a été de lui adresser un mot que j'ai rédigé d’ailleurs aussitốt... mais que je n'ai pas envoyé. Il est resté dans mes archives. J’ai estimé que je ne devais pas nuire à cet ancien collaborateur des Français, ne doutant pas qu'on a du le lui faire payer. Dans mon projet "l'année du buffle", j'ai d'ailleurs écrit une bonne page à son sujet (écrite il y a 25 ou 30 ans...). Je pouvais vous la communiquer. Dites lui de toute façon que j’ai conservé de lui un souvenir fidèle et reconnaissant et même une réelle affection. Avait-il choisi le bon côté? Qui sait? Moi je crois que l’indépendance du Viêtnam aurait pu être acquise rapidement et sans tous ces affi'ontements frénétiques. La faute en est des 2 côtés, peut être plus encore du nôtre, on peut l’admettre. Et cela aurait pu permettre d'éviter "l'après 1954" (ngày 30 Janvier 1990). (Để kết thúc, tôi nhắc lại bức thư của anh ngày 23-9. Tôi rất xúc động vì nghe nói anh đã gặp Trần Hiến, người phiên dịch viên và bạn cũ của tôi. Tôi nhớ lại anh ta gốc người Trung-bộ? Phản ứng đầu tiên là định gởi thư và tôi đã bắt đầu viết, nhưng tôi không gửi, bức thư ấy đã nằm lại trong tập lưu của tôi. Tôi nghĩ lại là không nên làm phương hại cho người cựu cộng tác viên với Pháp, không chút hồ nghi rằng người ta đã bắt anh phải trả giá về việc đó. Trong bản dự thảo của tôi về "Năm con Trâu", tôi đã dành 1 trang dài viết về anh ấy (viết cách đây 25 hay 30 năm), tôi có thể gửi cho anh xem. Dù sao anh cũng có thể nói cho anh ấy biết rằng tôi đã giữ 1 kỷ niệm trung thành và biết ơn, hơn nữa, 1 tình nghĩa chân thành về anh ấy. Anh ta đã chọn được con đường tốt. Biết đâu đấy! Tôi thì tin rằng sự độc lập của nước Việt Nam có thể đạt được sớm hơn, khỏi sự xông pha quyết liệt đó. Lỗi là ở cả 2 bên, hơn nữa, ở phía chúng tôi có thể thừa nhận điều đó, và như vậy chúng ta khả dĩ tránh khỏi thời cuộc sau 1954).
Hội chứng Điện Biên Phủ còn in đậm trong óc viên Tướng già? Dù sao tôi cũng thầm cảm ơn Bình đã không nói rõ về tôi cho Fallon biết. Và sau nhiều đêm suy nghĩ, tôi quyết định viết thư cho Fallon công khai theo đường bưu chính. Tôi đã 75 tuổi, Fallon 72 tuổi, tuổi cổ lai hy cả. Tôi học hết cấp Tiểu học, mò mẫm để hiểu tiếng Pháp mà đánh Tây. Đã 40 năm qua kể như xếp nó lại không dùng đến. Nay bất ngờ phải dùng lại, chữ được, chữ mất, không biết sẽ ra sao? Sau 3 lần viết đi viết lại, cuối cùng tôi cùng viết được bức thư bằng tiếng Pháp cho Fallon nhờ 2 vợ chồng con trai tôi ra Bưu điện Sài gòn gởi đi 1 ngày trước lễ 30/4/1990:
Hồ Chí Minh City le 29 Avril 1990
Monsieur Le Général,
Permettez à un vieillard de 75 ans de vous écrire si tardivement et si incorrectement sans le vouloir, mon vocabulaire français est resté au fond de ma mémoire depuis 40 ans! Seule est fixé à mon coeur, l'image d'un officier français aux yeux clairs et au sourire large dont la loyauté et le comportement envers mes compatriotes en temps de guerre, ne laisse aucun reproche. C'est ainsi que, grâce à votre bienveillance, j'avais pu sauver la vie à pas mal d’habitants de Cần Thơ au cours des années 1947-1948. Sans votre appui, ils risqueraient la prison et certains d'entre eux, le poteau d’exécution dressé à côté du marché de Cần Thơ. Souvenez-vous de la mort de Trần-Đổng, un garçon de 15 ans, avec son cri de guerre: "Hồ Chí Minh muôn năm" en face du peloton d'exécution! et la discussion animée qui s'ensuivit devant le 2è Bureau du Secteur de Cần Thơ sur la légalité de cette exécution. Finalement, grâce à votre intervention, le commandement de la Zone Ouest avait décidé que dorénavant, tous les dossiers des "terroristes VM" fournis par la p.s.o. seront transmis au 2èB du Secteur pour contre-enquête afin d'éviter tout erreur du jugement.
En qualité d'officier supérieur, vous pourriez facilement retrouver des témoignages écrits dans vos archives officielles pour compléter votre "Année de Buffle". Au fond de ma pauvre mémoire, je n’ai retenu que quelques noms au hasard:
1. Nguyễn Văn Hai dit Nhâm, âgé de 16 ans, accusé de lanceur de grenades par un certain Nguyễn Văn Thanh, informateur au service du Commissaire de police Jacquemin.
2. Nguyên Văn Điều, 25 ans, accusé de trafiquant de munitons au préjudice de la 62è CR.I1 a été sauvé à priori après contre-enquête accompagné d'une inspection en règle faite par le capitaine Lotte, confirmant la non-culpabilité de l'accusé.
3. Nguyễn Văn Hoàng, arrêté au cours d'une rafle à Cái Răng. Selon les accusations de la P.S.O.sous forme d'interrogatoires, le détenu était chef de section de guérilleros clandestine pris en flagrant délit, ayant sous ses ordres 2 groupes armés de 2 FM et 20 fusils. En réalité, le détenu n était qu’un simple milicien populaire de réserve. Les interrogatoires de la p.s.o. ont été édifiées sur une erreur de traduction: "traductore, tradictore"!
En marge de ces 3 dossiers en question, la sentence de mort signée par le Colonel Cluset, s'annoncait irrévocable! Sans les procès-verbaux de contre-enquête faite sous vos ordres, que seront-ils devenus, ces soi-disant "terroristes VM"?
4. Nguyễn Văn Nhâm du même mon que le numéro 1, un gamin de 13 ans, arrêté par les agents de police, porteur d'une grenade. La contre enquêté, avec le concours du Caporal-chef Zédenberg ne révélait que des contradictions dans les déclarations des témoins. En fin de compte vous l’avez fait passer au camp d'internés militaires de Thốt Nốt où il s'est évadé en Noël 1947, évitant à juste titre la mise à mort d’un enfant mineur.
5. Trần Thị Tuyết, agent du CAXP (police de choc) transmise par les soins de la p.s.o. déchi-rée comme une loque que vous avez mise en liberté après l'avoir soignée à l'infirmerie militaire de Can Thơ.
Eh bien! Après le 30-4-75, j’ai pu rencontrer quelques uns d'entr’eux. Ils sont tous en vie: ils ont tous une famille, des enfants, voire petits enfants. J’ai compté leurs projénitures: 22 adolescents en force de croissance. En fait de trophée de guerre, nous avons trouvé une trophée de paix et un bouquet de reconnaissance envers leurs bienfaiteurs. Vous avez raison décrire que les sentiments sont plus grands que les idées. La reconnaissance en est un des meilleurs, propre au Vietnamien. Elle dépasse la limite des frontières des nations et des préjugés pour parvenir à ceux qui la méritent.
Dans le reste de mes années, je profite de mon loisir pour revoir mon passé. Je fais comme les moines en retraite, mon examen de conscience. Entre amis, nous n'avons rien à nous reprocher. Nous étions dans la coloniale mais nous ne sommes pas Colonialistes! Chacun fait son devoir en vrai soldat, mais avant tout: en homme de bien. A propos, que sont-ils devenus les anciens du 43è RTC? Je voudrais bien écrire au Capitaine Lotte et au Caporal-chef Zédenberg qui étaient si gentils envers moi au cours de ma lourde tâche d'interprète et de contre-enquêteur presqu'à la veille des exécutions présumées sommaires. J'ai confiance en sa promesse, car cet écrivain est littéralement francophile, membre de la nouvelle association culturelle franco-vietnamienne. En ce temps d'effervescence mondiale sur le plan politique, nous faisons de notre mieux pour la restauration de l'amitié entre nos deux peuples. Ainsi, je suis avide de lire vos écrits pour en tirer des enseignements utiles en la circonstance et pour vivre mieux qu'auparavant.
Rassurez-vous, Mon Général, de ma vie pleine de vicissitudes, j'ai eu la chance de rencontrer des circonstances favorables pour choisir le bon côté: le côté des hommes de bien, ou pour parler le langage de l’Evangile les hommes de bonne volonté . Le VietNam à jamais indépendant, libre et unifié, n'aspire qu'à la paix et au bonheur ici-bas. Il ne garde aucune rancune envers les collaborateurs des Français, ni envers les français qu'ils soient militaires ou capitalistes. Vous pouvez m’ecrire par voie postale: Mon adresse: Trần Hiến, 44 Lý Tự Trọng, HCM city V.N. J'habite en famille avec mes enfants. J'ai lu quelque part, que la famille est la cellule essentielle de toute société vietnamienne. Après les tourments de la guerre, bienheureux sont ceux qui peuvent retrouver sains en famille entourés des siens.
Présentez mes respects à Madame La Générale Fa]Ion qui vous avait suivi depuis 1949 jusqu'en Algérie, à qui revient votre bonheur présent.
Votre ancien interprète Trần Hiến
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
thongdiepthoigian
Thành viên

Bài viết: 618
|
 |
« Trả lời #118 vào lúc: 04 Tháng Sáu, 2026, 08:23:08 pm » |
|
Lược dịch:
TP HCM ngày 29-4-90
Thưa Tướng quân,
Xin phép Tướng quân cho ông già 75 tuổi viết thư cho ngài rất chậm chạp và rất cẩu thả như thế này. Dù không muốn, từ vựng tiếng Pháp của tôi cũng bị lãng quên trong trí nhớ từ 40 năm nay. Chỉ còn lại trong trái tim tôi hình ảnh một vị sĩ quan Pháp có đôi mắt sáng sủa và nụ cười rộng rãi chứng tỏ lòng thành thật và thái độ đôi xử với đồng bào tôi trong thời chiến, không để lại lời oán trách nào. Chính nhờ vậy, nhờ lòng tốt của ông, tôi đã cứu mạng cho biết bao người dân Cần Thơ trong những năm 1947, 1948. Không có sự giúp đỡ đó, họ có thể bị giam cầm và một số trong đó có thể bị bắn ở pháp trường bên cạnh chợ Cần Thơ. Ông còn nhớ chăng cái chết của Trần Đổng, một em bé 15 tuổi với khẩu hiệu "Hồ Chí Minh muôn năm" hô to trước hàng quân xử bắn và cuộc tranh cãi tiếp sau đó trước cửa văn phòng 2èBureau Secteur Cần Thơ về tính chất hợp pháp của cuộc hành hình! Rốt cuộc, nhờ sự can thiệp của ông, Bộ chỉ huy Zone Ouest đã quyết dịnh từ nay sẽ chuyển giao hồ sơ "quân khủng bố Việt Minh" do Sở Cảnh sát đặc biệt miền Tây (PSO) cung cấp sang cho 2èB Secteur để điều tra và xác minh lại hầu tránh lầm lẫn trong xét xử.
Với tư cách là sĩ quan cao cấp, ông có thể dễ dàng tìm lại những bằng chứng băng văn bản cụ thể trong các hồ sơ chính thức của ông, để bổ sung vào "Năm con Trâu" của ông đã viết, tôi chỉ còn nhớ lại một số vụ như sau:
1. Nguyễn Văn Hai tự Nhâm, 16 tuổi, bị bắt về tội ném lưu đạn, do tên. Nguyên Văn Thanh, điểm chỉ viên của Thanh tra Mật thám Jacquemin tố cáo.
2. Nguyễn Văn Điều 25 tuổi, bị bắt về tội mua bán đạn dược trong kho vũ khí của 63è C.R. Anh nầy được tha bổng nhờ một cuộc phản cung với một sự kiểm tra hợp lệ ở kho vũ khí do Đại úy Lotte tiến hành chứng minh sự vô tôi của bị can.
3. Nguyễn Văn Hoàng bị bắt trong cuộc vây ráp ở Cái Răng. Theo bản cáo trạng của PSO dưới hình thức khẩu cung, người bị bắt là Trung đội trưởng bị du kích bí mật có dưới quyền 2 tiểu đội trang bị 2 trung liên FM và 20 súng trường. Thực ra, bị cáo chỉ là một dân quân dự bị. Bản buộc tội của PSO đều dựa vào một chữ dịch sai; dịch là diệt.
Ngoài 3 hồ sơ nói trên, lời kết tội tử hình của Đại tá Cluset kể như dứt khoát. Nếu không có bản điều tra phản cung làm theo lịnh của ông thì chuyện gì sẽ xảy ra cho những người mang tiếng là "quân khủng bố Việt Minh" đó?
4. Nguyễn Văn Nhâm, trùng tên với tên số 1, chỉ là một cậu bé mới 13 tuổi bị nhân viên Cảnh sát bắt vì mang trong mình 1 trái lựu đạn. Cuộc phản cung với sự cộng tác của cai xếp Zedenberg đã đem lại những kết quả trái ngược nhau khi hỏi đến người làm chứng. Cuối cùng ông đã cho giam lại ở trại tù binh Thốt Nốt, nơi đó anh ta đã vượt trốn khỏi trại trong đêm Noel 1947, thoát khỏi án tử hình gán cho một trẻ vị thành niên.
5. Trần Thị Tuyết, nhân viên CAXP do P.S.O. chuyển giao, rách bươm như đống giẻ mà ông đã cho tha về sau khi đã chuyển cho Phòng Y tế quân đội Cần Thơ săn sóc hết bịnh.
Thế là sau ngày 30/4/75, tôi có dịp gặp lại một số trong bọn họ. Họ đều sống cả, họ đều có gia đình, con cái, cả cháu, chắt. Tôi đã đếm con cháu họ 22 thanh niên đang độ trưởng thành. Thay vì chiến lợi phẩm, chúng tôi đã thu được "Hòa-bình-phẩm" và 1 bó hoa biết ơn đối với người đã làm ơn đối họ. Ông đã có lý khi viết rằng: tình cảm còn lớn hơn tư tưởng. Sự biết ơn là tình cảm cao quí nhất đối với người Việt Nam. Tình cảm đó vượt quá biên giới những dân tộc, những thành kiến, để đến tận tay những kẻ xứng đáng được hưởng.
Trong những năm tháng còn lại của cuộc đời, tôi lợi dụng thời gian được nghỉ ngơi để nhìn lại quá khứ của mình. Tôi làm như những ông thầy tu cấm phòng để xem xét lại lương tâm của mình. Giữa chúng ta - ông và tôi - chúng ta không có gì để mà phiền trách nhau cả. Chúng ta đều ở trong quân đội thuộc địa nhưng chúng ta không phải là thực dân. Mỗi người đều làm phận sự của mình với tinh thần người chiến sĩ chân chính, nhưng trước hết với tư cách là con người có lòng tốt.
Nhân dịp này, tôi muốn có lời thăm hỏi những cựu chiến binh Trung đoàn 43èRIC. Tôi muốn viết thư cho Đại úy Lotte, cai xếp Zédenberg, những người đã tỏ ra rất tốt đối với tôi trong lúc tôi đăng làm nhiệm vụ phiên dịch và điều tra phản cung trước ngày sắp xử bắn tù nhân. Tôi đã thuật lại những việc đó, hay nói đúng hơn là những việc tốt của ông, cho ông bạn nhà văn Nam Việt Nam. Anh bạn hứa sẽ kể những câu chuyện ấy trong cuốn sách sắp xuất bản nay mai. Tôi tin ở lời hứa đó vì anh bạn nhà văn ấy rất mến người Pháp, cộng tác viên của Hội Ái hữu Việt - Pháp mới đây. Trong thời buổi sục sôi của thế giới về phương tiện chính trị hiện nay, chúng ta cố gắng làm hết sức mình để khôi phục lại tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước chúng ta. Vì vậy tôi nóng lòng muốn được đọc những tác phẩm của ông để rút ra những bài học bổ ích nhân dịp này và để sống ngày một tốt hơn.
Tướng quân hãy yên tâm về tôi, trong cuộc sống đầy gian khó của tôi, tôi đã may mắn gặp những dịp may để chọn những con đường tốt, con đường của những người tốt, hay muốn nói theo phúc âm "những người có thiện chí". Nước Việt Nam mãi mãi sẽ Độc lập, Tự do và Thống nhất, chỉ mong muốn mãi mãi được Hòa bình và Hạnh phúc ở trên cõi thế này. Nước tôi sẽ không giữ một thù hận nào với những cộng tác viên với người Pháp, và cả với người Pháp dù quân nhân hay Tư sản. Ông có thể viết thư cho tôi theo đường bưu điện. Địa chí của tôi là: Trần Hiến, 44 Lý Tự Trọng, Tp. Hồ Chí Minh. Tôi sống ở đó với gia đình và con cái của tôi.
Tôi có đọc đâu đó rằng gia đình là tế bào thiết yếu của xã hội loài người, đó là một tư tưởng mác-xít rất được Hồ Chủ Tịch và xã hội Việt Nam đề cao. Sau những lo âu về chiến tranh, sướng thay những người đã được đoàn tụ trong gia đình có con cháu sum vầy.
Xin ông hãy vui lòng chuyển lời kính trọng của tôi đến Bà Tướng quân Fallon, người phụ nữ đã đi theo ông từ 1949 đến tận Algérie và đã đem hạnh phúc cho ông hôm nay.
Cựu phiên dịch viên của ông Trần Hiến
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
thongdiepthoigian
Thành viên

Bài viết: 618
|
 |
« Trả lời #119 vào lúc: 04 Tháng Sáu, 2026, 08:24:46 pm » |
|
Thư đã gửi đi ngày 29/4/90. Hơn 1 năm trời không có thư phúc đáp. Đùng một cái, ngày 19/5/91 vào 9 giờ 30 sáng, tôi nhận được thư phúc đáp. Tôi lật phong bì nhìn dấu bưu chính: L.Fallon gởi ngày 10/5/91 lúc 17 giờ tại Bưu điện 55, Void, Vacon, Meuse, chưa đầy 1 tuần. Tôi bóc thư đọc, đọc đi đọc lại, cố hiểu nội dung: "Général (C.R.) Fallon Le 10 Avril 1991 Mon cher Hien, Je vous remercie de votre très gentille lettre que j'ai reçue voilà déjà très longtemps J’ai été très ému à sa réception et plus encore à sa lecture. Le grand retard apporté à y répondre résulte d'une certaine paresse intellectuelle! Celle d'un homme de 73 ans passés., et du souci que j'avais de ne pas vous décevoir. Il est difficile de reprendre contact après 40 ans, et pour vous, pour moi aussi, mais autrement tant de cruelles vicissitudes: celles de la guerre... À force de reporter ma reponse, j'ai pris un grand retard. Sachez le cependant, j'ai lu et relu votre lettre et j'ai maintes fois regardé les photographies que j'ai conservées de notre 2è B, de Cần Thơ, prises devant la maison que nous occupions. J'ai aussi d'autres excuses: la mauvaise santé de ma femme, une sévère dépression qui a duré près de 3 années et s'est terminée (espérons définitivement) il y a seulement 4 ou 5 mois. Outre mes occupations bénévoles assez nombreuses au profit d’oeuvre en associations diverses, j'ai du assumer les tâches domestiques (cuisine, vaisselle, lingerie., rendez-vous compte!) et J’avais encore à la maison mon dernier fils (marié il y a seulement 9 mois). Et puis, ma santé décline. Cela n’a rien de tout à fait anormal et je fuis comme je peux. Il y a 7 ans, j'ai été opéré d’un triple pontage coronarien qui a prolongé jusqu'à quand? Ma frele existence, merveille de la science cependant à coup sûr. Je souffre toujours bien sûr, mais dans une mesure moindre "d’angine de poitrine" Aujourd'hui, je me décide de vous écrire ou plutốt à reprendre et compléter 1 essai que j'avais fait il y a un peu plus de 6 mois. Par votre lettre, vous m'avez assuré en ce qui concerne votre situation. Je craignais que les services que vous avez rendus dans le cadre 43è RIC et de notre 2è Bureau du Secteur de Cần Thơ vous aient été fortement reprochés. Tout cela, bien sûr est maintenant dépassé, au moins pour l’essentiel. Je ne me souviens pas avec exactitude de tous les faits que vous me rappelez dans votre lettre mais cela n'est pas étonnant car j'ai tellement de "choses" dans la tête après une carrière hélas trop bien remplie. Ce qui est sûr c'est que vous avez contribué à me faire connaître bien des aspects de la situation et des nécessités du V.N., et cela avec une gentillesse incomparable. Je vous en suis reconnaissant et rien que pour cela votre pays devrait vous être reconnaissant. Je n'ai par la moindre idée en ce qui concerne le capitaine Lotte et le caporal-chef Zédenberg. Que sont-ils devenus! Bien que notre "hexagone" soit limité, la recherche n'est pas facile. Le hasard pouvait me faciliter les choses. Je serai toujours heureux d’avoir de vos nouvelles: nouvelles du V.N.et de contribuer au rapprochement que j’appelle de tous mes voeux entre nos deux Nations. C’est là une tâche nécés saire et maintenant urgente, à mon avis. Quant à mon ouvrage "l’Année du Buffle" qui sera le tome II de mes souvenirs, il est prêt, déjà plus quelque temps, mais j’hésite sur la façon de le faire éditer car les grandes maisons d’Editions françaises sont très exigentes et leur souci essentiel est le "rendement": l’argent! et d’un autre côté, l'édition à "compte d'auteur" (c’est-à-dire aux frais de l'auteur) est très omnéreuse. C’est cependant ce que je vais devoir faire. Veuillez encore une fois excuser mon si long retard. J'ai pensé souvent à vous et je tâcherai de me racheter par quelques mots plus brefs mais plus fréquents. Bien fidèlement dans ma reconnaissance et mon amical souvenir. Transmettez à l'occasion à mon ami Hoàng Xuân Bình mon bon souvenir et rappelez lui la joie que j'aurais à le retrouver en France. Signé: Fallón Lược dịch: Tướng (về hưu) Fallon Ngày 10-4-91 Bạn Hiến thân mến của tôi, Tôi cảm ơn anh về bức thư tình cảm của anh mà tôi nhận được đã lâu lắm. Tôi rất cảm động khi nhận nó, và hơn nữa khi đọc nó. Tôi trả lời quá muộn là do sự lười biếng tinh thần, sự lười biếng của một người đã qua 73 tuổi và do tôi không muốn làm anh thất vọng. Thật khó nói lại sự tiếp xúc sau 40 năm xa cách với anh, cả với tôi nhưng với cách khác, sau biết bao trắc trở, khổ đau do cuộc chiến gây nên. Vì cứ dần dà chờ đợi mãi cho nên tôi viết trễ quá. Nhưng anh cũng biết cho rằng tôi đã đọc đi, đọc lại, đọc mãi bức thư của anh, lục lại xem những bức ảnh mà chúng ta đã chụp chung với nhau ở Phòng 2 Cần Thơ, trước ngôi nhà chúng ta cùng nhau làm việc. Tôi cũng còn nhiều lý do khác: vợ tôi sức khỏe xấu đi, một sự xuống sức nghiêm trọng kéo dài gần 3 năm và vừa mới bình phục (cầu mong khỏi hẳn) mới chừng bốn, năm tháng gần đây. Ngoài những công việc bận rộn khá nhiều và không công cho những hội tương tế, tôi còn phải lo công việc nội trợ (bếp núc, rửa bát, giặt quần áo... anh thử nghĩ xem) và tôi còn nuôi đứa con trai út mới cưới vợ gần 9 tháng nay. Ngoài ra, sức khỏe tôi đang xuống dần, cái đó cũng chẳng có gì là lạ và tôi cố gắng khắc phục. Cách đây 7 năm, tôi đã chịu 3 lần phẫu thuật về tim, chưa biết phải chịu đựng kéo dài đến bao lâu nữa? Cuộc sống mỏng manh. Nhưng cũng nhờ có khoa học kỳ diệu, tôi vẫn còn đau, nhưng ít hơn trước về bịnh tức lồng ngực. Hôm nay, tôi quyết định viết thư cho anh hay hơn là để tiếp tục và bổ sung tập biên khảo mà tôi đã viết hơn 6 tháng nay. Theo thư anh, anh cho biết là tôi có thể an tâm về vị trí của anh. Tôi chỉ sợ là những công việc anh đã giúp trong khuôn khổ trung đoàn 43è RIC và cái Phòng 2 Secteur Cần Thơ đã làm cho anh bị khiển trách. Tất cả sự việc đó chắc chắn nay đã trôi qua, ít nhất là về đại thể. Tôi không còn nhớ chính xác tất cả những sự việc mà anh kể cho tôi nghe trong thư, nhưng điều đó không có gì lạ, bởi vì trong đầu óc tôi nhét đầy những sự việc sau sự nghiệp dai dẳng mà hỡi ôi tôi làm quá đầy đủ. Cái chắc chắn nhất là anh đã giúp tôi biết nhiều mặt của tình huống và những nhu cầu cấp bách của nước Việt Nam và anh đã làm việc đó với sự tinh tế vô biên. Tôi rất cảm ơn anh và chỉ riêng việc đó, đất nước anh cũng phải biết ơn anh. Tôi không còn ý tưởng nào về việc làm của đại úy Lotte và cai xếp Zédenberg. Họ đã ra sao rồi?! Hẳn rằng cái "lục-giác-đài" 1 (Chỉ nước Pháp (có hình thế lục-giác trên bản đồ)) của chúng tôi cũng có tầm hạn chế, nên công việc, tìm kiếm cũng có khó khăn. Dịp may có thể đến giúp đỡ chúng tôi. Tôi sẽ rất mừng nhận được tin anh, tin tức của nước Việt Nam và sẽ góp sức làm cho 2 nước chúng ta xích lại gần nhau hơn. Đó là việc làm cần thiết và hiện nay thật cấp bách theo tôi nghĩ. Còn về cuốn "Năm con Trâu" sẽ là tập II của tập hồi ký của tôi. Tôi đã viết xong cách đây không lâu, nhưng tôi còn do dự về cách in ấn, bởi vì những nhà xuất bản lớn của Pháp rất khó tính, nỗi lo lớn nhất của họ là hiệu quả, tiền bạc. Và mặt khác, nếu tác giả tự xuất bản thì chi phí sẽ quá cao! Nhưng đó là cách mà tôi sẽ tiến hành. Một lần nữa, tôi xin anh tha lỗi cho vì sự trả lời quá chậm. Tôi thường nghĩ đến anh luôn và tôi sẽ mua chuộc lại lỗi lầm bằng cách viết thư cho anh ngắn hơn nhưng thường xuyên hơn. Trung thành, biết ơn và kỷ niệm bằng hữu đối với anh. Xin gởi đến anh Hoàng Xuân Bình lời chúc tốt lành và nhắc lại anh ấy rằng tôi sẽ rất vui mừng được gặp lại anh ấy ở Pháp. Ký tên: Fallon Tôi đã được anh Hoàng Xuân Bình cho xem tập I tác phẩm "L'Allemagne en tourisme" (Nước Đức và những nhà du lịch) kể lại câu chuyện Fallon cùng 3 anh em binh sĩ Pháp bị giam tại miền Tây nước Đức trốn trại vượt qua 600km để trở về nước Pháp. Sách dày hơn 300 trang, in đẹp, do Fallon tự in lấy. Nay Fallon định in tập II "L'Année du Buffle" (năm con trâu) để ghi lại chiến công của Fallon lúc vào 43è RIC sang Đông Dương. Tôi buộc phải viết thư kể lại việc 5 tù binh bị bắt ở 2è Bureau Secteur Cần Thơ để mong anh ta nhớ lại và cảm thông một phần sự thật. Chỉ thế thôi. Mong sao những bức thư này có tác dụng đóng góp phần kết luận cho các chương về hoạt động tình báo của tôi trên địa bàn tỉnh Cần Thơ xa xưa! Ngày 22/6/1991 Trần Hiến
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|