SaoVang
Đại tá

Bài viết: 8205
|
 |
« Trả lời #190 vào lúc: 06 Tháng Sáu, 2009, 04:59:32 pm » |
|
Hải lục không quân hiệp đồng tác chiến, đổ bộ thành công Từ 12 giờ 15 phút đến 13 giờ 22 phút, 3 tiểu đoàn bộ binh của thê đội 1 đơn vị đổ bộ từ ba nơi đảo Cao, Tưởng Nhi Áo và Đầu Môn Sơn bắt đầu ra khơi. Hơn 110 tầu chở hơn 5.000 sĩ quan chiến sĩ chia làm hai đoàn, đoàn trước đoàn sau tiến theo ba đường, theo đội hình phòng không, lần lượt tới khu vực triển khai chiến đấu. Lúc đó, trên trời có máy bay bảo vệ, dưới đất tiếng pháo bắn ầm ầm, đội tàu làm nhiệm vụ chi viện hỏa lực trên biển và hộ tống yểm hộ chạy ở đầu và hai bên sườn đội tàu chở quân đổ bộ, tất cả ào ạt tiến lên, cảnh tượng thật hào hùng... Tầu hộ tống và tầu chở pháo 57 đến cách đảo Nhất Giang Sơn 3.000m thì nổ súng bắn chế áp các hỏa điểm tiền duyên của quân phòng thủ. Tiểu đoàn hỏa tiễn trên hai tầu khác cũng đồng loạt bắn vào các trận địa chính trên đảo. Không quân hiệp đồng với pháo binh mặt đất yểm trợ cho đội tàu vận chuyển quân đổ bộ khi đó đã triển khai thành thê đội 1, thê đội 2. 13 giờ 55 phút, pháo binh quân Quốc dân Đảng trên đảo Đại Trần đột nhiên nổ súng bắn chặn. Tướng Trương Ái Bình lập tức ra lệnh cho pháo bờ biển và máy bay ném bom đang hoạt động trên không đánh trả. Chỉ 5 phút sau, đối phương đã câm họng. Đội tàu chở quân đổ bộ được hỏa lực mạnh của không quân, pháo binh bảo vệ, thêm vào đó hệ thống thông tin giữa Đại Trần và Đài Loan bị cắt đứt, hải quân và không quân Quốc dân Đảng không dám xuất kích, cho nên toàn bộ cuộc hành quân trên biển diễn ra thuận lợi. Khi thê đội 1 và thê đội 2 của đội tầu chở quân đổ bộ tới gần tuyến triển khai, tàu chỉ huy kéo cờ tín hiệu, các biên đội Quân Giải phóng nhanh chóng tiến vào khu vực chiến đấu. Đúng 14 giờ, biên đội hỗn hợp máy bay ném bom của không quân và hải quân dội bom đợt 2 xuống đảo Nhất Giang Sơn. 10 dàn hoả tiễn Cachiusa trên các chiến hạm cũng lần thứ hai đồng loạt phóng tên lửa vào đảo Bắc Giang. Đạn pháo trút xuống trận địa quân địch trên cao điểm 190 như bão táp phủ kín cả cao điểm. Máy bay ném bom tiếp tục trút bom dữ dội xuống các trận địa chính ở hai đảo Nam Giang và Bắc Giang. Máy bay cường kích thay nhau bắn phá trận địa tiền duyên của đảo. Từ 14 giờ 10 phút đến 14 giờ 19 phút, được hỏa lực chi viện yểm hộ, thê đội 1 đơn vị đổ bộ với 28 trung đội đột kích cùng một lúc đổ quân lên 7 địa điểm trên hai đảo Nam Giang, và Bắc Giang. Đại đội 3 triển khai đội hình chiến đấu ở tuyến Đại Trà Hoa. Đại đội 5 do Đại đội trưởng Mao Khôn Hao và chính trị viên Hồng A Mạo dẫn đầu xông thẳng lên hàng rào dây thép gai thứ nhất. Họ vừa đánh bộc phá vừa tiến, động tác vừa nhanh vừa mạnh, chỉ trong chớp mắt đã vượt qua chiến hào thứ nhất nhanh chóng xông lên cứ điểm tiền duyên của quân phỏng thủ ở làng Liễu Vọng. 14 giờ 29 phút, Nhạc Thanh Tiêu thất thủ. Ba phát pháo hiệu đỏ bay vút lên trời báo với Bộ chỉ huy tin chiến thắng "đã chiếm được trận địa ở bãi cát ven bờ”. Tư lệnh mặt trận Trương Ái Bình gọi điện chúc mừng thắng lợi của đại đội 5, chúc mừng lục quân, hải quân và không quân. Khi tàu của đơn vị đổ bộ cập bờ đảo Nhạc Thanh Tiểu, quân phòng thủ ở tiền duyên lợi dụng các hỏa điển ngầm giữa các khe đá điên cuồng bắn ra. Chỉ huy và chiến sĩ hải quân không run sợ trước mối hiểm nguy bị sát thương hoặc bị bắn chìm, bình tĩnh khôn khéo lái tàu đưa bộ binh lên bờ. Trưởng tầu 212 bị thương, chiến sĩ lái Bá Văn Mạo lập tức thay quyền chỉ huy, khẩu đội trưởng pháo bị thương, chiến sĩ Ngụy Phúc Căn lập tức thay thế. Sau đó Ngụy Phúc Căn cũng bị thương, anh nghiến răng tiếp tục chiến đấu cho đến khi tầu đổ bộ cập bờ. Khi đổ bộ lên Hải Môn Tiêu, Tây Sơn Chuỷ, Hoàng Nham Tiêu, tàu chở đơn vị đổ bộ bị lưới lửa của lô cốt ngầm trên đảo bủa vây chặt, cửa tàu không sao mở đước. Lập tức, pháo đặt trên chiếc tầu bạn nổ súng chi viện dập tắt ngay hoả điểm của địch... Khi bộ binh xông lên đánh vào các trận địa, địch lợi dụng địa hình có lợi bắn ra xối xả, ném lựu đạn bừa bãi, làm cho bộ đội đang đổ bộ lên bở phải khựng lại. Chỉ huy và chiến sĩ các tầu hải quân dùng hoả lực mạnh bắn chế áp để chi viện cho bộ binh chọc thủng tuyến phong tỏa của quân Quốc dân Đảng. Ở phía đảo Nhất Nam Giang, khi tầu sắp cập bờ thì bị quân Quốc dân Đảng bắn dữ dội không sao đổ bộ được. Đơn vị yêu cầu hỏa lực không quân chi viện. Trong khoảnh khắc máy bay cường kích của không quân đã có mặt, lao xuống bắn phá trận địa của quân phòng thủ đảo Nhất Nam Giang, bộ binh thừa cơ xông vào bờ. Một chiếc tầu đổ bộ lúc cập bờ bị hỏa lực địch bủa vây, ghìm chặt cửa tầu. Tiểu đội trưởng tiểu đội trọng liên Lữ Hữu Khố lập tức bắn trả dữ dội, yểm hộ cho bộ đội mở cửa. Trong khi bắn trả địch, Lữ Hữu Khố nhiều lần bị thương, đạn trúng vào bụng. Với nghị lực phi thường, anh lấy áo bông bịt chặt vết thương tiếp tục bắn yểm hộ mãi tới khi bộ đội trên tàu đã lên hết bờ. Anh đã hi sính. Sau trận đánh, anh được phong tặng danh hiệu Anh hùng chiến đấu hạng nhì.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
SaoVang
Đại tá

Bài viết: 8205
|
 |
« Trả lời #191 vào lúc: 06 Tháng Sáu, 2009, 05:01:03 pm » |
|
Tư lệnh quân phòng thủ bỏ mạng trên trận địa Đơn vị đổ bộ thê đội 1 sau 30 phút chiến đấu ác liệt đã chiếm toàn bộ bãi đổ bộ đã định. Tiếp sau đó, đơn vị tiến đánh tung thâm, nhanh chóng khuếch trương chiến quả. Đảo Nhất Giang Sơn đất dốc, đường hẹp, đá mọc lô xô, nhiều vách đá cheo leo đứng thành vại, đánh vào tung thâm rất khó khăn phức tạp. Do địa hình trên đảo hiểm trở, đội hình chiến đấu của một số phân đội bị chia cắt, hình thành thế cài răng lược với quân địch. Phía chính diện, quân địch dựa vào địa hình hiểm trở liều mạng chống trả quyết liệt; phía sau lưng, bọn tàn quân chui lủi thỉnh thoảng lại nổ súng bắn lén khiến số thương vong của quân đổ bộ mỗi lúc một nhiều. Cán bộ chỉ huy và chiến sĩ Quân Giải phóng lập tức dùng chiến thuật chia thành các tốp nhỏ cơ động linh hoạt hiệp đồng với nhau, đánh mạnh tiến nhanh, luồn lách chia cắt vu hồi bao vây, nhanh chóng tiến sâu vào tung thâm theo hướng đã định. Sau khi chiếm được chiến hào thứ nhất của quân phòng thủ, 3 tiểu đoàn của thê đội 1 được pháo binh tầm xa, pháo binh bắn thẳng và hoả lực các tầu xuồng hộ tống chi viện, liên tục chiến đấu tiến vào tung thâm của quân địch trên đảo. Đảm nhiệm ở hướng chủ công, tiểu đoàn 1 trung đoàn 178, sau khi chiếm được chiến hào thứ nhất ở khu vực các đảo Hoàng Nham Tiêu, Hải Môn Tiểu lập tức cho đại đội 1, đại đội 3 tấn công làng Trung Tâm. Khi đại đội 3 men theo rìa làng Sơn Chuỷ, xông vào làng Trung Tâm thì bị hoả lực từ lô cốt ngầm trên sườn núi bắn chế áp phải dừng lại, đại đội điều hai trung liên lên bắn yểm hộ rồi dùng súng phun lửa phun dữ dội vào lô cốt ngầm tiêu diệt hoả điểm. 14 giờ 5 phút chiếm được làng Trung Tâm. Cùng lúc đó, tiểu đoàn 1 cho đại đội hai tấn công làng Sơn Trung (cao điểm 160). Trong khi tấn công, đại đội bị quân địch hai lần bắn quét, nhưng cán bộ chiến sĩ vẫn anh dũng xông lên, người trước ngã người sau tiếp tục, cuối cùng lúc 14 giờ 50 phút chiếm được làng Sơn Trung. Trung đoàn cho tiểu đoàn 2 thừa thắng xông lên tấn công làng Liễu Vọng và cao điểm 203. Cao điểm 203 là cứ điểm đầu não của đảo Nhất Giang Sơn, Bộ Tư lệnh quân phòng thủ đảo đặt ở đây. Nó vừa là trận địa trung tâm, cũng là phòng tuyến cuối cùng của quân Quốc dân Đảng trên đảo. Tư lệnh đảo Vương Sinh Minh nhiều lần ra lệnh cho binh lính phải cố thủ, dựa vào công sự chống trả quyết liệt như con thú dữ cùng đường. Tư lệnh đảo Đại Trần Lưu Liêm Nhất cũng đánh điện khẩn ra lệnh cho quân phòng thủ đảo Nhất Giang Sơn "tử thủ trận địa quyết hy sinh vì Đảng vì Quốc gia". Tiểu đoàn 2 lấy đại đội 5 làm đại đội chủ công. Được không quân yểm trợ, pháo binh chi viện, nhân khi quân địch bị hỏa lực Quân Giải phóng chế áp chưa kịp ngóc đầu dậy, đại đội 5 đã dũng cảm nhanh chóng lao vào chiếm làng Liễu Vọng, sau đó tiến đánh cao điểm 203 . Quân địch trên cao điểm 203 thấy làng Liễu Vọng thất thủ đã ngoan cố chống trả. Hỏa lực địch dày đặc như một bức tường vây, đạn bắn làm khói bụi bốc lên mù mịt phủ kín cả cao điểm, uy hiếp nghiêm trọng đại đội chủ công đánh cao điểm. Trung đoàn phó Mao Trương Miêu nhanh trí bố trí lại đội hình tấn công, chia bộ đội thành những tốp nhỏ cơ động xông lên đỉnh cao nhất của cao điểm 203. Không quân cho 4 máy bay cường kích thay nhau bắn phá cao điểm 203 khiến quân địch sợ quá xô nhau chạy vào hầm ẩn nấp. 4 chiếc tầu hộ tống trên biển cũng áp sát bờ bắn xối xả lên cao điểm 203. Được hải quân, không quân và pháo mặt đất vừa đổ bộ lên chi viện, cán bộ chiến sĩ tiểu đoàn 2 phất cao cờ đỏ, bất chấp hỏa lực dữ dội của quân địch dũng mãnh xông lên cao điểm 203. Tiểu đoàn trưởng Tôn Dũng vừa xốc tới vừa hô to: - Các đồng chí! Xung phong. Tấn công cao điểm 203. Hãy cắm cờ đỏ lên đỉnh cao nhất
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
SaoVang
Đại tá

Bài viết: 8205
|
 |
« Trả lời #192 vào lúc: 06 Tháng Sáu, 2009, 05:01:11 pm » |
|
Các chiến sĩ vừa chạy theo lá cờ đỏ xông thẳng lên đỉnh cao điểm vừa hô to:
- Xung phong! Tiến lên là thắng lợi.
Tiếng hô đập vào khe núi vọng lại âm vang như sấm rền. Cán bộ chiến sĩ chạy sát theo sau bảo vệ lá cờ đỏ, người trước ngã người sau tiếp bước, cứ thế xông lên. Lá cờ đỏ sắp tới được gần đích, trên cao điểm càng mù mịt khói bụi, đạn địch bắn ra càng dữ dội...
Đại đội trưởng đại đội 5 Mao Khôn Hao tay giương cao cờ đỏ ngã gục xuống sau ba lần bị thương ở đầu. Chiến sĩ thông tin Trần Thọ Nam lập tức đón lấy là cờ. Anh lúc thì nằm phục xuống lúc thì nhỏm dậy xông lên. Quân địch chân tay luống cuống bắn trật cả.....
Lá cờ đỏ mang trên mình những vết đạn lỗ chỗ cứ thế mà tiến lên, và cuối cùng được cắm trên đỉnh cao.
15 giờ 5 phút, đại đội 5 chiếm được trận địa chính của quân Quốc dân Đảng - bản doanh Bộ tư lệnh đảo Nhất Giang Sơn.
Tư lệnh đảo Vương Sinh Minh bị bom chết; viên đại đội trưởng đại đội xung kích 4 Vương Phụ Bật bị bắt sống trong lô cố ở cao điểm 203. Đơn vị tấn công đảo Nam Giang dùng hai đại đội 5 và 7 của tiểu đoàn 2 trung đoàn 180 làm thê đội 1 tấn công dốc Thắng Lợi - cao điểm 160. Pháo hạm hải quân dùng hỏa lực bắn gần chi viện cho hai đại đội trên. Pháo hạm Thẩm Dương khi chi viện cho cuộc chiến đấu trên đảo bị quân địch bắn trúng 3 phát pháo. Nhưng cán bộ chiến sĩ trên pháo hạm không quản an nguy cho bản thân tiếp tục bắn dữ dội vào các trận địa pháo của địch trên đảo, phá hủy một trận địa, chi viện có hiệu quả cho bộ binh đánh chiếm cao điểm 160. Được pháo hạm hải quận chi viện, đơn vị tấn công cao điểm 160 từ hai sườn nam, bắc đánh kẹp quân phòng thủ vào giữa. 15 giờ 5 phút chiếm được cao điểm 160.
Sau khi chiếm được cao điểm 160, đơn vị tiếp tục công kích trận địa trung tâm cao điểm 180, trong khi tấn công có lúc tiến rất chậm, thương vong tăng lên. Sở chỉ huy tiểu đoàn kịp thời đưa hai đại đội 6, và 8 vào chiến đấu thay thế nhiệm vụ công kích, đại đội 5 và đại đội 7 chuyển sang làm nhiệm vụ phòng ngự và thanh toán bọn địch hai bên sườn. Được hỏa lực tiểu đoàn chi viện, đại đội 6 và đại đội 8 dũng mãnh xông lên diệt địch, 15 giờ 48 phút chiếm được cao điểm 180.
Trận chiến đấu chính giải phóng đảo Nhất Giang Sơn tính từ khi đổ quân đột phá đến lúc kết thúc chỉ diễn ra trong 3 tiếng. Sau khi thê đội 1 đánh chiếm được các cao điểm chủ yếu của đảo, tiểu đoàn 3 trung đoàn 178 thê đội 2 lập tức lao vào chiến đấu tiêu diệt những cứ điểm cuối cùng của quân địch, sau đó chuyển sang làm nhiệm vụ lùng bắt tàn quân và tổ chức phòng ngự. Thông thường trong các trận đánh, việc thanh toán tàn quân địch là một nhiệm vụ tương đối nhẹ nhàng, nhưng trong trận chiến đấu ở Nhất Giang Sơn thời gian lại đòi hỏi gấp mấy lần thời gian đánh chiếm cao điểm và giải quyết bọn địch chính.
Đám quân Quốc dân Đảng phòng thủ đảo Nhất Giang Sơn tư tưởng cực kì phản động, cộng thêm sự tuyên truyền lừa bịp của bè lũ Tưởng Giới Thạch, chúng cho rằng Quân Giải phóng không thực hiện chính sách khoan hồng đối với chúng , do đó chúng liều chết chống lại. Cán bộ chiến sĩ Quân Giải phóng mở cuộc tấn công về chính trị, vừa đánh vừa kêu gọi, có đơn vị còn dùng tù binh kêu gọi chúng. Đến 2 giờ ngày 19, họ mới thanh toán được hết số quân địch tử thủ trong các lô cốt ngầm, đảo Nhất Giang Sơn mới được hoàn toàn giải phóng.
Trong trận vượt biển đổ bộ đánh chiếm đảo Nhất Giang Sơn, Quân Giải phóng tiêu diệt tất cả 1.086 quân Quốc dân Đảng, trong đó bắn chết 519 tên, bắn chìm 3 tầu chiến, bắn bị thương 4 chiếc, thu 53 khẩu pháo các loại, 27 ống phóng hỏa tiễn, 68 trung liên, 834 súng bộ binh cùng một khối lượng lớn đạn dược và vật tư quân sự. Quân Giải phóng cũng phải trả giá khá cao: 416 liệt sĩ vĩnh viễn yên nghỉ bên bờ biên Đông, 1.176 chiến sĩ bị thương, mất 3 khẩu pháo, 8 chiếc máy bay, bị thương nhẹ 6 tầu xuồng.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
SaoVang
Đại tá

Bài viết: 8205
|
 |
« Trả lời #193 vào lúc: 06 Tháng Sáu, 2009, 05:02:54 pm » |
|
Quân Tưởng rút khỏi đảo Đại Trần Quân Giải phóng Trung Quốc lần đầu tiên đánh hiệp đồng giữa ba binh chủng hải lục không quân trong chiến dịch giải phóng đảo Nhất Giang Sơn. Trận đánh diễn ra rất nhanh gọn. Bọn sĩ quan binh lính Quốc dân Đảng bị bắt làm tù binh mỗi khi nói đến uy lực mạnh mẽ của trận đánh hiệp đồng binh chủng đó tim vẫn còn đập thình thình. Tương Liêm Viên, nguyên cán bộ Tham mưu đại đội nói: "Sáng ngày 18, máy bay Quân Giải phóng vừa bay đến vùng trời đảo Nhất Giang Sơn đã ném bom dữ dội xuống đảo làm đứt phần lớn đường dây thông với trận địa tiền duyên của Bộ tư lệnh". Nguyên cán bộ Tham mưu tình báo Bộ Tư lệnh đảo Nhất Giang Sơn Cát Giả Cốc nói: "Pháo binh Quân Giải phóng bắn sập hầm của Bộ Tư lệnh, cả Bộ Tư lệnh rối tung cả lên". Binh nhì Quốc dân Đảng Thẩm Nam Sinh nói: "Trong tiếng pháo gầm thét, tôi thấy rất nhiều xuồng đổ bộ Quân Giải phóng lao về phía chúng tôi, pháo lớn trên quân hạm nã lên các trận địa trên đảo. Máy bay Quân Giải phóng bổ nhào xuống đầu chúng tôi thả bom. Tôi vừa bò ở lô cốt ra, Quân giải phóng trên xuồng đổ bộ đã xông lên bờ, chỉ một lát sau tôi bị bắt làm tù binh". Trận đánh hiệp đồng binh chủng thành công đánh dấu trình độ hiện đại hóa của Quân Giải phóng Trung Quốc đã được nâng lên rõ rệt. Tướng Trương Ái Bình sau này tổng kết có nói: "Trong chiến dịch giải phóng các đảo ven biển miền đông Chiết Giang, đặc biệt là giải phóng đảo Nhất Giang Sơn, quân ta lần đầu tiên đánh hiệp đồng binh chủng giữa ba binh chủng lục quân, hải quân và không quân. Khi đó, chúng ta chưa có kinh nghiệm về mặt này. Đánh thế nào đây? Chúng ta không rập khuôn theo Liên Xô, cũng không rập khuôn theo Âu-Mỹ, mà xuất phát từ tình hình của mình, kết quả đã đánh thắng”... Quân Giải phóng chỉ một trận chiếm được đảo Nhất Giang Sơn đã giáng một đòn mạnh mẽ vào "Hiệp ước phòng thủ chung Đài Loan - Mỹ" Sau khi giải phóng đảo Nhất Giang Sơn, xu thế tấn công của Quân Giải phóng chứng tỏ bước tiếp theo họ sẽ tấn công đảo Đại Trần. Chiều ngày 19 tháng 1, không quân Quân Giải phóng ném bom đảo Đại Trần, phá huỷ sở chỉ huy và đài khí tượng của quân địch ở đây. Đảo Đại Trần bị ném bom, nhà cầm quyền Đài Loan hoang mang lo sợ, cho rằng Quân Giải phóng đã bắt đầu tấn công đảo Đại Trần. Họ hoảng hốt kêu lên, "Cộng sản huy động trên 200 máy bay công kích đảo Đại Trần, đay là trận không kích lớn nhất sau Đại chiến thế giới thứ hai". Chính quyền Đài Loan lo rằng quân phòng thủ Quốc dân Đảng ở các đảo khác chưa đánh đã tan nên luôn mồm hò hét: "Bất kì đảo nào cũng quyết giữ bằng mọi giá”, "đảo Đại Trần sẵn sàng chiến đấu đến cùng”. Họ còn ra lệnh ném bom trả đũa các khu vực ven biển Phúc Kiến, Quảng Đông.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
SaoVang
Đại tá

Bài viết: 8205
|
 |
« Trả lời #194 vào lúc: 06 Tháng Sáu, 2009, 05:03:08 pm » |
|
Trong suốt quá trình diễn ra trận đánh giải phóng đảo Nhất Giang Sơn, Thượng tá, Oác đơn cố vấn quân sự Mỹ thường trú ở đảo Đại Trần và Thượng tá Macrâyđơn- người kế nhiệm ông ta đều đến hiện trường quan sát. Mỹ làm ra bộ không "can thiệp” quân sự. Việc giải phóng đảo Nhất Giang Sơn khiến nhà cầm quyền Mỹ hoảng hốt. Mặc dầu lúc đó Mỹ không muốn trực tiếp đối đầu với Trung Cộng, nhưng không thể không làm ra bộ thực thi hiệp ước, nên viên Tư lệnh Bộ Tư lệnh hiệp đồng phòng thủ Mỹ trú tại Đài Loan - trung tướng Pơlít- ngày 21 tháng 1 phái mấy chục tầu xuồng đến dàn trận ứng chiến trên biển đảo Đại Trần, đồng thời huy động máy bay chiến đấu Mỹ bay thị uy trên bầu trời đảo Đại Trần.
Ngày 23 tháng 1, Mỹ cấp tốc điều 4 tầu sân bay từ Philíppin, Nhật Bản, Hồng Công tới tuần tra mặt biển đông nam đảo Đại Trần. Theo báo chí Mỹ đưa tin, khi đó ở hải vực Trung Quốc có 5 tầu sân bay, 3 tầu tuần dương, 40 tầu khu trục, 50 tầu đổ bộ. Mỹ trước sau đã huy động hơn 2.000 lượt chiếc máy bay hoạt động gần không phận Đại Trần, hòng ngăn chặn Quân Giải phóng giải phóng đảo này, bơm thêm sinh khí cho lũ quân Quốc dân Đảng đã mất hết lòng tin vào chuyến cố thủ.
Cùng lúc đó, Chính phủ Mỹ giở âm mưu "ngừng bắn”, vận động khắp nơi. Mỹ xúi giục Liên Hợp Quốc đứng ra hòa giải, cho Ngoại trưởng Anh Êđen viết thư cho Thủ tướng Chu Ân Lai yêu cầu "ngừng bắn", lại nhờ viên Đại sứ Anh ở Liên Xô đến khuyến cáo Bộ trưởng Ngoại giao Liên Xô Môlôtốp.
Nhân dân Trung Quốc không sợ thế lực bạo tàn. Ngày 24 tháng, Thủ tướng nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Chu Ân Lai ra Tuyên bố về việc Mỹ can thiệp vào việc nhân dân Trung Quốc giải phóng Đài Loan để nói về việc nhân dân Trung Quốc giải phóng đảo Nhất Giang Sơn, và việc Mỹ nêu ra việc ngừng bắn ở Liên Hợp Quốc. Bản Tuyên bố vạch rõ, Chính phủ Mỹ đã can thiệp vào công việc nội bộ Trung Quốc, Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa dứt khoát không ngừng bắn với bè lũ Tưởng Giới Thạch. Nhân dân Trung Quốc giải phóng các đảo ven biển của mình không hề gây ra tình hình quốc tế căng thẳng, chỉ do Mỹ xâm lược Đài Loan, nâng đỡ bè lũ Tưởng Giới Thạch, mưu toan lật đổ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa mới gây ra tình hình quốc tế căng thẳng. Nhân dân Trung Quốc nhất quyết giải phóng Đài Loan, lực lượng vũ trang Mỹ phải rút khỏi khu vực này. Lời tuyên bố trịnh trọng "Chủ quyền và nội chính của nhân dân Trung Quốc quyết không cho phép người khác can thiệp", đã giáng trả mạnh mẽ vào trò bịp của nhà cầm quyền Mỹ.
Theo ý đồ của Quân ủy Trung ương, Bộ chỉ huy mặt trận miền đông Chiết Giang ngày 30 tháng 1 ra lệnh chuẩn bị đánh chiếm đảo Đại Trần.
Tối hôm đó, đại đội tàu cao tốc phóng ngư lôi 159 Quân Giải phóng bị thương do pháo hạm Bảo ứng của quân Quốc dân Đảng ở hải vực phụ cận đảo Đại Trần bắn vào.
Nhà cầm quyền Mỹ vẫn làm ngơ trước những lời kháng nghị mạnh mẽ của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Ngay ngày hôm đó, Tổng thống Mỹ Aixenhao trình Quốc hội bản báo cáo đặc biệt Tình hình diễn biến ở eo biển Đài Loan. Ngoài việc nêu ra cái gọi là "ngừng bắn” do Liên Hợp Quốc chủ trương, bản báo cáo còn yêu cầu Quốc hội giao quyền cho Tổng thống Mỹ khi cần thiết được sử dụng quân đội Mỹ để bảo đảm an ninh cho các đảo Đài Loan và Bành Hồ. Đối với các đảo ven biển của Trung Quốc, Tổng thống yêu cầu Quốc hội cho phép ông ta được sử dụng quân đội nếu ông ta làm sáng tỏ hành động Trung Cộng tấn công các đảo ven biển là "một bộ phận hoặc khẳng định là bước chuẩn bị cho cuộc tấn công các trận địa chính ở Đài Loan và Bành Hồ."
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
SaoVang
Đại tá

Bài viết: 8205
|
 |
« Trả lời #195 vào lúc: 06 Tháng Sáu, 2009, 05:03:17 pm » |
|
Ngày 26 tháng 1 và ngày 28 tháng 1, Hạ viện và Thượng viện Mỹ lần lượt thông qua "Nghị quyết về Đài Loan" Nghị quyết nêu rõ: "Nay giao quyền cho Tổng thống Mỹ được sử dụng quân đội Mỹ khi Tổng thống xét thấy cần thiết để bảo vệ chắc chắn những mục tiêu cụ thể ở các đảo Đài Loan và Bành Hồ khỏi bị tấn công vũ trang”.
Ngày 30 tháng 1, để thực hiện phương án tác chiến giải phóng các đảo ven biển miền đông nam Chiết Giang đã được Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Quân uỷ Trung ương thông qua, Bộ chỉ huy mặt trận miền đông Chiết Giang chính thức ra lệnh cho các đơn vị ba quân chủng dưới quyền chuẩn bị đánh chiếm đảo Đại Trần.
Về kiến nghị của Chính phủ Niu Dilân đưa ra ngày 28 tháng 1 tại Hội đồng bảo an Liên Hợp Quốc, đề nghị thảo luận vấn đề ngừng bắn ở eo biển Đài Loan, Chu Ân Lai ngày 3 tháng 2 gửi điện cho Tổng thư kí Liên Hợp Quốc Hammácgiôn vạch rõ, Mỹ xâm lược Đài Loan đã gây ra tình hình căng thẳng ở Thái Bình Dương, Liên Hợp Quốc phải lên án hành vi xâm lược đó. Ông tuyên bố, trong trường hợp không có đại biểu Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tham gia, bất kì nghị quyết nào về Trung Quốc của Liên Hợp Quốc đều vô hiệu.
Thực ra, trong những ngày này, Mỹ đã nhiều lần yêu cầu Đài Loan rút quân khỏi đảo Đại Trần và chính thức cam kết nếu Đài Loan đồng ý làm như vậy, Mỹ sẽ hợp tác phòng thủ Kim Môn và Mã Tổ, lại còn ngầm tỏ ý khi cần thiết có thể sẽ dùng vũ khí nguyên tử đối phó với Trung Cộng, vì Quốc hội sẽ thông qua "Nghị quyết về Đài Loan" giao quyền cho Tổng thống được phép sử dụng quân đội Mỹ bảo vệ Đài Loan và Bành Hồ.
Nếu trước đây, hải quân và không quân Quân Giải phóng mới ra đời còn trứng nước, Tưởng Giới Thạch dựa vào máy bay, tầu chiến có trong tay tha hồ xưng hùng xưng bá trên không trên biển, thì nay, trận chiến ở đảo Nhất Giang Sơn đã chứng tỏ một điều thời đại đó đã vẫy tay "bai... bai" chúng, đã một đi không trở lại. Tưởng Giới Thạch không thể không đối mặt với sự thật đó, nếu vẫn cứ khăng khăng một mực như cũ thì đảo Đại Trần sẽ chịu chung số phận với đảo Nhất Giang Sơn.
Ngày 5 tháng 2, Tưởng Giới Thạch đưa ra quyết định cuối ùng; Rút hết khỏi đảo Đại Trần. Hành động này được mệnh danh là "Kế hoạch Kim cương”.
Cùng ngày, Quốc vụ viện Mỹ tuyên bố, Chính phủ Mỹ ra lệnh cho Hạm đội 7 và các đơn vị lính Mỹ khác "giúp đỡ” quân đội Tưởng Giới Thạch rút khỏi đảo Đại Trần
Cuộc rút lui bắt đầu từ ngày 6 tháng 2. Mỹ thông qua Đại sứ Mỹ ở Vácsava báo cho Trung Cộng biết mục đích của hành động đó, cam kết không gây rắc rối cho các thuyền đánh cá của Trung Cộng và hi vọng phía Trung Cộng cũng không gây phiền hà cho cuộc rút lui đó.
Ngày 7 tháng 2, hạm đội hỗn hợp Mỹ-Tưởng do Pơlit chỉ huy như đàn cá mập kéo vào hải vực Đại Trần. Hạm đội 7 của Mỹ huy động tới 132 tầu chiến, hơn 5.000 máy bay, hơn 48.000 nhân viên hải quân, không quân tới hải phận Đại Trần giúp quân Tưởng rút lui.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
SaoVang
Đại tá

Bài viết: 8205
|
 |
« Trả lời #196 vào lúc: 07 Tháng Sáu, 2009, 03:52:47 pm » |
|
Tư lệnh phòng vệ Đại Trần than thở não nề. Khi "Kế hoạch Kim cương” chính thức thực thi, Tưởng Kinh Quốc cũng có mặt ở Đại Trần. Sau khi đảo Nhất Giang Sơn thất thủ, ông ta được Tưởng Giới Thạch phái đến đảo Đại Trần trấn an tinh thần binh lính, cùng đi còn có Dương Đế Trạch, cố vấn Tổng bộ Chính trị, người quốc tịch Mỹ. Việc bỏ Đại Trần đã thành chuyện tất nhiên, nhiệm vụ của Tưởng Kinh Quốc ở Đại Trần lúc này là ổn định lòng dân. Kế bên đền thờ "ông Tổ nghề cá" là nơi ăn nghỉ của Tưởng Kinh Quốc, ngày cũng như đêm lúc nào cũng có bóng người quanh quẩn, cứ thấy ông ta ló mặt ra, là họ lại lớn tiếng gào lên. "Tưởng tiên sinh vẫn còn ở đây” Một buổi tối, Tưởng Kinh Quốc và Dương Đế Trạch ngồi trên đầu núi, lặng nhìn những con sóng lấp lánh dưới ánh trăng mà cảm xúc dâng trào. Ông ta đau đớn nói với Dương Đế Trạch: "Chúng ta chống Cộng phục quốc là một sự nghiệp lớn. Vì đại kế trăm năm, nỗi đau nhất thời là điều không tránh khỏi”. Tưởng Kinh Quốc buộc phải tự cho mình uống một viên thuốc an thần! Ngày 6 tháng 2, nhà cầm quyền Đài Loan ra tuyên bố, thông báo tin rút khỏi đảo Đại Trần, nói rằng việc rút quân phòng thủ Đại Trần là để tập trung lực lượng phòng thủ Đài Loan, đồng thời cũng loan báo sẽ rút cả cư dân trên đảo. Ngày 7 tháng 2, trời âm u mưa dầm dề, rét xuân lành lạnh. Phóng viên tờ Trung ương nhật báo Lưu Nghị Phu kể: “Mưa đêm đã tạnh, tầng mây thấp vẫn đầy trời. Tôi chạy ra khỏi đền "ông Tổ nghề cá" trèo lên đỉnh núi nhỏ bên bờ biển gần đó, nhìn về hướng đông. Chà! đến thật rồi, có lẽ là một chiếc tầu quét mìn của hải quân Mỹ, cũng có thể là tầu liên lạc, con tầu mang số hiệu 124. Nhìn ra phía ngoài núi Bình Phong, tầu chiến nhiều vô kể, chúng như đàn cá mập đang bơi vào hải vực đảo Đài Trần. Tôi lập tức chạy về đền "ông Tổ nghề cá" báo cáo với Tưởng Tiên sinh, chỉ thấy ông mỉm cười gật đầu, chẳng nói chẳng rằng.
Ăn sáng xong tôi theo Tưởng Tiên sinh lên xe gíp đến núi Phong Sơn, gặp Trung đoàn trưởng Bành "quan trấn thủ” đảo Hạ Đại Trần. Ông ta đưa chúng tôi lên núi Phượng Vĩ, điểm cao nhất ở đây. Dọc đường, Tưởng Tiên sinh trò chuyện dăm ba câu với Trung đoàn trưởng. Từ trên núi nhìn xuống, hạm đội 7 Mỹ giống như tay thợ săn đã thả chó săn ra khắp hải vực Đại Trần. Mặt biển lố nhố hàng đoàn tàu chiến, trên không chỗ nào cũng có máy bay phản lực tuần tiễu, một số máy bay trực thăng như những con chuồn chuồn khổng lồ bay đi lượn lại cảnh giới trên đầu hạm đội. Các tướng sĩ đáng kính của chúng ta tuy đã biết kế hoạch rút lui nhưng vẫn đào chiến hào, đắp lô cốt, đề phòng những tai họa khôn lường trên chiến trường, trong khi những hòm đạn được chất trong kho đang được vận chuyển xuống chân núi”. Cũng hôm đó, Tưởng Giới Thạch nhân việc quân đội và dân chúng rút khỏi đảo Đại Trần đã công bố "Thư gửi đồng bào trong và ngoài nước", nói rằng làm như vậy là để điều động binh lực, tăng thêm lực lượng phòng vệ Đài Loan, Bành Hồ, Kim Môn và Mã Tổ, phối hợp với chiến lược mới, tránh những tổn thất vô ích. Cùng một lúc với việc công bố thư gửi đồng bào, Tưởng Giới Thạch còn diễn thuyết ở Đài Bắc về tình hình thế giới. Ông ta nói: Đài Loan là lãnh thổ của Trung Quốc, tất phải giành lại đại lục, đánh giá sai lầm về địa vị của Đài Loan là có dụng ý xấu chủ trương "hai nước Trung Quốc” là vô cùng xằng bậy. Bài nói của Tưởng Giới Thạch lần đầu tiên nói lên thái độ của Chính phủ Quốc dân Đảng Đài Loan đối với vấn đề "hai nước Trung quốc". Ngày 8 tháng 2, Bộ trưởng Quốc phòng Du Đại Duy, Tư lệnh Bộ Hải quân Lương Tự Chiêu, Vụ phó 3 Bộ Quốc phòng. Tưởng Vĩ Quốc của Chính phủ Đài Loan gặp Tưởng Kinh Quốc để cùng theo dõi, chỉ đạo công việc rút lui. Từ đêm mồng 8 đến ngày 12 tháng 2, hơn 18.000 quân phòng thủ đảo Đại Trần cùng với 14.000 dân, với sự tham dự trực tiếp của Hạm đội 7 Mỹ đã rút chạy về Đài Loan. Trước khi rút chạy, Tưởng Kinh Quốc lấy một lá quốc kì "Trung Hoa Dân Quốc" từ trên chiến hạm xuống đưa lên đảo tổ chức nghi lễ chào cờ lần cuối cùng. Tưởng Kinh Quốc nói trước đám đông: "Không được buồn cũng không được thất vọng. Trong giờ phút này, chúng ta phải hạ quyết tâm sẽ chiến thắng trở về”. Cũng có thể Tưởng Kinh Quốc đã suốt đời phấn đấu cho tâm nguyện đó, nhưng cuối cùng cho đến lúc chết ông ta cũng chưa bao giờ quay về được đảo Đại Trần. Quân hạm nhổ neo, Tư lệnh quân phòng thủ Đại Trần Lưu Liêm Nhất nhìn đảo Đại Trần khắp nơi khói lửa, thở dài não nuột: "Hết rồi, chẳng còn gì nữa, tất cả chỉ còn con số không”. Cuộc rút lui đến tối ngày 11 tháng 2 thì hoàn tất; 16.353 quân phòng thủ đảo và 17.132 dân thường được chuyển về Đài Loan. Những người không chịu đi bị bắn chết thảm thương. Trước khi rút chạy, đơn vị bộc phá của hải quân Quốc dân đảng điên cuồng tàn phá đảo Đại Trần, biến những nơi cư dân sinh sống bao đời nay thành đống gạch vụn, hàng chục ngôi làng thành bãi tro tàn. Trước lúc chạy trốn, Lưu Liêm Nhất - tên trùm Quốc dân Đảng ở đảo Đại Trần - nói với phóng viên hãng U.P.I. "Khi tôi ra đi, trên đảo chỉ còn lại những thây ma". Căn cứ vào tin trinh sát tình báo và quan sát từ xa thấy quân địch đã rút chạy, Quân Giải phóng lập tức đánh chiếm nốt các đảo ven biển Chiết Giang. Từ ngày 8 đến ngày 14 tháng 2, các đơn vị dưới quyền chỉ huy của Bộ chỉ huy mặt trận miền đông Chiết Giang lần lượt chiếm các đảo Bắc Lộc Sơn, Ngư Sơn, Phi Sơn. Ngày 22, Quân Giải phóng lại cho máy bay đi ném bom đảo Nam Lộc Sơn, quân phòng thủ trên đảo ngày 25 vội tháo chạy về Đài Loan. Đến đây, toàn bộ các đảo ven biển đông nam Chiết Giang đã trở về trong lòng nhân dân.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
SaoVang
Đại tá

Bài viết: 8205
|
 |
« Trả lời #197 vào lúc: 07 Tháng Sáu, 2009, 03:54:55 pm » |
|
VI. LÀM DỊU TÌNH HÌNH CĂNG THẲNG Ở EO BIỂN ĐÀI LOAN Tưởng Giới Thạch cự tuyệt bỏ Kim Môn, Mã Tổ Sau khi kết thúc chiến dịch ở miền đông Chiết Giang, Quân Giải phóng Trung Quốc bắt đầu thực thi kế hoạch tác chiến ở ven biển Phúc Kiến. Trận chiến ở eo biển Đài Loan hễ đụng tới là làm cho chính trường Mỹ lại một phen hỗn loạn. Chủ tịch Uỷ ban Đối ngoại Thượng viện Mỹ Grin viết thư cho Tổng thống Aixenhao bày tỏ: Giúp Tưởng phòng thủ Kim Môn có thể làm cho Mỹ "bị cuốn vào vòng xoáy của chiến tranh ở một nơi sai lầm, vào một thời điểm sai lầm, vì một vấn đề không hề ảnh hưởng đến lợi ích to lớn của nước ta". Nhiều quan chức Mỹ đồng ý với quan điểm trên. Theo họ, Mỹ cần giữ lời hứa bảo đảm an ninh cho Đài Loan, nhưng cực lực phản đối Mỹ dùng vũ lực bảo vệ Kim Môn, Mã Tổ. Quốc vụ viện Mỹ cho rằng, "bảo vệ Kim Môn" rất có thể dẫn tới xung đột trực tiếp giữa Mỹ và Trung Cộng, thậm chí cả với Liên Xô, do đó nhiều lần kiến nghị nhà cầm quyền Đài Loan rút khỏi Kim Môn, Mã Tổ. Họ thậm chí kiến nghị sẽ đưa quân đội và máy bay chiến đấu của Mỹ vào thường trú ở Đài Loan, đổi lại nhà cầm quyền Đài Loan rút khỏi Kim Môn, Mã Tổ. Tưởng Giới Thạch dứt khoát cự tuyệt kiến nghị đó. Sau khi phải chạy ra Đài Loan, ông ta luôn luôn hò hét "chống Cộng phục quốc” để khích lệ bọn tàn quân bại tướng, thường xuyên kêu gọi "Một năm chuẩn bị, hai năm tấn công, ba năm càn quét, năm năm thành công”, nay nếu hai hòn đảo cuối cùng ở ven biển có thể dùng làm bàn đạp lại bị mất nốt thì còn ai tin ông ta có thể "chống Cộng phục quốc” nữa. Mỹ định sử dụng vũ khí hạt nhân Tổng thống Mỹ Aixenhao cuối cùng ủng hộ quan điểm của Tưởng Giới Thạch. Ông ta cho rằng, quân đội Quốc dân Đảng sau khi mất đại lục mà sĩ khí vẫn còn giữ được chính bởi vì họ tin rằng sẽ có ngày đánh về đại lục, nay bỏ Kim Môn, Mã Tổ có khác gì làm tan vỡ giấc mộng đó của họ Nếu sĩ khí không còn nữa, Đài Loan sẽ "sa vào tình trạng vô cùng nguy hiểm, Trung Cộng có thể đánh chiếm bất kì lúc nào”. Ngày 3 tháng 3, Quốc vụ khanh Mỹ Đalét đi Đài Loan mật đàm với Tưởng Giới Thạch. Trở về nước, ông ta cùng Aixenhao bàn việc bảo vệ Kim Môn, Mã Tổ, đề phòng Trung Cộng đánh Đài Loan. Theo những hồ sơ đã hết thời hạn bảo mật của Mỹ, nhà cầm quyền Mỹ khi đó sẵn sàng dùng mọi thủ đoạn quân sự kể cả dùng vũ khí hạt nhân để bảo vệ Kim Môn, Mã Tổ, đề phòng Trung Cộng đánh Đài Loan. Ngày 10 tháng 3, Đalét báo cáo với Uỷ ban an ninh quốc gia Mỹ ý kiến của ông ta và Tổng thống, có nêu cả vấn đề sử dụng bom nguyên tử. Trong một buổi họp báo, Tổng thống Mỹ Aixenhao và Phó Tổng thống Ních sơn cũng ngầm tỏ ý Mỹ có thể sử dụng cả vũ khí hạt nhân. Điều này đã làm cho dư luận trong nước Mỹ và thế giới cảm thấy rất căng thẳng trước khả năng có thể xảy ra một cuộc chiến tranh hạt nhân. Được Mỹ mớm cho, khẩu khí của Đài Loan cũng ngang ngạnh hơn. Ngày 22 tháng 3, nói chuyện với một nhà báo Mỹ, Tưởng Giới Thạch tuyên bố Đài Loan sẽ chiến đấu đến người cuối cùng để bảo vệ Kim Môn, Mã Tổ. Sau đó trong nhiều cuộc tiếp xúc cá nhân, ông ta đều thề chết để bảo vệ Kim Môn, Mã Ngày 5 tháng 5 "Viện trưởng Viện hành chính" Đài Loan Du Hồng Quân khi báo cáo trước Viện lập pháp về công tác hành chính cũng nói, quyết tâm bảo vệ Kim Môn, Mã Tổ không hề thay đổi, Đài Loan phản đối mọi kiến nghị hòa đàm và ngừng bắn. Ngày 9 tháng 5, ông ta nhắc lại với phóng viên Mỹ: "Kế hoạch bảo vệ Kim Môn, Mã Tổ không thể thay đổi, không thể vì ý kiến của nước ngoài mà bỏ rơi những hòn đảo đó”. Trần Thành trong nhiều lần tiếp chuyện các nhà báo nước ngoài cũng tỏ ý "dù cho Kim Môn, Mã Tổ bị cô lập, không nhận được sự giúp đỡ cũng vẫn phải giữ đến cùng”.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
SaoVang
Đại tá

Bài viết: 8205
|
 |
« Trả lời #198 vào lúc: 07 Tháng Sáu, 2009, 03:55:38 pm » |
|
Mao Trạch Đông quyết định ngừng đánh Kim Môn, Mã Tổ Xét về địa thế. Kim Môn, Mã Tổ như hai cái vòi chọc sâu vào trái tim đại lục; Bành Hồ là nơi khống chế eo biển Đài Loan, là trạm trung chuyển giữa Đài Loan và Kim Môn. Đài Loan là căn cứ chính để "chống Cộng phục quốc", còn Kim Môn, Mã Tổ là bàn đạp để đổ bộ, hai nơi hỗ trợ lẫn nhau, dựa vào nhau tồn tại, không thể khuyết mất một được. Muốn bảo vệ Đài Loan - Bành Hồ phải giữ Kim Môn, Mã Tổ, bảo vệ Kim Môn, Mã Tổ là để giữ Đài Loan - Bành Hồ. Đó là nhận xét của một chuyên gia quân sự Mỹ về mối quan hệ giữa Đài Loan - Bành Hồ với Kim Môn - Mã Tổ và ý nghĩa chiến lược của nó. Nhận xét này cũng được Tưởng Giới Thạch dùng làm "căn cứ lí luận" cắt nghĩa vì sao ông ta lại thề quyết giữ Kim Môn - Mã Tổ. Thực ra, Tưởng Giới Thạch hiểu rõ hơn ai hết, lực lượng của Quốc dân Đảng đã yếu hơn rất nhiều lực lượng quân sự của Trung Cộng, chỉ phòng thủ các đảo ven biển đã "lực bất tòng tâm", đâu còn có lực lượng "phản công”? Đã không còn sức phản công thì vai trò bàn đạp của Kim Môn, Mã Tổ đâu còn nữa. Huống hồ, cùng với đà phát triển nhanh chóng của khoa học kĩ thuật quân sự, Kim Môn, Mã Tổ cũng mất giá trị đối với việc phòng vệ Đài Loan; Quân Giải phóng nếu tấn công Đài Loan, hoàn toàn có thể vòng qua Kim Môn, Mã Tổ để tới mục tiêu nên trên thực tế Kim Môn, Mã Tổ đã không còn ý nghĩa chiến lược nữa. Bỏ Kim Môn hoặc giữ Kim Môn chẳng còn quan trọng gì đối với Đài Loan. Mỹ sở dĩ khuyến khích Tưởng Giới Thạch bỏ Kim Môn, Mã Tổ là có mục đích không tiện nói ra của họ, vì như vậy khoảng cách giữa hai bờ giãn xa ra, việc chia cắt sẽ dễ dàng hơn. Còn Tưởng Giới Thạch sở dĩ quyết giữ Kim Môn, Mã Tổ cũng nhằm mục đích cuối cùng là lôi kéo người Mỹ vào cuộc nội chiến ở Trung Quốc. Một ngọn lửa chiến tranh bùng lên ở Kim Môn, Mã Tổ, quân đội Quốc dân Đảng tất nhiên không địch nổi đối phương, Mỹ nhìn thấy mà không cứu tất sẽ mất uy tín mất danh dự trước thế giới, nếu nhúng tay vào thì phải trực tiếp đối đầu với quân đội Trung Cộng, và như vậy chiến tranh Trung-Mỹ sẽ có thể nổ ra. Nhà chiến lược quân sự Mao Trạch Đông đương nhiên nhìn thấu âm mưu đó của Mỹ-Tưởng. Lúc đầu ông quyết định dùng hành động quân sự có mức độ ở vùng ven biển với mục đích chính là trừng phạt hoạt động quấy rối xâm lược của Quốc dân Đảng, và tỏ rõ quyết tâm chống Mỹ xâm lược Đài Loan, chia cắt Trung Quốc; không hề có ý định gây ra cuộc chiến tranh toàn diện giữa Trung Quốc và Mỹ. Chiến dịch ở ven biển miền đông Chiết Giang thắng lợi, mục tiêu trên đã cơ bản đạt được. Hơn nữa, nhiệm vụ chính của nước Trung Quốc mới lúc này là xây dựng kinh tế. Trung Quốc mà lớn mạnh thì Mỹ sẽ không can thiệp được vào công việc nội bộ của Trung Quốc và khi đó có lẽ chỉ cần "hít” một tiếng là người nước ngoài sẽ lảng ra xa. Do đó, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc quyết định ngừng đánh Kim Môn, Mã Tổ, áp dụng đúng lúc những biện pháp làm dịu tình hình căng thẳng. Được Mỹ bao che, tình hình Đài Loan dần dần ổn định, an phận với một hải đảo giữa biển khơi. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc, đại lục cũng lao vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội hừng hực khí thế.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
SaoVang
Đại tá

Bài viết: 8205
|
 |
« Trả lời #199 vào lúc: 07 Tháng Sáu, 2009, 03:57:24 pm » |
|
VII. TRUNG-MỸ HỘI ĐÀM Ở GIƠNEVƠVương Bính Nam được cử làm Trưởng đoàn đại biểu Trung Quốc Một ngày cuối tháng 7 năm 1955, thành phố Vácsava mĩ lệ ngập trong nắng vàng rực rỡ. Vị Đại sứ Trung Quốc mới nhận nhiệm vụ được ba tháng Vương Bính Nam đang cùng các nhân viên sứ quán ăn bữa cơm dã ngoại tại ngoại ô thành phố, nơi họ đến chơi và nghỉ ngơi. Cảnh sắc nơi đây thật tuyệt vời, những vạt rừng cây và những cánh đồng xanh biếc nhìn không chán mắt khiến tâm hồn thêm thư thái. Mọi người ngồi quây quần vui vẻ chuyện trò, ăn uống... Lúc đó khoảng 1 giờ trưa giờ địa phương, viên thư kí cơ yếu mang đến một bức điện của Bộ Ngoại giao. Đó là bức điện gửi cho Biện sự sứ Trung Quốc ở Anh. Nội dung nói thông qua sự dàn xếp của Anh, Mỹ kiến nghị với Trung Quốc hai bên sẽ tiến hành hội đàm ở cấp Đại sứ. Bức điện được sao thêm gửi cho Sứ quán Trung Quốc ở Vácsava. Đọc xong bức điện, Vương Bính Nam trong người bồn chồn, tại sao điện gửi cho Đại biện ở Anh lại đưa cả cho Sứ quán ở Vácsava? Các nhân viên sứ quán ngồi bên bàn tán sôi nổi, họ phỏng đoán hay là cấp trên cử Đại sứ đi dự hội đàm? Vương Bính Nam không nghĩ tới chuyện đó, vì sau Hội nghị Giơnevơ, ông không quản về vấn đề quan hệ Trung-Mỹ nữa. Vương Bính Nam sinh ngày 1 tháng 1 năm 1908 ở huyện Càn tỉnh Thiểm Tây. Khi còn học ở trường trung học Tam Nguyên, ông gia nhập Đoàn Thanh niên cộng sản, năm sau trở thành đảng viên Đảng Cộng sản và giữ chức Bí thư chi bộ đầu tiên ở huyện Càn. Ông tổ chức lãnh đạo quần chúng nông dân đấu tranh chống sưu chống thuế. Vì tham gia hoạt động cách mạng, bị Chính phủ địa phương lùng bắt ông phải rời quê hương. Năm 1929, ông được vị tướng yêu nước Dương Hổ Thành - người bạn cắt máu ăn thề của cha, giúp chạy sang Đức vào học ngành chính trị ở Đại học Béclin. Tại Đức, ông tập hợp lưu học sinh Trung Quốc ở các nước Pháp, Đức v.v... lập ra Nhóm chống Nhật. Vương Bính Nam học tập và công tác 5 năm ở Béclin. Ông kết giao rộng, bạn của ông ở khắp các thành phố Đức, công nhân có, học sinh có, có cả những nhà khoa học và những nhà cách mạng, kể cả người lãnh đạo Quốc tế cộng sản là Đimitơrốp. Năm 1936, Vương Bính Nam kết hôn với Tiến sĩ triết học Anna Lidơ, người bạn gái thời cùng học với nhau ở Đại học Béclin. Sau đó Anna lấy họ chồng nên gọi là Vương Anna. Tình yêu ban đầu đang nồng cháy, nhưng vì cách mạng họ chấp nhận tạm xa nhau. Mùa xuân năm 1936, Đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Trung Quốc ở quốc tế Cộng sản cử Vương Bính Nam về nước làm công tác Mặt trận thống nhất, vận động tướng Dương Hổ Thành và Lộ quân 17 chống Nhật. May sao, họ được cấp trên bố trí cho phép đi cùng. Tháng 3 năm 1936, ngay trong đêm, vợ chồng Vương Bính Nam vừa về tới Tây An, thậm chí còn chưa kịp đặt chân đến căn phòng mới mà người nhà dành cho hai vợ chồng, họ đã được tướng Dương Hổ Thành mời đến gặp ngay, ông lại còn khăng khăng buộc hai vợ chồng Vương Bính Nam dọn vào ở trong "tư dinh". Qua nhiều lần bí mật bàn bạc, Dương Hổ Thành giao cho Vương Bính Nam tuyển chọn nòng cốt giúp ông cải tạo bộ đội. Vương Bính Nam trở thành "bạn vong niên" của Dương Hổ Thành. Thời gian Dương Hổ Thành đi Thượng Hải "chữa bệnh" để tránh Tưởng Giới Thạch bắt ông đi "tiễu Cộng”, ông đã mấy lần gửi điện bảo vợ chồng Vương Bính Nam về Thượng Hải gấp. Ở Thượng Hải, qua Đỗ Trọng Viễn giới thiệu, Vương Bính Nam xây dựng được mối liên hệ thường xuyên với tướng Trương Học Lương, trở thành cầu nối thắt chặt sự hiểu biết và khơi thông ý kiến giữa Trương Học Lương và Dương Hổ Thành. Tháng 11 năm 1936, Dương Hổ Thành quay về Tây An được ít lâu ông gửi điện khẩn bảo Vương Bính Nam về ngay Tây An bàn việc. Trước ngày xảy ra "Sự biến Tây An", Trương Học Lương đến Chỉ Viên tìm Dương Hổ Thành mật bàn biện pháp đối phó với thời cuộc. Ông nói với Dương Hổ Thành: - Vương Bính Nam đang ở chỗ ông phải không? Tìm cậu ấy đến chúng ta bàn thêm - Cậu ta tư tưởng cấp tiến, chủ trương bắt Tưởng. Trương Học Lương mừng rỡ nói: - Đó cũng là một cách giải quyết, xem ra đành phải vậy thôi.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|