Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 04 Tháng Mười Một, 2026, 05:39:35 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Mùa lúa trổ đòng  (Đọc 65420 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
hoacuc
Thành viên
*
Bài viết: 1597



« Trả lời #50 vào lúc: 16 Tháng Tư, 2009, 02:54:57 pm »

Họ nín thở nhìn đàn trâu đang bị lùa vào chỗ chết. Một con, hai con, rồi cả đàn vượt qua, không hề có tiếng nổ. Ôi, thật là may. Chúng tiếp tục lùa đàn trâu chạy trên đường, chạy qua mấy chiếc xe đổ đến ba cây số mới dừng lại. Dường như đã thật sự yên tâm, chúng thổi còi inh ỏi. Từ  bến phà, một chiếc xe cần trục nặng nề chuyển bánh vế phía trận địa. Thường thở phào, à thì ra chúng muốn dùng cần cẩu để cứu mấy chiếc xe tăng kia. Xem chúng xoay sở thế nào. Chiếc xe cần trục đầy vẻ kiêu ngạo lừ lừ  tiến lên. Đến mục tiêu của nó, nó soay sở, lùi xuống, tiến lên, tìm vị trí thích hợp để vươn cánh tay dài theo chức năng của mình. Khi nó tiến về phía  chiếc xe đổ, cách chừng 30 mét  thì bất thần hai tiếng nổ long trời, dậy đất vang lên. Chiếc cần trục giật bắn mình rồi cũng từ từ nghiêng sang bên phải, gục cái cánh tay cần cẩu xuống ruộng lúa đang óng vàng. Nghe tiếng nổ bất ngờ, Bống hét lên một tiếng "ối", rồi ôm chầm lấy Thường. Tân vui quá, suýt nhảy lên reo hò, rồi anh kịp nhớ ra mình đang ẩn nấp để theo dõi địch nên  chỉ đập mạnh vào vai Thường để bày tỏ niềm vui. Bàn tay anh đập xuống rất mạnh, nhưng không trúng đôi vai lực lưỡng của Thường mà lại trúng vào đôi vai mềm mại của Bống. Anh vội vàng giật tay lại, quay sang nhìn hai người bạn. Thường ngồi ngay như trời trồng, tay buông thõng, nhưng hai mắt thì long lanh như đang nhảy múa. Niềm vui bất ngờ lúc này được nhân đôi. Thế là hai quả mìn còn lại đã định đoạt số phận cho chiếc xe cần trục. Nó được chia sẻ nỗi đắng cay cùng những chiếc tăng có gắn hai nòng pháo từng ngạo nghễ khạc lửa. Thường cũng muốn khua chân múa tay, nhưng cô Bống đang ôm chặt lấy anh, làm anh không dám động đậy. Lần này không phải anh ôm cô mà chính là cô ôm anh. Đó là niềm vui đột ngột mà bình thường có nằm mơ anh cũng không dám nghĩ tới.

Chương16


   Được phục thuốc tốt, lại được mẹ chăm sóc ân cần nên chẳng bao lâu Bẹ khoẻ lại bình thường. Cô ngắm nghía chiếc khăn bông có hình chiếc tháp cao vút, điểm suyết mấy bông hoa lạ, cô chẳng biết là hoa gì, cũng chưa trông thấy bao giờ, rồi lại nhìn những hàng chữ Pháp, nhưng cô cũng không thể đọc được, trong lòng cô cũng rất băn khoăn. Cô đoán nó là chiếc khăn đắt tiền, vì trông màu sắc nó tươi roi rói, sợi bông mịn màng, sờ nuột tay. Mùi nước hoa thơm mát từ những sợi bông ấy đã một tuần rồi mà vẫn còn phảng phất thơm như hôm đầu. Ai có thể cho cô chiếc khăn này, có phải anh chàng Thân không? Anh ta đã nhìn thấy nỗi ê chề của mình, dù anh ta có cõng mình về đây, hay có cứu sống mình như anh ta nói thì Bẹ cũng không muốn gặp lại anh ta. Thật đáng ghét. Sao anh ta lại đi lính cho giặc? Rồi Bẹ lại nhớ  cái hồi đầu kháng chiến, chính anh ta đã chạy lên đồn báo Tây để chúng về đốt làng, bắn giết bộ đội và du kích. Tên Thân này đã phản bội dân làng, phản bội Việt Minh. Dù hắn có tốt với mình thì cũng phải trừng trị hắn. Lần này nhất định mình sẽ báo cáo với xã đội trưởng việc ấy, không thể tha thứ cho cái tội phản nước, hại dân. Nghĩ vậy Bẹ càng mong đồng chí xã đội trưởng đến thăm mình. Mà lạ quá, từ hôm mình về, ngoài mấy dòng chữ với gói quà, mình chẳng nhận được tin tức gì của anh ấy. Liệu anh ấy có sao không? Mãi đến ngày thứ mười kể từ hôm Bẹ về nhà, anh Sang mới đến thăm vào một buổi tối. Cùng đi với anh còn có hai du kích lạ mặt, vai khoác súng kè kè. Gặp lại người đồng chí cấp trên trực tiếp của mình, tự nhiên nước mắt Bẹ tuôn trào. Cô vừa mừng vừa như tủi phận. Anh Sang động viên một cách ân cần:

   - Bẹ đừng xúc động quá. Cũng đừng trách bọn anh lâu không đến thăm em. Tuy không đến thăm, nhưng tình hình sức khoẻ của em bọn anh vẫn nắm chắc. Em khoẻ lại là mừng rồi. Giờ cứ yên tâm mà tĩnh dưỡng nhé. Khi nào có việc, tổ chức sẽ gặp em sau.

   Thăm hỏi một lúc nữa rồi anh Sang ra về. Bẹ cảm nhận rõ một sự lạnh lùng, một sự hờ hững của người cấp trên mà cô hằng tin cậy. Nhớ lại ba bốn tháng trước, Bẹ được tổ chức giác ngộ rồi kết nạp vào Đảng, lúc ấy cô vui khôn xiết. Dưới một mái nhà tranh ở xóm Chùa, cô đã rưng rưng cảm động và giơ cao cánh tay xin thề. Cô thề cống hiến trọn đời mình cho Đảng, cô thề với tất cả bầu nhiệt huyết nóng bỏng của mình. Trước đó Bẹ nào có biết Đảng là gì đâu. Cô là lớp người trưởng thành sau cách mạng tháng Tám. Khi giặc Pháp trở lại xâm chiếm quê hương cô mới mười bốn tuổi. Cô nghe lời mẹ khuân  đồ đạc nhà mình vứt lên đường Năm làm chướng ngại vật ngăn cản giặc. Rồi cô theo mẹ đi tản cư. Hơn một năm sau cô trở về làng với vóc dáng một thiếu  nữ. Sống dưới sự kìm kẹp của Tây, xóm làng như ngạt thở, mọi việc đều xáo trộn, muốn đi đâu phải bẩm báo. Nhiều người không dám đi chợ. Có việc từ làng này sang làng khác cũng rất ngại ngần. Bẹ mới mười lăm, mười sáu tuổi đã nghĩ ra nhiều cách để vượt qua mắt giặc một cách an toàn. Cô thường xắn quần tới gối, đeo chiếc giỏ ngang hông, cúi lom khom trên các bờ ruộng, đi từ làng này sang làng khác. Hôm là một giỏ cua mang về, hôm là một giỏ tép. Sau mỗi lần đi như thế, cô được mắt thấy tai nghe những chuyện diễn ra ở các làng bên, về kể lại vanh vách với mọi người. Thấy vậy có người ngại đi thường nhờ cô việc này, việc khác ở những làng lân cận. Cô vui vẻ nhận làm giúp và việc nào cũng suôn sẻ.
Logged

Hãy làm cho từng ngày bạn sống trở nên có ý nghĩa. Hãy nâng niu từng phút giây bạn có.
hoacuc
Thành viên
*
Bài viết: 1597



« Trả lời #51 vào lúc: 16 Tháng Tư, 2009, 02:57:39 pm »

Một hôm anh Sang nhờ cô đưa mảnh giấy cho một người ở làng Chằm, Bẹ đưa đến nơi an toàn, trót lọt. Tờ giấy viết gì, cô không biết, vì từ nhỏ đến lớn Bẹ có được học chữ bao giờ. Bẹ không đọc được càng làm cho anh Sang yên tâm hơn. Từ đó thỉnh thoảng anh lại nhờ cô chuyển thư từ. Đến khi cô trở thành người lớn thực sự, nghĩa là không thể ăn mặc như trẻ con được nữa thì cô cũng đỏm dáng như bao phụ nữ khác trong làng. Ngoài cậu Thân chú ý, cô còn cảm nhận có cả những đôi mắt khác nữa, trong đó có cả những đôi mắt của các anh đã có vợ, có con, mặc dù họ hơn cô đến mười tuổi. Mỗi lần ra khỏi nhà cô chỉ mặc chiếc áo gụ cổ tim, bên trong là chiếc yếm mỡ gà với chiếc váy sồi đen, thế mà bao nhiêu con mắt hướng vào cô. Đàn bà thì bảo: Mày xinh quá, đắt chồng đấy. Đàn ông thì bảo: con bé này lớn bao giờ mà nhanh vậy. Mới hôm nào vẫn thấy cởi trần đày nắng đi bắt cua, mà bây giờ đã như một tiểu thư rồi. Giờ mày đừng sang làng khác nhá, họ sẽ bắt mày đấy. Mấy đứa bạn cùng lứa thì bảo: mày diện thế, bôi cái gì vào môi mà đỏ như son ấy hử. Thằng Thân chẳng bảo gì, nhưng đôi mắt nó cứ như dán vào người Bẹ, nhiều lúc cô cảm thấy ngượng phải tránh đi chỗ khác. Từ khi giặc về đóng bốt ở đầu làng, bà Thu bảo con:

   - Giặc thì thời nào cũng độc ác con ạ. Con nên tránh xa những đôi mắt của bọn quan đồn. Chúng giống như diều hâu, mình giống như con gà con ấy. Diều hâu mà nhìn thấy gà con là nó sà xuống bắt ngay. Con cứ  tránh đi là hơn con ạ.

   - Nhưng con biêt tránh đi đâu. Ngày xưa bu con mình đã đi tản cư để tránh giặc, rồi vẫn phải về để cày cấy đấy thôi. Bây giờ bu bảo con tránh đi đâu?... Hay bu hỏi thăm xem anh Ninh con ở đâu để con đi tòng quân theo anh ấy!

   Bà Thu chột dạ: 

   - Con đừng nói đến anh Ninh. Làng mình là làng tề rồi, nếu ban tề và bọn giặc trên đồn biết anh con đi bộ đội Việt Minh thì chúng chẳng để mẹ con mình sống yên đâu. Bu vẫn nói với mọi người là anh con đi mộ phu vào Nam từ trước cách mạng đấy chứ. Con đừng nhắc đến chữ tòng quân nữa nhá. ý bu nói là con không nên lộ mặt ra chỗ bọn lính tráng ngoài đồn. Con ít ra đường thôi.

   Vài hôm sau Bẹ nói với mẹ:

   - Bu cho con mượn bộ váy áo cũ của bu. Con sẽ đóng làm bà già. Còn mặt thì con xát lá khoai vào cho nó thâm đen lại.
   Thế là với bộ váy đụp, áo cũ của mẹ, cô gái trẻ đã có thể yên tâm đi làm, chẳng sợ bọn lính tráng để ý. Dân làng cũng nhiều người không biết, cứ tưởng Bẹ lại ra vùng tự do như trước. Cái hôm ba anh bộ đội về làng đóng ở nhà, Bẹ cũng phải đi công việc cho anh Sang. Anh bảo cô sang mãi bên kia sông để gặp một người, mà cho đến giờ Bẹ cũng chẳng biết người đó là ai. Người ấy gửi về cho Sang một gói nhỏ, để trong một chiếc làn cói, Bẹ phải về sớm như người đi chợ huyện. Vì thế nên cô mới gặp Thân ngang đường, cũng vì thế mà cô cứu được mấy anh bộ đội. Hồi ấy Tây còn đóng bốt ở xa, mà cũng chưa càn vào làng lần nào, nên Bẹ chưa biết sợ. Gà gáy canh hai đã một mình đi từ bến sông về, đoạn đường dài đến 5 cây số toàn qua cánh đồng chẳng có làng xóm. Dần dần thấy Bẹ gan dạ lại tháo vát nên anh Sang vận động cô làm việc cho tổ chức. Anh giảng cho cô hiểu tổ chức Đảng là gì. Anh nói rất nhiều, nhưng Bẹ hiểu gọn lại, Đảng là người chỉ lối, đưa đường cho nhân dân đánh đuổi giặc Tây, giành lấy tự do độc lập. Người đứng đầu của Đảng là Cụ Hồ. Chỉ biết đến đấy thôi Bẹ đã vui lắm rồi và cô rất súc động khi được tổ chức Đảng chú ý tới. Rồi cô được anh Sang bố trí cho học chữ. Bẹ học rất nhanh, chỉ sau hai tháng cô đã đọc thông viết thạo. Hôm họp chi bộ phân công người phối hợp đánh mìn với bộ đội, Bẹ đã xung phong từ đầu vì muốn tỏ rõ mình là một đảng viên mới. Tổ chức không đắn đo nhiều mà vui lòng giao nhiệm vụ ấy cho cô. Vậy mà giờ đây cô đã hoàn thành nhiệm vụ, sao tổ chức lại có vẻ thờ ơ? Rồi lại còn có người đeo súng đi kèm anh Sang? Đó là ý gì?

Logged

Hãy làm cho từng ngày bạn sống trở nên có ý nghĩa. Hãy nâng niu từng phút giây bạn có.
hoacuc
Thành viên
*
Bài viết: 1597



« Trả lời #52 vào lúc: 16 Tháng Tư, 2009, 02:59:32 pm »

Tuy không lý giải được câu hỏi ấy, nhưng Bẹ gạt dần những băn khoăn để vui sống trở lại. Tuy vậy nhưng mỗi lần nghĩ đến nỗi nhục nhã trong đồn, cô lại uất lên,tinh thần suy sụp. Đời con gái của cô thế là bị chúng cướp mất. Rồi sau đây không biết có người đàn ông nào còn thương yêu cô, không biết rằng liệu cô còn có thể sinh con cái? Đây là nỗi đau mà người chịu đựng không thể nói ra,  muốn chôn lấp chặt trong lòng. Hai tháng trời Bẹ không ra khỏi nhà, chỉ vì muốn nỗi buồn đau của cô chìm sâu vào dĩ vãng.

   Dẫu là buồn khổ, dẫu là uất ức bao nhiêu thì con người cũng cần phải sống. Vậy mà hồi ấy Bẹ đã toan tìm đến cái chết. Đó là vào những ngày cô khoẻ trở lại, đang muốn đi làm đồng cùng bà con. Một hôm cô nhận được tin anh Sang bị giặc bắt lên đồn rồi đưa đi đâu biệt tích. Cô choáng váng như bị ai đánh mạnh vào đầu, làm cô khuỵ ngã. Anh Sang bị bắt, hoạt động du kích của làng này, của xã này sẽ ra sao? Tất nhiên tổ chức còn nhiều đồng chí khác, nhưng từ trước đến giờ Bẹ chỉ quen làm việc với anh Sang. Mà vì sao anh ấy lại bị bắt? Bẹ không sao hiểu nổi. Đang băn khoăn và suy sụp thì có người mang đến nhà đưa cho Bẹ một mảnh giấy nhỏ, trong đó viết:" Đồng chí Bẹ, tổ chức yêu cầu đồng chí trình bày rõ sự việc diễn ra với đồng chí khi ở trong đồn giặc, đặc biệt là thái độ của đồng chí với quan đồn Tây thế nào? Tại sao đồng chí lại được bọn Tây cho chiếc khăn đẹp như thế? Tổ chức yêu cầu đồng chí cần trung thực trình bày, viết rõ ra giấy và nhanh chóng nộp lại để tổ chức xem xét. Ba ngày nữa sẽ có người nhận bản khai của cô ".Ký tên: xã đội phó Trần Ve. 

Đọc xong tờ giấy này, mắt Bẹ hoa lên, sống mũi cay sè. Cô cố đọc lại lần thứ hai thì nỗi uất ức dâng nghẹn cổ. Những việc diễn ra trong đồn, chỉ nghĩ lại đã khiếp hãi rồi, đã dơ duốc quá rồi, làm sao cô dám viết ra? Lại hỏi quan hệ với đồn Tây thế nào? Sao lại có chiếc khăn đẹp? Trời ơi, sao tổ chức lại bắt cô trả lời những câu hỏi độc ác và vô lý đến thế? Người đưa tờ giấy để Bẹ đọc xong, ngẫm nghĩ kỹ nội dung rồi đòi tờ giấy lại mang về. Bẹ nằm khóc đẫy một đêm, sáng hôm sau cô tìm chiếc quạt mo và một mẩu than để làm giấy và bút. Cũng vì một lý do là lúc ấy nhà Bẹ chẳng có giấy bút gì. Tấm quạt mo rất to, nhưng cô chỉ viết có năm chữ " Đừng hỏi thế, uất lắm ". Khi tấm quạt mo chuyển đến tay Trần Ve, người xã đội phó chuẩn bị thay chân xã đội trưởng Sang, anh nhìn mấy chữ đen đen, cũng uất giận không kém. Anh nghĩ: Cô ta dám tỏ thái độ coi thường tổ chức, hay chính là cô ta coi thường anh. Quá lắm. Đã vậy phải xử lý cô ta. Cần gì phải cô ta tự nhận, từ thực tế cũng kết luận được rằng cô ta không chịu nổi đòn roi, đã khai báo với giặc, hoặc ít nhất  cũng là đầu hàng giặc, nên chúng mới tha về, lại còn cho quà nữa. Có khi cô ta còn ngầm làm việc cho chúng cũng nên. Bởi vậy nên đồng chí xã đội trưởng mới bị bắt. Nhất  định phải phải xử lý thật nghiêm. Nghĩ thế, nhưng xử lý bằng cách nào thì Trần Ve chưa biết. Việc này đúng ra không phải việc của anh, song do đồng chí Bí thư chi bộ  quá bối rối vì đồng chí xã đội trưởng bị bắt, nên giao cho anh toàn quyền giải quyết. Tuy rằng  anh Sang bị bắt mãi bên làng Minh, do bọn giặc đi lùng sục, phát hiện ra hầm bí mật. Bẹ không thể biết anh Sang trốn đi đâu và càng không sao biết căn hầm bí mật ấy. Nhưng nhân sự kiện này Trần Ve có cớ để kiểm điểm Bẹ. Anh báo cáo với chi bộ rằng cô Bẹ đã khoẻ và vì cô thuộc đội du kích làng Vân do anh phụ trách nên việc kiểm thảo cô ta cứ giao cho anh. Nhận làm việc này, Trần Ve có cơ hội thể hiện một  chút tình cảm riêng tư. Hình như anh ghen tuông. Nỗi nghi ngờ cũng xuất phát từ đấy. Tiếp súc với Bẹ đã nhiều năm, từ khi cô ta còn mặc quần ngắn cũn cỡn mò cua khắp các đồng, đến khi cô dậy thì, hai má hây hây suốt ngày đỏ mọng. Lại thêm đôi mắt đen láy nhìn vào đâu như làm mát lạnh chỗ đó. Trần Ve luôn có cảm giác khát nước khi nói chuyện với cô. Vậy mà cô không hiểu. Cô luôn thân thiết với anh Sang, mà không giành cho anh một ánh nhìn thân thiện nào. Có hôm đi họp về cùng đường, cô ta cũng cứ cùn cụt đi trước, chẳng hề trò chuyện. Con gái trong làng mười bẩy, mười tám hầu như đã có chồng, có con, hoặc đi tản cư cả. Chỉ còn vài cô tầm tuổi Bẹ chưa xây dựng gia đình. Trần Ve rất muốn kết thân với Bẹ, rồi vài năm nữa cô ta hai mươi, hai mốt anh sẽ mạnh dạn hỏi cô làm vợ hai. Nhà cô  mẹ goá, con côi, nghèo như thế, có thằng anh trai thì đi làm phu biệt tích trong Nam. Bẹ mà làm bạn với anh, nương tựa vào anh thì yên tâm mọi bề, bà mẹ chắc đồng ý ngay thôi, thời buổi loạn lạc, tìm đâu ra một người đàn ông khoẻ mạnh, chững chạc như anh. Trần Ve vẫn tự nhủ như thế và đợi thời cơ  thực hiện ý định của mình. Vậy mà cô lại rơi vào tay giặc, lại được chúng chăm sóc. Cô còn gì để phần anh đâu, ngoài một tấm thân dơ dáy? Dường như không dầy vò được tấm thân non tơ ấy nên Trần Ve quyết dày vò tâm hồn cô. Anh còn đang nghĩ cách xử lý Bẹ thế nào thì có người báo tin:

   - Anh Ve, cô Bẹ tự tử rồi

   - Sao? tự tử à? Có sao không?

   - Suýt nữa thì chết hẳn, may mà có bà mẹ đi làm về kịp. Cô ta treo cổ ở trái nhà.
Logged

Hãy làm cho từng ngày bạn sống trở nên có ý nghĩa. Hãy nâng niu từng phút giây bạn có.
hoacuc
Thành viên
*
Bài viết: 1597



« Trả lời #53 vào lúc: 16 Tháng Tư, 2009, 03:01:05 pm »

Trần Ve thở phào:

   - Cô ta to gan nhỉ. Sao lại đã chán sống rồi!

   Lời nói có vẻ lạnh lùng như vậy, nhưng trong bụng Ve cũng xót xa. Người đẹp như thế, chết đi uổng thật. Và anh cũng hiểu mình không thể xử lý cô ấy vào lúc này. Nhất là hôm qua, anh mới nhận được thư khen của huyện đội về việc du kích xã phối hợp với bộ đội đánh đổ đoàn tàu quan trọng của giặc. Bức thư ấy là phải đọc cho tất cả du kích cùng nghe, đặc biệt là cô Bẹ, người trực tiếp làm việc ấy. Nhưng anh đã dúi vào một só nào đó trong căn hầm bí mật của mình. Trần Ve cho rằng tại anh chưa báo cáo được tình hình cụ thể khi Bẹ bị bắt vào đồn giặc nên huyện đội mới viết thư khen. Bây giờ cô ta lại giở thêm trò tự tử, mình làm sao dám mạnh tay. Phải đợi một thời gian cho mọi việc lắng xuống, mới xử lý được.

   Bẹ chui đầu vào thòng lọng ở trái nhà, may, bà Thu về kịp, hô hoán ầm lên, mấy người hàng xóm đã đến tháo dây xuống, Bẹ chỉ nằm một lúc rồi tỉnh lại. Khi tỉnh lại cô khóc như mưa như gió vì mình không chết đi được. Dân làng biết tin, rủ nhau đến động viên, an ủi. Ai cũng nghĩ rằng vì Bẹ không quên được nỗi nhục trên đồn giăc nên quyên sinh. Người ta càng an ủi bao nhiêu, lòng cô càng tan nát bấy nhiêu. Bà mẹ thì mặt ủ mày chau, không dám rời con nửa bước.

   Mấy ngày sau cô bảo mẹ:

   - Bu ơi, bu đừng buồn nữa. Con không dại dột lần thứ hai đâu. Bu thương con bu nhé!

   Người mẹ đang dầu lòng, nghe con nói vậy bà dằn dỗi:

   - Sao lại nói thế. Tôi không thương chị thì tôi thương ai. Nhà có một mẹ một con mà chị đang tâm bỏ tôi mà đi trước à. Chị định để cái thân già này héo khô thành củi hay sao?...

   - Con xin nhận lỗi với bu. Lần này con xin bu giúp con một việc.

   - Giúp được con việc gì, bu có tiếc bao giờ.Con muốn làm gì?

   - Con muốn đi xa một thời gian để quên hết mọi chuyện. Bu đồng ý cho con đi nhá. ở nhà con không sống nổi bu ạ.

   - Nhưng con đi đâu?

   - Con nhớ ra anh bộ đội bị bắt cùng con hôm ấy, anh ấy nhờ con đến thăm mẹ anh ở bên Thanh Miện. Nhà anh ấy cũng chỉ có một mẹ một con thôi. Con sang đấy nếu thuận lợi thì con ở lại vài tháng rồi con lại về. Bu chịu khó ở nhà một mình đợi con.

   - Con nghĩ quẩn rồi. Nhà người ta có một mẹ, một con mà con sang đấy ở thì dân làng bên đó nghĩ thế nào?

   - Nghĩ thế nào cũng được bu ạ. Anh ấy đã bị giặc đầy đi Côn Đảo rồi. Con đã nhận lời sẽ đến thăm mẹ anh ấy khi được thả ra mà.

   Cuối cùng bà Thu đành phải để con gái ra đi. Bẹ đi vào một đêm tối trời. Dân làng không ai biết cô đi khỏi làng từ bao giờ.

Logged

Hãy làm cho từng ngày bạn sống trở nên có ý nghĩa. Hãy nâng niu từng phút giây bạn có.
hoacuc
Thành viên
*
Bài viết: 1597



« Trả lời #54 vào lúc: 16 Tháng Tư, 2009, 03:02:45 pm »

Chương 17


   Một mình đi trong đêm tối cũng là liều lĩnh, nhưng bây giờ, khi mà đã trải qua nỗi tủi nhục và từ cái chết trở về, Bẹ không còn sợ gì nữa. Cô đi theo những con đường làng, ngày càng xa đường số Năm. Bẹ biết rằng ven trục đường Năm, hệ thống đồn bốt, tháp canh của chúng dầy đặc. Còn đi qua những làng tề cũng nguy hiểm, nhưng vẫn có thể vượt qua. Hơn nữa ở các làng tề, giặc chỉ sợ du kích và bộ đội có vũ khí, còn dân thường như cô chúng chẳng thèm để ý làm gì. Bẹ cứ đi theo sự hình dung của mình, mệt lúc nào, nghỉ lúc ấy. Sáng ra, cô đi lẫn cùng những người đi chợ, lân la hỏi thăm, chiều hôm sau thì Bẹ đến được làng Rồng.

   Làng Rồng từ sau trận Trái Chanh của giặc, không phải chịu trận càn nào lớn hơn. Tuy nhiên dân làng vẫn nhao nhác như gà phải cáo. Những vết thương từ trận càn trước vẫn âm ỉ nhức buốt. Miệng các vết thương đã được băng lại, nhưng vẫn còn một vết thương đã thành cố tật, ngày đêm nhức nhối, không thể nào lành được. Đó là nỗi đau của bà Di, chẳng phải một mình bà mà là cả dòng họ của bà đang ngấm nỗi đau chung.

   Dân làng chăm sóc, rồi an ủi, bà Di khoẻ dần lại, nhưng miệng bà không lúc nào ngớt nôn oẹ. Đến ba bốn ngày bà không ăn được chút gì vào bụng. Chỉ cần đưa chiếc thìa hoặc cái bát vào đến miệng bà đã oẹ rồi. Những lúc không ăn uống, nước dãi, nước dớt trong miệng cũng cứ trào ra.  Ông thày lang cao tay nhất vùng được mời đến thăm khám, nhưng cũng chịu không biết chính xác là bệnh gì. Ông cố gắng cho bà uống hết ba thang thuốc thì bà thôi nôn oẹ, nhưng cái bệnh chảy dớt dãi thì không sao chữa được. Bà đành mang  bệnh đến già. Quanh năm nước dớt dãi trào ra ướt cằm, quanh năm bà phải buộc chiếc khăn bông ở cổ. Căn bệnh đeo bám suốt đời này đã khổ, nhưng khổ hơn nữa là mấy tháng sau bà thấy bụng mình cứ ngày một đầy lên. Đến thày lang bắt mạch,  thày cho biết rằng bà đã có thai, và cái thai rất to.   Bà rụng rời như người nhìn thấy thần chết. Sao mình lại có thai được chứ. Chả nhẽ cái sự việc hãi hùng ấy mà cũng làm có thai được sao. Lâu nay mình vẫn nghĩ mình già lắm rồi mà. Giời ơi! nỗi ô nhục tưởng sẽ bị chôn theo ngày tháng, nào ngờ nó lại gieo mầm mống trong bụng bà. Bà muốn đâm đầu xuống ao cho rảnh nợ. Nhưng nghĩ đến đứa con trai đi tòng quân, chưa một ngày được gặp lại nó, bà không thể ra đi. Bà hỏi ông thày lang liệu có cách gì bỏ được cái thai đi không? Ông thày lang trả lời:

   - Phá thai là giết người, tôi không bao giờ làm cái việc thất đức đó.

   Bà âm thầm nhờ người mua thuốc thôi thai ở khắp chợ gần, chợ xa, nhưng càng uống vào, bụng bà càng nhanh to hơn. Nghe người ta nói, uống nước rau ngót sống có thể làm ra thai, ngày nào bà cũng hì hục giã rau ngót, nhắm mắt uống hàng bát to. Nhưng uống có đến mười bát mà vẫn chẳng thấy dấu hiệu gì. Có hôm bà xếp hai thúng thóc chồng lên nhau, phải nặng đến sáu chục cân, gánh chạy vòng quanh sân đến mấy vòng, vừa chạy vừa dậm chân thật mạnh, mong cho cái đồ nghiệt chủng kia rơi ra, vậy mà nó chẳng hề gì. Uất quá, bà tự lấy tay mình phát vào bụng đến đỏ tấy. Khổ thân bà, đã yếu ớt, đã nghèo nàn, đã nhục nhã, lại thêm cái tội đẻ hoang nữa, bà còn muốn sống làm gì. Thế mà vẫn không làm sao chết được. Ngày xưa nghe các cụ nói, những người chốn chúa, lộn chồng, những người mang thai rồi vất bỏ, dẫu có chết đi cũng không thoát tội. Nhẹ thì phải ngồi bàn chông, mà nặng thì phải bỏ vào vạc dầu đun sôi. Bà hãi lắm. Thôi đành ôm cái cái bụng to kềnh cùng nỗi nhục nhã mà sống cho qua ngày để khỏi gánh tội mai sau. Dân làng nhìn cái bụng to kềnh ấy, nhiều người bàn tán. Có người ít thông cảm thì nói châm chọc:

   - Bị Tây hiếp mà cũng có chửa cơ đấy. Chắc là cũng dửng mỡ đồng tình với nó thì mới chửa được chứ.
Logged

Hãy làm cho từng ngày bạn sống trở nên có ý nghĩa. Hãy nâng niu từng phút giây bạn có.
hoacuc
Thành viên
*
Bài viết: 1597



« Trả lời #55 vào lúc: 16 Tháng Tư, 2009, 03:05:16 pm »

Người thông cảm hơn thì bảo:

    - Nhiều người bị Tây hiếp, cũng có chửa và đẻ con rồi chứ. Tính bà Di ai còn lạ. Bà ấy không có bụng dạ nào đâu.

   - Tội nghiệp bà ấy. Cầu trời cho cái bọn Tây đen ấy nó chết hết đi.

   Anh em, họ hàng nhà bà, cũng toàn người nghèo khó. Chẳng ai giúp cách gì được cho bà. Họ họp nhau lại, bàn cách xử lý thằng Tây con khi bà sinh ra. Ông chú họ bảo dứt khoát cứ bóp cổ chết ngay khi nó chào đời. Vì để nó sống thì cả họ không để đâu hết nhục. Có người bảo, đem ra đồn Tây mà giả chúng nó. Người khác bảo, nên bỏ ở một nhà thương nào đó cho nó an toàn. Riêng bà Di chỉ khóc ngấm, khóc ngầm, vừa là tủi hổ, vừa là căm giận. Sau bao nhiêu biện pháp tống khứ nó mà không được, bà nghĩ rằng giời bắt tội bà. Đành phải chịu tội, không thể dùn đẩy cho ai.

   Bà Di sinh con vào một buổi sáng đẹp trời. Bà đỡ mát tay nhất xã, phải chật vật lắm mới lôi được đứa bé ra. Nó là một thằng con giai, nặng đến 5 cân, da đen bóng như vừa tẩm mực tầu, mái tóc rậm rì, xoăn tít. Tiếng khóc của nó choang choảng như là đứa bé ba tháng. Dù ác cảm với bọn Tây đen đến mấy thì bà đỡ cũng phải thốt lên một câu:

   - Thằng bé xinh quá. Mong rằng mày đừng ác như bố mày.

   Chuyện bà Di đẻ ra một thằng Tây đen con được truyền khắp làng một cách nhanh chóng. Nhiều bà mượn cớ thăm nom để thoả chí tò mò. Ngay cả những người đàn ông không bao giờ được lui tới phòng bà đẻ cũng cứ nấp nom ngoài cửa. Những người họ hàng bàn nhau thực hiện ý đồ của họ. Bà Di chắp hai tay nhợt nhạt như tay người chết, van xin họ:

   - Xin các bác để cho cháu nó được sống với tôi. Nó có tội gì đâu. Bao nhiêu tội lỗi tôi đã gánh chịu hết rồi. Dù muốn vứt bỏ nó thì cũng phải để nó cứng cáp, biết ăn cơm ăn cháo đã chứ.

   Trước một sinh linh nhỏ, chẳng ai nỡ lòng nào. Lại thêm lời cầu xin thống thiết của mẹ nó, nên cậu bé Tây đen được ở lại làng Rồng với mẹ.

   Mấy ngày sau người ta bảo  đặt tên cho nó. Bà Di muốn đặt cho nó một cái tên thật xấu cho bõ tức. Bà nghĩ mãi. Một người bảo:

   - Việc gì phải nghĩ nữa, cứ gọi nó là thằng Đen.

   - Đen thì đen rồi, việc gì phải gọi như thế, sau này nó lớn nó buồn. Hay cứ gọi nó là Tây.

   - Tây đâu mà Tây. Gọi như thế sau này mọi người ghét nó.

   Bà Di gượng gạo nói:

   - Tôi muốn đặt tên nó là thằng Nhục. Nó là nỗi nhục của tôi.

   - Ôi dà! Nhục! gọi như thế đau lắm. Thôi bớt đi một chữ, gọi là thằng Nhụ.

   - Được đấy. Từ Nhụ chẳng gợi cái gì, chỉ mình mẹ nó biết thôi.

   Bà Di cũng đồng ý như vậy. Thế là cậu bé ấy có tên là Nhụ.
Logged

Hãy làm cho từng ngày bạn sống trở nên có ý nghĩa. Hãy nâng niu từng phút giây bạn có.
hoacuc
Thành viên
*
Bài viết: 1597



« Trả lời #56 vào lúc: 16 Tháng Tư, 2009, 03:06:52 pm »

Hôm Bẹ đến làng Rồng, cu Nhụ đã được ba tháng tuổi. Bà Di đã có thể địu nó lên vai để ra đồng. Nhà neo đơn, không thể kiêng cữ lâu hơn được.Trước khi vào nhà Bẹ đã được nghe kể hết mọi chuỵên. Hơn ai hết, Bẹ thông cảm với bà. Vào đến sân, trông thấy bà bế cậu da đen, không hiểu sao Bẹ bật khóc và buột lên tiếng gọi:

   - Bu ơi! Bu có biết con không?

   Bà Di cuống lên, không biết nói sao. Bẹ nói với bà:

   - Con là bạn của anh Dũng đây!

   Bà Di càng ngạc nhiên, bối rối. Dũng nào? Cô ta vào nhầm nhà chăng?. Bà chủng chẳng hỏi lại:

   - Cô hỏi ai đấy?

   Thấy bà Di hững hờ ngơ ngác, Bẹ càng khóc dữ:

   - Bu không nhận con ư? Con là bạn thân của anh Dũng nhà ta mà, con cùng chiến đấu với anh ấy mà.

   - Cùng chiến đấu à, nhưng cô nói anh Dũng nào thế?

   - Anh Dũng con của bu!

   - Có phải cái thằng cao cao, nước da trắng, có cái mụn ruồi dưới cằm không?

   - Đúng ạ!

   - Ối giời! Nó là thằng Phương. Thế nó làm sao. Nó chết rồi ư?

   Bẹ lắc đầu:

   - Không, anh ấy có sao đâu. Anh ấy thương nhớ bu lắm, nhưng vì nhiệm vụ, không thể về được. Anh ấy nhờ con đến thăm bu!

   - Giời ơi, sao cô khóc nhiều thế, làm tôi tưởng...

   - Con khóc vì con thương bu quá!

   - Thế nhưng?. Con ơi, bu khổ lắm, bu nhục lắm, bu cũng có thiết sống đâu! Con vào đây với bu. Chắc thằng Phương nó biết chuyện rồi hay sao mà nó bảo con đến thăm bu. Con ở đây với bu, bu sẽ kể hết với con nỗi nhục nhằn này, rồi con nói lại với thằng Phương giúp bu. Bu cũng chẳng muốn gặp nó nữa đâu. Đợi thằng da đen này biết ăn cháo, bu sẽ bế lên chùa cho các nhà sư, rồi bu về với ông bà.

   - Không, không. Anh Phương chẳng biết gì đâu. Con vừa mới nghe người ta kể ở đầu làng. Thôi thì tai hoạ xảy đến với nhà nào thì nhà ấy phải chịu. Mình có cố tình làm gì sai đâu mà phải trốn chạy hả bu!

Rồi Bẹ xoè tay đón thằng bé da đen từ tay bà Di, nựng nịu:

   - Cu cậu này trông hiền lắm. Hẳn sau này cũng tốt tính như anh Phương.

   - Con nói gì? thằng bé này giống tính thằng Phương á. Giống sao được. Mẹ không muốn như vậy. Nó là giống Tây, bì thế nào được với thằng Phương.

   - Vâng, là con nói cậu ấy cũng thương bu như anh Phương.

    Từ đó Bẹ ở lại nhà bà Di. Bà Di thấy được an ủi nhiều. Tự nhiên lại có một cô gái đến gọi mình là mẹ. Việc đồng, việc nhà cô ta làm hết, bà chẳng phải mó việc gì. Có lúc bà tưởng như ông trời đang nhận lỗi vì đã để thằng Tây hành hạ bà, nên cho một cô tiên xuống giúp việc.

   Dân làng Rồng trò chuyện với nhau:

   - Cái bà nhểu nước dãi quanh năm ấy, tự nhiên lại có con dâu đẹp như tiên sa. Thật là ông giời có mắt.

   - Thằng Tây con càng lớn càng xinh. Nghe nói không có chị dâu nó đến ở thì mẹ nó đem cho nhà chùa lâu rồi. Gia đình họ bây giờ đầm ấm lắm.
   Thôi, thế cũng mừng cho Bẹ. Cô đã tìm được một mái nhà ấm áp, có người chia sẻ nỗi buồn, dần nguôi nỗi uất ức  oan nghiệt. Mừng cho bà Di có người san sẻ gánh nặng và mừng cho cả cậu bé da đen vô tình đến ở xứ này thoát khỏi sự đố kỵ của người ruột thịt.


« Sửa lần cuối: 16 Tháng Tư, 2009, 03:08:41 pm gửi bởi hoacuc » Logged

Hãy làm cho từng ngày bạn sống trở nên có ý nghĩa. Hãy nâng niu từng phút giây bạn có.
hoacuc
Thành viên
*
Bài viết: 1597



« Trả lời #57 vào lúc: 16 Tháng Tư, 2009, 03:13:54 pm »

Chương 18

            
   Sanđa không dám rời cô bé con vừa nhặt được. Ông nhờ một tên lính nằm cạnh đi lấy giúp đồ ăn. Sau mỗi trận càn, cấp trên cho phép tăng khẩu phần ăn gấp rưỡi so với ngày thường. Sanđa cao tuổi rồi, không sao ăn hết tiêu chuẩn của mình. Ông cắt ra một lát bánh mì to cùng nửa bát súp khoai tây để phần cho cô bé. Vừa ăn ông vừa nghĩ cách sẽ giao tiếp với cô bé thế nào để bé nghe theo ông và không sợ ông như những đứa trẻ ông từng gặp. Trông vẻ mặt thơ ngây hiền dịu, không hiểu sao ông cứ tin rằng cô bé sẽ dễ dàng nghe lời ông. Khoảng 8 giờ tối thì cô bé tỉnh lại. Mở mắt ra, nhìn thấy Sanđa với bộ mặt đen nhẻm, cô bé liền  khóc thét. Sanđa xoa nhè nhẹ lên trán bé và âu yếm vuốt mấy lọn tóc ngắn ngủn của cô. Quả nhiên cô bé nín dần. Không hiểu cái giọng thỏ thẻ của bé nói gì, nhưng ông đoán là bé đói. Đưa lát bánh mì, cô bé lắc đầu, ông lại đưa bát xúp, cô cũng lắc đầu tiếp. Cuối cùng ông liều pha cho bé một cốc sữa ấm. Cô bé giằng ngay cốc và uống ừng ực một hơi. à thì ra cô bé khát. Sau khi uống hết một cốc sữa, bé thôi khóc. Cô thao láo nhìn ông một cách sợ sệt. Biết vậy, Sanđa cố tỏ ra dịu dàng, lôi rất nhiều thứ từ trong đống đồ cá nhân của mình ra tung tẩy rồi để chúng nằm ngổn ngang quanh bé. Cô bé có thể hiểu rằng cô sẽ có tất cả những thứ đó để chơi đùa, không cần phải khóc, không cần sợ hãi. Khi  bé bớt căng thẳng, đôi mắt đen không trừng trừng nhìn ông nữa, Sanđa lấy thìa xúc cho cô một ít xúp. Cô bé ăn ngon lành và bắt đầu thân thiện cùng ông. Thế là Sanđa đã dỗ dành được cô bé giống như người thân thích của cô.

   Đêm ấy Sanđa không sao chợp mắt được. Bao năm nay lần đầu tiên ông được ôm ấp, vuốt ve một bé thơ. Trong ông gợi lên
nhiều cảm giác rất lạ. Có lẽ những người cao tuổi mà không có con chắc dễ hiểu cảm giác của ông. Có cảm tưởng cơ thể nhỏ nhoi kia như là một sợi dây nối tiếp cuộc sống của mình tới mai sau. Hơn bao giờ hết, ông nhớ Mari và thương nàng vô hạn. Tâm hồn cao quí của nàng, tấm thân ngà ngọc của nàng, sao lại phải chịu bất hạnh đến vậy, đã mười bốn năm xa chồng, lại vĩnh viễn không thể có con, không có một sợi dây nối dài những mơ ước của mình. Chao ôi, ông thật là có lỗi. Ông đã làm khổ một người đàn bà ngàn lần đáng được trân trọng, đáng được  nâng niu. Sanđa chìm đắm trong thương cảm. Ông phải cho một ngón cái vào miệng cắn thật chặt để nén cơn xúc động đến phát khóc. Rồi ông đi đến quyết định phải nộp đơn xin về nước trước thời hạn, dù chỉ còn nửa năm, chẳng đáng là bao so với cái thời hạn đằng đẵng mười mấy năm trời ông đã trải qua.

   Nhận được đơn của Sanđa, ngài thiếu uý cấp trên của ông gạn hỏi nguyên do, ông thẳng thắn trả lời:

   - Tôi đã bốn mươi tám tuổi, vợ tôi cũng đã bốn lăm. Tôi có cảm giác tôi không thể sống nổi nếu không  trở về gặp nàng, vì vậy tôi tha thiết mong thượng cấp chiếu cố. Tôi sẵn sàng nộp phạt nếu cấp trên yêu cầu.

 Tên thiếu úy suy nghĩ rồi phán:

   - Nếu tôi giải quyết cho ông thì một loạt người khác họ cũng sẽ làm đơn. Vậy làm sao chúng ta có thể sớm bình định được vùng này. Tôi cũng xa vợ ba năm rồi, muốn về quá mà không thể được. Ông vui lòng ở lại đây. Nếu quá mệt mỏi rồi thì tôi bố trí cho ông công việc nhẹ hơn, khỏi phải đi càn quét.  Ông có thể trông coi một kho vũ khí được chứ!
Logged

Hãy làm cho từng ngày bạn sống trở nên có ý nghĩa. Hãy nâng niu từng phút giây bạn có.
hoacuc
Thành viên
*
Bài viết: 1597



« Trả lời #58 vào lúc: 17 Tháng Tư, 2009, 10:46:49 am »

Sanđa suy nghĩ: trông vũ khí cũng là gần kề với cái chết. Chỉ một trục trặc nhỏ đã có thể mất mạng. Bọn lính, ngay cả bọn sĩ quan ở chiến trường về chúng đều hung dữ lắm. Nếu được làm việc khác thì an toàn hơn. Nghĩ vậy, ông mạnh dạn đề nghị:

   - Có thể cho tôi về  Souseter Hải Dương được không. Tôi sẽ làm một chân quét dọn hoặc bồi bàn cho các sếp. Trước kia tôi rất thạo việc ấy.

   Tên thiếu uý đăm chiêu một lát rồi trả lời:

   - Việc ấy không nằm trong quyền hạn của tôi. Tôi chỉ có thể giúp ông đề đạt nguyện vọng ấy lên cấp trên. Thôi ông bạn đồng hương ạ, ông về đi, chuẩn bị sẵn sàng ngày mai lại ra trận tiếp đấy!

   - Ngày mai? - Sanđa hỏi một cách hoảng sợ - Ta sẽ đi càn quét vùng nào?

   - Sẽ đi về hướng nam. Cấp trên nhận định đó là vùng bọn quân chủ lực của Việt Minh đang ẩn nấp. Nhiệm vụ của chúng ta là phải tìm kiếm và tiêu diệt bằng hết bọn này. Chà chà! Trận càn hôm trước chúng ta thiệt hại nhiều quá. Những thằng hăng hái xông pha thì đều mất tích cả. Chúng lọt thỏm vào  bên trong những dãy tre xanh rồi không thấy trở ra nữa.

   Sanđa buồn rầu nói:

   - Chúng ta đã bỏ mạng ở đất này quá nhiều rồi. Tôi nghe nói đâu đã đến trên nghìn quân. Trong đó có gần một nửa là lính pháp. Có đúng thế không, thưa thiếu uý?

   - Tôi cũng không được biết rõ ràng về thương vong của chúng ta. Chỉ biết trong phạm vi tôi phụ trách thôi. Chỉ biết những thằng hăng hái nhất cứ mất tích dần. Nhưng dù sao chúng ta cũng phải bình định xong vùng này mới mong có thể rời Đông Dương. Thôi ông về đi.

   Sanđa vội trình bày:

   - Thưa ngài thiếu uý. Tôi ốm quá, ngày mai ngài cho phép tôi ở lại doanh trại được không?

   - Không được. Ông nên tự biết bổn phận của mình chứ. Nể tình đồng hương, tôi đã thoải mái với ông, nhưng không được vi phạm quân lệnh. Quân số chúng ta đang hụt dần, không ai được ốm đau trong những ngày tới. Ông nhớ nhé. Nếu ông cố tình trái lệnh thì dù ông đã có mười bốn năm sáu tháng phục vụ quân đội tôi vẫn đưa ông ra toà án binh, lúc đó hậu quả thế nào, ông biết rồi đấy. Có thể chẳng bao giờ ông còn cơ hội trở về với nàng Mari xinh đẹp của ông.

   Sanđa rời sở chỉ huy trong một tâm trạng bải hoải. Ông hiểu rõ tính nết viên trung uý đồng hương của mình. Ngày thường hắn nhũn nhặn, có thể  chuyện phiếm hàng giờ nếu hắn rỗi rãi, nhưng khi vào trận thì hắn dữ dằn như con hổ. Hắn sẽ làm đúng như những gì hắn nói, không mảy may bận tậm. Bởi vậy Sanđa không còn cách nào khác là chuẩn bị thật kỹ để ngày mai ra trận. Mọi khi việc ấy rất bình thường, bởi ông đã có thâm niên hơn mười năm ra trận, nhưng lần này còn cô bé da vàng. Dấu bé ở đâu mà ra trận? hay cứ bỏ quách cô bé lại đây, sẽ có người thu dọn ngay. Không được. Nếu gặp bọn lính thuần tính nhất thì cô bé cũng được mấy cú đá văng mạng, hoặc sẽ được một mũi lê xuyên qua bụng. Rùng rợn quá. Ông không cho phép mình đối sử với con người như vậy. Hay cứ mang cô bé ra ngoài tìm một chỗ vắng rồi bỏ lại, may ra cô bé gặp được người tốt khác sẽ cưu mang. Làm như vậy thì ông đỡ áy náy hơn. Nếu chẳng may bé không gặp được người tốt mà chết đói ở đó thì cũng do mẹ bé chứ đâu phải tại ông. Nghĩ như vậy nên tối hôm đó chờ cho bé ngủ say, Sanđa lẳng lặng bế nó ra bờ sông, nơi ấy thật vắng vẻ, chẳng có bọn lính tráng nào đi tới. Vừa đi Sanđa vừa buồn. Cô bé này thật tội nghiệp. Từ sáng đến giờ bé đã quen ông rồi. Bé không khóc thét, cũng không mếu sệch mồm đi như hôm trước. Cô bé đã bắt đầu quen với món bánh mỳ và món xúp khoái tây. Thỉnh thoảng cô bé ngơ ngác hỏi: "Mẹ, mẹ đâu?". Tuy không hiểu tiếng Việt nhưng Sanđa biết chắc đó là cô bé gọi mẹ của mình. Thật tội nghiệp. Bao giờ cô mới hiểu được rằng mẹ cô đã về với chúa. Ngày xưa mẹ của ông ra đi khi ông đã mười bốn tuổi, ông đã biết đau khổ, khóc thương mẹ rất nhiều. Còn cô bé này thì chẳng bao giờ biết được thế nào là tình mẫu tử. Không biết người mẹ ấy đã đặt tên cho cô chưa, từ hôm qua đến nay mỗi khi mang món ăn đến cô lại kêu lên: " đậu! đậu!", Sanđa cứ gọi bé là Đậu, dù ông chẳng hiểu đấy là từ gì, ý nghĩa thế nào. Buồn quá Đậu ạ. Ta không thể cứu được con khỏi vận hạn này. Con vui lòng ở lại đây, trên bờ sông hoang vắng, để ngày mai khi trời sáng, may ra con gặp lại người thân. Ta chỉ có thể làm được thế thôi, vì ngày mai ta lại phải ra trận, đối mặt với đạn bom, làm thế nào mà cho con theo cùng được.
Logged

Hãy làm cho từng ngày bạn sống trở nên có ý nghĩa. Hãy nâng niu từng phút giây bạn có.
hoacuc
Thành viên
*
Bài viết: 1597



« Trả lời #59 vào lúc: 17 Tháng Tư, 2009, 10:48:35 am »

Sanđa vừa đi vừa thầm nói với cô bé và cũng là nói với chính mình như vậy. Rồi ông nhẹ nhàng đặt bé xuống bờ cỏ. Bỗng cô bé choàng tỉnh dậy. Cô oằn người bám chặt lấy vai ông. Cố gỡ tay bé ra, bé càng bám chặt, càng chúi mặt vào ngực ông. Hơi thở của bé mới thơm tho làm sao. Bàn tay của bé mới mền mại làm sao. Bé vẫn đang ngái ngủ, chắc  cũng chẳng hiểu chuyện gì đang đến với mình, nhưng do một linh tính bản năng nào đó mà bé cứ bám chặt lấy ông, cọ cái đầu nhỏ xíu, phả hơi thở thơm mát vào ông. Sanđa chợt hiểu ra một điều, con người muốn từ bỏ một con người thật sự khó khăn. Ông cố gắng dứt bàn tay bé ra khỏi mình mà không được. Khi bé khóc ré lên thì ông hoàn toàn dẹp bỏ ý định vất bỏ em mà lại lầm lũi bế bé trở về. Rồi ngày mai ông ra trận sao đây? Thật đau đầu.

Trên đường trở về doanh trại, ông đi qua một đoạn phố vắng với những quán hàng lụp xụp, tất cả đều tắt đèn, dường như đã ngủ say. Dù mới đến đây ít ngày nhưng Sanđa cũng biết đây là một trong hai phố chính của thị xã Ninh Giang. Ban ngày các quán hàng này đều mở cửa, nhưng hàng hoá chẳng có gì nhiều, phần lớn là đồ dùng và đồ ăn dành cho cư dân nghèo. Sanđa chưa có dịp vào bất cứ một quán hàng nào ở đây, chỉ nghe được mấy thằng lính trẻ kháo nhau, ở đây cũng có quán cà phê ngon như ở Pari. Bây giờ ông chẳng có bụng dạ nào nghĩ đến cà phê, nhưng ông chợt loé lên một ý nghĩ: trong quán cà phê nhất định sẽ có người Việt biết tiếng Pháp, ông sẽ kể lại chuyện nhặt được em bé này và giao trả em  cho người Việt, hẳn em sẽ được chăm sóc ân cần. Nghĩ vậy ông cảm thấy nhẹ lòng, nhưng con phố dài hun hút này đang im lìm, quạnh vắng, chẳng khác mấy với chỗ bờ sông. Biết tìm đâu ra cái quán cà phê ấy. Khi về gần đến doanh trại rồi, Sanđa quay nhìn lại đường phố vắng lần nữa như cầu cứu, may sao phía cuối phố, gần giáp với cánh đồng, có một vệt đèn vàng le lói. Không biết có phải quán cà phê mong ước hay không, nhưng nhìn thấy ánh đèn dường như nhìn thấy tia hy vọng, Sanđa ôm em bé chạy thật nhanh đến đó. Ông phải chạy thật nhanh vì sợ rằng ánh đèn vàng vọt ấy, tia hy  vọng nhỏ nhoi ấy vụt tắt, thì ông biết làm sao với cô bé trên tay. Trong khi ông đang lo thắt lòng thì cô bé vẫn ngủ lịm và bám chặt vai ông như định mệnh. Dừng lại trước cửa quán, nén những tiếng thở dốc, Sanđa thu mình, lén nhìn vào chỗ ánh đèn. May sao trong đó chỉ có một người đàn ông gầy gò đang mải miết dọc những tàu lá chuối khô sếp vào quang thúng, dường như ông đang chuẩn bị cho phiên chợ ngày mai. Lúc này Sanđa bình tĩnh hơn vì biết rằng ánh đèn kia còn lâu mới tắt, bởi người đàn ông đang cặm cụi làm việc. Ông cần bình tĩnh nghĩ cách tiếp cận thế nào để người chủ nhà không sợ hãi. Dè dặt, Sanđa dùng mấy ngón tay gõ nhẹ vào cánh cửa liếp, dù cánh cửa đó vẫn mở. Trong nhà, người đàn ông ngừng tay, khẽ hỏi: Ai đấy?. Sanđa không hiểu tiếng hỏi ấy và cũng không nói được tiếng Việt, nên ông lặng lẽ gõ cửa mạnh hơn. Ngươì đàn ông cầm đèn bước ra, ông quá sửng sốt khi thấy một tên lính da đen đang ôm một em bé quỳ trước cửa nhà ông. Sanđa nghĩ, mình phải quỳ xuống thì người chủ nhà mới không sợ hãi và không cầm dao đánh đuổi mình. Quả đúng như vậy. Ngươì chủ nhà hoảng hốt vài giây rồi dường như cũng láng máng hiểu được điều gì, nên ông mở rộng cánh cửa liếp ra hiệu cho Sanđa vào nhà. Sanđa gật đầu lia lịa, ra điều cảm ơn, rồi dịu dàng đặt em bé vào tay chủ nhà. Người chủ nhà dường như đã hiểu hành động của Sanđa, ông xua tay, lắc đầu và ra hiệu bụng đói, không có gì ăn và đặt lại em bé vào tay Sanđa. Sanđa cũng ra hiệu lại ý nói súng bắn, đạn nổ và mình có thể chết, nên phải để em bé lại đây. Cuối cùng người chủ nhà đành miễn cưỡng ôm lấy đứa bé để Sanđa ra đi. Ông đi như chạy về nơi đóng quân, trong lòng nhẹ nhõm nhưng đầy nuối tiếc. Bàn tay nhỏ bé, những sợi tóc mềm mại và hơi thở thơm tho của cô bé đã đánh thức những cảm giác tươi non, ấm áp trong tâm hồn dường như đã già cỗi của ông. Dù vất bỏ được nỗi lo nặng trĩu, nhưng trái tim ông cứ thổn thức lạ lùng. Giá mà ông có thể mang được em bé đó về nhà... Giá mà lúc này chiến tranh bỗng dưng kết thúc thì ông lại chạy đến cổng nhà người đàn ông kia, quì xuống để xin lại cô bé, mang về Pháp. Nhưng đó chỉ là ước muốn, trước mắt ông là trận vây càn lớn vào ngày mai.

Cấp trên phổ biến cuộc hành quân lần này thật sự quan trọng. Binh đoàn cơ động do tướng Ma Nhông chỉ huy phải vượt qua sông Luộc sang Thái Bình để phối hợp vơí binh đoàn 12 của tướng Ra Đô quây càn một vùng lớn, nhằm cất vó bộ đội chủ lực của Việt Minh. Mọi người phải chuẩn bị sẵn sàng để vượt sông. Vượt sông ư? Sanđa càng thêm lo lắng. Ôi chao! thật là trời chẳng thương tình, mình già thế này liệu còn đủ sức vật lộn với dòng nước siết không?. Đứng trong hàng quân, Sanđa cứ lầm rầm cầu nguyện. Cuộc hành quân bắt đầu. 

Logged

Hãy làm cho từng ngày bạn sống trở nên có ý nghĩa. Hãy nâng niu từng phút giây bạn có.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM