SaoVang
Đại tá

Bài viết: 8205
|
 |
« Trả lời #210 vào lúc: 08 Tháng Sáu, 2009, 01:33:20 pm » |
|
Phiên hội đàm lần thứ 100 Ngày 6 tháng 9 năm 1960, là ngày họp phiên hội đàm Trung-Mỹ lần thứ 100. Vương Bính Nam thấy cần thiết phải có một bài phát biểu mang tính chất tổng kết, vừa để thúc đẩy hội đàm tiến triển và cũng để mọi người hiểu được chân tướng của tình trạng hội đàm tại sao lại dẫm chân tại chỗ. Trong lời phát biểu, trước hết Vương Bính Nam vạch rõ, trong 100 phiên hội đàm suốt 5 năm nay, phía Trung Quốc trước sau vẫn giữ thái độ muốn thông qua đàm phán giải quyết mọi tranh chấp, còn phía Mỹ tỏ ra không hề có thiện chí, hơn nữa còn tiếp tục làm cho tình hình Đài Loan thêm căng thẳng. Tiếp đó, Vương Bính Nam nhắc lại, cuộc hội đàm Trung-Mỹ từ khi bước sang giai đoạn hai, giai đoạn giải quyết những vấn đề thực tế khác có sự tranh chấp, tình hình cũng không làm cho người ta hài lòng. Phía Trung Quốc luôn giữ thái độ tích cực, không ngừng cố gắng lần lượt đưa ra 10 phương án hợp tình hợp lí để tìm con đường làm dịu tình hình căng thẳng ở Đài Loan và cải thiện quan hệ Trung-Mỹ, nhưng phía Mỹ đã có thái độ hoàn toàn trái ngược. Mỹ một mặt giải thích sai lệch Hiệp nghị về vấn đề hồi hương thường dân của hai nước, khăng khăng đòi vận dụng cả vào những trường hợp phạm nhân Mỹ phạm tội nặng ở Trung Quốc, đòi thả họ vô điều kiện, điều đó là vô lí, là can thiệp vào công việc nội bộ của Trung Quốc. Mặt khác, Chính phủ Mỹ lại vi phạm Hiệp nghị nói trên, ngăn cản người Trung Quốc ở Mỹ về nước. Mỹ từ chối không từ bỏ việc dùng vũ lực chống Trung Quốc, không chịu rút mọi lực lượng vũ trang ra khỏi Đài Loan và khu vực eo biển Đài Loan. Vương Bính Nam nhấn mạnh, làm dịu và loại bỏ tình hình căng thẳng ở khu vực Đài Loan là điểm then chốt của cuộc hội đàm Trung-Mỹ, là hòn đá thử vàng để xét xem có thiện chí đàm phán hay không. Chính phủ Mỹ chỉ muốn chiếm đóng vĩnh viễn Đài Loan, rằng chính quyền Tưởng Giới Thạch ở Đài Loan là "Chính phủ hợp pháp” của Trung Quốc, thậm chí còn ngoan cố nói rằng Mỹ xâm chiếm Đài Loan là dựa vào cái gọi là "nghĩa vụ thực thi hiệp ước kí với bè lũ Tưởng Giới Thạch. Đó chẳng qua chỉ là âm mưu tạo ra "hai nước Trung Quốc", biến Đài Loan thành thuộc địa của Mỹ mà mọi người đều đã biết. Vương Bính Nam đưa ra một số việc cụ thể: Mùa thu năm 1958, nhằm khiêu khích nhân dân Trung Quốc, Mỹ đã tập kết ở eo biển Đài Loan một lực lượng vũ trang mà Mỹ rêu rao là lớn nhất; mùa hè năm 1960, Tổng thống Mỹ Aixenhao thân chinh đến Đài Loan tiến hành những hoạt động thù địch nhân dân Trung Quốc, máy bay quân sự và chiến hạm Mỹ liên tục xâm phạm vùng trời và vùng biển của Trung Quốc. Gần đây nhất là Mỹ lại cho tuần dương hạm, tầu ngầm, máy bay có vũ trang hoặc có thể mang vũ khí hạt nhân tới Viễn Đông, công khai dùng hạt nhân đe doạ Trung Quốc. Sự thật đều rành rành còn đó. Bim ngồi nghe, có phần lúng túng, không sao đối đáp lại được. Vương Bính Nam buông một câu: "Thưa ngài Đại sứ, Ngài nên biết rằng, kẻ nào chơi với lửa tất sẽ bị lửa thiêu?" Lúc này, Vương Bính Nam như cảm thấy mình đang đứng trước nhân dân toàn thế giới, đang vạch trần bộ mặt xâm lược của Chính phủ Mỹ cho thiên hạ thấy rõ, không làm như vậy sẽ không nói lên được những cố gắng phấn đấu và nỗi chờ mong trong suốt 5 năm của 600 triệu nhân dân Trung Quốc. Vương Bính Nam nói tiếp, những tranh chấp giữa Mỹ và Trung Quốc có giải quyết được hay không, nếu chỉ dựa vào sự cố gắng của riêng phía Trung Quốc không đủ, bây giờ là lúc người Mỹ cần xem xét lại thái độ của họ đối với cuộc hội đàm Trung-Mỹ, là lúc phải nghiêm túc xem xét việc rút tất cả lực lượng vũ trang ra khỏi Đài Loan và eo biển Đài Loan, xem xét muộn không bằng xem xét sớm, đi trễ không bằng đi sớm. Xem xét sớm, đi sớm, người Mỹ có thể sớm được giải thoát. Nghe những lời phê phán hùng hồn đó của Vương Bính Nam, Bim không hé răng nửa lời. Vương Bính Nam nói xong, thái độ của Bim vẫn có vẻ lúng túng, ngoài chuyện bày tỏ sự thất vọng trước lời phát biểu của Vương Bính Nam, ông ta không bắt bẻ được điều gì. Tiếp đó, Vương Bính Nam lại đưa ra một phương án mới về việc trao đổi nhà báo giữa hai nước Trung-Mỹ. Ông nhấn mạnh: Tôn chỉ của Trung Quốc là, Trung-Mỹ trao đổi nhà báo với nhau là để xóa đi sự cách bức giữa nhân dân hai nước Trung-Mỹ, bước đầu cải thiện mối quan hệ vừa băng giá vừa căng thẳng giữa hai nước hiện nay, nhằm mục đích thúc đẩy thêm một bước hai nước dựa vào 5 nguyên tắc chung sống hòa bình để giải quyết hòa bình vấn đề rút các lực lượng vũ trang Mỹ ra khỏi Đài Loan và eo biển Đài Loan. Phương án mới này của Vương Bính Nam cũng lại là phương án mà thần kinh nhạy cảm của Chính phủ Mỹ không thể chấp nhận được, nên rút cục cũng không được thông qua. Phối hợp với bài phát biểu của Vương Bính Nam tại phiên hội đàm lần thứ 100, Nhân dân nhật báo Trung Quốc ngày 8 tháng 9 năm 1960 đăng bài xã luận với nhan đề Một trăm phiên hội đàm Trung-Mỹ. Nhân dân trong nước Trung Hoa đua nhau đọc, những người yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới cũng đều ca ngợi lập trường đúng đắn của Chính phủ Trung Quốc.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
SaoVang
Đại tá

Bài viết: 8205
|
 |
« Trả lời #211 vào lúc: 08 Tháng Sáu, 2009, 01:34:16 pm » |
|
Ngón võ mới của Kennơđi. Cuối năm 1960, Mỹ tiến hành bầu cử Tổng thống. Trong cuộc tranh luận trên truyền hình, Kennơđi và Ních sơn dường như đều tập trung nói về vấn đề Kim Môn, Mã Tổ, coi đó là một vấn đề lớn. Họ đều cùng tỏ thái độ kiên quyết ủng hộ chính quyền Tưởng Giới Thạch ở Đài Loan. Sau khi Kennơđi lên nắm quyền, Mỹ hùng hổ đẩy mạnh thế tấn công trên toàn cầu. Đại hội 20 của Đảng Cộng sản Liên Xô năm 1956 đã phủ định hoàn toàn Xtalin, dẫn tới sự bất đồng nghiêm trọng với Đảng Cộng sản Trung Quốc. Sự bất đồng đó dần dần được công khai hóa. Hoàn cảnh quốc tế Trung Quốc ngày càng xấu đi. Do sai lầm của "đại nhảy vọt", thêm vào đó là thiên tai nặng nề, việc Liên Xô xé bỏ hợp đồng, rút chuyên gia về nước, ngừng viện trợ kinh tế, khiến Trung Quốc phải trải qua những khó khăn kinh tế nghiêm trọng. Cuộc hội đàm khi đó vẫn không mảy may tiến triển, như đang có một tảng đá khổng lồ chặn ngang không sao lay chuyển được. Kennơđi nhậm chức được 3 tháng, Vương Bính Nam và Bim lại gặp nhau ở Vácsava. Vương Bính Nam đương nhiên không có bất kì sự kì vọng nào đối với Chính phủ Kennơđi, nhưng xuất phát từ những suy nghĩ tích cực, ông bày tỏ với Bim mong muốn Kennơđi không giống người tiền nhiệm, khư khư ôm lấy chính sách cũ rích không có lối thoát, trái lại có những đón góp làm cho quan hệ Trung-Mỹ tiến triển. Qua mấy phiên họp, Kennơđi hoàn toàn lộ rõ ông ta chỉ thay thang chứ không đổi thuốc. Phía Mỹ vẫn chỉ quẩn quanh với vấn đề hồi hương dân thường như trước, vẫn chỉ lặp lại vấn đề hai bên không dùng vũ lực trong vấn đề Đài Loan. Kennơđi cũng giở vài miếng võ mới như đưa ra kiến nghị tổng hợp về việc hai bên trao đổi nhà báo, nhưng trong cách làm cụ thể lại tìm cách ngăn cản những người Mỹ được phía Trung Quốc mời sang thăm; đưa ra vấn đề bán lương thực cho Trung Quốc với giá ưu đãi, cứu tế cho người nghèo ở Trung Quốc v.v... Vương Bính Nam cảm thấy Kennơđi có phần ngây thơ, thậm chí ấu trĩ, ông ta tưởng rằng với chút ơn huệ cỏn con có thể buộc Trung Quốc nhượng bộ trong vấn đề Đài Loan to lớn. Vương Bính Nam nghiêm khắc từ chối những đề nghị đó. Ông nói: "Nước Trung Quốc mới đang trải qua một thời kì khó khăn nghiêm trọng, nhưng Trung Quốc đất rộng giàu tiềm năng, nhân dân cần cù dũng cảm, chúng tôi tin rằng dựa vào sức mình nhất định sẽ giải quyết được những khó khăn đó, nhân dân Trung Quốc quyết không sống nhờ vào của bố thí của người khác, càng không thể đem vấn đề nguyên tắc ra để mua bán”. Dù rằng trên bàn hội đàm vẫn bế tắc, Vương Bính Nam vẫn cố gắng có một số lần gặp gỡ riêng với Bim. Có khi Vương Bính Nam mời Bim uống trà, trao đổi vấn đề Lào; khi xảy ra cuộc khủng hoảng Béclin, Vương Bính Nam mời Bim đến sứ quán Trung Quốc, nêu ra một loạt vấn đề với ông ta. Trong những lần gặp riêng này, hai bên không tránh khỏi nhắc lại vấn đề Đài Loan, nhưng không khí mang tính chất thảo luận, ngôn từ cũng nhẹ nhàng hơn, tất nhiên không có ai từ bỏ lập trường nguyên tắc của Chính phủ mình. Thượng tuần tháng 9 năm 1961, Bim được lệnh về nước nhận chức vụ mới - Vụ phó Vụ tài giảm binh bị Mỹ. Sau khi Bim đi, đối thủ của Vương Bính Nam lại được thay thế bằng người khác. Nghe nói, hồi đó khi lựa chọn người làm Đại sứ ở Vácsava, Mỹ không cân nhắc đến chuyện người được chọn có nắm được vấn đề Ba Lan hay không, mà trước hết xem người đó có nắm được vấn đề Trung Quốc hay không, vì người này sẽ hội đàm với Đại sứ Trung Quốc. Đại sứ mới kế nhiệm Bim làm Đại sứ Mỹ ở Vácsava là Cabốt. Lý do ông này được chọn là vì có thời kỳ ông ta đã làm Tổng lãnh sự ở Thượng Hải.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
SaoVang
Đại tá

Bài viết: 8205
|
 |
« Trả lời #212 vào lúc: 08 Tháng Sáu, 2009, 01:36:16 pm » |
|
Thăm dò hư thực chuyện Tưởng phản công. Tháng 3 năm 1962, Vương Bính Nam và Đại sứ Cabốt tiếp tục hội đàm. Cabốt rất khác với hai người tiền nhiệm của mình. Mặc dù ông ta đã có 36 năm làm công tác Ngoại giao, từng làm Tổng lãnh sự ở Thượng Hải, trước khi đến Vácsava là Đại sứ ở Braxin, nhưng bề ngoài tỏ ra là một người hiền hành và không để lộ ra tài năng Ngoại giao của mình. Năm 1979, khi Vương Bính Nam đến Bốtstơn gặp Cabốt mới biết ông ta là một trong hai tỉ phú của Bốtstơn, người kia là tướng Lốt đã từng làm Đại sứ ở Việt Nam. Người Bốtstơn có câu tục ngữ "Nhân sĩ địa phương nói với Lốt, Lốt nói với Cabốt, Cabốt nói với Thượng đế”. Câu nói có nghĩa là, Cabốt có nhiều tiền hơn Lốt, ông ta có thể mua được cả Thượng đế. Cabốt đón tiếp Vương Bính Nam ở Bốtstơn rất long trọng. Ông ta cảm thấy băn khoăn vì trước kia đã có những lời lẽ không thân thiện với Trung Quốc, nay muốn thăm lại Trung Quốc lại sợ không được hoan nghênh. Bà vợ ngồi bên cạnh cằn nhằn: "Cứ như ông thì Trung Quốc người ta không cho sang nữa đâu?". Nghe nói vậy Vương Bính Nam cười xòa, bảo rằng đó là những chuyện trước kia không nhắc tới nữa, và ngay lúc đó ông mời vợ chồng Cabốt sang thăm Trung Quốc. Hai người rất vui, và sau đó đã tích cực chuẩn bị cho chuyến đi thăm Trung Quốc. Năm 1982, Cabốt gửi thư cho Vương Bính Nam báo ngày giờ ông tới Trung Quốc và cảm ơn lời mời của Vương Bính Nam. Rủi thay, trước hôm khởi hành Cabốt đột nhiên phát bệnh tim từ trần. Trở lại chuyện hội đàm. Năm 1962, khi tham gia hội đàm Trung-Mỹ, Cabốt đã ngoài 50 tuổi, cử chỉ nói năng rất tự nhiên, không để ý lắm đến lễ tiết Ngoại giao. Trên bàn đàm phán, đại biểu hai bên thậm chí còn nói đùa với nhau. Nhớ có lần ông cười hà hà bảo: "Trung Cộng các ông phải cảm ơn nước Mỹ chúng tôi. Đấy ông xem, sau khi thắng lợi các ông duyệt binh chẳng phải là có rất nhiều trang bị kiểu Mỹ đó sao? Những trang bị đó là của Tưởng Giới Thạch cung cấp cho các ông đấy. Sở dĩ các ông gọi Tưởng Giới Thạch là đại đội trưởng vận tải vì ông ta đưa vũ khí cho các ông mà chẳng cần lấy biên lai?" Thời kỳ này, bè lũ Tưởng Giới Thạch ở Đài Loan nhân lúc đại lục gặp thiên tai nghiêm trọng, lại bắt đầu dấy lên làn sóng phản công đại lục, mây đen chiến tranh giăng khắp bầu trời mặt trận Phúc Kiến, tình hình căng thẳng chưa từng có. Đoàn đại biểu Trung Quốc nhận được tin tình báo là Tưởng Giới Thạch mua một số lượng lớn vũ khí mới, cải tiến máy bay để tăng thêm lượng nạp dầu đủ bay đến đại lục rồi quay về Đài Loan. Tưởng Giới Thạch tuyên bố kéo dài thời gian quân dịch, bình sĩ nhất loạt không được rời khỏi doanh trại, sẵn sàng đợi lệnh. Trên giầy và thắt lưng da của họ khắc 4 chữ "THU PHỤC ĐẠI LỤC". Nghe nói Tưởng còn cho mua của Nhật một khối lượng lớn máu. Xem ra Tưởng Giới Thạch bí quá hóa liều, quyết một phen tử chiến với đại lục. Cuối tháng 5 năm 1962, Vương Bính Nam đang nghỉ phép ở trong nước. Một hôm Chu Ân Lai đích thân hẹn gặp ông bàn về tình hình eo biển Đài Loan. Thủ tướng nói, Tưởng Giới Thạch cho rằng nay là thời cơ tốt để tiến đánh đại lục, bên ngoài thì Trung Cộng bất hòa với Liên Xô, bên trong thì thiên tai nghiêm trọng, thật là cơ hội ngàn năm có một, Tưởng Giới Thạch đã hạ quyết tâm chơi một canh bạc lớn. Về tình hình quân sự có liên quan đến mặt này Thủ tướng bảo Vương Bính Nam đi gặp Tổng Tham mưu trưởng La Thụy Khanh. Vương Bính Nam lập tức gọi điền cho La Thuỵ Khanh hẹn gặp ông. La Thụy Khanh mời Vương Bính Nam đến Bộ Tổng Tham mưu bàn chuyện. La Thụy Khanh nói cho Vương Bính Nam nghe rất nhiều tình hình. Ông kéo tấm rèm che tấm bản đồ lớn trên tường, giới thiệu với Vương Bính Nam tình hình quân sự của tập đoàn Tưởng Giới Thạch. Theo ông, vấn đề hiện nay không phải là đánh hay không đánh mà là đánh như thế nào, đánh ở ngoài đại lục hay nhử chúng vào sâu rồi đánh, hai ý kiến này đang được thảo luận. Nghe xong, Vương Bính Nam cảm thấy tình hình hết sức nghiêm trọng. Lại một hôm khác, Chu Ân Lai tìm Vương Bính Nam đến bàn chuyện gấp. Ông bảo Vương Bính Nam ngừng nghỉ phép, quay lại Vácsava ngay. Ông nói, Trung ương đã nghiên cứu kĩ, cho rằng quyết tâm phản công đại lục của Tưởng Giới Thạch rất lớn, nhưng y vẫn còn một số khó khăn; vấn đề then chốt hiện nay là cần biết thái độ của Mỹ ra sao, Mỹ có ủng hộ hay không, phải tranh thủ làm cho Mỹ ngăn chặn hành động quân sự phản công đại lục của Tưởng Giới Thạch. Chu Ân Lai chỉ thị cần nhanh chóng nối lại hội đàm, tìm cơ hội tìm hiểu thái độ của Mỹ. Vương Bính Nam ý thức được nhiệm vụ đó vô cùng quan trọng, không thể chần chừ đã lên đường quay lại Vácsava ngay. Theo thời gian trong nước qui định, ông báo cho Cabốt và hẹn gặp ông ta. Trước ngày gặp một hôm trong nước lại đánh điện sang bảo Vương Bính Nam cáo ốm lùi thời gian hội đàm chính thức lại, khiến ông mấy hôm liền không dám ló ra cửa sứ quán. Sau này mới biết nguyên nhân phải lùi thời gian lại là vì trong nước đang khẩn trương tập kết binh lực về mặt trận Phúc Kiến, nhưng miền Nam mưa lớn, một số cầu bị nước cuốn trôi, bộ đội tập kết khó khăn. Sáu đó, theo chỉ thì trong nước, Vương Bính Nam lại thỏa thuận với Cabốt thời gian gặp nhau. Để cuộc trao đổi không bị gò bó, Vương Bính Nam dùng phương thức hội đàm phi chính thức. Ngày 23 tháng 6, ông mời Cabốt đến nhà riêng của Đại sứ uống trà trò chuyện. Cabốt nhận lời và đến.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
SaoVang
Đại tá

Bài viết: 8205
|
 |
« Trả lời #213 vào lúc: 08 Tháng Sáu, 2009, 01:36:25 pm » |
|
Cabốt vẫn không câu nệ lễ tiết, vẫn vẻ mặt phớt đời, nói nói cười cười, vừa uống trà vừa trò chuyện. Vương Bính Nam bắt đầu bằng câu chuyện, về tình hình Đông Nam Á. Ông nói:
- Chính phủ Trung Quốc cảm thấy lo ngại về tình hình Đông Nam Á. Năm nay, Mỹ tăng quân ở miền Nam Việt Nam, đưa quân vào Thái Lan, tăng cường can thiệp ở Lào, Đông Nam Á đang đứng trước một tình thế mà bất kì lúc nào cũng có thể dẫn đến xung đột quốc tế qui mô lớn. Chính phủ Trung Quốc vẫn luôn giữ thái độ tự kiềm chế. Mặc dù một bộ phận tàn quân Tưởng Giới Thạch đang tham gia vào nội chiến ở Lào, nền an ninh của Trung Quốc đang bị đe doạ ngày càng nghiêm trọng, Trung Quốc vẫn không từ bỏ đường lối tranh thủ giải quyết hòa bình vấn đề Lào, vẫn không từ bỏ chủ trương dựa trên cơ sở không can thiệp vào công việc nội bộ của các nước hữu quan, làm díu tình hình Đông Dương và toàn bộ Đông Nam Á. Song tình hình có dịu xuống hay không, then chốt không nắm trong tay Trung Quốc.
Tiếp đó, giọng Vương Bính Nam trở nên nghiêm nghị:
- Chính phủ Trung Quốc vẫn cần phải lưu ý Chính phủ Mỹ chú ý đến tình hình căng thẳng ở eo biển Đài Loan...
Nghe đến đây, vẻ mặt Cabốt đột nhiên nghiêm lại, chăm chú nghe. Vương Bính Nam nói tiếp:
- Chính phủ Mỹ hoàn toàn biết rõ tình hình bè lũ Tưởng Giới Thạch chuẩn bị xâm phạm vùng ven biển đại lục và công việc chuẩn bị này được Mỹ ủng hộ, khuyến khích và phối hợp. Từ tháng 2 năm nay đến giờ, bè lũ Tưởng Giới Thạch bố trí lực lượng quân sự, tuyên truyền chiến tranh gọi lính nhập ngũ trước thời hạn, kéo dài thời hạn quân dịch của lính đang tại ngũ v.v... để chuẩn bị vượt biển đổ bộ vào đại lục. Được Mỹ tham gia hoặc phối hợp, bè lũ Tưởng Giới Thạch tiến hành nhiều cuộc tập trận và hoạt động trinh sát vùng ven biển đại lục. Để hà hơi tiếp sức cho Tưởng Giới Thạch chuẩn bị xâm phạm đại lục, Chính phủ Mỹ tăng "viện trợ quân sự” và "viện trợ kinh tế” cho Tưởng. Mỹ tính toán rằng, ủng hộ và khuyến khích Tưởng Giới Thạch làm một cuộc phiêu lưu quân sự, dẫu kết quả ra sao, Mỹ đều có lợi là đả kích được lục địa và khống chế Đài Loan thêm một bước. Được Mỹ ủng hộ và khuyến khích, bè lũ Tưởng đang hăm hở muốn thử vận may.
Thấy Vương Bính Nam cố ý nhắc đi nhắc lại vai trò hậu trường của Chính phủ Mỹ trong chuyện Tưởng Giới Thạch chuẩn bị phản công đại lục, Cabốt tỏ ra hơi bối rối. Vương Bính Nam dấn thêm:
- Nhân dân Trung Quốc "chơi với” Tưởng Giới Thạch đã mấy chục năm, hoàn toàn biết cách đối phó ông ta ra sao. Chính phủ Trung Quốc phải nói rõ rằng, Chính phủ Mỹ đang chơi với lửa, Tưởng Giới Thạch một khi gây chiến tranh với đại lục kết quả ắt sẽ không mang lại được điều gì tốt lành cho Mỹ và Chính phủ Mỹ phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về hành động phiêu lưu của Tưởng và mọi hậu quả nghiêm trọng do nó gây ra.
Cuối cùng Vương Bính Nam giọng như cảnh cáo:
- Tôi có thể dám chắc rằng, ngày mà Tưởng Giới Thạch xâm phạm đại lục cũng chính là ngày mà nhân dân Trung Quốc giải phóng Đài Loan.
Xét thấy tình hình rất nghiêm trọng, Vương Bính Nam đề nghị Cabốt báo cáo ngay với Chính phủ Mỹ tình hình trên.
Nghe Vương Bính Nam nói xong, Cabốt ngồi yên lặng một lát tỏ ý tán thưởng tinh thần thẳng thắn của Vương Bính Nam, hứa sẽ điện báo cáo ngay cho Chính phủ Mỹ rồi nói:
- Trong tình hình hiện nay, Mỹ không thể ủng hộ Tưởng Giới Thạch tấn công đại lục. Tưởng đã cam kết với Mỹ, nếu chưa được Mỹ đồng ý Tưởng không được tấn công Trung Quốc. Tôi bảo đảm với quí Đại sứ rằng, chúng tôi tuyệt nhiên không muốn một cuộc đại chiến thế giới, chúng tôi sẽ cố gắng hết sức ngăn ngừa sự việc đó.
Tiếp tục câu chuyện, ông ta còn mấy lần nhắc lại lời cam kết trên. Khi chia tay, Cabốt thậm chí còn nói vui nếu Tưởng Giới Thạch muốn hành động, "hai nhà chúng ta" sẽ liên kết ngăn ông ta lại.
Biết rõ thái độ của Cabốt, Vương Bính Nam cảm thấy mục đích của mình đã đạt được. Ông thở phào nhẹ nhõm. Thái độ của Mỹ đã rất rõ ràng, đây là điều quan trọng mà Trung ương Đảng cần biết gấp, nó trực tiếp liên quan đến việc Trung ương Đảng quyết định chiến lược ở mặt trận Phúc Kiến. Không để chậm trễ, Vương Bính Nam báo cáo ngay về nước toàn bộ nội dung buổi nói chuyện với Cabốt.
Một số vị lãnh đạo trong Trung ương rất hài lòng về việc này. Vương Bính Nam đã khai thác được tin tình báo rất kịp thời, tìm hiểu được thái độ của Mỹ, điều này có tác dụng rất lớn đối với quyết sách của Đảng lúc bấy giờ.
Sau này, Vương Bính Nam và Đại sứ Cabốt còn tiếp tục hội đàm với nhau mười mấy phiên nữa về những vấn đề thực chất trong quan hệ giữa hai nước Trung-Mỹ, song vẫn không có kết quả.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
SaoVang
Đại tá

Bài viết: 8205
|
 |
« Trả lời #214 vào lúc: 08 Tháng Sáu, 2009, 01:37:19 pm » |
|
Nhận lệnh về nước Năm 1964, Vương Bính Nam được điều về nước đảm nhận chức Thứ trưởng Bộ Ngoại giao. Cuộc hội đàm Trung-Mỹ cấp Đại sứ vẫn tiếp tục diễn ra ở Vácsava giữa Đại sứ Mỹ và Đại sứ Vương Quốc Quyền - người kế nhiệm Vương Bính Nam, song không liên tục, khi có khi không. Mãi tới tháng 2 năm 1972, nhân chuyến Ních sơn sang thăm Trung Quốc, tình hình có sự biến chuyển to lớn, cuộc hội đàm Trung-Mỹ cấp Đại sứ mới chấm dứt. Một giai đoạn quan trọng trong lịch sử quan hệ Trung-Mỹ cũng theo đó kết thúc. Trong cuộc đàm phán dai dẳng này, ngoài vấn đề hồi hương dân thường, hai bên đã đạt được sự thỏa thuận, tất cả các vấn đề thực chất khác liên quan tới quan hệ Trung-Mỹ đều không có kết quả. Về điểm này, người phát ngôn Vụ báo chí Bộ Ngoại giao Trung Quốc ngày 26 tháng 11 năm 1968 khi nói về 135 phiên hội đàm đó, đã trình bày rất rõ ràng như sau: “Trong cuộc hội đàm Trung-Mỹ cấp Đại sứ, Chính phủ Trung Quốc trước sau như một giữ vững hai nguyên tắc: Một, Chính phủ Mỹ cam kết rút ngay tất cả lực lượng vũ trang của Mỹ ra khỏi tỉnh Đài Loan và khu vực eo biển Đài Loan lãnh thổ của Trung Quốc, tháo gỡ mọi thiết bị quân sự của Mỹ ở tỉnh Đài Loan. Hai, Chính phủ Mỹ đồng ý hai nước Trung-Mỹ kí kết hiệp định về 5 nguyên tắc chung sống hòa bình. Nhưng 13 năm nay, Chính phủ Mỹ một mực từ chối cùng Chính phủ Trung Quốc thoả thuận về hai nguyên tắc đó, ngược lại, Chính phủ Mỹ cố bám lấy một số vấn đề chi tiết để cản trở. Chính phủ Trung Quốc đã nhiều lần nói rõ với phía Mỹ, Chính phủ Trung Quốc không đem nguyên tắc ra để mua bán. Nếu Mỹ tiếp tục làm như vậy, thì bất kể chính phủ nào lên cầm quyền ở Mỹ, cuộc hội đàm Trung-Mỹ cấp Đại sứ cũng không thể mang lại kết quả”.
Đến thập niên 70, Mỹ và Liên Xô tranh giành quyền bá chủ càng kịch liệt. Do nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa ngày càng lớn mạnh, Mỹ bắt đầu điều chỉnh chiến lược toàn cầu của mình, đồng thời từng bước cải thiện chính sách đối với Trung Quốc. Năm 1979, sau 30 năm thành lập nước Trung Quốc mới, hai nước Trung-Mỹ tuyên bố lập quan hệ Ngoại giao. Năm đó, Vương Bính Nam bay qua Thái Bình Dương, lần đầu tiên đến thăm Mỹ, Vương Bính Nam nói: "Điều này có ý nghĩa đặc biệt đối với tôi, nhất là tôi đã gặp lại 3 vị đối thủ đàm phán của tôi trong cuộc hội đàm Trung- Mỹ cấp Đại sứ làm chấn động thế giới hơn 20 năm về trước: Gíônsơn, Bim và Cabốt. Khi nắm chặt tay nhau mỉm cười, ngắm nghía sự thay đổi ở nhau, chúng tôi không nén được niềm xúc động và nỗi vui mừng
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
SaoVang
Đại tá

Bài viết: 8205
|
 |
« Trả lời #215 vào lúc: 09 Tháng Sáu, 2009, 10:42:47 pm » |
|
Chương năm CỘNG ĐỒNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA PHÂN HÓA CÔNG KHAI - MAO TRẠCH ĐÔNG KHỔ TÂM MƯU CẦU HÒA HỢP TRONG "QUẦN ANH HỘI" - TỪ "TRĂNG MẬT" ĐẾN TRANH CHẤP "HẠM ĐỘI LIÊN HỢP" LÀM CHO TRUNG QUỐC BẮT ĐẦU THỨC TỈNH. I. HAI LẦN GẶP GỠ GIỮA NGƯỜI ĐỨNG ĐẦU HAI NƯỚC TRUNG-XÔ Khơrútsốp thăm Trung Quốc lần thứ nhất Giữa những năm 50, tình hình quốc tế có biến động khiến cho Đảng Cộng sản Trung Quốc phải thay đổi phương châm "ngả hẳn một bên”. Tháng 3 năm 1953, Xtalin qua đời. Mấy năm đầu sau khi Xtalin qua đời, Khơrútsốp cho rằng Mao Trạch Đông vẫn tôn trọng và hữu hảo với Đảng Cộng sản Liên Xô. Khơrútsốp đã thành lập ban lãnh đạo mới do ông đứng đầu. Năm 1954, Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô và Hội đồng Bộ trưởng quyết định để Khơrútsốp dẫn đoàn đại biểu Chính phủ đi thăm Bắc Kinh. Ngoài Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Bulganin ra, đoàn đại biểu còn có các thành viên như Micôian, Sêvecních, Phuốcxêva, Sêripin v.v... Ngày 29 tháng 9, đoàn đại biểu Chính phủ Liên Xô đến Bắc Kinh. Khơrútsốp đến thăm Trung Quốc lần này chủ yếu là để tham gia những hoạt động chào mừng kỷ niệm năm năm ngày thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và dự lễ khai mạc Triển lãm thành tựu xây dựng kinh tế và văn hóa Liên Xô. Nhưng hoạt động quan trọng nhất là ông sẽ hội đàm với các nhà lãnh đạo cao nhất của Trung Quốc. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã nhiệt tình tiếp đón đoàn. Các vị trong đoàn đại biểu Liên Xô cũng cảm thấy vui vẻ vì lần đầu đặt chân lên đất Trung Quốc, có dịp cùng thảo luận với các đồng chí Trung Quốc. Nhiều người trong đoàn đại biểu phải tập làm quen với những tập tục mới. Chẳng hạn như mỗi lần đến một địa phương nào đấy, người Trung Quốc đều muốn dâng trà, mời uống trà, uống trà... Chỉ cần khách vừa ngồi xuống nói chuyện, là chủ nhân đã đặt trước mặt khách một chén trà có đậy nắp. Theo tập quán Trung Quốc, nếu khách không uống hết ngay chén trà thì họ liền mang chén đó đi, thay bằng một chén trà khác, rồi lại thay một chén khác... Sau đó họ đưa cho khách một chiếc khăn bông hấp nóng để lau mặt, chùi tay. Khơrútsốp công nhận rằng dùng loại khăn đó lau mặt quả có làm cho người ta cảm thấy sảng khoái. Các đại biểu đều chưa quen với những nghi lễ ấy, nhưng vì tôn trọng chủ nhân, mọi người đều gắng thích ứng. Nhưng qua một thời gian thì cuối cùng không chịu nổi, Khơrútsốp liền từ chối uống trà vì một là không quen uống trà xanh, hai là uống không nổi trước quá nhiều lần mời trà. Bulganin thì làm theo ý nguyện của chủ nhân, kết quả là bị mắc chứng mất ngủ. Bác sĩ kiểm tra sức khỏe hỏi ông: - Ngài liên tục uống trà xanh chứ? - Đúng vậy. - Uống nhiều hay ít? - Rất nhiều. - Nếu ngài cứ tiếp tục uống nhiều như vậy, sẽ càng mất ngủ. Ngài cần ít uống trà đi, hoặc tốt nhất là không uống. Trong trà có chứa một ít độc tố làm cho ngài ngủ không tốt. Bulganin nghe lời thày thuốc, sau này ông nói với Khơrútsốp là giấc ngủ trở lại bình thường. Trong cuộc hội đàm với các nhà lãnh đạo Trung Quốc, đoàn đại biểu Liên Xô chủ yếu quan tâm tới vấn đề bảo vệ Liên Xô. Để giữ được thế phòng vệ của Liên Xô, họ cần phải giúp vào sự nghiệp phát triển công nghiệp của Trung Quốc, vì thế đã có một sự sắp xếp để tăng thêm viện trợ kinh tế cho Trung Quốc. Phía Liên Xô đồng ý cử chuyên gia quân sự tới Trung Quốc, gửi đại bác, súng máy và các thứ vũ khí khác để tăng cường thực lực cho quân đội Trung Quốc, cũng có nghĩa là tăng cường cho toàn bộ khối xã hội chủ nghĩa. Tóm lại, Khơrútsốp cho rằng, chỉ cần điều kiện vật chất của Liên Xô cho phép, họ sẽ làm hết khả năng để thoả mãn yêu cầu của Trung Quốc. Vì vậy, Trung Quốc - Liên Xô phải nhất trí nỗ lực đối phó với kẻ thù chung. Nhật Bản tuy đã bị đã bị đánh bại, nhưng vẫn là mối đe dọa tiềm tàng. Còn hiện nay mối đe dọa lớn hơn Nhật Bản lại đến từ nước Mỹ, họ đã gây ra cuộc chiến tranh Triều Tiên liền kề với Trung Quốc.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
SaoVang
Đại tá

Bài viết: 8205
|
 |
« Trả lời #216 vào lúc: 09 Tháng Sáu, 2009, 10:43:46 pm » |
|
Quân đội Liên Xô rút khỏi cảng Lữ Thuận Để nỗ lực xây dựng quan hệ Trung - Xô trên cơ sở hữu nghị, bình đẳng, hai bên Trung Quốc - Liên Xô đã tiến hành hội đàm chính thức để ký kết Hiệp nghị về cảng Lữ Thuận. Về sự kiện này, ý kiến hai bên hoàn toàn nhất trí: Cảng Lữ Thuận là lãnh thổ Trung Quốc, chỉ trong tình hình Liên Xô và nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa cùng có lợi thì Liên Xô mới có thể đóng quân ở đây, đó là điều hoàn toàn chính xác, Liên Xô đã tốn rất nhiều công sức để xây dựng lại những công sự phòng ngự ở cảng Lữ Thuận, dùng những vũ khí tối tân nhất để trang bị cho quân cảng này và duy trì ở đây một lực lượng khá quy mô, đồng thời họ cũng đóng quân cả ở cảng Đại Liên. (Năm 1945, Liên Xô cùng Chính phủ Quốc dân Đảng đã ký một hiệp định quy định Liên Xô được hưởng quyền "cảng tự do". Xtalin cũng đồng ý muộn nhất là vào năm 1952, quân đội Liên Xô sẽ rút khỏi cảng Lữ Thuận và Đại Liên; nhưng sau này do phía Trung Quốc "yêu cầu” đã kéo dài thời hạn rút quân vì trong thời kỳ chiến tranh Triều Tiên, phía Trung Quốc cảm thấy miền Đông Bắc bị Mỹ uy hiếp). Đoàn đại biểu Liên Xô nói, họ rút quân đội khỏi cảng Lữ Thuận và Đại Liên, ngoài dàn pháo bờ biển rất đắt giá vừa mới trang bị ra, toàn bộ các trang thiết bị ở đây đều giao lại cho Trung Quốc. Mao Trạch Đông trả lời rằng, vào lúc này Liên Xô rút quân khỏi cảng Lữ Thuận và Đại Liên là không thích hợp. Ông lo ngại Mỹ có thể lợi dụng tình hình này mà tấn công Trung Quốc. Khơrútsốp nói: - Đồng chí Mao Trạch Đông, chúng ta e ngại Mỹ sẽ làm việc đó. Đương nhiên, chúng tôi cũng không thể đảm bảo với các đồng chí về điều đó, vì Mỹ vừa mới kết thúc cuộc chiến tranh xâm lược Triều Tiên và hiện nay vẫn theo đuổi chính sách xâm lược. Nhưng, nếu quân đội của chúng tôi có rút khỏi cảng Lữ Thuận thì những đơn vị ấy vẫn đóng ở Vlađivôstốc cách đấy không xa. Cho nên, giả như các đồng chí bị tấn công, chúng tôi có thể đến cứu viện ngay. Qua trao đổi ý kiến thêm, Mao Trạch Đông đã đồng ý, ông nói: - Nếu như các đồng chí cho rằng bây giờ rút quân là thích hợp thì chúng tôi cũng không ngăn cản. Thế là dự thảo Hiệp định về việc rút quân đội Liên Xô đã được sự thỏa thuận của cả hai bên. (Cảng Lữ Thuận và Đại Liên năm 1955 đã được chuyển giao cho Trung Quốc quản lý, tức là 7 tháng sau chuyến Khơrútsốp đến thăm Trung Quốc).
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
SaoVang
Đại tá

Bài viết: 8205
|
 |
« Trả lời #217 vào lúc: 09 Tháng Sáu, 2009, 10:44:43 pm » |
|
Liên Xô kiến nghị Trung Quốc gửi sang một triệu người lao động Phía Liên Xô cũng đề xuất với Trung Quốc một kiến nghị sau. Họ nói muốn giúp Trung Quốc giải quyết một vấn đề nghiêm trọng là nạn thất nghiệp. Khi đó, các Bộ trưởng Liên Xô cho rằng vùng Xibêri của Liên Xô thiếu nhiều sức lao động (khi đó họ chưa nhận thức được rằng lực lượng lao động của họ chưa được sử dụng có hiệu quả, đáng lẽ họ cần thu hút một bộ phận nhân công ở phần châu Âu của nước Nga để đi khai thác nguồn của cải quý báu ở Xibêri). Phía Liên Xô kiến nghị Trung Quốc cử cho hơn 1 triệu nhân công đến Xibêri giúp Liên Xô khai phá tài nguyên rừng giàu có ở đây. Câu trả lời của Mao Trạch Đông về kiến nghị này rất đặc sắc và dường như cũng đã thấy trước chuyện gì sẽ xảy ra. Mao Trạch Đông từ từ đứng dậy, đi đi lại lại vài bước, nhìn thẳng vào Khơrútsốp một lúc, rồi lim dim mắt, nói bằng giọng trầm tĩnh: - Đồng chí Khơrútsốp, đồng chí biết đấy, bao nhiêu năm nay rất nhiều người cho rằng Trung Quốc là một nước không phát triển, nhân khẩu quá thừa, thất nghiệp phổ biến, vì thế có một nguồn lao động rẻ mạt. Người Trung Quốc chúng tôi nghĩ rằng cách nhìn nhận như vậy là một sự sỉ nhục người ta. Nay, đồng chí cũng nhìn nhận như thế khiến chúng tôi rất buồn. Nếu chúng tôi tiếp nhận kiến nghị của các đồng chí, người khác sẽ có cách nhìn sai lầm về quan hệ hai nước Xô- Trung. Họ sẽ cho rằng cách nhìn nhận Trung Quốc của Liên Xô cũng giống như tư bản phương Tây mà thôi. Khơrútsốp cho rằng Mao Trạch Đông có thể thật tình biết điều gì làm sỉ nhục họ. Rõ ràng , Mao Trạch Đông muốn làm cho Khơrútsốp ân hận vì đã nêu vấn đề này ra. Khơrútsốp nghe Mao nói như vậy, trong lòng rất không vui, nhất là lại xếp ông như nhà tư bản! Ông cảm thấy chẳng cần phải nói vòng vo nên đã thẳng thắn nêu ra kiến nghị này mà ông thành tâm cho rằng phù hợp với lợi ích của người Trung Quốc, vì như vậy; có thể giúp Trung Quốc giải quyết về vấn đề của một bộ phận dân chúng. Trong lần hội đàm sau đó, Khơrútsốp nói: - Đồng chí Mao Trạch Đông, đương nhiên chúng tôi không muốn gây khó khăn cho đồng chí, vì vậy chúng tôi cũng không cố giữ đề nghị của mình. Nếu như các đồng chí cảm thấy đề nghị này có thể làm tổn hại đến lòng tự tôn dân tộc của Trung Quốc, thì cứ coi như chúng tôi chưa có nói tới bao giờ, xin không cần phải bận tâm. Chúng tôi dùng công nhân của mình cũng được.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
SaoVang
Đại tá

Bài viết: 8205
|
 |
« Trả lời #218 vào lúc: 09 Tháng Sáu, 2009, 10:45:37 pm » |
|
Đoàn đại biểu đi thăm vùng duyên hải Trung Quốc Để làm hòa dịu không khí, nhân một bữa tiệc chiêu đãi, Mao Trạch Đông nói với Khơrútsốp: - Lần đầu tiên đến Trung Quốc đồng chí có thể đến thăm bất cứ nơi nào, nhất là đến miền Nam chúng tôi, ở đó khung cảnh rất khác. Khơrútsốp rất vui, nói: - Đối với tôi mọi thứ ở đây đều mới lạ, nơi nào tôi cũng muốn đi, nhưng lần này chỉ có thể đi tới vùng ven biển phía nam phía bắc thôi. Mao Trạch Đông nhìn thấy Khơrútsốp vừa đưa một miếng thịt rán lên miệng, liền nói: - Đồng chí Khơrútsốp, đồng chí đến nơi nào cũng được, cứ coi như ở nhà mình vậy. Con người tôi thích hoạt động tự do tự tại theo ý của mình, chứ không thích bị người khác dắt đi, cho nên với đồng chí chúng tôi cũng không có sự sắp xếp đặc biệt nào, xin tùy ý đồng chí. Khơrútsốp đang khoái khẩu với những món thịt rán và chả nướng Trung Quốc, nên rất vui vẻ lựa chọn Khơrútsốp đến thăm Trung Quốc lần này, trước hết ở Bắc Kinh đi ngắm cảnh thành cổ, rồi xuống Thượng Hải thành phố công nghiệp lớn nhất, dạo bước bên sông Hoàng Phố, sau đến Hàng Châu thưởng thức món ăn Hoài Dương, một trong tám món ăn quý của Trung Quốc ở Tây Hồ; rồi xuống Quảng Châu nếm món ăn Việt, một đặc sản của Trung Quốc. Khi qua sông Trường Giang, Khơrútsốp cảm nhận thấy cảnh thế nào là "con sóng vỗ bờ” trên dòng sông lớn nhất Trung Quốc; tới cảng Lữ Thuận, ông cũng thấy biển Trung Hoa có khác với Biển Đen nơi xứ sở ông.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
SaoVang
Đại tá

Bài viết: 8205
|
 |
« Trả lời #219 vào lúc: 09 Tháng Sáu, 2009, 10:48:02 pm » |
|
Bàn chuyện vũ khí hạt nhân Trong hội đàm song phương Xô-Trung, Mao Trạch Đông và Khơrútsốp nhiều lần trực tiếp đối thoại với nhau. Theo hồi ức của một số đương sự thì những cuộc đối thoại đó rất có nhiều ý nghĩa. Mao Trạch Đông nói: - Tình hình quốc tế nói chung có lợi cho chúng ta, trước hết là với nhân dân các nước đã tích cực hành động, ngẩng cao đầu đứng lên. Uy thế của chủ nghĩa đế quốc bị xuống thấp, nhiều kẻ đã không còn hò hét, hống hách đe doạ, hành động khinh xuất như trước đây nữa. Trên thực tế, chúng đã thấy khó làm ăn trong những tháng ngày này. Khơrútsốp tiếp lời: - Nhưng bọn đế quốc chẳng hề ngủ say mà ngày ngày vẫn cựa quậy, ôm ấp mưu đồ đạt được mục đích tội ác của chúng. Tất nhiên, khí thế của chúng chẳng thể hống hách như xưa, nhưng quả thật chúng vẫn đang hoạt động. Mao Trạch Đông nói: - Mười ngón tay bị chặt đi một hai ngón, mà ngón bị chặt lại là ngón tay cái, sức mạnh của bàn tay rõ ràng chẳng thể được như trước mà đã yếu đi nhiều, thậm chí đã giảm đi một nửa. Tóm lại tình thế là rất tốt, có lợi cho chúng ta. Nói tới đây, Mao Trạch Đông dừng lại một lát, rồi nói tiếp: . - Tất nhiên chúng ta bất cứ lúc nào cũng không được lơi là cảnh giác. Hiện nay chúng ta đang có một thời kỳ xây dựng hòa bình, cần phải tận dụng để xây dựng kinh tế, ra sức phát triển sản xuất. Nhưng thời kỳ này rút cục kéo dài được bao lâu thì thật khó nói, vì đây không phải do nguyện vọng chủ quan của chúng ta quyết định. Nếu chúng ta có 20 năm hòa bình để phát triển kinh tế thì nguy cơ chiến tranh sẽ giảm đi rất nhiều, thậm chí có thể không xảy ra. Qua hai ba mươi năm sau đó, nếu các nước đế quốc muốn gây chiến thì đó chính là lúc kết thúc sự tồn tại của chủ nghĩa đế quốc vậy. Nhưng rút cục, chấm dứt chiến tranh bằng một cuộc đại chiến hay là do lực lượng nhân dân, lực lượng hòa bình lớn mạnh để chiến tranh không thể xảy ra, cái đó còn phải chờ xem . Rõ ràng, cách nhìn nhận của họ có phần khác nhau... Khơrútsốp chủ động hỏi Mao Trạch Đông: - Các đồng chí còn có yêu cầu gì với chúng tôi không? Mao Trạch Đông trả lời rất khéo: . - Về việc này, chuyên gia hai bên đang tiếp xúc và bàn bạc. Họ cùng nhau hợp tác, trao đổi ý kiến, hiệp thương giải quyết các vấn đề, mọi việc có thể sẽ thông thuận. Nói tới đây Mao Trạch Đông lại ngừng một lát rồi tiếp: - Chúng tôi cảm thấy hứng thú đối với năng lượng mặt trời và vũ khí hạt nhân. Hôm nay muốn thương lượng với các đồng chí, mong các đồng chí giúp đỡ chúng tôi về mặt này để chúng tôi có được những cư xử cần thiết. Tóm lại là chúng tôi muốn có công nghệ này.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|