Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 04:18:54 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Ngọn lửa chiến tranh lạnh - Tập 1  (Đọc 186721 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #160 vào lúc: 03 Tháng Sáu, 2009, 01:20:15 pm »

Đại biểu phía Mỹ là tướng Líp khi công kích kiến nghị của Trung-Triều là "chưa chuẩn bị xong thuyền đã muốn qua sông”, thì đại biểu Lý Tương Triều lập tức đập lại: "Chúng tôi đã chuẩn bị thuyền xong xuôi rồi, chỉ có các ông không muốn qua sông mà thôi”.

Nhìn bề ngoài, điều mà hai bên tranh luận chỉ là vấn đề trình tự trước sau, thực ra ở đây có sự khác nhau về bản chất. Nếu theo đề nghị của phía Triều-Trung, xác định trước những nguyên tắc trao trả tù binh, thì cuộc thảo luận về vấn đề tù binh sẽ đơn giản, rõ ràng. Nhưng nếu theo đề nghị của phía Mỹ, trao đổi tài liệu trước, thì không biết kẻ địch xảo trá còn giở trò gì mới, còn kéo dài cuộc đàm phán đến khi nào. Cuộc họp găng nhau suốt một tuần, không tiến triển được bước nào. Để không cho địch vin vào cớ đó, buộc chúng phải đi bước tiếp theo, trong buổi họp sáng ngày 18 tháng 12, phía Triều-Trung đột ngột tuyên bố. Buổi chiều hai bên trao đổi toàn bộ tài liệu về tù binh. Điều này hoàn toàn bất ngờ đối với phía Mỹ. Nghe xong Líp ngớ ra một lúc lâu. Có lẽ ông ta cho rằng phía Triều- Trung sẽ còn tiếp tục giằng co với họ về vấn đề này. Sự nhượng bộ của phía Triều-Trung một lần nữa tỏ rõ thiện ý đàm phán của họ.

Chiều hôm đó, đối phương đưa ra một danh sách 132.474 tù binh, trong đó có 111.754 chiến sĩ Quân đội nhân dân Triều Tiên, 20.720 chiến sĩ Quân Chí nguyện nhân dân Trung Quốc. Qua đối chiếu, bản danh sách tù binh này thiếu mất 1.456 người so với tổng số tù binh mà đối phương nói; lại nữa, theo bản danh sách tù binh mà đối phương giao phía Triều-Trung qua Uỷ ban Chữ thập đỏ quốc tế còn 44.205 người nữa chưa đưa vào bản danh sách tù binh này. Khi đại diện phía Triều-Trung chất vấn "Những người này đi đâu? Tại sao không đưa vào danh sách” thì đại diện Mỹ ấp úng, tỏ ra rất lúng túng.

Ngược lại với đống tài liệu như mớ giấy lộn của phía Mỹ giao cho phía Triều-Trung, bản danh sách tù binh phía Triều-Trung giao cho đối phương rất rõ ràng minh bạch, chỉ liếc qua đã rõ. Số tù binh này gồm: 7.142 binh sĩ Nam Triều Tiên, 3.193 binh sĩ Mỹ, 1.216 binh sĩ quân đội các nước khác, tổng cộng 11.551 người. Đây là toàn bộ số tù binh phía Triều-Trung bắt giữ được, trong đó có sư trưởng sư đoàn 24 của Mỹ tướng Đian. Tướng Đian bị Quân đội nhân dân Triều Tiên bắt trong trận Đại Điền trung tuần tháng 7 năm 1950. 

Phía Mỹ rất kinh ngạc vì bản danh sách của phía Triều-Trung làm rất chính xác. Họ sợ rằng điều này sẽ mang lại "gánh nặng”, "tạo nên áp lực mới" cho đại biểu của phía họ, thế là họ cố ý bới lông tìm vết. Họ dựa vào số người Mỹ "mất tích" ở chiến trường để chất vấn rằng danh sách do phía Trung-Triều cung cấp chỉ chiếm 27% con số đó, quân Nam Triều Tiên mất tích 88.000 người mà danh sách chỉ đưa ra hơn 7.000 người, vậy hơn 80.000 người nữa đi đâu? Điều rất lý thú là trước đó, Bộ quốc phòng Mỹ chỉ thừa nhận có 169 lính Mỹ bị bắt làm tù binh để chứng tỏ "quân đội Mỹ dũng cảm không chịu đầu hàng” Phía Mỹ nói rằng, họ "mất tích” hơn 12.000 người mà danh sách tù binh Mỹ đưa. ra chỉ có hơn 3.000 người?

Ngày 21 tháng 12, Rítwây lại giở trò gửi thư cho Kim Nhật Thành và Bành Đức Hoài, một lần nữa nêu vấn đề "Hội Chữ thập đỏ thăm trại tù binh". Bức thư như sau:

“Từ khi cuộc xung đột ở Triều Tiên xảy ra đến nay, Uỷ ban quốc tế chữ thập đỏ đã mấy lần đề nghị các ông và nhà cầm quyền Chính phủ các ông cho phép đại diện của họ vào Bắc Triều Tiên để viện trợ về vật chất và tinh thần cho tù binh quân Liên Hợp Quốc và Đại Hàn dân quốc mà các ông đang bắt giữ. Ngoài ra, đoàn đại biểu đình chiến của Quân Liên Hợp Quốc cũng nhiều lần có đề nghị như vậy đối với đoàn đại biểu các ông, và cũng đã nói rõ ngay từ khi cuộc chiến tranh bắt đầu, Bộ tư lệnh Quân Liên Hợp Quốc đã cho phép Uỷ ban quốc tế Chữ thập đỏ có đặc quyền đó đối với tù binh của họ. Cho đến nay, tất cả các kiến nghị và lời thỉnh cầu đó đều bị phía các ông từ chối.

Giờ đây, nhân danh hàng ngàn hàng vạn binh sĩ, liên quan, nhân danh gia đình của những người bị các ông bắt làm tù binh, tôi một lần nữa yêu cầu các ông suy nghĩ về hành động đó. Tôi hoàn toàn không thấy có lí do gì chính đáng để các ông không cho phép Uỷ ban quốc tế Chữ thập đỏ thực hiện việc làm nhân đạo cao cả đó - một công việc mà các nước trong chiến tranh trước kia đều cho phép Uỷ ban đó làm.

Tôi một lòng chỉ nghĩ tới quyền lợi của những người đó và nỗi đau buồn của gia đình họ. Tôi tha thiết yêu cầu các ông lập tức cho phép đại diện của Uỷ ban quốc tế chữ thập đỏ có giấy tờ hợp lệ được nhập cảnh. Họ hiện nay đã sẵn sàng viện trợ cho các ông bất cứ lúc nào”.

Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #161 vào lúc: 03 Tháng Sáu, 2009, 01:21:07 pm »

Tư lệnh tối cao Quân đội nhân dân Triều Tiên Nguyên soái Kim Nhật Thành và Tư lệnh Quân Chí nguyện nhân dân Trung Quốc ngày 24 tháng 12 đã gửi thư trả lời Rítwây. Toàn văn bức thư như sau:

“Vì quyền lợi của tù binh hai bên và gia đình họ, chúng tôi cho rằng. Công việc quan trọng nhất hiện nay là nhanh chóng giải quyết các vấn đề trong đàm phán, sớm đi tới hiệp định đình chiến, để sau khi hiệp định được ký kết và có hiệu lực, tất cả những người bị bắt hiện đang ở trong các trại tù binh của hai bên được nhanh chóng trở về quê hương đoàn tụ với người thân đã bấy lâu xa cách và thương nhớ, khôi phục lại cuộc sống hòa bình của họ. Hiện nay, mấy vấn đề quan trọng trong đàm phán sắp được giải quyết ổn thoả, chỉ vì phía các ông gây khó dễ, khăng khăng đưa ra những đòi hỏi vô lí nhằm kéo dài đàm phán, dẫn tới chỗ hiệp định đình chiến chưa thành, tù binh hai bên chưa được thả, nỗi đau khổ ngóng trông đằng đẵng của gia đình hàng ngàn hàng vạn tù binh hai bên cũng vì thế mà tiếp tục kéo dài thêm.

Đối với tù binh, về mọi phương diện như ăn uống, quần áo chăn màn, nơi ở, vui chơi giải trí, chúng tôi đều đối xử nhân đạo theo đúng tinh thần và chính sách khoan hồng với tù binh. Các tù binh bị thương, bị ốm đều được chữa trị có hiệu quả bằng những thiết bị trị liệu và những nhân viên y tế dành cho họ. Danh sách chính xác về tù binh phía chúng tôi đưa ra phản ánh đầy đủ sự chú ý và quan tâm nhân đạo của chúng tôi đối với tù binh đối phương. Bởi vậy, chúng tôi cho rằng, việc Uỷ ban quốc tế Chữ thập đỏ thăm trại tù binh là không cần thiết.

Nhưng, để công việc trao trả tù binh tiến hành thuận lợi chúng tôi kiến nghị: sau khi hiệp nghị đình chiến được kí kết và có hiệu lực, đại diện Hội Chữ thập đỏ của nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên và nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa sẽ cùng với đại diện Uỷ ban quốc tế Chữ thập đỏ thành lập ngay Đoàn uý lạo hỗn hợp, đến thăm các trại tù binh của hai bên và giúp đỡ công việc trao trả tù binh. Nếu ông đồng ý, đề nghị chuyển kiến nghị này của chúng tôi tới Uỷ ban quốc tế Chữ thập đỏ...”


Vấn đề "đại diện Hội Chữ thập đỏ thăm trại tù binh” tạm gác lại thì cuộc đấu tranh gay gắt về danh sách tù binh lại bắt đầu. Những tài liệu về tù binh do phía Triều-Trung đưa ra, dựa theo quốc tịch và ngôn ngữ họ thường dùng đã liệt kê tỉ mỉ quân hiệu, cấp bậc, phiên hiệu đơn vị và nơi ở hiện tại của họ. Nhưng trong danh sách phía Mỹ giao cho phía Triều- Trung, ngoài họ tên phiên âm bằng tiếng Anh ra, không đưa ra một cứ liệu nào cần cho sự phân biệt. Đại diện Trung-Triều yêu cầu đối phương sớm giao những tài liệu hoàn chỉnh về tù binh, và phải giải thích rõ ràng những chỗ không khớp nhau giữa danh sách và tổng số.

Phía Triều-Trung càng hối thúc, phía Mỹ càng tỏ ra lúng túng. Họ lại giở trò dùng con số mất tích ở chiến trường để đòi tù binh, và dựa vào đó chỉ trích tố cáo phía Triều-Trung đã có hành động bạo lực với tù binh. Song âm mưu đó nhanh chóng bị phá sản. 

Ngày 26 tháng 12, tuần báo Tiền vệ quốc dân của Mỹ vạch ra rằng, con số "mất tích” Chính phủ Mỹ đưa ra là vô căn cứ. Báo đó viết:
“Muốn biết đa số binh sĩ Mỹ mất tích rốt cuộc đang ở đâu, không nên đi tìm ở phía "hành động bạo lực" mà nên đi tìm trong quá trình bi thảm của cuộc chiến tranh Triều Tiên xảy ra một năm trước đây”.

Báo Mỹ Thiên chúa giáo ngày 12 tháng 12 cũng nghi ngờ con số "mất tích" do Chính phủ Mỹ công bố. Tờ báo đưa ra những sự thật dưới đây: .

“Cuối tháng 11 năm 1950, một tiểu đoàn của sư đoàn 2 quân Mỹ bị bao vây tiêu diệt, ước tính tổn thất trên 800 người. Tuyệt đại bộ phận số người này được liệt vào danh sách "mất tích trong chiến đấu” Nhưng thực ra, quân Trung Cộng đã năm lần liên tục tấn công tiểu đoàn bị vây này, nhiều quan chức tin rằng có lẽ một nửa quân số của tiểu đoàn đã tử trận”.

Tờ báo này nói thêm:

“Bộ tư lệnh Liên quân rơi vào cảnh khó ăn khó nói. Theo qui định, Liên quân buộc phải liệt những người này vào loại "mất tích trong chiến đấu”, nhưng họ ngầm biết rằng phần lớn trong số họ đã chết”

Âm mưu của phía Mỹ đã bị vạch trần trước dư luận thế giới nhất là trước báo chí Mỹ. Nhưng họ không cam chịu, thua keo này họ lại bày keo khác.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #162 vào lúc: 03 Tháng Sáu, 2009, 01:21:52 pm »

Ngày 2 tháng 1 năm 1952, đối phương lại đưa ra cái gọi là "Phương án trao đổi tù binh". Họ công nhiên vi phạm Công ước Giơnevơ, đưa ra nguyên tắc "một đổi một". Nếu một bên giao hết tù binh rồi mà con số vẫn không tương đương với danh sách của phía bên kia thì thay "dân thường” vào, nếu vẫn không đủ thì bắt số tù binh còn lại phải thề "Tôi sau này không tham gia chiến tranh nữa”, sau đó mới được phóng thích để cho họ "muốn” đi đâu thì đi dưới một cái tên mĩ miều là "hồi hương tự nguyện”.

Kiến nghị này đương nhiên bị phía Trung-Triều kịch liệt phản đối, bởi vậy một trận khẩu chiến lại bắt đầu. Đại biểu Lý Tương Triều căm phẫn vạch rõ: "Các ông cần biết, việc phóng thích tù binh và trả về nguyên quán không phải là chuyện mua bán người. Hôm nay của thế kỉ 20 càng không phải là thời đại nô lệ dã man... Nhân dân toàn thế giới sẽ nguyền rủa "phương án” của các ông, những người bị các ông bắt và gia đình họ cũng sẽ nguyền rủa "phương án" của các ông, vì nó ngăn cản khả năng thả toàn bộ tù binh và trả họ về nguyên quán, ngăn cản con đường đi tới hiệp nghị đình chiến". 

Tháng 4 năm 1952, tướng Clác kế nhiệm chức Tổng tư lệnh "quân Liên Hợp Quốc”. Rítwây đã trao lại cho ông ta một công việc chẳng thích thú gì. Để ép phía Trung-Triều chấp nhận phương án của họ, Mỹ lại giở trò uy hiếp về quân sự, đề ra "Kế hoạch hành động 8 điểm” của Clác với nội dung: Ném bom nhà máy điện Thuỷ Phong; ném bom tuyến đường tiếp tế từ Bình Nhưỡng đến Khai Thành; ném bom tất cả các mục tiêu lớn nhỏ của Bắc Triều Tiền; "phóng thích những tù binh chống Cộng"; ngừng đàm phán; tăng cường quân Lý Thừa Vãn; tung dư luận về kế hoạch dùng quân Tưởng.

Ngày 23 tháng 6 năm 1952, không quân Mỹ với hơn 590 lượt chiếc máy bay ném bom nhà máy điện Thủy Phong cùng các cơ sở phát điện ở Trường Tân, Phó Chiến, Hư Xuyên thuộc vùng thượng du sông Áp Lục biên giới Trung-Triều. Ngày 11 tháng 7 năm 1952, 746 lượt chiếc máy bay Mỹ lại ném bom vùng Bình Nhưỡng và Hoàng Châu. Không chỉ có dân thường Triều Tiên bị tàn sát dã man trong các trận ném bom kể trên, mà một số đông tù binh cũng bị thiệt mạng vì các trại của họ cũng bị oanh tạc nhiều lần do "không có dấu hiệu rõ ràng”.

Hành động của Mỹ chẳng những bị nhân dân yêu chuộng hoà bình thế giới kịch liệt phản đối mà ngay cả các nước Đồng minh của Mỹ cũng vậy. Trong những tháng 5, 6, 7, tiếng hô đòi đình chiến vang lên mạnh mẽ ở Anh, ở Mỹ. Ở Anh, Đại hội phụ nữ toàn quốc trực tiếp gửi yêu sách cho Sớcsin đòi lập tức chấm dứt chiến tranh Triều Tiên, đưa quân đội Anh về nước. Ngày 25 tháng 5, vợ của 25 tù binh biểu tình trước nhà Quốc hội Anh đòi trả chồng cho họ.

Các tù binh quốc tịch Anh trong trại tù binh của Quân Chí nguyện Trung Quốc đã gửi cho tướng Anh Alêchxanđrơ một lá thư khi ông ta đến Nam Triều Tiên thị sát. Một lá thư được hầu hết các tù binh Anh ký tên, yêu cầu ông ta góp phần chấm đứt chiến tranh, chấm dứt việc giết hại tù binh Trung-Triều. Bức thư nhấn mạnh "Mặc dù vậy, Quân Chí nguyện nhân dân Trung Quốc và Quân đội nhân dân Triều Tiên vẫn không hề có hành động trả thù chúng tôi” - Có lẽ vì thế mà Chính phủ Anh đòi được cử đại diện của mình trực tiếp tham gia đàm phán ở Bàn Môn Điếm. 

Ở Mỹ, ông Coócđeo- cha của một tù binh quốc tịch Mỹ và bà Xiđân - mẹ của một tù binh khác đã phát động phong trào lấy chữ kí vì hòa bình, đòi chấm dứt chiến tranh, đòi trao trả tù binh. Bức thư của toàn thể công dân thành phố Líttơn Rốc bang Akansat gửi Tơruman và Êkixơn viết: "Các ngài thân mến. Chúng tôi yêu cầu các ngài hành động ngay tức khắc để con em nước Mỹ chúng ta đang làm tù binh ở Triều Tiên được phóng thích. Chúng tôi cho rằng, chức trách của các ngài đối với các công dân Mỹ phải vượt lên trên quan niệm nghĩa vụ của cá nhân các ngài đối với tù binh Bắc Triều Tiên và Trung Quốc đang bị Bộ tư lệnh Quân Liên Hợp Quốc giam giữ. Chúng tôi tán thành và đòi phải trả về nguyên quán tất cả tù binh”

Trong lúc đó, nguyên tắc "hồi hương tự nguyện" do Mỹ nêu ra cũng bị dư luận quốc tế nghiêm khắc lên án. Ngoại trưởng Liên Xô Vixinxki tại Đại hội đồng Liên Hợp Quốc khoá thứ 6 lên án, "nguyên tắc” đó căn bản vi phạm tất cả các công ước quốc tế, vi phạm các tiêu chuẩn cơ bản nhất của luật pháp quốc tế có liên quan và toàn bộ thông lệ quốc tế. Cả những bạn Đồng minh của Mỹ như Anh, Pháp, Canađa cũng lo ngại "nguyên tắc" đó có thể phá hoại Công ước Giơnevơ. Hãng UPI Mỹ đưa tin, Canađa nhắc nhở Mỹ chú ý: "Chính sách tù binh của Mỹ trong đàm phán đình chiến ở Triều Tiên không phù hợp với Công ước Giơnevơ”.

Một số báo chí Mỹ cũng tới tấp viết bình luận phân tích nguyên nhân phía Mỹ kéo dài đàm phán. Trong xã luận ngày 8 tháng 5, Thời báo Niu Oóc nói: "Chúng ta có lẽ buộc phải sống vài ba tháng nữa trong thời kỳ tranh tối tranh sáng, không phải chiến tranh toàn diện, cũng không phải hòa bình toàn diện". Nhật báo Phố Uôn ngày 10 tháng 5 đưa tin, phóng viên báo này "sau khi làm một cuộc điều tra công phu thận trọng các phía ở Oasinhtơn” có thể cho thấy "kế hoạch hiện nay của Mỹ là ngồi im để giữ vững trận địa, đồng thời tiếp tục không kích dữ dội Bắc Triều Tiên”. Tờ Tin tức nước Mỹ và thế giới ngày 30 tháng 5 thừa nhận phía Mỹ hiện nay không muốn đàm phán, mục Nói nhỏ của tạp chí này tiết lộ: Harisơn đại diện đàm phán mới của phía Mỹ "nhận lệnh đảm nhiệm một chức vụ chỉ ngồi nghe mà không đàm phán".
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #163 vào lúc: 03 Tháng Sáu, 2009, 01:22:40 pm »

Cuộc trao đổi tù binh
(Lần thứ nhất)

Qua rất nhiều lần giằng co tranh chấp, cuối cùng hai bên đã đạt được hiệp nghị về trao đổi tù binh.

Tháng 4 năm 1953, đoàn đại biểu trao đổi tù binh của phía Trung Quốc được thành lập, gồm tất cả hơn 100 người được lựa chọn cẩn thận, phụ trách chung là Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Lý Khắc Nông và Kiều Quán Hoa, Tổng thư ký là Sài Thành Văn, Chủ nhiệm Ban chính trị Quân Chí nguyện Đỗ Bình cũng gánh vác một phần công tác chỉ đạo.

Đoàn chia thành 12 tổ, mỗi tổ từ 5 đến 6 người, trong đó có một phiên dịch tiếng Anh, một phiên dịch tiếng Triều Tiên, một nhân viên y tế, một sĩ quan trao trả tù binh và một trợ lý.

Lần trao đổi tù binh này diễn ra trong tình hình vừa đánh vừa đàm nên rất ít người biết, số tù binh trao đổi lần đầu này không đến 4.000 người.

Trong ngày đầu trao đổi tù binh, sau khi Tổng thư ký Sài Thành Văn phát biểu ý kiến động viên đoàn ở cơ sở tập huấn Khai Thành, các tổ dẫn tù binh lên 25 xe tải có mui chạy đến Bàn Môn Điếm cách đó 10 km. Cái tên Bàn Môn Điếm hồi đó chẳng giống với tên gọi chút nào, không làng xóm không nhà cửa, không hàng quán, chỉ là một khoảnh đất bé tẹo rộng chừng một km2, xung quanh là hàng rào dây thép gai treo lủng lẳng những ống bơ và vỏ đồ hộp hoen rỉ, gió thổi va vào nhau kêu xủng xoảng. Cửa chính là chiếc cổng chào vừa dựng, chính giữa cổng chào dán bốn chữ lớn Trong lòng Tổ quốc. Bên trong hàng rào dây thép gai là những ngôi lều bạt, cái to cái nhỏ, nóc treo những quả bóng to 4 màu đỏ, vàng, lam, lục làm dấu hiệu đề phòng bị bắn phá. Thấy dấu hiệu đó hai bên không được phép xâm phạm tới.

Bên ngoài Bàn Môn Điếm, tiếng đại bác vẫn ùng oàng, đâu đó tiếng súng cỡ nhỏ vẫn liên hồi nổ; bên trong Bàn Môn Điếm, một phía hai bên địch ta tiếp tục đàm phán, một phía Hàn Minh Luân và các chiến hữu đang chuẩn bị công việc trao đổi tù binh, hai nơi cách nhau không đến 15m. Tiếng nói chuyện, tiếng quát tháo của đối phương trong mùi thuốc súng từ xa bay lại, bao phủ không gian nơi đây.

Đúng 10 giờ sáng, tiếng còi ô tô "pin... pin..." từ xa vọng lại. Từ phía chính diện cổng chào nhìn ra đã thấy thấp thoáng hơn chục chiếc xe ôtô cứu thương đang chạy tới.

- Đến rồi! Đến rồi! Người thân về rồi!

Không hẹn mà ánh mắt mọi người đều đổ dồn về phía xa xa. Khi đoàn xe sắp tới gần cổng chào, trên xe bỗng nhiên như sóng cồn nổi dậy, thì ra khi các tù binh nhìn thấy bốn chữ Trong lòng tổ quốc đều không nén được xúc động, người thì khóc rống lên, có người thì la hét, tù binh Triều Tiên vừa khóe vừa hát Bài ca Kim Nhật Thành, tù binh Quân Chí nguyện hát bài Đông phương hồng. Những tù binh bị thương nặng nằm bất động cũng khăng khăng, đòi mọi người đỡ dậy để được nhìn thấy cổng chào.

Xe từ từ tiến vào khu vực trao đổi tù binh. Đại diện hai phía theo chức trách của mình đứng ra hai bên. Chào hỏi nhau xong, viên sĩ quan Mỹ phụ trách việc trao trả tù binh cầm bản danh sách điểm danh từng xe một, sau đó bắt đầu từ xe thứ nhất, tiến hành duyệt và trao đổi tù binh chiếu theo họ tên, chức vụ, quân hàm, quê quán, ngày tháng nhập ngũ. Gọi đến tên ai, người đó lên xe. Phía Mỹ giao một, phía Triều-Trung giao một. Câu đầu tiên các tù binh Triều-Trung được nghe là câu "Các đồng chí vất vả quá”. Sau đấy, mỗi người được phát một gói kẹo và một bao thuốc lá thơm Đại Trung Hoa. Khi nhận quà ai cũng nước mắt lưng tròng, đứng tần ngần như không muốn rời đi.

Toàn bộ công việc trao đổi tù binh diễn ra trong hơn 10 ngày. Đại diện hai bên từ đầu đến cuối đều tuân thủ các thỏa thuận và quy chế đã định, không để xảy ra điều gì đáng tiếc, nhất là bên phía Triều Tiên duy trì được kỉ luật tự giác nghiêm ngặt và khả năng tự kiềm chế cao, được quan chức các nước trung lập Ấn Độ, Ba Lan, Thụy Sĩ ca ngợi.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #164 vào lúc: 03 Tháng Sáu, 2009, 01:23:14 pm »

Cuộc trao đổi tù binh lần thứ hai .
Lần này có qui mô lớn hơn nhiều
.

Lần trao đổi tù binh này diễn ra vào ngày 27 tháng 7 năm 1953 sau khí đình chiến. Từ hạ tuần tháng 7 đến đầu tháng 9, trong thời gian hơn 40 ngày đã trao đổi được hơn 200.000 tù binh. Thời tiết khi đó nóng đến hơn 30oC, oi bức khó chịu, nhiều người mắc phải bệnh truyền nhiễm, có người nôn mửa liên tục, nhưng không ai chịu nghỉ việc mà ngay cả khẩu trang phòng bệnh phòng độc cũng không đeo. Theo họ nói, đeo khẩu trang nói năng bất tiện. khó biểu đạt tình cảm, không lịch sự, nên bỏ không dùng.

Có một câu chuyện nhỏ cảm động. Ai cũng biết Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc và Mao Trạch Đông rất coi trọng công tác trao đổi tù binh. Mao Trạch Đông cảm thấy không thỏa đáng khi các đại diện nói với tù binh câu "Các đồng chí vất vả quá!". Ông bảo, các chiến sĩ đó bị địch bắt chú có phải đi lao động đâu mà bảo "vất vả quá". Từ đó câu "vất vả quá đổi thành "cực khổ quá". Các tù binh cảm nhận điều đó rất sâu sắc: "Nỗi khổ của chúng tôi không sao kể xiết". Rất nhiều người tố cáo, ở trại tù binh họ phải ăn gạo mốc trộn lẫn cát, do thiếu dinh dưỡng và sống trong môi trường tồi tệ nên không ít người lao phổi, có người bị đói gầy như que củi; có thương binh vết thương vốn không nặng, nhưng quân Mỹ lấy cớ chữa trị đã dùng họ làm vật thí nghiệm, vừa tiêm xong khắp người lở loét; có người bàn tay và cánh tay chỉ bị một vết thương nhẹ nhưng cũng bị cắt bỏ rất tàn nhẫn. Một phó chính uỷ sư đoàn bị bắt, địch đem nhốt vào một cái lồng làm bằng dây thép gai, nằm duỗi không được nằm co cũng chẳng xong, thảm cảnh đó khó mà diễn tả được bằng lời. Một lần phía Triều-Trung tiếp nhận 400 tù binh nữ là chiến sĩ Quân đội nhân dân Triều Tiên và 3 là tù bình Quân Chí nguyện. Khi gặp người thân, họ chỉ còn biết gạt nước mắt, thật khó nói ra được những chuyện quân Mỹ làm ô nhục họ. Khi trao đổi tù binh; nhiều người căm giận quá xông vào, tụt giày đập vào đầu vệ binh Mỹ, có người quẳng hết quân phục của Mỹ phát cho.

Ngược lại, tâm trạng của tù binh Mỹ khác hẳn. Nhiều tù binh dùng tiếng Trung Quốc trọ trẹ nói với phóng viên: "Người Trung Quốc tốt, rất nhân đạo", "Người Trung Quốc tốt ưu đãi tù binh". Họ không ngờ rằng họ lại được ăn gạo ngon bột trắng, được ở nhà ấm, người nào cũng béo tốt. Một tù binh Canađa nhìn thấy Hàn Minh Luân thân mật chào. "Chào anh! Chào anh Hàn!"
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #165 vào lúc: 03 Tháng Sáu, 2009, 01:24:03 pm »

Mỹ Tưởng câu kết cướp tù binh

Sau cuộc trao đổi tù binh lần thứ hai, được Mỹ "bật đèn xanh" Tưởng Giới Thạch ráo riết chuẩn bị, quyết tâm cướp những tù binh Quân Chí nguyện còn lại.

Ngày 8 tháng 10 năm 1953, chính quyền Đài Loan cướp đưa về Đài Loan hơn 60 chiến sĩ Quân Chí nguyện, số chiến sĩ này đã bị Tưởng Giới Thạch và Lý Thừa Vãn đồng mưu bắt ra khỏi trại tù binh từ giữa tháng 6 năm đó. 

Trung ương xã Đài Loan tiết lộ: Những người này bị bọn đặc vụ Đài Loan trà trộn trong tù binh áp giải đến sân bay Phusan do quân Mỹ kiểm soát, dùng máy bay chở họ sang Đài Loan.

Hãng tin đó còn tiết lộ: Một trong những tên đặc vụ Đài Loan áp giải số tù binh đó là tên Phí Ngọc Lâm đặc vụ Tưởng kẻ đã tham dự vào vụ cướp tù binh Quân Chí nguyện quân.

Các tù binh Quân Chí nguyện sau khi được phóng thích đã tố cáo:

4 giờ chiều ngày 21 tháng 6 năm 1953, để giúp đặc vụ Đài Loan cướp tù binh Quân Chí nguyện bị giam trong trại Đông Lai (Phu San), lính đặc nhiệm Mỹ ném rất nhiều bom hơi độc vào trại, nhân lúc tù binh tản ra tránh hơi độc, Phí Ngọc Lâm và đồng bọn bắt đi một số đông tù binh, giải họ về Cục cảnh sát Nam Triều Tiên ở Đông Lai. Hôm sau, "Đại sứ quán" Đài Loan ở Nam Triều Tiên đem quần áo đến bắt tù binh cải trang thành dân thường rồi phân tán họ ra giam giữ trong thành phố Phu San.

Tân hoa xã ngày 10 tháng 10 đã tố cáo hành vi tội ác đó của Mỹ- Tưởng và cảnh cáo phía Mỹ phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về những hậu quả nghiêm trọng do việc đó gây

Nhưng Mỹ-Tưởng đã coi thường kháng nghị của Chính phủ và nhân dân Trung Quốc, tiếp tục kế hoạch chiếm đoạt tù binh.

Ngày 24 tháng 11 năm 1953, Cố Duy Quân "' Đại sứ” Đài Loan ở Mỹ sau 40 phút hội đàm với Quốc vụ khanh Đa lét đã có cuộc trao đổi ý kiến với Lôxân - Trợ lí Quốc vụ khanh quản lý công việc Viễn Đông. Sau đó, Cố Duy Quân nói với phóng viên của Trung ương xã Đài Loan rằng ông ta "đã trao đổi ý kiến với Đa lét và Lôpxân những vấn đề về Hàn Quốc trong đó có cả việc trao trả tù binh về nguyên quán".

Mặc dù Cố Duy Quân không tiết lộ nội dung trao đổi ý kiến với Quốc vụ viện Mỹ, nhưng qua những tin tức sau này, người ta cũng biết được đôi phần.

Ngày 2 tháng 12, Quốc tế Tân văn xã đưa tin: "Một "Đoàn cố vấn” Quốc dân Đảng gồm 8 người trước đây mươi hôm đã rời Đài Bắc đi Triều Tiên uý lạo những tù binh chống Trung Cộng do quân Ấn Độ quản lí tại khu phi quân sự. Nhóm này đến Triều Tiên để thăm hỏi tù binh Trung Quốc. Đoàn trưởng là Lưu Thụy Hằng, Hội trưởng Hiệp hội Chữ thập đỏ Đài Loan".

Cùng ngày U.P.I đưa tin: "Theo tin tức được tiết lộ ngày hôm nay, Trung Quốc Quốc dân Đảng chuẩn bị "phát động mạnh mẽ" một cuộc chiến Ngoại giao trừ phi 14.000 tù binh Trung Quốc chống Cộng được đưa đến Đài Loan trước ngày 21 tháng 2 sang năm."

Trung Quốc tân văn, tờ báo tiếng Anh có quan hệ với nhà cầm quyền Quốc dân Đảng nói: "Nhà cầm quyền Ngoại giao ở đây (Đài Loan) chuẩn bị mở một cuộc chiến Ngoại giao cứng rắn để những tù binh chống Cộng được đưa đến đây trước ngày đó”. Báo đó còn cho biết : "Trung Quốc Quốc dân Đảng kiên quyết phản đối việc đưa những tù binh đó đến bất cứ nơi nào ngoài hòn đảo này. Chính phủ Quốc dân Đảng hiện nay vẫn cho rằng số tù binh này là "những người theo chủ nghĩa dân tộc" , và phản đối việc biến họ thành "kẻ phiêu bạt không nơi nương tựa”. Quân đoàn trưởng quân đoàn 8 Mỹ Tay lo bị khiển trách vì đã coi số tù binh đó là kẻ phiêu bạt không nơi nương tựa, và được cảnh cáo rằng không được biến vấn đề tù binh thành "vấn đề tị nạn quốc tế”.

U.P.I ngày 23 tháng 12 đưa tin: "Tướng Hun, hôm nay báo cho Trung Quốc Quốc dân Đảng và Nam Triều Tiên biết, Bộ tư lệnh Viễn Đông đã quyết định dùng mọi phương tiện đưa 22.000 tù binh đến hai nước này. Viên tư lệnh liên quân 4 sau này nói, đến ngày 22 tháng 1 năm 1954, số tù binh Triều Tiên và Trung Quốc này sẽ trở thành dân thường, không thuộc quyền quản lý của quân đội Ấn Độ trong lực lượng giám sát đình chiến nữa”.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #166 vào lúc: 03 Tháng Sáu, 2009, 01:25:31 pm »

Mỹ - Tưởng cưỡng ép tù binh đi Đài Loan

U.P.I ngày 21 tháng 1 năm 1954 điện từ Xơ Un.

10 tầu chở binh sĩ Trung Quốc do thủy thủ Nhật điều khiển, được máy bay chiến đấu và tầu chiến Mỹ hộ tống hôm nay rời cảng Nhân Xuyên đi Đài Loan.

Chín chiếc xuất phát lúc 7 giờ 10 phút, chiếc thứ 10 nhổ neo sau đó hai tiếng.

Một khu trục hạm Mỹ cùng rời cảng Nhân Xuyên để hộ tống "Đoàn tầu hướng về tự do”. Nó sẽ gặp các tầu chiến Mỹ khác ở ngoài khơi cùng làm nhiệm vụ hộ tống trong cuộc hành trình tới Đài Loan. Đoàn tầu còn được máy bay Mỹ hộ tống tới tận Hoàng Hải để đề phòng mọi mưu toan ngăn cản từ trên không, trên biển.

Hôm qua đã "thu gom" được tất cả 14.209 tù binh Trung Quốc và 7.582 tù binh Bắc Triều Tiên. Tù binh Trung Quốc dứt khoát phải đi Đài Loan và trở thành dân thường, có quyền tham gia quân đội Tưởng Giới Thạch.

Khoảng 10.000 binh sĩ cộng sản được chở trên 10 tầu đổ bộ, mỗi tầu từ 950 đền 1.000 người, boong tầu chật ních.

4.000 tù binh còn lại đang làm thủ tục ở Nhân Xuyên, họ sẽ lên 5 tầu đổ bộ khác. Những tầu này đi lẻ tẻ hạn trong 3 ngày tới Đài Loan, vì bến tầu Cơ Long thiết bị rất hạn chế.

Mỗi tầu bố trí 45 thủy thủ Nhật Bản, một bác sĩ lính thuỷ đánh bộ Mỹ, một cán bộ quân y, khoảng 50 lính bảo an. Mỗi tầu đều có hai “sĩ quan giám quản" của Trung Quốc Quốc dân Đảng mang theo phim và đồ chơi giải trí, dạy cho tù binh phải có "thái độ" thế nào khi tới Đài Loan”.

Sau khi tù binh Quân Chí nguyện bị cướp đưa tới Đài Loan, nhà cầm quyền Đài Loan đánh trống khua chiêng tuyên truyền ầm ĩ. Tháng 1 năm 1954, Tưởng Giới Thạch ra thông báo về chuyện tù binh Quân Chí nguyện đã tới Đài Loan. Ngày 3 tháng 2, Tưởng gặp mặt 120 "đại biểu tù binh". Ngày 5 tháng 4, nhà cầm quyền Đài Loan cưỡng ép toàn thể tù binh tuyên thệ gia nhập quân đội Quốc dân Đảng. Họ tuyên bố. "Cuộc phản công quân sự chưa bắt đầu, cuộc phản công chính trị đã có kết quả, tù binh đến Đài Loan đã chứng minh điều đó". Đương nhiên, những lời nói đó hoàn toàn là lừa dối. Trong những tù binh bị bắt đưa đến Đài Loan chỉ có một số ít tên phản bội bị Đài Loan mua chuộc, còn tuyệt đại đa số bị bắt buộc phải làm như vậy. 

Số phận của những tù binh bị đưa đến Đài Loan sau đó khá bi thảm, La Trị Phương là một trường hợp tiêu biểu.

La Trị Phương là hộ lí của Quân Chí nguyện, gia đình ở huyện Tư Phố tỉnh Hoa Nam. Tháng 7 năm 1950, mới 17 tuổi anh đã theo bộ đội đi chiến đấu. Trong chiến đấu anh dũng cảm cấp cứu thương binh nên vinh dự gia nhập Đảng ngay ở mặt trận, và được huân chương chiến công hạng nhì.

Một ngày tháng 10 năm 1951, đại đội anh giữ cao điểm 803 sông Lâm Tân ở tuyến giữa, máy bay trực thăng Mỹ dùng súng phun lửa công kích, trận địa phút chốc thành biển lửa. Anh và mấy đồng đội ngồi ở hầm phòng không bị ngạt ngất đi. Sau khi tỉnh lại, khó khăn lắm La Trị Phương mới bò ra được ngoài hầm, đang khi gương súng ngắm bắn mấy tên địch thì bị một thằng Mỹ ở phía sau bất thình lình nhảy bổ tới ôm chặt, thế là anh sa vào tay địch.

Anh bị hành hạ 3 năm ở trại tù binh, hai cánh tay bị buộc phải xăm những chữ phản động. Năm 1954 anh bị ép tới Đài Loan. Do anh vẫn chống lại nên bị giam 2 năm, nếm đủ mọi nỗi đắng cay trong "trại tị nạn" ở Đào Viên.

Năm 1956, anh và một số bạn tù bị biên chế vào lính công binh Quốc dân Đảng, sau đó bị đưa đến đảo Tiểu Kim Môn suốt ngày xây bến tầu, công sự, chẳng những phải dầm mưa giãi nắng, cơm ăn không đủ no, mà còn bị canh giữ nghiêm ngặt y như ở trại tù binh, thật khổ cực trăm chiều không lời nào nói hết.

Sau đó, đơn vị anh chuyển về Cao Hùng. Ở đây anh học được nghề lái ô tô nên được điều về tiểu đoàn vận tải Đào Viên chuyên lái xe ben. Vẫn cảnh suốt ngày chở đá, chở vật liệu đói khát khổ cực, nên trong lòng lúc nào cũng buồn bực. Một hôm, anh vô ý để đuôi xe quệt ngã một tên sĩ quan mãn hạn quân dịch làm hắn bị thương nặng rồi chết, anh bị ngồi tù 2 năm. Sau khi mãn hạn ra tù, một lần anh đến bệnh viện khám bệnh, chỉ vì dùng giấy lộn gói phân để đưa xét nghiệm mà bị cưỡng ép đưa vào bệnh viện tâm thần chịu khổ đủ điều. Cuối cùng anh được lệnh phải xuất ngũ, chúng phát cho anh một khoản trợ cấp chỉ đủ mua 5 điếu thuốc lá. Sau khi xuất ngũ, anh không một đồng dính túi, không một ai thân thích, ngay chuyện ăn ở cũng rất gay go.

"Uỷ ban giúp đỡ quân nhân mãn hạn quân dịch Đài Loan” (cơ quan bố trí việc làm cho quân nhân mãn hạn quân dịch) đưa anh đi làm phu ở nông trường của bệnh viện "Vinh Dân”. Dòng dã 7, 8 năm làm việc ở đó, chúng chỉ cho anh ít tiền tiêu vặt không phát lương, bệnh viện giữ giấy chứng minh nên muốn trốn cũng không được. (ở Đài Loan mà không có giấy chứng minh thì không làm ăn gì được). Về sau, khó khăn lắm anh mới tìm được người bảo lãnh, lấy lại được giấy chứng minh, thoát ra khỏi nông trường của bệnh viện "Vinh Dân” mà anh đã làm trâu ngựa không công ngần ấy năm trời.

Rời khỏi nông trường, tuy có tích cóp được một ít tiền, nhưng việc làm và cuộc sống không có gì bảo đảm, anh lần lượt đi làm công nhân xây dựng, công nhân đóng gói, công nhân vệ sinh cho mãi tới năm 1986. Trong suốt thời gian này anh nhịn ăn nhịn tiêu, làm lụng cật lực, những mong dành dụm được một ít tiền làm lộ phí khi trở về quê nhà ở đại lục. Hơn 30 năm ở Đài Loan, gió mưa vùi dập, cay đắng đủ mùi, ngoài 50 tuổi mà vẫn một thân một mình, đau ốm không người trông nom, lấy ai hỏi han lúc tuổi già. Mỗi lần Tết đến lại càng cô đơn hiu quạnh. Xuân về lại nhớ đến chén rượu nồng, chiếc bánh Tết quê hương. Đoan Ngọ (mồng 5 tháng 5) lại nhớ đến cuộc đua thuyền rồng rộn rã tưng bừng trên dòng Tự Thủy. Trung thu trăng tròn vành vạnh, thấy cảnh vợ con người đoàn tụ đông vui mà càng nhớ thương quê hương non xanh nước biếc và cha mẹ 80 tuổi già mòn mỏi chốn quê nhà.

Hơn 30 năm chua chát đắng cay tưởng đã khiến anh không còn chịu nổi sự giày vò đau đớn, một sự giày vò biến con người không thành con người, anh vẫn nuôi ý định trở về Tổ quốc đại lục. Bất chấp chính quyền Đài Loan thi hành chính sách "ba không”, anh vẫn nghe đài đại lục, tìm hiểu tình hình đại lục, dành dụm tiền lộ phí suy nghĩ tìm đường về quê hương. Gia sản của anh khi đó chẳng có gì ngoài chiếc xe máy cũ, chiếc máy ảnh và vài bộ quần áo.

Tháng 2 năm 1986, La Trị Phương đến Cục Du lịch Đài Loan làm hộ chiếu đi du lịch, nộp mất 5.000 tệ lệ phí, mua vé máy bay đi Thái Lan mất 8.700 tệ. Ngày 5 tháng 3, La Trị Phương cuối cùng đã thực hiện cuộc hành trình trở về mà ngày đêm hằng mong mỏi. Anh định qua Thái Lan sang Mianma để trở về đại lục, nhưng đến Thái thì số tiền ít ỏi mang theo đã tiêu hết sạch, vào Mianma không có giấy tờ nhập cảnh nên bị tù nửa năm. Sau khi được thả, anh nhằm thẳng hướng Vân Nam trèo đèo lội suối, trải qua bao gian nan vất vả mới về đến Tổ quốc. Anh được quân Giải phóng vùng biên Vân Nam nhiệt tình đón tiếp, đưa về huyện Tư Phố tỉnh Hồ Nam quê hương. Ngày 10 tháng 9, năm 1986, anh được uỷ ban huyện cho xe đưa về gia đình.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #167 vào lúc: 04 Tháng Sáu, 2009, 07:19:56 pm »

Chương bốn
CÁC NHÀ NGOẠI GIAO "ĐỎ" LIÊN KẾT VỚI NHAU Ở GIƠNEVƠ, PHE PHƯƠNG TÂY LẠI MỘT PHEN THẤT TRẬN.
MAO TRẠCH ĐÔNG QUYẾT ĐỊNH NGỪNG TẤN CÔNG KIM MÔN, MÃ TỔ ĐỂ LÀM DỊU TÌNH HÌNH CĂNG THẲNG Ở EO BIỂN ĐÀI LOAN

I. MỸ - TƯỞNG BÀN TÍNH KÝ KẾT HIỆP ƯỚC PHÒNG THỦ CHUNG

Đài Loan đề nghị Mỹ kí kết hiệp ước

Ngày 27 tháng 7 năm 1953, Hiệp định đình chiến ở Triều Tiên chính thức kí kết, chấm dứt cuộc chiến tranh Triều Tiên kéo dài hơn 3 năm.
Song Hiệp định đình chiến kí chưa ráo mực thì ngày 8 tháng 8 năm 1953 Mỹ kí với Nam Triều Tiên "Hiệp ước phòng thủ chung Mỹ-Hàn" (dự thảo). Trước đó một ngày, Đalét tuyên bố ông ta và Lý Thừa Vãn đã đạt được thoả thuận không loại trừ khả năng dùng quân sự thống nhất Triều Tiên. Cùng lúc đó, chính quyền Đài Loan cảm thấy mối nguy cơ đang đến gần, cũng tích cực thông qua con đường Ngoại giao đề nghị Mỹ kí kết Hiệp ước phòng thủ để dựa vào sức mạnh Mỹ đối chọi với cộng sản.

Xuất phát từ quyền lợi bản thân, Mỹ cũng đang cần có chiếc "hàng không mẫu hạm không thể đánh chìm" Đài Loan, vả lại cũng đang lo Đài Loan lợi dụng các đảo ven biển quấy rối đại lục bằng quân sự, sẽ lôi kéo Mỹ vào cuộc xung đột trực tiếp với Trung Quốc, nên Mỹ cảm thấy cần kí một hiệp ước để ràng buộc Quốc dân Đảng. Thế là hai bên đã nhiều lần gặp gỡ nhau.

Diễn biến của một loạt sự việc đó nói với mọi người rằng, mục tiêu của Chính phủ Mỹ không chỉ dừng lại ở chỗ ngừng tiếng súng trên bán đảo Triều Tiên, mà là nhằm xoay chuyển tình thế bị động có ảnh hưởng đến toàn bộ chiến lược của Mỹ do Tơruman gây ra, để cuối cùng thực hiện cho được "chiến lược ngăn chặn" chủ nghĩa cộng sản.

Mao Trạch Đông lại nêu vấn đề giải phóng Đài Loan

Tháng 10 năm 1953, Quân uỷ Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc họp ở Hàng Châu.

Hội nghị trước tiên nghe Dương Dũng, Quyền Tư lệnh Quân Chí nguyện nhân dân Trung Quốc, báo cáo về tình hình Triều Tiên.

Mao Trạch Đông vừa say sưa hút thuốc vừa chăm chú lắng nghe, thỉnh thoảng khẽ gật đầu, đôi khi lại cười nhạt.

Dương Dũng báo cáo xong, Mao Trạch Đông vừa hút thuốc vừa nói:

Triều Tiên đình chiến, gánh nặng trên vai chúng ta nhẹ đi rất nhiều, nhưng e rằng chưa thể lơ là, phải chuẩn bị sẵn sàng, đề phòng ngọn lửa chiến tranh lại bùng lên, phòng trước thì sau không mắc hoạ. Hai năm nay, Ngài Tưởng của chúng ta ở Đài Loan nhân lúc chúng ta bận chống Mỹ viện Triều không quan tâm đến Ngài, lại ỷ thế có "chú Sam" nâng đỡ đã gây ra sóng to gió lớn với giấc mơ chống Cộng đẹp đẽ của Ngài. Chúng ta hiện nay đã có thể rảnh tay, tôi thấy cần tập trung lực lượng giải quyết vấn đề Đài Loan. Ngay từ bây giờ phải bắt tay vào chuẩn bị, muốn được yên ổn lâu dài, không giải phóng Đài Loan không xong. Xin các vị phát biểu ý kiến về việc này.

Mao Trạch Đông nêu ra vấn đề giải phóng Đài Loan vào lúc này, trong số Uỷ viên Quân uỷ có mặt cũng có người không lí giải được. Vì sao vậy?

Thứ nhất, 3 năm chiến tranh Triều Tiên đã tiêu hao của nước Trung Quốc mới một khối lượng vật tư khổng lồ ảnh hưởng nghiêm trọng việc thực hiện kế hoạch kiến thiết 5 năm lần thứ nhất, nguyên khí chưa kịp phục hồi. Nếu muốn vượt biển giải phóng Đài Loan tất phải ném vào đó một khối lượng lớn tài lực, vật lực và nhân lực, rất bất lợi cho công cuộc xây dựng kinh tế trong nước.

Thứ hai, trên chiến trường Triều Tiên, Quân Giải phóng nhân dân đã đọ sức với quân Mỹ lớn mạnh nhất thế giới, sức chiến đấu trên bộ, trên không được nâng lên rất nhiều. Nhưng đối diện với Đài Loan và Kim Môn, tỉnh Phúc Kiến không có một tấc đường sắt, không có một sân bay, không quân và pháo binh đưa vào Phúc Kiến cực kỳ khó khăn, công tác hậu cần khó bảo đảm, hơn nữa hải quân vừa mới bước đầu phát triển, còn rất kém, bất lợi cho vượt biển tác chiến với qui mô lớn, nhất là Đài Loan được Mỹ viện trợ nhiều về quân sự, thực lực của nó được tăng cường nên lực lượng phòng ngự của Đài Loan, Kim Môn khác xa năm 1949.

Thứ ba, tình hình thế giới có xu thế hòa hoãn, nếu hành động quân sự qui mô lớn ở eo biển Đài Loan sẽ không có lợi cho việc làm dịu tình hình quốc tế, cũng không có lợi cho việc kiến thiết trong nước. Cái chính là Mỹ sẽ nhúng tay vào công việc Đài Loan, Hạm đội 7 đang lởn vởn ở eo biển Đài Loan, làm cho vấn đề Đài Loan - vấn đề nội bộ của Trung Quốc càng trở nên phức tạp. Hành động đó có thể gây ra phản ứng mạnh mẽ của Mỹ, đó là tấn bi kịch mà người lãnh đạo Trung Quốc, thậm chí cả Tổng thống Mỹ cũng không muốn thấy và hết sức tránh.

Mao Trạch Đông rất hiểu những khó khăn khi giải phóng Đài Loan, song ông đã cân nhắc rất kĩ khi nêu ra nhiệm vụ này.

Theo Mao Trạch Đông: "Đế quốc Mỹ rất kiêu căng ngạo mạn. Chỗ nào không cần nói lẽ phải thì nhất quyết đừng nói lẽ phải với nó, nếu có tỏ ra biết lẽ phải một chút thì cũng chỉ là chuyện bất đắc dĩ mà thôi". Trước mắt, Trung Quốc nếu không tỏ thái độ gì về vấn đề Đài Loan, mặc cho Mỹ tự do hành động, thực hiện âm mưu "một Trung Quốc, một Đài Loan", "hai nước Trung Quốc", hoặc "quốc tế hóa" vấn đề Đài Loan, thời gian cứ thế trôi đi sẽ tạo cho thế giới ấn tượng Đài Loan tách khỏi đại lục, đó là điều Mao Trạch Đông - một con người suốt đời đấu tranh cho việc thống nhất Tổ quốc - tuyệt đối không thể chịu đựng nổi. Đài Loan là lãnh thổ của Trung Quốc, hoàn toàn thuộc về công việc nội bộ của Trung Quốc, nước khác không có quyền can thiệp. Mao Trạch Đông thậm chí nghĩ đến cả khả năng buộc phải tái chiến để bảo vệ chủ quyền quốc gia.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #168 vào lúc: 04 Tháng Sáu, 2009, 07:20:58 pm »

Chu Đức kiến nghị "dọn sạch cửa ngõ"

- Tôi hoàn toàn tán thành ý kiến của Chủ tịch - Vẫn như trước đây, Bộ trưởng Quốc phòng Bành Đức Hoài bao giờ cũng đi đầu ủng hộ ý kiến của Mao Trạch Đông - Hiện giờ tình hình Triều Tiên đã ổn định, tôi thấy nên chuyển không quân về Phúc Kiến và Chiết Giang, trước hết giành lấy quyền khống chế không phận vùng ven biển, như váy mới bảo đảm chắc chắn an toàn cho bộ đội vượt biển.
Mao Trạch Đông gật đầu và nói thêm:

- Cả quyền khống chế vùng biển nữa chứ. Không có hai quyền này khó bảo đảm an toàn cho chiến sĩ ta vượt biển tác chiến. Phải nhanh chóng giành lấy hai quyền đó.

Chu Đức phát biểu:

- Ý kiến của Chủ tịch và Tổng tư lệnh Bành, tôi đều tán thành. Tôi cho rằng có thể chia làm hai bước, bước thứ nhất "dọn sạch cửa ngõ", tức là giải phóng những đảo ven biển còn bị Quốc dân Đảng chiếm, quét dọn cửa ngõ ta cho sạch sẽ. Như vậy, vừa loại bỏ được mối đe doạ đối với vùng duyên hải đông nam của ta, đánh thông được đường hàng hải Nam-bắc, mà cũng chặt đứt được tay chân của Đài Loan, không còn mối lo sau lưng khi chúng ta đi bước thứ hai giải phóng Đài Loan.

- "Dọn sạch cửa ngõ", nói rất hay - Mao Trạch Đông giọng thích thú- Tôi tán thành cả hai tay.

Tư lệnh quân khu Hoa Đông Trần Nghị đề nghị:

- Tôi cho rằng "dọn sạch cửa ngõ" có thể bắt đầu từ đảo Đại Trần, nó là trung tâm chỉ huy và trọng tâm phòng ngự của quân Quốc dân Đảng đóng ở các đảo ven biển đông nam tỉnh Chiết Giang. Chiếm được Đại Trần tức đánh trúng chỗ hiểm của địch, tất cả những đảo khác ở ven biển đông nam tỉnh Chiết Giang có thể không đánh mà tan. Như vậy quân ta có thể bằng một giá tương đối rẻ đổi được một thắng lợi tương đối lớn.

Nhóm đảo Đại Trần ở ngoài vịnh Đài Châu tỉnh Chiết Giang gồm hơn 20 đảo, trong đó ba đảo Thượng Đại Trần, Đài Châu và Hạ Đại Trần nằm gần nhau tạo thành một hình tam giác đều, với tổng diện tích 100km2, khoảng cách xa nhất giữa chúng chỉ có 2,2 km, cho nên người ta thường coi 3 đảo này là một và gọi là đảo Đại Trần.

Tầu bè từ Thượng Hải xuôi xuống phía nam đến Trấn Hải, Hạ Môn đều phải đi ngang qua đảo Đại Trần. Vì đảo Đại Trần còn bị quân Quốc dân Đảng chiếm nên đường hàng hải Nam-Bắc của Trung Quốc đại lục bị gián đoạn, hạm đội hải quân Quốc dân Đảng đóng ở căn cứ Đại Trần uy hiếp nghiêm trọng cửa sông Trường Giang, vịnh Hàng Châu, khống chế ngư trường Chu Sơn và hơn nữa, máy bay cất cánh từ sân bay quân sự ở đảo Đại Trần chỉ cần chưa đến nửa tiếng đã tới được Thượng Hải.
Đảo Đại Trần thực sừ là nỗi lo lớn trong lòng của nước Trung Quốc mới.

- Đảo Đại Trần giao cho đồng chí Trần Nghị - Mao Trạch Đông nói - Quân khu Hoa Đông các vị trước hết vạch kế hoạch tác chiến, sau khi được Quân ủy phê chuẩn, sẽ thực hiện. Nhất định phải nhổ cho được cái đinh đó.

Tháng 1 năm 1954, Quân khu Hoa Đông sau nhiều lần nghiên cứu đã đề ra kế hoạch chiến dịch hải, lục, không quân phối hợp đánh đảo Đại Trần, sau khi trình Quân uỷ duyệt lập tức bắt tay chuẩn bị tác chiến.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #169 vào lúc: 04 Tháng Sáu, 2009, 07:21:40 pm »

II. SMÍT MẤT MẶT Ở GIƠNEVƠ

Nguyên nhân dẫn đến Hội nghị Giơnevơ

Cùng với việc Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc tích cực chuẩn bị giải phóng Đài Loan, trên trường quốc tế, để ngăn ngừa việc Mỹ lợi dụng vấn đề Triều Tiên lừa bịp dư luận thế giới, thực hiện chiến lược ngăn chặn cộng sản của chúng, Chính phủ Trung Quốc bàn bạc với Chính phủ Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên và trưng cầu ý kiến của Chính phủ Liên Xô, nhất trí cho rằng chỉ có triệu tập một Hội nghị chính trị bàn tròn giữa các nước không tham chiến, có liên quan với vấn đề Triều Tiên mới giải quyết hòa bình được vấn đề Triều Tiên và nhiều vấn đề khác. Điều đó chẳng những có ý nghĩa to lớn đối với hòa bình ở Triều Tiên, mà còn có ý nghĩa hiện thực rất quan trọng xúc tiến hòa bình ở Viễn Đông và thế giới.

Lúc đầu Mỹ chống lại đề nghị của Trung-Triều. Sau đó, trong cuộc tranh cãi về vấn đề Triều Tiên tại kì họp thứ ba Đại hội đồng Liên Hợp Quốc khoá 7 ngày 17 tháng 8 cùng năm, Mỹ lợi dụng địa vị bá chủ của mình ở Liên Hợp Quốc, gây sức ép thông qua nghị quyết chỉ có hai bên đánh nhau tham gia đàm phán, nhưng cho phép Liên Xô tham gia.

Để Hội nghị chính trị về vấn đề Triều Tiên không chết yểu giữa chừng, Chính phủ Trung Quốc ngày 9 tháng 1 năm 1954 ra tuyên bố ủng hộ đề nghị của Liên Xô về việc triệu tập Hội nghị 5 nước lớn để nghiên cứu những biện pháp làm dịu tình hình quốc tế căng thẳng, và cho rằng từ Hội nghị Ngoại trưởng 4 nước sẽ họp ở Beclin dẫn tới Hội nghị 5 nước lớn có Trung Quốc tham gia nhằm xúc tiến giải quyết những vấn đề quốc tế bức xúc sẽ có ích cho việc làm dịu tình hình quốc tế căng thẳng, bảo đảm hòa bình và an ninh quốc tế.

Tại Hội nghị Ngoại trưởng 4 nước họp ở Beclin từ ngày 25 tháng 1 đến ngày 18 tháng 2 năm 1954, Liên Xô, Mỹ, Anh, Pháp đã nhất trí thỏa thuận đại biểu các nước Liên Xô, Mỹ, Anh, Pháp, Đại Hàn dân quốc, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên, các nước có quân tham chiến muốn tham gia Hội nghị sẽ họp ở Giơnevơ vào ngày 26 tháng 4 năm 1954, để giải quyết hòa bình vấn đề Triều Tiên và thảo luận vấn đề hòa bình ở Đông Dương. Chính phủ Trung Quốc nhận lời mời tham dự Hội nghị.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM