Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:40:23 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Ngọn lửa chiến tranh lạnh - Tập 1  (Đọc 186789 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #20 vào lúc: 19 Tháng Năm, 2009, 09:51:11 am »

Sau khi đã trao đổi, thảo luận các ý kiến một cách đầy đủ, “ba ông trùm" đi tới một thỏa thuận như sau:

Sau khi nước Đức đầu hàng vô điều kiện, quân đội ba nước sẽ chia nhau chiếm đóng mỗi nước một khu vực của Đức. Tư lệnh tối cao ba nước sẽ hợp thành một Hội đồng quản chế trung ương, thực hiện công việc phối hợp quản lý khống chế. Sau chiến tranh, nước Đức phải giải giáp các lực lượng võ trang, giải tán Bộ tổng tham mưu Đức, huỷ bỏ các công trình quân sự và công nghiệp quân sự của nước Đức, trừng trị tội phạm chiến tranh. phải thủ tiêu hoàn toàn đảng Nadi, luật pháp của Nadi cùng hệ thống tổ chức và chế độ của nó, loại trừ mọi ảnh hưởng của Nadi và chủ nghĩa quân phiệt ra khỏi các cơ quan công cộng của dân chúng Đức, ra khỏi đời sống văn hóa và đời sống kinh tế của nước Đức.

Về vấn đề bồi thường của nước Đức, hội nghị đồng ý với đề nghị do Liên Xô đưa ra, "tổng mức bồi thường là 20 tỷ đô la Mỹ, trong đó 50% thuộc sở hữu của Liên bang các nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô-viết”. Quyết định thành lập ở Mátxcơva một Uỷ ban bồi thường để nghiên cứu thêm vấn đề này. Đại diện ba nước đồng ý để cho quân đội Pháp chiếm đóng một khu vực của nước Đức. Khu vực này nằm trong khu vực chiếm đóng của Anh và Mỹ, phạm vi của nó do Anh, Mỹ bàn bạc với chính phủ Pháp quyết định. Đồng thời, sẽ mời chính phủ Pháp tham gia vào Hội đồng quản chế Đức của các nước Đồng minh

Việc trao cho Pháp những quyền lợi đó khiến Sớcsin rất hài lòng, vì ông ta muốn có một nước Pháp hùng mạnh làm bạn Đồng minh sau chiến tranh để cân bằng thế lực với Liên Ao.

Trong hội nghị Ianta, đại diện ba nước còn tranh cãi kịch liệt về vấn đề Ba Lan. Suốt tám ngày hội nghị, hầu như không ngày nào không đề cập đến vấn đề Ba Lan, song cuối cùng vẫn không đạt được một hiệp nghị hoàn chỉnh. Một trong những tiêu điểm của cuộc tranh luận là vấn đề di chuyển đường biên giới của Ba Lan sang phía Tây. Phía Liên Xô để xuất, biên giới quốc gia của Ba Lan sau chiến tranh, phía đông về cơ bản vạch theo "đường Cớcdơn", phía tây nên lấy sông Ôđơ và sông Xênít làm ranh giới. Rudơven và Sớcsin trước sau đều không đồng ý cách hoạch định biên giới phía tây của Ba Lan như vậy. Cuối cùng đi tới thỏa thuận sau đây:

“Những người đứng đầu chính phủ ba nước cho rằng, biên giới phía đông của Ba Lan nên theo đường Cớcdơn, và tại một số khu vực nên có sự linh động từ 5 km đếnl 8 km có lợi cho phía Ba Lan. Họ thừa nhận Ba Lan phải được nhượng lại phần lãnh thổ ở phía Bắc và phía Tây. Họ thấy rằng, về phạm vi nhân nhượng những phần lãnh thổ đó nên trưng cầu ý kiến của Chính phủ lâm thời thông nhất toàn quốc của nước Ba Lan mới vào một thời cơ thích hợp; và cũng thấy rằng, định giới cuối cùng của biên giới phía tây Ba Lan nên chờ Hội nghị hoà bình giải quyết”.

Như vậy là, đường biên giới phía đông của Ba Lan về cơ bản đã hoạch định xong, còn đường biên giới phía tây và phía Bắc của Ba Lan vẫn gác lại. Về thành phần của chính phủ Ba Lan, giữa Liên Xô và Anh Mỹ vẫn có những ý kiến bất đồng.

Vấn đề những điều kiện chính trị để Liên Xô tuyên chiến với Nhật, ngay từ trung tuần tháng 12 năm 1944, Xtalin cơ bản đã nói rõ với Hariman - Đại sứ Mỹ ở Liên Xô. Trong thời gian hội nghị, ngày 8 tháng 2, Xtalin cùng Môlôtốp đến gặp Rudơven và Hariman bàn bạc trước và đã đi tới thoả thuận. Ngày 11 tháng 2, Xtalin và Rudơven mời Sớcsin cùng ký tên vào bản hiệp định. Điều kiện bí mật để Liên Xô tuyên chiến với Nhật là: giữ nguyên hiện trạng Ngoại Mông Cổ (nước Cộng hoà nhân dân Mông Cổ); khôi phục lại những quyền lợi của nước Nga trước khi bị Nhật Bản phá hoại bởi cuộc tiến công thất tín bội nghĩa năm 1904 có nghĩa là trả về cho Liên Xô miền nam Sakhalin và các đảo chung quanh; quốc tế hóa thương cảng Đại Liên, bảo đảm quyền ưu tiên của Liên Xô ở cảng này; việc Liên Xô thuê cảng Lữ Thuận làm căn cứ hải quân phải được khôi phục; đối với tuyến đường sắt đi qua Đại Liên và tuyến đường sắt Nam Mãn, sẽ thành lập một Công ty hỗn hợp Xô-Trung để cùng kinh doanh; quần đảo Thiên Đảo giao cho Liên Xô. Bản hiệp định ghi nhận, lãnh tụ ba nước đồng ý, những yêu cầu trên đây của Liên Xô phải được "thực hiện vô điều điện" sau khi Nhật Bản bị đánh bại.

Mục đích của hội nghị Ianta là xử lý phát xít Đức, đánh bại đế quốc Nhật bằng lực lượng liên hợp của các nước Đồng minh. Thế nhưng, hiệp định Ianta là một hiệp định trực tiếp can thiệp vào chủ quyền và lợi ích của Trung Quốc - một trong bốn nước Đồng minh lớn, song lại không có đại biểu Trung Quốc tham dự? Một nhà ngoại giao chuyên nghiệp Mỹ được dự hội nghị đó đã nói rất đúng trong hồi ký của mình rằng: "Điều đáng phê phán đối với Hiệp định Ianta là nó đã quay lưng lại với người bạn Đồng minh Trung Quốc của chúng ta." Đó là một biểu hiện xấu xa của thứ chính trị cường quyền nước lớn.

Trong cuộc hội ngộ ở Ianta còn có một câu chuyện ngoài lề nho nhỏ. Ấy là những phút giải lao sau khi họp hành căng thẳng, người ta thường nhìn thấy ba cô gái trẻ với những bộ váy áo khác nhau, quấn quít bên cạnh "ba ông trùm". Lúc dự tiệc hoặc đi xem phim, họ cứ như hình với bóng. Có lúc các cô cũng trò truyện với nhau, cùng nhau đi dạo.

Cô gái có cặp mắt to, đôi lông mày rậm là tiểu nữ của Xtalin, cô con gái của Sớcsin có mái tóc vàng dễ thương, còn cô gái có dáng người đài các là tiểu nữ của Rudơven. Thoạt đầu chỉ có Xtalin cho con gái đến, "hai ông trùm" kia biết tin, cũng đưa con gái đến nốt.

Thế là có người tả lại rằng: Trong phòng họp, "ba ông trùm" tranh nhau đấu khẩu, ngoài phòng họp là cuộc ngoại giao son phấn của "ba tiểu thư”.

Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #21 vào lúc: 19 Tháng Năm, 2009, 09:52:59 am »

Rudơven bác bỏ đề nghị của Kâynan

Trước hội nghị Ianta, các thế lực muốn ngăn cản ba nước chủ yếu trong liên minh chống Hitle đạt được những thỏa thuận, đã ráo riết hoạt động ở Mỹ và Anh. Việc Hồng quân Liên Xô đã giáng những đòn chí mạng vào quân đội Hítle, việc quân đội Liên Xô tiến quân thần tốc sang miền tây, việc Hồng quân giải phóng hàng loạt các nước Đông Âu, tất cả đã củng cố địa vị của Nhà nước Xô-viết. Những kẻ coi chuyện đó là một sự uy hiếp đối với đặc quyền của chúng cũng như đối với sự "kiêu hãnh" của chủ nghĩa đế quốc, đều bàng hoàng kinh sợ. Họ cho rằng, thời khắc cần phải có "lập trường cứng rắn" đối với Mátxcơva đã tới.

Bị vong lục của Gióocgiơ Kây nan - Tham tán sứ quán Mỹ ở Mátxcơva lúc bấy giờ được viết theo tinh thần đó. Ông ta nói:

“Tôi hoàn toàn nắm được các tình hình thực tếcủa cuộc chiến tranh này, và cũng hiểu rằng lực lượng của chúng ta rất yếu, nếu không có sự hợp tác của Nga, chúng ta không thể giành được thắng lợi. Tôi nhận thức được rằng, những cố gắng quân sự của nước Nga là rất xuất sắc và có hiệu quả, nó xứng đáng được khen thưởng. Ở một mức độ nào đó... Song mặc dầu có tình hình như vậy, tôi không thấy có lý do nào buộc chúng ta phải ủng hộ cương lĩnh chính trị đó, vì cương lĩnh đó đi ngược lại lợi ích chung của cả khối cộng đồng Đại Tây Dương, hơn nữa sẽ gây nguy hại cho mọi thứ mà chúng ta cần thiết để bảo vệ châu Âu.”.

Tiếp đó, Kâynan đưa ra phương án dưới đây:

1. Cần phải "bằng mọi khả năng nhanh chóng chôn vùi ngay” kế hoạch thành lập Liên Hợp Quốc, vì kết quả thực tế duy nhất của việc thành lập tổ chức quốc tế này là buộc nước Mỹ phải gánh vác những nghĩa vụ bảo vệ "phạm vi thế lực của một nước Nga bành trướng và có hại";

2. Cần phải làm cho dân chúng Mỹ hiểu rõ quan điểm sau đây là sai lầm: hình như nền an ninh của thế giới tùy thuộc vào việc chúng ta sử dụng lực lượng vũ trang của Mỹ trong những trường hợp cụ thể được văn bản luật pháp qui định. Không. Nước Mỹ phải giữ quyền quyết định sử dụng lực lượng vũ trang của mình ở bất cứ đâu và bất cứ lúc nào;

3. Nếu nước Mỹ không quyết tâm "phấn đấu đến cùng”, không dùng toàn bộ sức mạnh vật chất và sức mạnh ngoại giao của nước Mỹ để chống lại quyền chi phối của người Nga đối với Đông Âu và Đông Nam Âu, vậy thì nước Mỹ nên "sổ toẹt” các khu vực nói trên;

4. Nước Mỹ nên công nhận việc nước Đức bị chia cắt hoàn toàn là chuyện đã rồi, và bắt đầu hiệp thương với người Anh và người Pháp, để nên lập một liên minh Tây Âu bao gồm cả các khu vực miền tây nước Đức.

Phương án của Kâynan, trên thực tế là chia thế giới thành hai trận tuyến đối địch nhau. Tổng thống Rudơven và tay chân thân cận của ông ta không nghe theo đề nghị của Kâynan, tiếp tục giữ phương châm phát triển hợp tác quân sự và cùng nhau xây dựng thế giới sau chiến tranh.

Trong thời gian hội nghị Ianta họp, tình hình chiến trường diễn biến tới mức các nhà chính trị phương Tây không thể không thừa nhận: không có sự tác chiến tích cực của Liên Xô, hai nước Mỹ Anh không thể đối phó được nước Đức Hítle.

Còn một vấn đề quân sự khá quan trọng nữa luôn khuấy động bầu không khí của hội nghị Ianta, đó là các nước Đồng minh phương Tây, trước hết là Mỹ, muốn được sự bảo đảm cụ thể của Mátxcơva về việc Liên Xô tham chiến với Nhật. Mỹ khi đó coi việc đạt được hiệp nghị với Liên Xô về vấn đề này là một nhiệm vụ quan trọng nhất.

Do Tổng thống Rudơven có thái độ hợp tác, nên hội nghị lần này giống như hội nghị Têhêran, các bên tham gia khi bàn các vấn đề quan trọng đều diễn ra trong bầu không khí có chiều hướng muốn đi tới những thoả thuận nhất trí. Đây là cuộc hội ngộ lần thứ hai giữa các nguyên thủ ba nước lớn Liên Xô Mỹ, Anh - những nước đã kết thành Đồng minh chống Hitle, và hội nghị này giữ một vị trí quan trọng trong lịch sử ngoại giao thế chiến lần thứ hai. 

Sau này, trong những năm tháng chiến tranh lạnh, những người phản đối hợp tác với Liên Xô ở hai bờ Đại Tầy Dương ra sức bôi nhọ Hiệp nghị Ianta. Họ mô tả sự việc hình như các cường quốc phương Tây khi ở Crưm, đã vứt bỏ lập trường của mình, "đã làm tổn hại phương Tây", trong khi đó lại để cho phía Liên Xô vơ được về cho mình những kết quả thiết thực. Họ lại còn tung ra câu chuyện "Người bệnh Ianta", nói rằng Tổng thống Rudơven vì bệnh nặng, hoàn toàn không biết mình đã làm những gì, càng không thể nhận rõ hậu quả những nghị quyết của hội nghị!

Mặc dầu chuyện nhảm nhí đó ngay lúc bấy giờ đã bị lên án dữ dội, nhưng cho đến nay vẫn có người còn tin. Khi "ba ông trùm" họp với nhau ở Crưm tới khi Rudơven qua đời, quả thật chỉ cách nhau không đầy hai tháng. Nhưng tình hình sức khỏe của ông xấu đi nghiêm trọng chỉ trong vài tuần cuối cùng của cuộc đời. Ở hội nghị Ianta, người bác sĩ riêng của Tổng thống ở cùng với Tổng thống trong cung điện Rivakia đã xác nhận tình trạng sức khỏe của Rudơven bình thường, "phổi của ông sạch, mạch và huyết áp không có gì khác thường”. Phu nhân Tổng thống bà Êlêno Rudơven, cũng chứng thực điểm này: "Phrăngklin (Vợ Rudơven thường gọi ông như vậy) thiết tha mong muốn trong lần hội nghị này, ông có thể có được sự tiến triển thực sự trên phương diện tăng cường quan hệ cá nhân với Nguyên soái Xtalin... Ông ấy biết, trong đàm phán bao giờ chẳng có hơn có thiệt, lại thích những trò "ú tim" trong đàm phán. Tôi tin chắc, ngay cả ở hội nghị Ianta, sự cần thiết phải đấu trí với người khác vẫn kích thích ông, khiến ông phải nhạy bén và tập trung, cho dù có lúc ông thấy mệt mỏi".

Những người bênh vực cho chiến tranh lạnh còn tung ra một luận điệu nhảm nhí khác, nói rằng Liên Xô sau này tuồng như đã làm trái với thoả thuận Ianta, vì thế đã dẫn tới sự rạn nứt giữa các nước Đồng minh. Luận điệu này rõ ràng không thể đứng vững. Những thoả thuận ở Crưm nếu đã có lợi cho Liên Xô, hà tất Liên Xô phải làm trái với những hiệp nghị đó. Điều này há chẳng khiến người ta khó hiểu? Thật ra, bỏ công đi tìm cái quan hệ lô-gích ở đây quả là vô nghĩa. Không từ một thủ đoạn nào để phá hoại tín nghĩa và danh dự của các hiệp nghị đã được các nước Đồng minh nhất trí thông qua tại Crưm, đó là một yêu cầu của các nước phương Tây. Thực chất của vấn đề là ở chỗ: Oasinhtơn và Luân Đôn có một số người quyết tâm muốn nhanh chóng chuyển phương châm hợp tác với Liên Xô sang phương châm đối đầu với nó, và những hiệp nghị đó là cái gai trong mắt họ.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #22 vào lúc: 19 Tháng Năm, 2009, 09:54:10 am »

II. NHÀ TRẮNG MƯU BIẾN

Rudơven đột ngột qua đời

Sau chuyến hành trình từ Ianta về nước, Watsơn trợ lý quân sự của Tổng thống Rudơven chẳng may qua đời. Tiếp đó Hốpkin, người trợ thủ và là người bạn chiến đấu thân thiết của Tổng thống ốm nằm trên giường. Nỗi mệt nhọc trong chuyến đi và những vết thương tinh thần đã khiến sức khỏe của Rudơven ngày càng suy giảm, đầu óc cũng chậm chạp đi. Cùng khi đó, Quốc vụ khanh Coócđen Hun, người đã nhiều năm cộng sự với ông lại xin từ chức vì bệnh tật. Thế là toàn bộ gánh nặng ngoại giao đều trút cả lên ông. ông cảm thấy lực bất tòng tâm, dường như toàn bộ sức lực trong con người ông đã tiêu tan hết cả.

Trước tình hình sức khỏe của Rudơven ngày một tồi tệ, bác sĩ lo lắng, phu nhân âu sầu. Họ khuyên ông giảm bớt công việc nhưng Rudơven bỏ mặc ngoài tai.

Những người thân cận đành phải cầu đến lởi khuyên giải của các bạn hữu Rudơnven. Đại sứ Canađa Mắccácty là bạn thân của Tổng thống, trước đây ông thường đưa Rudơven đi suối nước nóng nghỉ. Ông khuyên Tổng thống: "Chịu khó đến Suối nước nóng nghỉ ngơi một tháng, sức khỏe của anh có thể hồi phục, làm việc sẽ tốt hơn, anh nên nghĩ xa một chút mới phải"

Cuối cùng, Rudơven đồng ý đi nghỉ ở Suối nước nóng, nhưng dặn trước: thời gian không được quá lâu.

Ngày 30 tháng 3 năm 1945 Rudơnven đến Suối nước nóng. Lúc này ông đã quá mệt, ngay cả những lời thăm hỏi của các bạn cũ, ông cũng không buồn trả lời. Khi hành lễ trong phục sinh, ông để rơi kính xuống đất, rồi để rơi luôn cả quyển kinh thánh. Suốt ngày hôm đó, ông không cười một lần nào cả.

Sau gần chục ngày nghỉ ngơi, lại được các nhân viên y tế tận tình chăm sóc, tinh thần của ông có vẻ khá hơn, ăn uống cũng được nhiều hơn trước một chút. Thấy sức khỏe của mình có phần chuyển biến tốt, ông lại bắt đầu làm việc - viết thư từ phê duyệt văn kiện, khởi thảo bài diễn văn mà ông dự định đọc trước dân chúng cả nước qua vô tuyến nhân ngày 13 tháng 4 là ngày kỷ niệm Jépphớcxơn (Thomas Jeffèrson (1743-1825) - Tổng thống Mỹ 1801-1809 (ND).)

Sáng sớm ngày 12 tháng 4, khi tỉnh giấc, Rudơven cảm thấy hơi đau đầu, cổ cứng ngắc, song điều bất ngờ là sắc mặt của ông vẫn rất tốt. Ông dự định sau ngày làm việc hôm nay, chiều tối đi dự bữa tiệc ngoài trời do thị trưởng Suối nước nóng Phrencô tổ chức để mời ông. Phrencô sẽ quay một con lợn sữa và một chú dê con, lại có cả rượu Uýtxki hảo hạng. Ông còn nhận lời buổi tối sẽ đi xem buổi biểu diễn thử vở hài kịch do một số bệnh nhân trẻ ở Suối nước nóng thủ vai. Mấy hôm trước, một người bạn cũ của Tổng thống là Ruxi lặn lội từ quê hương phía nam bang Carôlina đến Suối nước nóng. Bà ta đi cùng với một nhà nghệ thuật là nữ hoạ sĩ Êlidabét và có nhờ Êlidabét vẽ một bức chân dung Tổng thống bằng thuốc nước. Theo yêu cầu của bà, Rudơven choàng tấm áo khoác hải quân của ông. Ông vẫn làm việc bình thường. Trong căn phòng bài trí rất đơn sơ, ông ngồi sau chiếc bàn nhỏ dùng chơi bài, đang xử lý tập văn kiện của chính phủ do người thư ký riêng mang từ Oasinhtơn tới. Rudơven cầm bút ký vào sắc lệnh kéo dài thời hạn Công ty tín dụng hàng hóa. Người thư ký riêng đi khỏi, ông tiếp tục xem xét một số văn kiện khác, trong đó có cả bản thảo bài nói trên truyền thanh mà ông chuẩn bị sẽ đọc vào tối hôm sau nhân ngày kỷ niệm Jepphớcxơn. Bàn tay run rẩy của ông còn cố viết thêm một câu: Chúng ta hãy tiến lên với niềm tin kiên định và tích cực." Nhìn đồng hồ đã 12 giờ 45 phút, sắp đến giờ ăn cơm trưa, ông được tuyên bố. Chúng ta vẫn có thể còn làm việc được 15 phút nữa.

Nữ họa sĩ Êlidabét đang chăm chú ghi ký hoạ, Ruxi ngồi lặng lẽ bên cạnh cửa sổ, có thể hoàn toàn nhìn thấy Tổng thống, gương mặt bà rạng rỡ một nụ cười dịu dàng, cô y tá ngồi bên cạnh chăm sóc. Khi kim đồng hồ sắp chỉ 1 giờ, cô y tá phát hiện thấy đầu Tổng thống gục về phía trước, hai tay quờ quạng trên chiếc ghế mây. Cô y tá và bà Ruxi vội chạy tới, quỳ xuống sàn nhà, ngước nhìn lên mặt Rudơven hỏi:

- Tổng thống muốn hút thuốc?

Ông khẽ trả lời:

- Đầu tôi đau quá!

Hai người chạy vội ra ngoài gọi điện thoại báo bác sĩ. Nữ hoạ sĩ Êlidabét thất thanh thét lên, từ trong phòng chạy lao ra kêu cứu. Người hầu cận của Tổng thống cùng với một nhân viên phục vụ vội vã chạy tới. Họ đưa Rudơven đang bất tỉnh nhân sự trên ghế mây, đi ngang qua người phụ nữ đang ngồi câm lặng trên sàn nhà bóng lộn trong tâm trạng kinh hoàng, đưa ông vào gian phòng ngủ bên cạnh. Toàn thân Rudơven lạnh toát, mồ hôi vã ra. Khoảng 15 phút sau, bác sĩ tới chẩn đoán ngay ông bị xuất huyết não nặng và thực hiện các biện pháp cấp cứu, Rudơven vẫn hôn mê, nhưng cả căn biệt thự đều có thể nghe thấy tiếng thở gấp gáp của ông. Nhân viên công tác và bè bạn của ông túc trực trong nỗi lo âu. Mọi người đều im tiếng, lặng lẽ thầm cầu nguyện cho ông.

Buổi chiều, đúng 3 giờ 35 phút, Rudơven ngừng thở.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #23 vào lúc: 19 Tháng Năm, 2009, 09:56:13 am »

Tơruman vào Nhà Trắng

Chiều ngày 12 tháng 4 năm 1945, Phó Tổng thống Hari Tơruman đang chủ trì buổi thảo luận về một bản điều ước tại Hạ nghị viện. 5 giờ chiều họp xong, ông tới văn phòng của Chủ tịch Thượng viện để dự buổi liên hoan rượu Uytxki Buốcbông do bè bạn của ông Chủ tịch tổ chức. Rượu vừa rót ra, Nhà Trắng gọi điện thoại khẩn cấp tới. Xtêphan - bí thư phụ trách tin tức của Tổng thống - yêu cầu ông lập tức đi một mình tới ngay Nhà Trắng (Phủ Tổng thống Mỹ.)

Tơruman vội vã đi theo đường ngầm tới Nhà Quốc hội, lấy một chiếc xe con phóng đến Nhà Trắng theo đại lộ Penxinvania. Tới toà hành chính, trời đã nhá nhem tối. Ông đi thang máy lên tầng hai, xuyên qua hành lang, tới phòng làm việc của Tổng thống. Rudơven phu nhân bước tới, đặt tay lên vai ông, khẽ nói: "Hari! Tổng thống mất rồi!"

Sau một lúc bàng hoàng, Tơruman nhanh chóng tự kiềm chế được mình, hỏi Rudơven phu nhân:

- Tôi có thể giúp bà được gì?

- Chúng tôi có thể giúp gì được ông?- Bà trả lời - Vì người gặp phiền phức bây giờ là ông.

Đối với một người sắp bước lên cương vị tối cao của Nhà nước mà nói, đây quả là một ý kiến rất không bình thường, nhưng Tơruman lập tức hiểu ra rằng ông ta quả thật là "đã gặp phiền phức”. Vì Rudơven, trong quan niệm của mọi người, vẫn là "Tổng thống”, hầu như khó tin rằng có ai khác có thể trở thành Tổng thống của Hợp chủng quốc. Một quan chức làm việc ở Nhà Trắng sau này đã kể lại tình hình ngày 12 tháng 4: "Chuyện xảy ra quá đột ngột, tôi sững sở cả người, hoàn toàn quên mất ngài Tơruman. Trong tiềm thức của tôi, tôi quả thật không cắt nghĩa nổi chức vụ Tổng thống lại có thể tách rời với Rudơven. Tổng thống, Nhà Trắng, chiến tranh và sinh mệnh của chúng tôi - tất cả những cái đó đều thuộc về Rudơven". Một ký giả khi viết về Tơruman đã nói: "Có một thời gian, điệu bộ đi đứng của ông ta giống hệt như một viên chức xoàng nhất trong "hàng quân của Rudơven” đi dưới cái bóng đồ sộ của Người”.

Rất nhiều người Mỹ đã không nhớ nổi ngoài Rudơven, còn có người nào khác từng bước vào Nhà Trắng, họ luôn luôn nghĩ rằng Rudơven mãi mãi sống và làm việc ở đó. Trong cuộc tranh cử Tổng thống năm 1944, tờ "Tin hàng ngày Chicago” đã viết khi nhắc đến Rudơven: "Nếu ông (chỉ Rudơven - ND) là người đã hợp với bố tôi và ông tôi, thì cũng là người hợp với tôi. Nghe nói năm đó có câu chuyện: Có người hỏi một đảng viên Dân chủ mới được thăng chức rằng: "Có lẽ thằng cu của ông lớn lên sau này có thể sẽ làm Tổng thống!" Người kia ngượng ngùng đáp: "Có thể thế nào được? Còn Rudơven giải quyết ra sao?"

Thật khó mà tưởng tượng nổi Tơruman lại ngồi vào chỗ của Rudơven. Một số người khi nói chuyện với Tơruman thậm chí không kêu chức vụ của ông. Một ký giả Oasinhtơn nhớ lại: "Quả thật là rất khó, và cũng rất không tự nhiên khi xưng hô với người đó là "Ngài Tổng thống”, cho nên chúng tôi thường tránh từ đó, và khi nêu câu hỏi thường dùng từ "Ngài" hoặc hỏi trống không. Tối ngày 12 tháng 4, ông Bộ trưởng Nông nghiệp ghi vào nhật ký của mình:

"Tôi đã quyết định phải hết sức cẩn thận khi xưng hô với Tổng thống mới, phải kêu ông ấy là "Ngài Tổng thống”... Nhưng điều khiến tôi tự mình cũng thấy ngạc nhiên, hơn nữa có chút đáng ghét là, tôi bắt tay ông ta và nói: "Hai, bọn mình sẽ cố gắng hết sức giúp cậu”.

Các bộ trưởng phục vụ dưới thời Phrăngklin Rudơven đặc biệt cảm thấy khó chấp nhận sự thay đổi này. Người thì cảm thấy sửng sốt trước việc Tổng thống mới tuyên thệ nhậm chức một cách vội vã không cần thiết; người thì không cắt nghĩa nổi vì sao Hari Tơruman sẽ ngồi vào chiếc xe ô tô làm riêng cho Rudơven. Lôra Sten viết:

“Rudơven được hàng triệu con người coi là nhân vật không thể thiếu được để giành thắng lợi trong chiến tranh. Bây giờ ông đã ra đi, và bạn có thể nghe thấy ở đầu phố người ta đang lẩm nhẩm "Tổng thống Tơruman, Tổng thống Tơruman". Họ đang cố làm cho mình quen với cách xưng hô đó.”

Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #24 vào lúc: 19 Tháng Năm, 2009, 09:56:23 am »

Buổi sáng đầu tiến Tơruman nhậm chức, khi nhân viên sai dịch hô: "Tổng thống đã tới?", một cô thư ký lặng đi một lúc rồi ôm mặt khóc chạy vào phòng làm việc của mình. Cô vừa nức nở vừa nói: "Tôi cứ tưởng người mà ông ấy nói là Tổng thống.... Tổng thống Rudơven"

Trong lễ tang Rudơven, một số quan chức chính phủ có vai vế cũng cho rằng Tơruman là người thay thế không xứng đáng. Một nhân vật là thành viên Ban cố vấn của Tổng thống, từ năm 1932, ông ta rất thông cảm với tân Tổng thống, nhưng khi nghe Tơruman nói một cách khẳng định rằng ông ta sẽ mang hết tâm huyết ra thực hiện đường lối của Rudơven, thì ông này đã phải thốt ra lời; "Nói ra thật đáng buồn, cái giọng Misuri (Tên một bang của nước Mỹ (ND).) khô khốc vô vị ấy quả thực là một bước thụt lùi thảm hại so với tài diễn thuyết kiểu Rudơven. Người Mỹ đã quen thuộc với cái giọng trầm hùng ấm áp đó, đến nỗi tưởng nó là cái gì rất tự nhiên, đến bây giờ mới nhận ra đó là của Thượng đế ban cho, tuyệt vời đến mức họ chưa lường hết được một cách đầy đủ”.

Nhiều năm sau, nhớ lại cảnh chiếc xe tang trên đường tới làng công viên Haiđơ, Tơruman kể: "ở mỗi nơi chúng tôi dừng lại, đều có những đám người tụ tập, cứ như là ngày tận số của thế giới đã đến, và tôi cũng nghĩ như vậy ông kể tiếp - "Trên đường về, tôi nghe thấy Harôn cứ lẩm bẩm rằng sau khi Rudơven chết đi, cái nhà nước hiện nay sẽ hỏng bét, rằng cái nhà nước hiện nay cũng chẳng có lãnh đạo gì nữa. Đại loại những câu như vậy. Ông ta nói đi nói lại mãi, đúng là một người lắm điều”. Có người hỏi Tơruman: "Harôn liệu có biết ông nghe thấy không?" "Tôi nghĩ ông ta muốn để cho tôi nghe thấy".

Khi xe tang chở di thể của Rudơven về tới Oasinhtơn, xe của Tơruman xếp ở hàng thứ hai. Dòng xe từ từ diễu qua các dãy phố nhằng nhịt của Oasinhtơn trên đường tới Nhà Trắng, hàng nghìn hàng vạn dân chúng chen chúc nhau trên hè phố để nhìn không phải vào vị Tổng thống mới mà là linh cữu Rudơven. Sau này, Tơruman viết:

“Tôi không bao giờ có thể quên được ánh mắt đau thương của chừng ấy con người. Có những người không cầm nổi tiếng khóc, có những người khóc thầm lặng lẽ, có những người cố nén chặt đau thương, song tất cả mọi người đều đau đớn tưởng niệm một cách chân thành. Lúc này không thể nói ai là người ủng hộ ông và ai là người từng không ủng hộ ông. Cả khối dân chúng khổng lồ ấy đều tỏ ra đau đớn và bi thương trước sự ra đi của một nhân vật phi thường... Khi đoàn xe tang lễ diễu qua đại lộ Hiến pháp, phần lớn những người xếp hàng chen chúc trên đường phố đều nức nở khóc”.

Tại Nhà Trắng, hơn 200 con người trung thành với Rudơven tề tựu đông đủ để vĩnh biệt ông lần cuối. Hary Hốpkin mặt "trắng bệch đến phát sợ”, hình như ông ta không còn lý do gì để tiếp tục sống nữa. Khi Tổng thống Tơruman bước vào phòng, cũng chẳng ai buồn đứng dậy.

Là một người được ngồi vào ghế Tổng thống, một chức vụ được Rudơven củng cố thêm tầm quan trọng, vậy mà Tơruman thường không nhận được sự tôn trọng cần thiết tối thiểu. Sáng ngày thứ hai bước vào Nhà Trắng, Tơruman gọi điện thoại báo cho Jôn, Tổng giám đốc Công ty tài chính Phục Hưng biết Tổng thống đã bổ nhiệm một người của Xanh Lui làm Giám đốc Tín dụng liên bang.

Trong những năm Tơruman cầm quyền, ảnh hưởng của Rudơven vẫn lớn đến nỗi một trong những cố vấn trước đây của ông đã đưa ra một nhận xét nghe rất kỳ cục. Ông ta cho rằng, tuy nằm trong mồ, Rudơven vẫn đang tiếp tục làm Tổng thống của Hoa Kỳ. Tròn một năm sau ngày Rudơven qua đời, Rôxenman viết:

“Một năm sau, người ta rất dễ dàng nghĩ đến một sự thật cũng rất dễ dàng không được chú ý. Sự thật đó là, mặc dù Phrăngklin Đêlanô Rudơven tạ thế trước khi cuộc chiến đấu trong đại chiến thế giới lần thứ hai kết thúc, song dấu ấn mà ông để lại trên thế giới sau chiến tranh vẫn chưa và vĩnh viễn không bao giờ bị phai mờ. Ông không chỉ là vị Tổng thống của thời kỳ trước chiến tranh, sau này là vị Tổng thống của thời kỳ chiến tranh, và trên một ý nghĩa hết sức chân thực và thực tế, ông còn là vị Tổng thống của thời kỳ sau chiến tranh”.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #25 vào lúc: 19 Tháng Năm, 2009, 09:59:41 am »

Đại Sứ Mỹ đang đêm xin gặp Môlôtốp
.

Đã 1 giờ sáng, trong căn phòng của sứ quán Mỹ nằm trên phố Ácbát Mátxcơva vẫn đông khách khứa, và tiếng nhạc nhè nhẹ vẫn dìu dặt vọng ra bên ngoài. Đại sứ Hariman và các nhân viên công tác ở Sứ quán hôm nay tổ chức buổi liên hoan tiễn đưa một quan chức sắp được điều động về Oasinhtơn. Đột nhiên, thư ký trực ban xăm xăm bước vào, ghé vào tai đại sứ thì thào chuyện gì đó, Hariman lẳng lặng rời khỏi hội trường. Điện thoại của Nhà Trắng khiến Hariman bàng hoàng khi biết Tổng thống đã qua đời. Đại sứ cố nén nỗi đau trong lòng quay trở lại hội trường, với vẻ mặt vẫn tươi tỉnh ông tuyên bố buổi dạ hội kết thúc và mời các vị khách ra về.

Khi tất cả mọi người đã rời sứ quán, Hariman điện thoại ngay cho Uỷ viên nhân dân Ngoại giao của Kremli là Môlôtốp báo ông biết tin dữ này và yêu cầu bố trí cho gặp.

Mặc dù đêm đã khuya, Môlôtốp vẫn thân chinh đến dinh sứ quán Mỹ. Khi những bước chân nặng nề của ông vào tới phòng đón tiếp, trên chiếc bệ cao bằng đá cẩm thạch kê giữa sảnh đã đặt một tấm ảnh lớn Tổng thống Rudơven phủ lụa đen, cạnh đó dựng một quốc kỳ Mỹ đính băng tang.

Sau lễ viếng tiến hành hết sức ngắn gọn, Môlôtốp lưu lại ở Sứ quán một lúc. Giọng đầy thương cảm xen nỗi lo âu, Môlôtốp nói đến vai trò của Tổng thống Rudơven trong chiến tranh và trong qui hoạch hoà bình sau chiến tranh, bày tỏ sự kính trọng của Nguyên soái Xtalin cùng toàn thể nhân dân nước Nga đối với Tổng thống. Môlôtốp còn nhấn mạnh rằng Nguyên soái Xtalin đánh giá cao sự có mặt của Tổng thống ở Ianta.

Hariman lái câu chuyện sang vị tân Tổng thống Hari Tơruman và cam đoan với Môlôtốp rằng chính phủ mới của Mỹ sẽ tiếp tục đường lối của Tổng thống Rudơven.

Tiễn Môlôtốp về, Hariman yêu cầu muốn được hội kiến với Nguyên soái Xtalin ngay trong ngày hôm nay. Trong bức điện gửi Tổng thống mới, Hariman nói rõ ý đồ của ông ta là muốn bảo đảm với Xtalin tính liên tục trong chính sách của Mỹ, và "phía Mỹ sẽ phát triển quan hệ với Liên Xô theo tinh thần của hội nghị Crưm, và sẽ cố gắng làm tất cả cho công việc đó.

Xtalin gặp Hariman
.

Lời cam kết của Hariman rõ ràng chỉ mang tính chất ngoại giao, vì thực ra, vị Đại sứ Mỹ ở Liên Xô này làm sao mà không thừa biết rằng Tơruman là người căm ghét nhà nước Xô-viết; ông ta xuất hiện ở Nhà Trắng với tư cách ông chủ mới, chắc chắn sẽ có nhiều sự thay đổi trong chính sách của nước Mỹ, và những chính sách đó sẽ trở nên cứng rắn hơn.

Để làm rõ chính sách mới của Nhà Trắng đối với Liên Xô, và cũng để xây dựng mối liên hệ chặt chẽ hơn với Tơruman, Hariman yêu cầu ông được trở về Oasinhtơn. Chỉ vài giờ sau, Oasinhtơn gửi một bức điện trả lời khiến vị Đại sứ phải rầu rĩ: Tổng thống Tơruman và ngài Quốc vụ khanh sau khi trao đổi cho rằng, "Trước mắt, hơn lúc nào hết" cần ông có mặt ở Mátxcơva.

Chuyện về nước không thành, Hariman bèn quyết tâm được yết kiến người đứng đầu chính phủ Liên Xô, một lần nữa sẽ nêu lại vấn đề mà trong mấy ngày gần đây được mọi người quan tâm theo dõi, cố gắng hối thúc Xtalin cử Môlôtốp đi Xan Phranxixcô tham gia hội nghị Liên Hợp Quốc. Lý do mới của Đại sứ là Môlôtốp có thể tiện đường ghé qua Oasinhtơn gặp tân Tổng thống Mỹ.

Vấn đề đại biểu Liên Xô tham dự Hội nghị lần thứ nhất của Liên Hợp Quốc là chủ đề trao đổi giữa người lãnh đạo hai nước Xô-Mỹ trong thời gian gần đây. Xtalin từ chối với lý do hội nghị xô-viết tối cao Liên Xô sắp sửa họp, công việc của Môlôtốp rất bận, thêm vào đó đang phải cân nhắc đến những chức vụ khác của ông ta, nên Môlôtốp không thể đi Xan Phranxixcô vào tháng 4 năm 1945.

Về việc này, khi Rudơven còn sống cũng đã gửi công hàm cho Xtalin, nêu rõ:

“Việc ngài Môlôtốp không đến được hội nghị, e toàn thế giới sẽ cho rằng điều đó chứng tỏ phía Liên Xô thiếu sự quan tâm như các quốc gia khác trước mục đích lớn lao của hội nghị.”

Ngày 27 tháng 3, Xtalin trả lời công hàm của Tổng thống Mỹ:

“Chúng tôi đánh giá rất cao và vô cùng coi trọng Hội nghị Xan Phranxixcô với sứ mệnh đặt cơ sở cho một tổ chức quốc tế vì nền hoà bình và an ninh của nhân dân thế giới. Song, giữa ý nguyện và công việc lại không cho phép, Môlôtôp quả thật chưa thể tham gia hội nghị. Tôi và Môlôtốp đều cảm thấy rất đáng tiếc về việc này, vì Xô-viết tối cao Liên Xô căn cứ theo yêu cầu của các đại biểu Xô-viết tối cao sẽ triệu tập hội nghị vào tháng 4, mà sự có mặt của Môlôtốp là hết sức cần thiết, do vậy, Môlôtốp thậm chí chưa thể tham gia một số phiên họp đầu tiên của Hội nghị Xan Phranxixcô.

Như Ngài biết, Đại sứ A.A. Grômưcô đã hoàn thành rất có kết quả nhiệm vụ của Đại sứ trong hội nghị ở vườn cao su Đơnbatơn và chúng tôi tin chắc rằng ông cũng sẽ rất thành công trong việc lãnh đạo đoàn đại biểu Liên Xô tham dự Hội nghị Xan Phranxixcô.

Còn về nhưng sự giải thích khác nhau, đúng như ngài đã hiểu, cái đó không thể đóng vai trò quyết định trong những nghị quyết sẽ được đưa ra.”


Câu trả lời dứt khoát và rõ ràng của Xtalin vốn đã có thể kết thúc vấn đề chọn người tham dự Hội nghị Xan Phranxixcô của phía Liên Xô. Nhưng, cái chết của Rudơven, rồi Nhà Trắng thay chủ mới, khiến Hariman nghĩ rằng cần thiết phải làm cho Xtalin thay đổi ý kiến, vì theo ông ta, Môlôtốp đi Mỹ tham gia hội nghị sẽ được coi là một biểu hiện của việc hai nước lớn Xô-Mỹ quyết tâm tiếp tục duy trì chính sách hợp tác.

Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #26 vào lúc: 19 Tháng Năm, 2009, 09:59:52 am »

Trước khi gặp Xtalin, Hariman đã dự kiến và chuẩn bị trước mọi khả năng Xtalin có thể phản ứng sau khi ông đưa ra ý kiến của mình.

8 giờ tối ngày 13 tháng 4, Xtalin gặp Hariman. Phía Liên Xô còn có Môlôtốp. Theo hồi ký của Hariman sau này, cảnh tượng lúc đó hết sức cảm động: 

Xtalin lặng lẽ đón Hariman... nắm chặt tay ông đến nửa phút rồi mới mời ông ngồi.

Xtalin tỏ ra rất đau buồn, hỏi cặn kẽ Đại sứ về tình hình Rudơven khi mất.

Khi bàn đến chuyện tình hình thế giới, Xtalin nói:

- Tôi không tin rằng chính sách của nước Hoa Kỳ sẽ thay đổi dưới sự lãnh đạo của ngài Tơruman.

Hariman tỏ ý tán thành ngay:

- Điểm này, Tổng thống trước đây đã có kế hoạch rõ ràng trên nhiều lĩnh vực, chẳng hạn về chiến tranh hay về chính sách ngoại giao.

Thời kỳ còn ở Hạ viện, Tơruman là người của Rudơven, chắc ông ta sẽ thực hiện một cách trung thực những chỉ dẫn của Rudơven, và có thể cũng là kiểu người mà Ngài thích.

Tiếp đó, Hariman lái câu chuyện sang mục đích chính của ông ta trong cuộc gặp lần này. Theo Hariman, Tổng thống Tơruman tất nhiên không thể có những ý tưởng cao cả như Rudơven lúc sinh thời. Cho đến khi trở thành Phó Tổng thống, ông ta vẫn không phải một con người có tiếng tăm lừng lẫy ở nước Mỹ, cũng như ở nước ngoài, điều này không có lợi cho sự nghiệp, mà phần lớn sẽ dẫn đến một thời kỳ bất ổn định không chỉ trong vấn đề chiến tranh, mà cả những vấn đề ngoại giao và nội chính. Ví dụ như Hội nghị Xan Phranxixcô, rất có thể sẽ nảy sinh không ít khó khăn.

Hariman vẫn tiếp tục nói - Dân chúng Mỹ hiểu rằng: Tổng thống Rudơven và Nguyên soái Xtalin có mối quan hệ cá nhân thân thiết, điều này có ảnh hưởng rất lớn đối với quan hệ Xô-Mỹ.

Xtalin cắt ngang lời Hariman. Ông nói, Tổng thống Rudơven tuy đã vĩnh biệt cõi đời, song sự nghiệp của ông sẽ còn mãi cùng năm tháng và tuyên bố.

- Chúng tôi sẽ đem hết sức mình và nhiệt tình hăng hái ủng hộ Tổng thống Tơruman.

Xtalin nhờ Đại sứ chuyển lời cam kết đó tới Tổng thống mới của nước Mỹ.

Hariman hứa sẽ làm ngay và nói thêm rằng, ông tin tưởng biện pháp hữu hiệu nhất để dư luận xã hội Mỹ và toàn thế giới tin chắc chính phủ Liên Xô muốn tiếp tục hợp tác với Mỹ và các nước trong Liên Hợp Quốc, vẫn là việc ngài Môlôtốp đi Mỹ vào lúc này. Hariman đề nghị, Môlôtốp có thể ghé qua Oasinhtơn để hội kiến với Tổng thống mới, sau đó đi Xan Phranxixcô,

Sau khi trao đổi chớp nhoáng với Môlôtốp về hội nghị Xan Phranxixcô và ngày triệu tập hội nghị Xô-viết tối cao Liên Xô, Xtalin hỏi Hariman:

- Liệu đó có phải là ý kiến cá nhân Đại sứ?

Hariman công nhận, nhưng nói thêm rằng, ông ta cũng đã biểu đạt quan điểm của Tổng thống và Quốc vụ khanh:

- Tôi tin chắc, hai người chắc sẽ tán thành ý kiến tôi vừa nói.

Xtalin hứa:

- Chuyến đi Mỹ của Môlôtốp tuy lúc này có thể còn nhiều trục trặc, nhưng hy vọng sẽ thu xếp được.

Cùng ngày, người đứng đầu chính phủ Liên Xô gửi Tổng thống Tơruman một bức điện chia buồn:

“Tôi xin thay mặt chính phủ Liên Xô và cá nhân tôi bày tỏ lời chia buồn sâu sắc tới Chính phủ Hợp chủng Quốc Hoa Kỳ.

Chính phủ Liên Xô bày tỏ sự thông cảm chân thành trước tổn thất to lớn của nhân dân Mỹ, và tin tưởng chắc chắn rằng, chính sách hợp tác giữa các nước lớn gánh vác trọng trách chính trong cuộc chiến tranh chống kẻ thù chung từ này về sau cũng sẽ được tăng cường.”


Để biểu thị sự tôn kính của nhân dân Liên Xô đối với nhà hoạt động chính trị Mỹ lỗi lạc, chính phủ Liên Xô quyết định đặt tên một con đường ở Ianta là Đại lộ Phrăngklin Rudơven.

Tin Rudơven qua đời truyền khắp thế giới. Nhân dân các nước chống phát xít đều làm lễ truy điệu ông. Sớcsin và các nhà lãnh đạo các nước liên tiếp gửi điện chia buồn, ca ngợi những cống hiến xuất sắc trong cuộc chiến tranh chống phát xít của nhà chính trị vĩ đại này.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #27 vào lúc: 19 Tháng Năm, 2009, 10:00:56 am »

Làn sóng chống Liên Xô ở Oasinhtơn
.

Muốn thông qua việc tiếp xúc cá nhân với tân Tổng thống Mỹ để trực tiếp trao đổi ý kiến với Nhà Trắng về triển vọng quan hệ Xô-Mỹ, cuối cùng Xtalin đã có một động tác đầy thiện ý với chính phủ mới của Tơruman: đồng ý cử Uỷ viên nhân dân Ngoại giao Môlôtốp đi Mỹ.
Trong tình hình lúc đó, chuyển sang thăm Mỹ của một nhà chính trị cấp cao Liên Xô như Môlôtốp, đương nhiên có mục đích rất rõ ràng. Thông qua cuộc hội đàm ở cấp cao, chắc chắn sẽ có các buổi trao đổi bổ ích về những vấn đề cụ thể, chẳng hạn như giai đoạn cuối cùng của cuộc chiến tranh chống nước Đức phát xít, việc Liên Xô tham gia chiến tranh Viễn Đông, việc sắp xếp sau chiến tranh v.v... Đồng thời còn có thể trao đổi ý kiến về vấn đề nước Ba Lan mới, đặc biệt là vấn đề tổ chức chính phủ có người Ba Lan ở Luân Đôn tham gia.

Tổng thống Rudơven, trong mấy tuần cuối cùng khi còn sống, luôn luôn nêu vấn đề Ba Lan trong các thư trao đổi với Mátxcơva.

Ngày 1 tháng 4 năm 1945, trong bức thư gửi người đứng đầu Chính phủ Liên Xô, Rudơven tỏ ý không hài lòng về hoạt động của Uỷ ban gồm Uỷ viên nhân dân Ngoại giao Liên Xô và Đại sứ Mỹ, Anh ở Liên Xô, được thành lập theo hiệp định của Hội nghị Ianta, vẫn dẫm chân tại chỗ trong vấn đề tổ chức chính phủ Ba Lan. Đồng thời, Tổng thống ủng hộ yêu cầu của đại sứ Mỹ và Anh về việc "thành lập một chính phủ mới trong thực tế”, mặc dầu ở Ianta đã thống nhất ý kiến coi chính phủ Lâm thời hiện diện ở Vácsava là cơ sở cải tổ chính phủ. Rudơven còn ủng hộ đề nghị của các thành viên phương Tây trong Uỷ ban, theo đó mỗi thành viên trong Uỷ ban có thể mời bất cứ ai, dù là người Ba Lan ở trong nước hay người Ba Lan ở Luân Đôn, tới tham gia hội nghị. Theo ông, những người được mời này có thể kiến nghị Uỷ ban nghiên cứu những người sẽ đưa vào chính phủ mới của Ba Lan.

Tổng thống Rudơven sau khi đã trình bày những yêu cầu đó cho rằng có thể đưa ra một lời tuyên bố mạnh mẽ. Ông nói: "Hy vọng tôi có thể làm Ngài hiểu rằng, việc giải quyết công bằng hợp lý và nhanh chóng vấn đề Ba Lan quan trọng biết chừng nào đối với sự phát triển có kết quả kế hoạch hợp tác quốc tế của chúng ta. Nếu vấn đề này không được giải quyết, thì tất cả những khó khăn và nguy hiểm của sự đoàn kết giữa các nước Đồng minh mà chúng ta rất quan tâm khi thỏa thuận với nhau ở Crưm, sẽ lại xuất hiện trước mắt chúng ta dưới những hình thức gay gắt hơn."

Ngày 7 tháng 4; Xtalin trả lời thư của Rudơven.

Ông đồng ý với ý kiến cho rằng vấn đề Ba Lan đang bế tắc. Theo Xtalin, nguyên nhân là do Đại sứ hai nước Mỹ-Anh ở Mátxcơva đã đi chệch quỹ đạo phương châm của hội nghị Crưm, và trong việc làm đã thêm vào một số yếu tố mới mà hội nghị Crưm chưa qui định. Xtalin giải thích: "Trong hội nghị Crưm, ba chúng ta đều coi Chính phủ lâm thời Ba Lan là chính phủ hiện đang thực thi quyền lực và chờ cải tổ, nó phải trở thành nòng cốt của Chính phủ thống nhất dân tộc mới. Nhưng các vị Đại sứ của Mỹ và Anh ở Mátxcơva lại đi chệch phương châm đó, coi như không có sự tồn tại của Chính phủ lâm thời Ba Lan, không đếm xỉa gì đến nó, nhiều nhất thì cũng chỉ đánh một "dấu bằng” giữa chính phủ Ba Lan với một vài nhân vật đến từ Ba Lan và từ Luân Đôn. Đồng thời, họ cho rằng việc cải tổ Chính phủ lâm thời Ba Lan đồng nghĩa với việc thủ tiêu chính phủ này và thành lập một chính phủ mới hoàn toàn... Hiển nhiên, lập trường đó của Đại sứ Anh và Mỹ không thể không dẫn tới sự phẫn nộ của Chính phủ lâm thời Ba Lan. Về phía Liên Xô, Liên Xô đương nhiên không thể tán thành lập trường đó, vì lập trường đó có nghĩa là trực tiếp phá hoại quyết định của Hội nghị Crưm".

Tiếp đó, Xtalin đã phân tích cụ thể những yêu cầu của Đại sứ Mỹ và Anh, và chỉ rõ chính lập trường của họ đang cản trở việc giải quyết vấn đề Ba Lan. Phía Liên Xô đưa ra những bước đi thực tế. Trước hết, phải xác đỉnh việc cải tổ chính phủ lâm thời Ba Lan, không có nghĩa là thủ tiêu nó, mà tiến hành cải tổ bằng cách mở rộng nó và chính phủ lâm thời Ba Lan phải là nòng cốt của Chính phủ thống nhất dân tộc Ba Lan tương lai; đề nghị khôi phục lại quyết nghị trước đây của Hội nghị Crưm, chỉ mời trong giới hạn 8 nhà hoạt động Ba Lan đến Mátxcơva, trong đó 5 người từ Ba Lan, 3 người từ Luân Đôn. Ngoài ra, những người đó phải là những người công nhận quyết định của Hội nghị Crưm về Ba Lan dốc lòng vào việc kiến tạo quan hệ hữu nghị Ba Lan - Liên Xô. Xtalin còn đề nghị biện pháp cải tổ Chính phủ lâm thời Ba Lan: Trong số những nhà hoạt động Ba Lan chưa tham gia Chính phủ lâm thời, chọn một số người giữ các chức Bộ trưởng mới thay thế cho một số Bộ trưởng đương nhiệm của Chính phủ lâm thời. Cuối thư, Xtalin viết: "Theo tôi nghĩ, chỉ cần cân nhắc những ý kiến nêu trên, một quyết định thống nhất về vấn đề Ba Lan sẽ có thể được thỏa thuận trong thời gian rất ngắn”.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #28 vào lúc: 19 Tháng Năm, 2009, 10:01:41 am »

Ngày 18 tháng 4 năm 1945, cũng là ngày thứ sáu sau cái chết của Rudơven, một bức thư của Sớcsin và Tơruman đã đưa ra câu trả lời cho phía Liên Xô về những đề nghị đó. Cả hai người khăng khăng giữ những điều kiện mà Liên Xô và Chính phủ lâm thời Ba Lan không thể chấp nhận được. Những điều kiện đó là một bước thụt lùi rõ rệt so với phương châm đã được nhất trí thỏa thuận ở Italia. Và hơn nữa, vì chính quyền Oasinhtơn dưới quyền điều hành của Tơruman nên lập trường phủ định đó tỏ ra cứng rắn hơn.

Ngày đầu tiên nhậm chức Tổng thống, tức là ngày 14 tháng 4, Tơruman đã gửi ngay cho Sớcsin một bức điện nêu rõ, theo ông ta, vấn đề Ba Lan là một vấn đề "cấp bách và nguy hiểm" và sẵn sàng "tiến hành cuộc đối đầu mới với Xtalin". Đủ thấy, ngay từ ngày đầu tiên ngồi vào ghế Tổng thống, Tơruman đã quyết định "không hoà thuận" với Liên xô trong đó sốt dẻo là vấn đề Ba Lan.

Trong cuộc hội kiến với Xtalin ngày 18 tháng 4, Hariman đã nhận được chỉ thị nói rõ Oasinhtơn cho rằng vấn đề Ba Lan có ý nghĩa quan trọng nhất. Ngay lúc đó, Xtalin đã chỉ trích người Mỹ thường xuyên giúp đỡ các tổ chức bí mật của bọn phản động Ba Lan, thông đồng với nhau chống lại Hồng quân. Chẳng là khi đó đã xảy ra một sự kiện tác động xấu đến quan hệ Mỹ-Xô: Một chiếc máy bay của Mỹ sau khi ném bom xuống nước Đức, đã hạ cánh xuống sân bay gần Pôntava của Liên Xô, các nhân viên của tổ lái chiếc máy bay này định cho một thanh niên Ba Lan đóng giả lính Mỹ lén ra đi. Âm mưu này kịp thời bị ngăn chặn. Tất nhiên, phía Liên Xô đã có phản ứng quyết liệt về chuyện này: cấm tất cả các máy bay Mỹ còn ở Pôntava không rời khỏi lãnh thổ Liên Xô. Đại sứ quán Mỹ ở Liên Xô cũng nhận được thông báo về lệnh trên.

Hariman nhân cơ hội này nêu rõ: Ba Lan đã trở thành vấn đề của chính, phủ bóng đen lên quan hệ Xô-Mỹ. Ông ta nói:

- Tổng thống Rudơven có ý định thử giải quyết vấn đề này, trước lúc lâm chung vẫn còn bận tâm nghiên cứu. Còn Tơruman hiện nay quyết tâm đạt được sự thỏa thuận. Giá như Môlôtốp được trao quyền trong thời gian ở Mỹ có thể hiệp thương với các Ngoại trưởng Anh- Mỹ về vấn đề Ba Lan, cố gắng đi tới một hiệp định nào đó, thế thì tốt quá.

Xtalin trả lời:

- Môlôtốp sẽ nhận được những chỉ thị cần thiết.

Sau cuộc hội kiến, Hariman nhanh chóng thu xếp công việc rồi vội vã rời Mátxcơva. Ông ta rất muốn gặp tân Thông thống trước khi Uỷ viên nhân dân Ngoại giao Liên Xô đến Oasinhtơn. Ngày 17 tháng 4, Hariman lên máy bay. Sau 48 giờ bay trên bầu trời các nước Ban Căng, Italia, Đại Tây Dương... Ông đã về tới Oasinhtơn. Đây là một chuyến bay nhanh chiếm kỷ lục thời bấy giờ!. Môlôtốp chọn tuyến hành trình dài hơn, ông đi xuyên Xiên và Alatxca, sẽ đến Oasinhtơn muộn hơn nhiều so với Hariman. Hariman lợi dụng thời gian này làm các công việc chuẩn bị cho cuộc gặp gỡ giữa Tơruman với Uỷ ban nhân dân Ngoại giao Liên Xô Môlôtốp.

Ngày 20 tháng 4, Hariman lần đầu tiên gặp Tổng thống mới. Là người đại diện cho những quyền lợi của tư bản tài chính công nghiệp khổng lồ của nước Mỹ, Hariman ra sức thuyết phục Tơruman cần thực hiện phương châm "cứng rắn" với Liên Xô.

Vị Đại sứ này cũng thừa nhận: Liên Xô chưa hề phá hoại những hiệp đính đã có; đối với Mỹ-Anh, Liên Xô thực hiện chính sách hợp tác. Nhưng Liên Xô tỏ ra quan tâm theo dõi về chế độ chính trị của các nước ở khu vực Đông Âu, đặc biệt là với các nước trực tiếp giáp giới Liên Xô. Điều này đã dẫn tới sự phản đối của tập đoàn tư bản phương Tây. Theo họ, đây là một sự đe doạ đối với địa vị chính trị xã hội của họ. Hariman khi báo cáo tình hình với Tổng thống mới đã tập trung vào điểm này. Ông ta đưa ra quan điểm: Nhân lúc "Người Nga đang rất cần Mỹ viện trợ để phục hưng lại sau chiến tranh", chắc chắn họ không muốn gây chuyện với Mỹ, do đó Oasinhtơn có thể giữ lập trường "cứng rắn” trong những vấn đề chính yếu, mà không sợ sẽ dẫn đến những căng thẳng nghiêm trọng.

Tơruman hết sức tán đồng. Ông ta nói với giọng dương dương tự đắc: "Tôi không sợ người Nga. Tôi dự định sẽ có thái độ kiên quyết và công bằng đối với họ. Dù thế nào thì người Nga cũng cần chúng ta hơn là chúng ta cần họ".

Trong câu chuyện, Hariman còn nêu, mặc dầu tình hình rất phức tạp, song việc "giữ quan hệ công việc với người Nga" là hoàn toàn có thể, "đôi bên trong quá trình thảo luận, mặc cả, đều nên có sự nhân nhượng lẫn nhau”. Tơruman cũng cho rằng, hy vọng Liên Xô một trăm phần trăm đồng ý với những đề nghị của người Mỹ là chuyện không tưởng, nhưng đồng ý 85% là có khả năng. Vị tân Tổng thống của Hoa Kỳ còn ngầm tỏ ý ông ta chuẩn bị buộc Mátxcơva phải có những nhượng bộ quan trọng.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #29 vào lúc: 19 Tháng Năm, 2009, 10:02:53 am »

Thái độ cứng rắn của Tơruman khiến Hariman "tự thấy kính nể” ông ta. Tiếp đó, hai người thảo luận về vấn đề Ba Lan. Sau khi nêu lại những yêu cầu của các nước lớn phương Tây, Hariman nói như để cảnh cáo, việc tăng cường gây sức ép đối với Mátxcơva có thể dẫn tới những phiền phức, Liên Xô có thể không đồng ý tham gia tổ chức quốc tế mới. Hariman hỏi:

- Nếu người Nga rút khỏi Liên Hợp Quốc, Tổng thống cũng vẫn xúc tiến kế hoạch Liên Hợp Quốc chứ ?

Tơruman biết rõ dụng ý trong câu hỏi của Đại sứ, bèn uyển chuyển trả lời:

- Thực ra, không có người Nga tham gia thì cũng đừng nói tới chuyện "Tổ chức thế giới” nữa!

Trong cuốn "Sóng gió ngoại giao", ông V.M.Brêgiơcốp - nguyên Tham tán Bộ Ngoại giao Liên Xô - viết:

“Nước Mỹ khi đó có người cho rằng, tổ chức quốc tế tương lai "không có người Nga tham gia" (thực tế là đối chọi với người Nga) vẫn có thể hoạt động như thường. Tất nhiên, trong tổ chức đó nước Mỹ càng có thể xưng hùng xưng bá. Nếu như vậy, có thể gọi tổ chức đó là "Tổ chúc quốc tế” chứ không phải là "Tổ chức thế giới".

Ở Oasinhtơn, Hariman còn đi gặp những người lãnh đạo Quốc hội. Ông ta tỏ ý với họ rằng, đã đến lúc rồi, không cần thiết phải "rụt đầu rụt cổ” trong việc kết bạn với Liên Xô nữa. Cần phải chứng tỏ rằng người Mỹ "kiên quyết giữ lập trường của mình”. Khi có người hỏi Hariman về lập trường của người Anh, ông ta trả lời, người Anh "trong bụng muốn kiên quyết hơn, nhưng họ không thể làm một mình", nước Mỹ nên ủng hộ họ.

Trò giật dây của Hariman rõ ràng như tưới dầu vào ngọn lửa chống Liên Xô vốn từ lâu đã âm ỉ. Cho nên, trước khi Uỷ viên nhân dân Ngoại giao Liên Xô Môlôtốp đến thủ đô nước Mỹ, ở Oasinhtơn đã sặc mùi thuốc súng.

Tơruman chơi bài ngửa với Môlôtốp

Ngày 22 tháng 4, Môlôtốp có cuộc gặp đầu tiên với Tơruman. Cuộc gặp lần này hoàn toàn mang tính chất nghi thức, Tơruman bày tỏ sự khâm phục đối với nhân dân Liên Xô và cam đoan rằng ông sẵn sàng làm theo các hiệp định đã ký giữa Mỹ và Liên Xô, để hai nước tiếp tục tiến lên theo con đường Tổng thống Rudơven đã chọn. Ngoài ra, vị tân Tổng thống còn nói một cách vắn tắt mấy vấn đề về xây dựng một tổ chức an ninh thế giới mới và sơ bộ trao đổi ý kiến với Môlôtốp về tình hình Ba Lan.

Hôm sau, ngày 23 tháng 4, Tơruman sẽ có cuộc hội đàm lần thứ hai với Môlôtốp. Tổng thống Mỹ hạ quyết tâm sẽ gạt Liên Xô sang một bên trong tổ chức quốc tế mới. Thậm chí ông cho rằng, không có Liên Xô, ông ta sẽ trở thành ông chủ có quyền lực vô hạn trong Liên Hợp Quốc, càng dễ dàng lợi dụng Liên Hợp Quốc để chống Liên Xô. Để sắp xếp bài bản cho cuộc hội đàm khi gặp Môlôtốp, Tơruman triệu tập một cuộc họp cố vấn tại Nhà Trắng. Những người được mời dự họp gồm một số nhà lãnh đạo chính phủ Mỹ: Quốc vụ khanh, Bộ trưởng Lục quân, Bộ trưởng Hải quân, tướng Mácsan, Hariman và tướng Đin - trưởng đoàn đại biểu quân sự của Mỹ ở Liên Xô.
Quốc vụ khanh lên tiếng trước. Ông ta nói: Liên Xô định buộc Mỹ và Anh công nhận Chính phủ lâm thời Ba Lan, vấn đề Ba Lan "đã hoàn toàn bế tắc".

Tơruman- giọng cứng cỏi tiếp lời: "Hiện nay sự việc đã rất rõ ràng. Những hiệp định giữa chúng ta với Liên Xô, cho đến nay, chỉ là một thứ "đường một chiều”, hiện tượng này không thể tiếp tục kéo dài được nữa". Ông tỏ ý, "Nếu một phương diện nào đấy của Hiệp định Ianta không được tuân thủ” thì theo ông, "toàn bộ hiệp định Ianta sẽ không được tuân thủ”. Về cuộc hội đàm với Môlôtốp sắp diễn ra buổi tối, ông nói sẽ "chơi bài ngửa" với người Nga, hôm nay không chơi thì còn chờ đến bao giờ? ông sẵn sàng bất chấp tất cả để xúc tiến kế hoạch về "Tổ chức quốc tế” mới, "nếu người Nga không muốn tham gia, cứ để họ xéo đi".

Sau khi trình bày xong phương án đã dự định, Tơruman trưng cầu ý kiến mọi người.

Bộ trưởng Lục quân phát biểu trước. Ông này chủ trương phải có thái độ thận trọng. Theo ông, trên một số vấn đề quân sự quan trọng, Nga không những luôn giữ lời hứa mà thường làm nhiều hơn cả lời hứa. Ông nói: "Ở những khu vực mà người Nga cho rằng có quan hệ sống còn đối với an ninh của họ, họ quan niệm về độc lập và dân chủ tất nhiên khác với chúng ta. Nhưng nếu nước Mỹ trước hết không thấy rõ Nga đã nghiêm túc như thế nào trong việc giải quyết vấn đề Ba Lan thì rất có thể nước Mỹ sẽ lao vào một trận cuồng phong hết sức nguy hiểm". Ông cũng rất không tán thành thái độ "thẳng thắn đến mức thô bạo" mà Tơruman nói là sẽ dùng tới trong cuộc hội đàm với Môlôtốp. Ông sợ rằng, "Những câu nói gay gắt của Tổng thống về những vấn đề rất hệ trọng” có thể khiến quan hệ Mỹ-Xô càng trở nên phức tạp, nghiêm trọng. Ông lưu ý Tổng thống một điều: Liên Xô có thể chi viện cho Oasinhtơn ở Viễn Đông.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM