Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 11:48:37 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Ứng dụng hạt nhân trong quân sự và dân sự  (Đọc 119938 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
NGOCUONG
Thành viên
*
Bài viết: 41



« Trả lời #10 vào lúc: 24 Tháng Mười, 2009, 11:04:17 pm »

Nhưng bên cạnh hai nhược điểm trên thì bom Khinh Khí có ưu điểu sau :
- Sức mạnh gần như vô hạn bởi không có khối lượng tới hạn vì vậy bơm đây nguyên liệu vào một bình Gas cũng được, một xe bồn cũng được, mà cỡ như…mặt trời cũng được … Nhớ lại chiếc VT-Atlats  mà bác Trungfbi xếp vào dòng “quái dị”, nhưng chiếc đó mà bơm đầy Deuterium kèm thêm một trái bom nguyên tử, cộng thêm “nghệ thuật” Thần Phong của Nhật Bản và chỉ cần “quá cảnh” ở Cuba thì gần như toàn bộ nước Mỹ (và Trung Mỹ) sẽ bị xóa tên trên bản đồ thế giới.
- Không có phóng xạ (khi chưa nổ) trừ trái bom nguyên tử kích hoạt. Do đó có thể “để” sẵn bên sân đối phương rồi dùng đầu đạn nguyên tử bắn chính xác vào nó.
- Nhẹ, dễ vận chuyển, dễ tách lọc, dễ bảo quản, ít lộ hơn anh nguyên tử nhiều chính vì vậy nước nào đã có 1, 2 trái bom nguyên tử rồi thì trước sau gì cũng nghiên cứu sang anh Khinh Khí này và thành công nhanh hơn nhiều .
Hết
Nguồn  tổng hợp và http://vi.wikipedia.org/wiki/Phản_ứng_tổng_hợp_hạt_nhân

Nhắn Bác KZViệt nếu bác không xài trái bom Nguyên Tử của bác cho trái bom Khinh Khí này thì bác để dành, lần sau em sẽ hướng dẫn bác làm trái bom Netron ( ông kẹ của thế giới hiện đại)
« Sửa lần cuối: 25 Tháng Mười, 2009, 09:15:19 am gửi bởi NGOCUONG » Logged

Mở cửa chứ không phải là tháo luôn cánh cửa
NGOCUONG
Thành viên
*
Bài viết: 41



« Trả lời #11 vào lúc: 26 Tháng Mười, 2009, 07:37:58 pm »

Thế nào các bác, có bác nào "làm" xong quả bom nguyên tử nào chưa, em mượn làm quả bom Netron nào!


Phần 3 : Bon Netron (neutron)
Đây là con "ngáo ộp"  của Hoa Kỳ vì vậy được giữ khá bí mật cũng vì vậy mà có những "truyền thuyết" "trời ơi" về nó mà các bác phóng viên hùa vào để dọa thiên hạ, đơn cử  như:
http://www.vnexpress.net/GL/The-gioi/Tu-lieu/2006/04/3B9E8878/
Em xin trích nguyên văn một câu làm em và đồng nghiệp chỉ biết ngồi nhìn nhau cười  "Ý tưởng của ông là tách bỏ các vỏ bọc uranium trong bom khinh khí"Huh!!! Như bài trên các bác đã biết bom Khinh Khí không có Uranium chỉ có Uranium ở trái bom Nguyên Tử kèm theo để kích hoạt phản ứng Nhiệt Hạnh và cái gọi là "vỏ bọc Uranium" này chính "phương pháp lắp ráp kiểu kín" vật tách bỏ nó đi thì trái bon Kinh Khí chỉ còn là bình chứa Hidro nặng (có thể cả Liti)! (phải chi các nhà báo này chịu khó hỏi sang viện hạt nhân thì có phải đỡ hơn không)

Thật ra thì nguên lý của bom netron đã được dậy tại lớp 12 hiện tại (em phải mượng câu Aziz Nesin : "Con cháu chúng ta giỏi thật") nhưng không ai để ý đến nó mà thôi. Đó là phản ứng hạt nhân thu năng lượng, Khác với phản ứng hạt nhân của bon Nguyên Tử (phân hạch) và Kinh Khí (hợp hạch) là tỏa năng lượng.

Đây là một ví dụ trong sách lớp 12 :
Cl (37;17) + H (1;1) = Ar (37;18) + n -1,583MeV

(với 1 megaelectron volt = 1.60217646 × 10^-13 jun)
điều đó nghĩa là có nếu có Clo và Hidro và cung cấp 1,583MeV thì ta xẽ được một Argon, một netron và một mớ tia gama. (còn những loại nguyên tử khác có thể cho nhiều netron hơn nữa)

Nhưng năng lượng cho phản ứng này lấy ở đâu ra? Lấy từ chính vụ nổ nghuyên tử chứ ở đâu! Ở bom Netron có hai quá trình gần như đồng thời diễn ra Bom Nguyên Tử nổ, cung cấp năng lượng để phản ứng Phân Hạch hoặc Hợp Hạch thu năng lượng xẩy ra, giảm được sức tàn phá do nhiệt lượng của bom nguyên tử tạo ra vừa tăng đáng kể lượng netron  và phóng xạ gama để giết người . Vì vậy chính xác của cái gọi là "Vũ khí gia tăng phóng xạ ERW" là một vụ nổ nguyên tử nhỏ (thường là bom Pu239) và giảm đi năng lượng và tăng phóng xạ (netron và tia gama).


Tới đây tôi tạm kết thúc loạt bài giới thiệu nguyên lý của các loại vũ khí hạt nhân. Và như từ đầu tôi đã có ý kiến: các bác hãy nhìn lại Hiroshima và Nagasaki đi, càng hiểu biết nhiều về nó càng thấy nó ghê rợn. Quan điểm của tôi là GIẢI TRỪ VŨ KHÍ HẠT NHÂN

« Sửa lần cuối: 27 Tháng Mười, 2009, 01:24:02 pm gửi bởi NGOCUONG » Logged

Mở cửa chứ không phải là tháo luôn cánh cửa
Hannoi
Thành viên
*
Bài viết: 108



« Trả lời #12 vào lúc: 27 Tháng Mười, 2009, 02:13:05 pm »

Sử dụng vũ khí hạt nhân không dễ
Chủ đề này sẽ được tiếp tục trong 2 tuần nữa vì công việc bận quá. Mong các bạn tiếp tục ủng hộ. Để làm an lòng bạn NGOCUONG, tôi xin giới thiệu bài đăng trên TTO hôm nay:
http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=344289&ChannelID=20

Kể từ khi hai quả bom nguyên tử được thả xuống hai thành phố Hiroshima và Nagasaki của Nhật Bản (6-8 và 9-8-1945) làm hơn 350.000 người chết và bị thương, bóng ma hạt nhân luôn đe dọa sự an bình của loài người.

Việc Ủy ban giải Nobel Hòa bình Na Uy trao giải Nobel Hòa bình 2009 cho Tổng thống Mỹ B. Obama chính vì tầm quan trọng đặc biệt trong quan điểm của ông về một thế giới không có vũ khí hạt nhân. Tuy nhiên, cũng phải thấy rằng, để có thể sở hữu được vũ khí hạt nhân là không hề dễ dàng!

Năm 1968, Mỹ, Liên Xô (trước đây), Trung Quốc, Anh và Pháp - năm nước được công nhận là cường quốc hạt nhân quyết định ký một hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân, có nghĩa vụ không cung cấp nguyên liệu và kỹ thuật hạt nhân cho nước khác. Kể từ đó đến nay, đã có 188 quốc gia tham gia Hiệp ước cấm phổ biến vũ khí hạt nhân, trong đó đa số các nước đã phê chuẩn hiệp ước này.

Đồng thời, để giám sát tình hình tuân thủ hiệp ước, Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) thành lập năm 1957 bắt đầu vào cuộc. Để kiểm tra giám sát hữu hiệu tình hình thực hiện hiệp ước, năm 1997 lại thông qua Nghị định thư bổ sung Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân. Văn kiện này cho phép IAEA được kiểm tra tình hình thực hiện hiệp ước bất cứ lúc nào mà không cần thông báo trước.


Đám mây hình nấm do quả bom nguyên tử tạo ra trên bầu trời Nagasaki

Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân là một động lực tốt để ngăn chặn hiểm họa hạt nhân, cũng là một phương án hợp lý. Mặc dù vậy, mối nguy hiểm do sử dụng vũ khí hạt nhân trên phạm vi thế giới trong thực tế không vì thế mà mất đi, vì ngoài một số cường quốc hạt nhân được “công nhận”, còn có các nước “không chính thức” và có khả năng sở hữu vũ khí hạt nhân.

Các nước này ra sức phát triển vũ khí hạt nhân, các nước khác cũng cung cấp kỹ thuật hạt nhân cho họ. Chẳng hạn, Iraq vào thời kỳ Saddam Hussein đã tiến một bước trong lĩnh vực hạt nhân với sự giúp đỡ của Pháp. Nhưng vào năm 1981, lò phản ứng hạt nhân mà Iraq đưa vào sử dụng trước đó không lâu đã bị Israel phá hủy.

Nghe nói sau đó Iraq tiếp tục phát triển vũ khí hạt nhân, nhưng kế hoạch đó của họ bị cuộc chiến do Mỹ phát động ngăn chặn, Iraq phát triển vũ khí hạt nhân trở thành cái cớ để Mỹ phát động cuộc chiến, cho dù Mỹ không đưa ra được chứng cứ về việc Iraq phát triển vũ khí hạt nhân.

Israel cũng là nước có kế hoạch phát triển hạt nhân với sự giúp đỡ của Pháp như vậy. Israel đã bắt đầu xây dựng lò phản ứng hạt nhân đầu tiên từ thập niên 1950. Việc nước này bí mật phát triển vũ khí hạt nhân đã một thời che mắt được cả thế giới và đồng minh của họ là Mỹ.

Sự giám sát của Mỹ đối với lò phản ứng hạt nhân của Israel không chặt chẽ, Israel phủ nhận phát triển vũ khí hạt nhân còn theo những nguồn tin không chính thức, người ta đã nghe nói từ lâu rằng Israel đã có mười mấy đầu đạn hạt nhân, và cũng tiến hành thử nghiệm hạt nhân với chính quyền phân biệt chủng tộc Nam Phi.

Israel đến nay vẫn chưa tham gia Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân, mà chỉ đồng ý cho IAEA giám sát một cách hạn chế cơ sở hạt nhân của nước mình. IAEA coi Israel là một ngoại lệ, vì xét cho cùng quốc gia này đã sớm có vũ khí hạt nhân trước khi IAEA được thành lập và trước khi Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân ra đời.

Ấn Độ và Pakistan lại là một tình thế khác. Kể từ sau khi Ấn Độ tiến hành nổ thử nghiệm vũ khí hạt nhân đầu tiên vào tháng 5-1974, hai nước đã vươn lên đứng vào hàng các nước lớn hạt nhân. Để có thể đọ sức với Ấn Độ trong vấn đề Cashmir, Pakistan đã nổ thử một quả “Tên lửa Islam” vào năm 1998, do số lượng vũ khí hạt nhân ở khu vực này không bị giám sát, nên từ nhiều năm nay khu vực này luôn được coi là khu vực tranh chấp nguy hiểm nhất.

Triều Tiên cũng lại là một nước đang phát triển vũ khí hạt nhân. Năm 1985, Bình Nhưỡng đã phê chuẩn Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân, mặc dù vậy họ vẫn tiếp tục phát triển vũ khí hạt nhân, và được Pakistan giúp đỡ. Tuy nhiên, phía Trung Quốc và Mỹ luôn giữ thái độ nghi ngờ đối với Triều Tiên, nên đã giám sát nghiêm ngặt lĩnh vực kỹ thuật hạt nhân của nước này.

Washington khẳng định Triều Tiên đang ra sức phát triển kỹ thuật hạt nhân nhưng đến nay Triều Tiên đã có được vũ khí hạt nhân hay chưa, vấn đề này vẫn chưa được kiểm chứng. Việc Triều Tiên tự tuyên bố có vũ khí hạt nhân có lẽ chỉ để phòng ngừa Mỹ tiến công. Luận điểm này dường như cũng phù hợp với Iran. Nhưng khác với Pakistan, chính quyền Teheran luôn nhấn mạnh nghiên cứu hạt nhân chỉ sử dụng vào mục đích hòa bình.


Tên lửa đạn đạo Scud có mang đầu đạn hạt nhân

Từ năm 2003 đến nay, Iran và đại diện cho EU là Đức, Pháp, Anh đã tổ chức nhiều vòng đàm phán. Ba nước này còn đề xuất hiệp định khung giải quyết cả gói vấn đề hạt nhân của Iran, yêu cầu Iran vĩnh viễn từ bỏ quyền phát triển kỹ thuật hạt nhân, không bao giờ được rút khỏi Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân, châu Âu dành cho Iran lợi ích thương mại và giúp Iran xây dựng nhà máy điện hạt nhân. Iran cho rằng đề nghị này là “không thể chấp nhận được”, sau đó họ đã khôi phục hoạt động chuyển hóa urani. Đến đây, vấn đề hạt nhân Iran đã thể hiện rõ tính đối đầu.

Ngày 24-9-2005, Hội đồng Thường trực IAEA thông qua nghị quyết, lên án Iran không thực hiện nghĩa vụ quy định trong Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân, nhưng không xác định khi nào sẽ đưa vấn đề này ra Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc. Do bất đồng ý kiến, IAEA tỏ ra rất khó đi đến nhất trí về việc chuyển giao vấn đề hạt nhân Iran lên Hội đồng Bảo an, cho đến nay, tuy diễn đi diễn lại, vấn đề này vẫn chưa được giải quyết hữu hiệu.

Ngoài ra, dường như không ai cho rằng Iran sẽ đi theo con đường của Libi. Sau khi Mỹ quyết định ngăn chặn kế hoạch hạt nhân của Libi, quốc gia Bắc Phi này đã công khai lên tiếng đồng ý từ bỏ, đồng thời giao lại cho Mỹ tất cả nguyên liệu hạt nhân nhập khẩu, để làm cơ sở cải thiện quan hệ với Washington và EU. Chính vì vậy, Tổng thống Pháp Sarkozy thậm chí còn đáp ứng đề nghị của Libi giúp nước này xây dựng lại một lò phản ứng hạt nhân.

Các nước như Ai Cập, Nam Phi, Nhật Bản và Brazil ít nhất đã một thời ấp ủ ý đồ phát triển vũ khí hạt nhân, nhưng sau đó đều đã từ bỏ. Điều này hoàn toàn không có nghĩa chỉ một mối đe dọa nào đó đã đột nhiên dẫn đến ham muốn phát triển vũ khí hạt nhân của một quốc gia. Kỹ thuật hạt nhân rất dễ mua được trên thị trường thế giới.

Theo đánh giá, không chỉ Pakistan mà một số nước trong Cộng đồng các quốc gia độc lập (SNG) cũng đang năëm kỹ thuật hạt nhân. Ngoài ra, không chỉ các quốc gia mà các tổ chức khủng bố cũng hào hứng với kỹ thuật hạt nhân. Nhưng cho đến nay, mối lo ngại này vẫn chỉ dừng lại trên lý thuyết mà thôi.

Như vậy, phải chăng hiện nay đã có thể dễ dàng chế tạo được vũ khí hạt nhân? Có phải ai tuyên bố sở hữu vũ khí hạt nhân cũng đều là sự thật? Theo phân tích của các chuyên gia, các nước nghiên cứu chế tạo vũ khí hạt nhân trước hết phải qua được bốn giai đoạn như bốn trở ngại về mặt kỹ thuật: nhiên liệu hạt nhân, thiết bị gây nổ, thử nghiệm hạt nhân, kỹ thuật ném bom, phóng đạn hạt nhân.

Trở ngại thứ nhất: nhiên liệu hạt nhân

Những nước muốn nghiên cứu chế tạo vũ khí hạt nhân đều phải quan tâm đến phế liệu lò phản ứng hạt nhân của các nhà máy điện hạt nhân. Nhật Bản là nước điển hình nhất về việc giỏi xác định sử dụng năng lượng hạt nhân vì hòa bình là nhiệm vụ đặc biệt nhằm hoàn thiện và phát triển kỹ thuật hạt nhân.

Theo các nguồn tin, lúc đầu họ lấy danh nghĩa về nhu cầu xây dựng nhà máy điện hạt nhân, ra sức thu mua phế liệu hạt nhân với khối lượng lớn, lên tới hơn 40 tấn từ các nước Mỹ, Anh, Pháp, sau đó xử lý phế liệu hạt nhân và thu hồi plutoni. Họ từng phao tin trong vài tuần có thể sản xuất vũ khí hạt nhân.

Để có an toàn tuyệt đối, cộng đồng quốc tế đã coi việc phòng ngừa phát tán hạt nhân là một phương hướng để cải tiến lò phản ứng hạt nhân, nghiêm cấm phổ biến ba kỹ thuật nhạy cảm, đó là kỹ thuật chia tách đồng vị urani (còn gọi là kỹ thuật làm giàu urani), kỹ thuật xử lý ngay sau khi thiếu nhiên liệu (kỹ thuật lấy plutoni 239 từ phế liệu hạt nhân) và kỹ thuật sản xuất nước nặng (nguyên liệu có thể dùng sản xuất bom khinh khí - deuteri và triti).

Trở ngại thứ hai: thiết bị gây nổ

Muốn chế tạo được một quả bom nguyên tử không chỉ cần có nguyên liệu dùng để tách nhiên liệu, mà còn phải có thiết bị kích nổ và một loại kỹ thuật có thể làm cho phần lớn nhiên liệu xảy ra phản ứng phân chia hạt nhân trước khi bom nổ (nếu không sẽ bị thất bại). Vấn đề kỹ thuật khó nhất liên quan đến thiết bị gây nổ là phối hợp các loại thuốc nổ một cách hợp lý.

Khi phát nổ, trong thời gian 1 phần triệu giây phải đồng thời gây nổ cho hai loại thuốc nổ thông thường cháy nhanh và cháy chậm, có thế mới thực hiện được vụ nổ hạt nhân thực sự. Nếu sai số định giờ vượt quá yêu cầu nói trên, hoặc tỷ lệ phối hợp hai loại thuốc nổ không đúng, sẽ làm giảm hiệu quả sức nén do thuốc nổ thông thường tạo ra khiến cho khả năng phá hủy của vụ nổ hạt nhân giảm đi một nửa, thậm chí không tạo ra được hiện tượng nổ hạt nhân. Một số quốc gia bí mật nghiên cứu chế tạo bom nguyên tử đã phải bất lực trước cửa ải này.

Trở ngại thứ ba: thử nghiệm hạt nhân

Sau khi Hội nghị toàn thể Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc khóa 50 thông qua Hiệp ước cấm thử toàn diện vũ khí hạt nhân với số phiếu áp đảo vào ngày 10/9/1996, việc sử dụng máy vi tính mô phỏng, thay thế phương pháp nổ thử hạt nhân truyền thống mà vẫn đạt hiệu quả tương tự, đã liên tục được giới thiệu.

Tuy nhiên, đối với những nước nôn nóng muốn chế tạo vũ khí hạt nhân thì phương pháp đưa các tham số vào máy vi tính siêu cấp trên cơ sở đã có các vụ nổ thử nghiệm hạt nhân, mô phỏng quá trình vật lý nổ hạt nhân và hiệu ứng nổ hạt nhân bằng vụ nổ hóa học, phòng thí nghiệm, máy vi tính, chắc chắn sẽ là mục tiêu khó vươn tới hơn so với việc chế tạo một quả bom nguyên tử.

Từ ngày 16-7-1945, Mỹ lần đầu tiên thử nghiệm hạt nhân đến khi Hiệp ước cấm thử toàn diện hạt nhân được thông qua vào tháng 9-1996, toàn thế giới đã diễn ra tổng cộng 2.047 lần thử hạt nhân, trong đó Mỹ thử 715 lần, Liên Xô (trước đây) thử 715 lần, Pháp 210 lần, Anh 45 lần, Trung Quốc 45 lần, ấn Độ thử một lần vào năm 1974. Có thể thấy thật khó tưởng tượng nếu quá trình hoàn thành thực sự thiết kế vật lý vũ khí hạt nhân hoàn chỉnh mà không có sự trợ giúp của kho dữ liệu thí nghiệm to lớn và phong phú.

Trở ngại thứ tư: kỹ thuật ném bom, phóng đạn hạt nhân

Vũ khí hạt nhân đích thực do ba bộ phận tạo thành, gồm đầu đạn hạt nhân, phương tiện vận chuyển và hệ thống chỉ huy điều hành. Có vũ khí hạt nhân sẽ phải có biện pháp bắn - thả tương ứng. Sau khi nổ hạt nhân thành công, vấn đề chế tạo một vũ khí hạt nhân với cỡ kích nhỏ sau đó vẫn là một trở ngại chưa thể vượt qua. Việc thử nghiệm chuyển vận vũ khí hạt nhân cũng buộc không thể thiếu được như vậy.

Nói chung, bom nguyên tử chiến lược chủ yếu được lắp ở tên lửa; phương tiện phóng gồm tên lửa đạn đạo, tên lửa hành trình, tàu ngầm hạt nhân, máy bay ném bom chiến lược với những cự ly khác nhau. Nhưng, với sự phát triển nhanh chóng của hệ thống đánh chặn tên lửa đạn đạo, nếu chỉ nhờ vào phương pháp chuyển vận hạn chế của mình, thì những nước yếu liệu còn được mấy cơ hội phóng đạn, ném bom nguyên tử xuống đầu đối phương, đó thực sự là một câu hỏi lớn.
Logged
NGOCUONG
Thành viên
*
Bài viết: 41



« Trả lời #13 vào lúc: 27 Tháng Mười, 2009, 02:35:28 pm »

Đã định “gác kiếm” trong vụ bom hạt nhân nhưng sực nhớ còn một loại bom cũng liên quan đến chủ đề này nên post nốt rồi nhường địa bàn cho các bác khác.Loại bom em muốn nói đến đó là Bom Bẩn.

Phần 4 : “Bom Bẩn”
Muốn hiểu được bản chất của bom bẩn thì khái niệm cần biết là “Đồng vị phóng xạ”
A.- Đồng vị phóng xạ :
Đó là những hạt nhân có cùng số proton với đồng vị bền tương ứng nhưng có số khối lớn hơn do chứa nhiều netron hơn do đó nó không ổn định, sẵn sàng vứt bỏ vài netron dư ra hoặc cả proton để thành nguyên tử bền hơn.

Ví dụ : Co(27;60) (đồng vị  bền là Co (27;59)), Ba (56;141)(đồng vị bền là Ba (65;138); Kr(36;92) đồng vị bền là Kr (36;84); C(6;14) (đồng vị bền là C(6;12))

Trong tự nhiên cũng có các đồng vị phóng xạ nhưng rất ít C(6,14); O(8;18), chu kỳ bán rã lâu (với C (6;14) thời gian bán rã cả ngàn nên phân tích C(6;14) dùng định tuổi trong khảo cổ)
Ngược lại Co(27;60); Ba (56;141); Kr(36;92)… là các đồng vị phóng xạ sinh ra sau sau quá trình phản ứng hạt nhân (rác thải hạt nhân) thì quá trình bán rã nhanh hơn nhiều (từ vài tháng đến vài năm) do đó độ phóng xạ cũng lớn hơn nhiều, độ tinh khiết của nguyên liệu cũng lớn hơn, dễ kiếm hơn (ở các nước nhỏ, dang phát triển hạt nhân).

B. Bom bẩn :
Gọi là “bom” cho sang chứ chỉ cần một bọc nilon đựng rác thải hạt nhân vứt ở gầm cầu thang nào đó  thì nó đã trở thành “bom bẩn” rồi . Đó cũng chính là nguy hiểm của nó, cách xác định được nó duy nhất là dùng máy đo phóng xạ (rất đắt, khó xử dụng) và các tia phóng xạ của nó thì không có giác quan nào của con người nhận biết được. Và rồi bệnh bạch cầu, ung thư … cứ giết dần mòn dân chúng quanh vùng bởi nhiễm xạ, rồi quái thai, vô sinh ở phụ nữ….

Tiện đây nhắn luôn có bác nào cứ thích nhập “rác” ngoại về để lấy tiền tiêu mà ôm về một đống “rác thải hạt nhân” thì em giết bác đó trước chứ chưa cần tới pháp luật đâu!


_____________________________________
Cám ơn bác Hannoi đã trợ giúp, bác cứ tiếp tục về lịch sử vũ khí hạt nhân (như dự án Mahattan, chiếc giầy hạt nhân của Khorusop...) Em xin gác kiếm ở topic này
Logged

Mở cửa chứ không phải là tháo luôn cánh cửa
Hannoi
Thành viên
*
Bài viết: 108



« Trả lời #14 vào lúc: 27 Tháng Mười, 2009, 03:26:28 pm »

Quả Bom Nguyên Tử Đầu Tiên:
Quả bom nguyên tử đầu tiên có tên là Đứa Trẻ (Little Boy) nặng 4000kg, dài 3m, đường kính 700mm, sức nổ tương đương 15kt.

Quả bom này được ném xuống Hiroshima ngày 6 tháng 8 năm 1945 làm chết ngay lập tức 140,000 người, do một chiếc máy bay B-29 có tên là Enola Gay do phi công đại tá Paul Tibbets lái. Quả bom được chế tạo theo dự án Manhattan trong thế chiến II.

Cấu tạo bên trong quả bom nguyên tử Thằng Bé

Quả Bom Nguyên Tử Thứ Hai:
Quả bom nguyên tử thứ hai có tên là Gã Béo (Fat Man) nặng 4,630kg, dài 3.25m, đường kính 1.52m, sức nổ tương đương 21kt.

Quả bom này được ném xuống Nagasaki ngày 9 tháng 8 năm 1945 làm chết 40,000 người, bị thương 25,000. Rất nhiều người bị thương và bị phóng xạ chết dần chết mòn sau đó. Quả bom này cũng được một máy bay B-29 có tên là Bockscar do phi công thiếu tá Charles Sweeney lái.

Cấu tạo bên trong quả bom nguyên tử Gã Béo
« Sửa lần cuối: 27 Tháng Mười, 2009, 03:32:29 pm gửi bởi Hannoi » Logged
SukhoiSu-47Berkut
Thành viên
*
Bài viết: 354


Vọng mãi đến ngàn năm, vần thơ Nam quốc sơn hà!


« Trả lời #15 vào lúc: 27 Tháng Mười, 2009, 11:55:59 pm »

Sử dụng vũ khí hạt nhân không dễ
Chủ đề này sẽ được tiếp tục trong 2 tuần nữa vì công việc bận quá. Mong các bạn tiếp tục ủng hộ. Để làm an lòng bạn NGOCUONG, tôi xin giới thiệu bài đăng trên TTO hôm nay:
http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=344289&ChannelID=20


Đọc báo này trên Tuổi trẻ (trích từ nguồn khác) mà mình chẳng hiểu thông điệp của bài này là gì. Là khó khăn về kỹ thuật công nghệ chế tạo hay các yếu tố chính trị dẫn đến việc có cũng chưa chắc dám dùng? Nghĩa là ta cứ kê cao gối ngủ? Một bài viết rất không đầu không cuối.
Khoa học hạt nhân là khoa học cơ bản, phức tạp, đòi hỏi một nền khoa học quốc gia vững chắc mới mong có ngày tiếp cận và làm chủ.
Xin mời các thầy ghé qua trang web của Cục an toàn bức xạ hạt nhân - Bộ KHCN để nắm vài thông tin ở cấp độ sơ khai. Nguyên lý chung là giống nhau: năng lượng của các phản ứng hạt nhân phục vụ mục đích dân sự (phát điện...) hay một vũ khí hạt nhân. Điểm khác duy nhất là mức độ làm giàu, ví du Uranium ở cấp độ vũ khí phải được làm giàu trên 90%, và cơ chế tạo phản ứng hạt nhân phải đủ gọn để mang, phóng...
http://www.varans.gov.vn/default.asp?actType=2&TypeGrp=1&ID_News=249&menuid=109000&menuup=109000&menulink=100000
Nếu thầy nào muốn tìm hiểu sâu hơn, xin xem thêm ở trang này, mỗi tội tiếng Anh, có minh họa chi tiết.
http://www.howstuffworks.com/nuclear-bomb.htm
Logged

Bóng ai như tôi đi qua cánh đồng...
Bóng ai như tôi đi qua cuộc đời....!
Hannoi
Thành viên
*
Bài viết: 108



« Trả lời #16 vào lúc: 30 Tháng Mười, 2009, 02:02:40 pm »

Máy bay ném bom hạng nặng chiến lược B29 (B-29 Superfortress)
http://vi.wikipedia.org/wiki/B-29_Superfortress
Là loại máy bay dùng để ném bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki


B-29 của Không lực Lục quân Hoa Kỳ

Boeing B-29 Superfortress là máy bay ném bom hạng nặng, 4 động cơ cánh quạt của Không lực Lục quân Hoa Kỳ (tiền thân của Không quân Hoa Kỳ), được sử dụng chủ yếu trong Chiến tranh thế giới lần thứ hai. Sau chiến tranh, quân đội một số nước thân cận Hoa Kỳ cũng được trang bị máy bay này. Tên gọi "Superfortress" (Siêu pháo đài) được cải biến từ tên của tiền nhiệm nổi tiếng, B-17 Flying Fortress (Pháo đài bay).
B-29 (Boeing 345) là một trong những máy bay lớn nhất tham gia Chiến tranh thế giới thứ hai. Nó là máy bay ném bom hiện đại nhất thời đó với buồng lái có điều áp, hệ thống điều khiển vũ khí tập trung và các ụ súng máy điều khiển từ xa. Máy bay được thiết kế để ném bom ban ngày ở độ cao lớn nhưng thực tế được huy động nhiều hơn cho các nhiệm vụ ném bom cháy ban đêm ở tầm thấp. B-29 là máy bay chủ lực thực thi chiến dịch ném bom tàn phá Nhật Bản trong những tháng cuối Thế chiến thứ hai và đây cũng là loại máy bay dùng để ném bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki. Không như nhiều máy bay ném bom khác, B-29 tiếp tục phục vụ khá lâu sau khi chiến tranh chấm dứt, một số được sử dụng làm trạm phát truyền hình di động cho hệ thống Stratovision. Cho đến khi ngừng sử dụng vào những năm 1960, có khoảng 3.900 máy bay B-29 được xuất xưởng.

Lịch sử


Một ảnh màu hiếm hoi của chiếc B-29

Vào khoảng năm 1938, tướng Henry H. ‘Hap’ Arnold, chỉ huy Không lực Lục quân Hoa Kỳ, ngày càng lo ngại về khả năng xảy ra chiến tranh tại Châu Âu và Thái Bình Dương. Với hy vọng sẽ được chuẩn bị dài hạn những nhu cầu của Không lực, Arnold thành lập một ủy ban đặc biệt do Chuẩn tướng W. G. Kilner đứng đầu; và một trong các thành viên của ủy ban là phi công kỳ cựu Charles Lindbergh. Sau một chuyến đi thăm các căn cứ của Không quân Đức, Lindbergh bị thuyết phục rằng không quân của Đức quốc xã đã vượt trội hơn tất cả các nước Châu Âu khác. Trong một báo cáo năm 1939, ủy ban này đã đưa ra một số đề nghị, bao gồm việc phát triển một kiểu máy bay ném bom hạng nặng mới.
Khi chiến tranh bùng nổ tại Châu Âu, Arnold yêu cầu những nghiên cứu thiết kế được tiến hành tại nhiều công ty khác nhau về một kiểu máy bay ném bom tầm rất xa có khả năng bay 5.000 dặm (8.000 km). Những động lực thúc đẩy Arnold tiến hành các nghiên cứu này một phần là do sự lo ngại rằng Anh sẽ thất thủ trước Đức quốc xã. Như vậy, Không lực sẽ không có một chiếc máy bay ném bom nào có thể bay khứ hồi từ Bờ Đông nước Mỹ đến Châu Âu để tấn công các mục tiêu trên lục địa Châu Âu. Đề nghị trên được đưa ra ngày 2 tháng 12 năm 1939, dưới tên gọi, R-40B, và nó khá phù hợp với những nghiên cứu mà Boeing đang thực hiện lúc đó.
Vào tháng 1 năm 1940, chiếc máy bay ném bom B-17 vừa mới được đưa vào sử dụng, còn chiếc máy bay hơi nhỉnh hơn Consolidated B-24 còn phải mất hơn một năm nữa. Vào lúc này, Không Lực đưa ra yêu cầu về một kiểm máy bay ném bom lớn hơn nhiều, có tầm bay có thể hoạt động được trên Thái Bình Dương sẽ phục vụ trong cuộc chiến không thể tránh khỏi với Đế quốc Nhật Bản. Bốn công ty đưa ra các nghiên cứu thiết kế là Boeing XB-29, Lockheed XB-30, Douglas XB-31, và Consolidated XB-32. Douglas và Lockheed nhanh chóng rút lui, một phần vì Boeing đã bỏ họ khá xa trong quá trình thiết kế. Đến tháng 9 năm 1940, Boeing và Consolidated nhận được các hợp đồng phát triển cho các kiểu XB-29 và XB-32.
Đầu năm 1940, Không lực Hoa Kỳ phân tích tính năng của các kiểu máy bay ném bom sử dụng tại Mặt trận Châu Âu của Thế Chiến II chống lại Không quân Đức, và đưa ra kết luận rằng để cho chiếc B-29 có thể thành công, nó cần được nâng cấp các trang bị tự vệ. Không lực đã yêu cầu bổ sung thùng nhiên liệu tự hàn kín, thêm nhiều súng máy và nâng cấp lên cỡ nòng lớn hơn. Boeing đã tích hợp mọi thứ này trong phiên bản thiết kế lại Kiểu 341, và đưa ra cho Không lực Mỹ dưới tên Kiểu 345, mà sau này sẽ là XB-29.
Sự phối hợp của những công việc lớn lao về thiết kế và kinh nghiệm đối với những kiểu máy bay ném bom cỡ lớn rất có ích cho Boeing. Ngay trước khi chiếc nguyên mẫu bay lần đầu tiên vào tháng 9 năm 1942, Không lực đã đặt một đơn hàng lớn 1500 chiếc B-29 do bị ấn tượng bởi mô hình kích thước thật hoàn tất vào đầu năm 1941. Một chiếc máy bay ném bom tầm xa đang là một nhu cầu cấp thiết, nên việc thử nghiệm hoạt động thực tế được thực hiện rộng rãi tiếp nối việc sản xuất. Chiếc B-29 đầu tiên lăn bánh ra khỏi dây chuyền lắp ráp chỉ hai tháng sau cuộc thử nghiệm hoạt động đầu tiên. Trong vòng chưa đầy một năm, chiếc B-29 được sản xuất hằng loạt số lượng lớn.
Vào lúc nó được chế tạo, B-29 là chiếc máy bay to lớn, gần gấp đôi kiểu máy bay ném bom nặng nhất đang hoạt động. Tầm hoạt động rất xa đạt được là do sử dụng cánh gắn giữa với tỉ lệ dài-rộng cao. Để làm giảm tốc độ hạ cánh cao nguy hiểm, B-29 được gắn cánh tà kiểu Fowler khá lớn. Nó có ba khoang dành cho đội bay được điều áp riêng biệt: trước mũi, gần đuôi dành cho các xạ thủ, và một ngăn riêng biệt cho xạ thủ súng đuôi.
Thay vì gắn tháp súng cồng kềnh vận hành theo kiểu truyền thống, Boeing sử dụng các tháp súng kiểu điều khiển từ xa nhỏ hơn được nối mạng với nhau với một máy tính kỹ thuật tương tự để bù trừ các yếu tố như nhiệt độ gió và đầu đạn tiêu hao. Hệ thống này rất khó phát triển, nhưng nó được chứng minh là rất có hiệu quả.


Thiết kế và phát triển


Bên trong chiếc B-29 Superfortress, tháng 6 năm 1944.

Buồng áp lực phía sau máy bay, trang bị 4 giường nghỉ cho đội bay có cơ hội nghỉ ngơi trong các phi vụ kéo dài. Đây là yếu tố quan trọng chống lại mệt mỏi trong chiến đấu.
Sản xuất chiếc B-29 là một công việc phức tạp; bao gồm 4 dây chuyền lắp ráp chính: hai của Boeing tại Renton, Washington và Wichita, Kansas, một xưởng của Bell tại Marietta, Georgia ("Bell-Atlanta"), và xưởng của Martin tại Omaha, Nebraska ("Martin-Omaha"). Hằng ngàn nhà thầu phụ tham gia vào kế hoạch. Vì thiết kế rất tiên tiến, những yêu cầu mang tính thách đố, áp lực sản xuất nặng nề, việc phát triển chịu nhiều sự cố. Ngày 18 tháng 2 năm 1943 chiếc nguyên mẫu thứ hai bị rơi trong khi thử nghiệm do cháy động cơ lan rộng ra cánh, khiến 10 nhân viên phi hành thiệt mạng cộng thêm 20 người trên mặt đất của nhà máy đồ hộp Frye nằm ở phía bắc sân bay Boeing. Những thay đổi trong sản xuất nhiều đến mức vào đầu năm 1944, B-29 ra khỏi dây chuyền sản xuất sẽ bay trực tiếp đến kho cải tiến nơi nó sẽ được tích hợp những thay đổi mới nhất. Kiểu 'trận chiến Kansas' này (một chương trình cải tiến loại trừ lỗi nhằm có đủ máy bay trang bị cho 4 phi đoàn vào ngày 1 tháng 1 năm 1944) suýt nhận chìm cả chương trình, nếu như không có sự can thiệp trực tiếp của tướng Hap Arnold. Mất thêm gần cả năm trước khi chiếc máy bay có thể hoạt động được với đủ độ tin cậy.
Nguyên nhân thường gặp nhất của những tai nạn thê thảm và vấn đề bảo trì nhức đầu là của động cơ. Cho dù sau này động cơ Wright R-3350 trở thành cổ máy tin cậy của những máy bay cánh quạt lớn, những kiểu mẫu đầu tiên của nó đầy dẫy những vấn đề nguy hiểm về độ tin cậy, phần lớn là do áp lực phải đưa B-29 vào hoạt động càng sớm càng tốt. Nó có một tỉ lệ động lực/khối lượng rất tốt, nhưng phải trả giá bằng độ tin cậy kém. Tệ hơn, vỏ nắp động cơ do Boeing thiết kế lại quá hẹp (với mong muốn cải thiện tính năng khí động học), và nắp thường xuyên bị rung động trong gần suốt chuyến bay. 18 xy lanh bố trí thành vòng tròn hai hàng trước và sau rất sít sao, trở nên quá nóng do không đủ không khí làm mát, khiến các van xả trở nên vô hiệu.
Những điểm yếu này phối hợp lại làm động cơ thường xuyên quá nóng ở tải trọng chiến đấu, nhất là khi lấy độ cao sau khi cất cánh. Van xả không đóng kín làm thất thoát hổn hợp khí nhiên liệu khi đốt cháy, hoạt động như đèn hàn đốt các trục van, dẫn đến cháy động cơ nếu không được dập lửa kịp lúc. Vỏ sau của động cơ được chế tạo từ hợp kim magnesium thường dễ bắt lửa, bốc cháy và lan sang toàn bộ cánh trong vòng 90 giây, là nguyên nhân của các tai nạn thê thảm.
Vấn đề này không được giải quyết triệt để cho đến lúc máy bay được gắn động cơ hoàn toàn mới Pratt & Whitney R-4360 'Wasp Major' trên phiên bản cải tiến B-29D (B-50), vốn quá trễ để phục vụ trong Thế Chiến II. Các biện pháp tạm thời bao gồm gắn những bọc nhỏ trên cánh quạt nhằm tăng luồng khí mát thổi qua động cơ và những vách ngăn hướng luồng khí trực tiếp đến các van xả. Lượng dầu máy bơm đến các van cũng được gia tăng, và chống rò rỉ dầu động cơ. Việc bảo trì được tăng cường, kiểm soát trước bay nhằm phát hiện van hỏng, thay 5 xy lanh đầu tiên sau 25 giờ bay và thay cho toàn bộ động cơ sau 75 giờ.
Các phi công kinh nghiệm thường mô tả chuyến bay sau khi cất cánh là nỗ lực tối đa nhằm đạt tốc độ, trong khi thông thường là ưu tiên lấy độ cao. Động cơ bố trí thành vòng tròn cần có luồng không khí làm mát, và việc không tăng nhanh được tốc độ càng sớm càng tốt sẽ làm hỏng động cơ và nguy cơ cháy.
Trong chiến tranh, B-29 có khả năng bay cao đến 40.000 ft ở tốc độ bay thực đến 350 mph. Đây là biện pháp phòng thủ tốt nhất, vì máy bay tiêm kích thời ấy hiếm khi bay cao đến đó, và ít chiếc có thể theo kịp nếu nó ở sẵn đó và chờ đợi. Chỉ có những pháo phòng không hạng nặng mới bắn tới và vì Phe Trục không có những ngòi nổ tiếp cận, việc bắn trúng máy bay gần như là không thể. Đội bay được hưởng ưu điểm của khoang lái điều áp toàn bộ, lần đầu tiên áp dụng cho máy bay ném bom. Khoang lái và mũi máy bay được điều áp, nhưng những nhà thiết kế phải đối mặt quyết định có nên điều áp khoang chứa bom, sẽ phải làm giảm áp khi ném bom. Giải pháp là giữ khoang bom không điều áp, và thiết kế một đường hầm ngang qua 2 khoang chứa bom. Đường hầm nối 2 khu vực được điều áp trước và sau máy bay, và cũng được điều áp, giúp đội bay di chuyển giữa 2 khu vực.

Logged
Hannoi
Thành viên
*
Bài viết: 108



« Trả lời #17 vào lúc: 30 Tháng Mười, 2009, 02:04:31 pm »

Máy bay ném bom hạng nặng chiến lược B29 (B-29 Superfortress) continue...
http://vi.wikipedia.org/wiki/B-29_Superfortress

Điều khiển bay


Một chiếc Superfortress quay về sau một phi vụ huấn luyện

Khi bay, phi công ra các lệnh về thông số của động cơ và góc cánh (gần giống như thuyền trưởng ra các lệnh đến buồng máy tàu), thay vì trực tiếp đẩy cần ga và bật các điều khiển cánh. Một cải tiến khác nữa là các tính toán đội bay phải thực hiện trước và trong chuyến bay. Trước B-29, các quy trình bay chỉ đưa ra ước lượng gần đúng các thông số, và phi công phải dựa trên bản năng và kinh nghiệm để thao tác. Quy trình bay của B-29 cung cấp các bảng biểu để tính toán tốc độ cất cánh và hạ cánh dựa trên trọng lượng, cao độ và nhiệt độ. Tìm ra được các thông số động cơ tối ưu khi bay đường trường cần tham khảo cao độ, nhiệt độ bên ngoài, trọng lượng máy bay và tốc độ bay thực. Thông số động cơ phải được tính lại sau mỗi 2 giờ hay mỗi khi thay đổi độ cao. Kiểu tính toán này trở nên thông thường đối với hàng không dân dụng và quân sự ngày nay, nhưng là một sáng tạo rất đột phá vào thời kỳ 1944. Lợi ích nó mang lại cho việc tăng tầm bay và tính năng bay hoàn toàn không thể chối cãi được.
Đa số phi công thấy kiểu máy bay B-29 này khá dễ chịu, tuy nhiên những cần điều khiển của nó không được trợ lực nên rất nặng, đòi hỏi người khá khỏe để vận hành (Higham 1975). Cho dù nó có thể bay chỉ với 2 động cơ khi ở trên không, máy bay bị ảnh hưởng do động cơ bị quá nóng khi bay cách đó; nhiều chiếc B-29 bị rơi tại Saipan sau khi hỏng 1 động cơ lúc cất cánh với tối đa tải trọng.

Lịch sử hoạt động

Thế chiến II


B-29 đang bay

Kế hoạch ban đầu, áp dụng dưới sự chỉ đạo của Tổng thống Franklin D. Roosevelt như là một lời hứa đối với Trung Quốc và gọi là Chiến dịch Matterhorn, dùng B-29 tấn công Nhật Bản từ 4 căn cứ tiền phương ở Quảng Tây, Nam Trung Hoa, và 5 căn cứ chính ở Ấn Độ, và để tấn công các mục tiêu khác trong khu vực Trung Hoa - Ấn Độ khi cần thiết. Vùng Chengdu được chọn sau đó hơn là vùng Guilin để loại bớt việc cần phải tập trung, trang bị và huấn luyện cho 50 sư đoàn Trung Hoa để bảo vệ các căn cứ tiền phương khỏi sự tấn công trên bộ từ phía Nhật. Japanese ground attack. XX Bomber Command, ban đầu dự định có 2 không đoàn, được rút xuống còn 1 không đoàn với 4 nhóm do thiếu máy bay, đã giới hạn hiệu quả các cuộc tấn công từ Trung Hoa.
Đây là một kế hoạch cực kỳ tốn kém, vì không có liên lạc đường bộ giữa Ấn Độ và Trung Hoa, nên mọi tiếp liệu phải được không vận qua dãy núi Himalayas. B-29 bắt đầu đến Ấn Độ từ đầu tháng 4-1944. Chuyến bay B-29 đầu tiên đến đến các sân bay Trung Quốc (qua dãy Himalayas, hay "The Hump") diễn ra ngày 24 tháng 4 năm 1944. Phi vụ chiến đấu B-29 đầu tiên bay vào ngày 5 tháng 6 năm 1944, với 77 trong số 98 máy bay cất cánh từ Ấn Độ ném bom xưởng đường sắt tại Bangkok (5 chiếc B-29 bị mất do những lý do kỹ thuật).
Ngày 15 tháng 6 năm 1944, 47 chiếc B-29 cất cánh từ Chengdu, Trung Hoa, ném bom Nhà máy Sắt Thép Hoàng gia tại Yawata. Đây là trận tấn công đảo chính quốc Nhật đầu tiên kể từ trận không kích Doolittle vào tháng 4 năm 1942. Trong trận này, chiếc B-29 đầu tiên bị mất trong chiến đấu khi phải hạ cánh khẩn cấp và bị máy bay tiêm kích Nhật phá hủy trên mặt đất.
Vì những chiến dịch này có chi phí rất đắt, việc tấn công Nhật từ các sân bay Trung Hoa tiếp tục với mật độ tương đối thấp. Nhật Bản bị ném bom vào: 7 tháng 7 năm 1944 (14 B-29s), 29 tháng 7 (70+), 10 tháng 8 (24), 20 tháng 8 (61), 8 tháng 9 (90), 26 tháng 9 (83), 25 tháng 10 (59), 12 tháng 11 (29), 21 tháng 11 (61), 19 tháng 12 (36) và cuối cùng vào 6 tháng 1 năm 1945 (49). B-29 được rút khỏi các sân bay Trung Hoa vào cuối tháng 1-1945. Trong suốt thời kỳ này B-29 từ Ấn Độ và Trung Hoa cũng tấn công vào nhiều mục tiêu khác khắp Đông Nam Á. Tuy nhiên, toàn bộ các nỗ lực của B-29 được chuyển dần sang các căn cứ mới ở quần đảo Marianas, và phi vụ B-29 cuối cùng từ Ấn Độ thực hiện ngày 29 tháng 3 năm 1945.


Chiếc Boeing B-29 Superfortress "Enola Gay" sau khi thả bom nguyên tử xuống Hiroshima.

Nhu cầu sử dụng những căn cứ không thuận tiện ở Trung Hoa để tấn công Nhật Bản chấm dứt sau khi Mỹ chiếm được quần đảo Marianas vào năm 1944. Trên các đảo Tinian, Saipan và Guam, 5 sân bay chính được xây dựng, mỗi sân bay làm căn cứ cho một không đoàn (4 phi đội) B-29, trở thành điểm cất cánh của những cuộc không kích B-29 lớn vào Nhật Bản vào năm cuối cùng của cuộc chiến. Các đảo này được tiếp liệu dễ dàng bằng tàu. Chiếc B-29 đầu tiên đến Saipan ngày 12 tháng 10 năm 1944, và phi vụ chiến đấu đầu tiên bay vào ngày 28 tháng 10 với 14 chiếc B-29 tấn công đảo san hô Truk. Phi vụ đầu tiên thực hiện trên chính quốc Nhật từ Marianas bay ngày 24 tháng 11 năm 1944, với 111 chiếc B-29 tấn công Tokyo. Từ lúc ấy, các cuộc không kích căng thẳng hơn được thực hiện đều đặn cho đến hết chiến tranh. Nó thành công trong việc hủy diệt tất cả các thành phố lớn của Nhật (ngoại trừ Kyoto) và gây thiệt hại nặng cho công nghiệp chiến tranh Nhật Bản. Mặc dù ít được ngưỡng mộ, chương trình thả mìn bằng máy bay do B-29 thực hiện nhằm phong tỏa các tuyến đường thủy và lối ra vào hải cảng Nhật Bản làm suy giảm nghiêm trọng khả năng cung cấp cho thường dân và tiến hành chiến tranh.
Có lẽ chiếc B-29 nổi tiếng nhất là chiếc Enola Gay, đã thả trái bom nguyên tử 'Little Boy' xuống Hiroshima ngày 6 tháng 8 năm 1945. Bockscar, một chiếc B-29 khác, thả 'Fat Man' xuống Nagasaki ba ngày sau. Cả hai được chọn để cải tiến ngay trên dây chuyền sản xuất ở xưởng Omaha mà sau này trở thành căn cứ không quân Offutt.
B-29 chỉ được sử dụng trong Thế Chiến II tại Mặt trận Thái Bình Dương.

Xung đột Triều Tiên

B-29 tham gia Chiến tranh Triều Tiên, ban đầu trong các phi vụ ném bom chiến lược ban ngày, và một số ít các mục tiêu chiến lược và xí nghiệp tại Bắc Triều Tiên nhanh chóng bị san bằng. Quan trọng hơn, từ năm 1950 một số máy bay tiêm kích phản lực Xô Viết MiG-15 'Fagot' xuất hiện trên bầu trời Triều Tiên (một kiểu máy bay được thiết kế đặc biệt để bắn hạ B-29), và sau một số thiệt hại, các phi vụ của B-29 sau đó được giới hạn chỉ bay đêm, hầu hết nhằm mục đích can thiệp. Trong suốt cuộc chiến, B-29 bay 20.000 phi vụ, thả 200.000 tấn bom, còn các xạ thủ trên B-29 bắn rơi được 27 máy bay địch.

Phục vụ sau chiến tranh

B-29 nhanh chóng trở nên lạc hậu sau sự phát minh ra động cơ phản lực. Với sự ra đời của chiếc Convair B-36 khổng lồ, B-29 được phân loại lại thành máy bay ném bom tầm trung trong Không quân Hoa Kỳ mới thành lập. Tuy nhiên, biến thể B-50 sau đó (có tên ban đầu là B-29D) thực hiện khá tốt những vai trò tìm kiếm cứu nạn trên biển, trinh sát điện tử, và ngay cả tiếp nhiên liệu trên không. Những vai trò căn bản của B-50D được thay thế vào đầu những năm 50 bởi chiếc Boeing B-47 Stratojet, rồi chiếc này cũng được thay bằng Boeing B-52 Stratofortress. Tổng cộng có 3.970 chiếc B-29 đã được chế tạo trước khi nó nghỉ hưu vào năm 1960.

Đặc điểm kỹ thuật

Đặc tính chung

•   Đội bay: 11 người (phi công chính, phi công phụ, kỹ sư, chuyên viên ném bom, hoa tiêu, điện báo viên, sĩ quan radar, xạ thủ súng máy (2), xạ thủ súng máy đuôi, xạ thủ súng máy trên).


Boeing B-29 Superfortress

•   Chiều dài: 30,2 m (99 ft 0 in)
•   Sải cánh: 43,1 m (141 ft 3 in)
•   Chiều cao: 8,5 m (29 ft 7 in)
•   Trọng lượng không tải: 33.800 kg (74.500 lb)
•   Trọng lượng có tải: 54.000 kg (120.000 lb)
•   Trọng lượng cất cánh tối đa: 60.560 kg (133.500 lb)
•   Động cơ: 4 × động cơ Wright R-3350-23 bố trí hình tròn, turbo siêu tăng áp, công suất 2.200 mã lực (1.640 kW) mỗi động cơ
Đặc tính bay
•   Tốc độ lớn nhất: 574 km/giờ (310 knot, 357 mph)
•   Tốc độ bay đường trường: 350 km/giờ (190 knot, 220 mph)
•   Tầm bay tối đa: 9.000 km (4.900 nm, 5.600 mi)
•   Bán kính chiến đấu: 5.230 km (2.820 nm, 3.250 mi)
•   Trần bay: 10.200 m (33.600 ft)
Vũ khí
•   12 × súng máy 12,7 mm Browning M2 trong những tháp điều khiển từ xa
•   1 × Pháo M2 20 mm gắn ở đuôi, được tháo bỏ không lâu sau khi đưa vào sử dụng
•   9.000 kg bom
Logged
Hannoi
Thành viên
*
Bài viết: 108



« Trả lời #18 vào lúc: 02 Tháng Mười Một, 2009, 08:00:14 am »

Dự án Manhattan
http://en.wikipedia.org/wiki/Manhattan_Project

Dự án Manhattan là dự án phát triển vũ khí hạt nhân đầu tiên trong Thế chiến II do Mỹ, Anh và Canada thực hiện.

Dự án đã thành công với ba vụ nổ vào năm 1945: một vụ nổ thử nghiệm vào ngày 16 tháng 7 gần Alamogordo, New Mexico (vụ thử Trinity); một quả bom uranium có tên "Little Boy" đã nổ ngày 6 tháng 8 tại Hiroshima, Nhật Bản; và một quả bom plutonium có tên "Fat Man" nổ ngày 9 tháng 8 tại Nagasaki, Nhật Bản.

Dự án này xuất phát do vào thập niên 1930, các nhà khoa học lo ngại Đức quốc xã cũng đang nghiên cứu một loại vũ khí như vậy. Bắt đầu từ một chương trình nhỏ năm 1939, dự án này đã huy động hơn 130.000 người và tiêu tốn gần 2 tỉ USD (tương đương 20 tỉ USD tính tại năm 2004).

Khi chứng kiến vụ nổ bom hạt nhân đầu tiên của thế giới ba tuần trước khi Hiroshima bị san phẳng, người chế tạo ra bom nguyên tử, nhà vật lý hàng đầu Robert Oppenheimer cùng người đồng nghiệp nhà vật lý Kenneth Bainbridge đã tóm tắt sức mạnh đáng sợ của quả bom một cách chân thực: Nó sẽ huỷ diệt cả hành tinh này. Oppenheimer nói: Tất cả chúng tôi đều ý thức được rằng thế giới loài người sẽ thay đổi vĩnh viễn. Một số người đã khóc, một số khác thì cười nhưng phần lớn đã im lặng.

Robert Oppenheimer

Năm 1943, dự án Mathattan mật mã chỉ việc chế tạo bom nguyên tử, bắt đầu được thực hiện dưới sự bảo vệ tuyệt mật. Ba quả bom nguyên tử được chế tạo thành công vào năm 1945 khi nước Mỹ lên kế hoạch về một cuộc chiến tranh đầy gian nan và đẫm máu vào Nhật Bản. Hai trong những quả bom này, có tên là Little Boy - trái bom   uranium và Fat man - trái bom plutonium, đã sẵn sàng để vận chuyển tới châu á Thái Bình Dương với kỳ vọng sẽ giúp quân đội Mỹ chiến thắng trong Thế chiến II. Các nhà khoa học   tin rằng trái   bom uranium sẽ hoạt động tốt, nhưng trái bom plutonium vẫn phải được phát nổ thử nghiệm trong bí mật trước khi thả nó xuống đất nước Nhật Bản. Mùa xuân năm 1944, Oppenheimer và Bainbridge được điều đến một căn cứ bí mật, nằm cách biệt trên một dải sa mạc có tên Chuyến đi thần chết nằm cách 300km về phía Nam so với căn cứ đóng quân bí mật của họ tại Los Alamos ở Bắc New Mêhicô. Tại đây một vũ khí có sức huỷ diệt mạnh nhất trong lịch sử, mang tên The Gadget được đặt   trên một tháp làm bằng thép cao 30m và cho phát nổ tại khu Trinity mới sau khi Tổng thống Mỹ Harry Truman cho phép.

Ngày 16-7-1945, một vài giây trước 5h30 sáng, một tiếng nổ lớn phát ra, phóng những tia xạ hạt nhân từ lõi plutonium của trái bom và khiến bầu trời đêm sáng tỏ như ban ngày. Tướng Thomass Farrel, chỉ huy lực lượng quân sự tại căn cứ đã viết: Cả đất nước bùng lên một quầng sáng bởi những tia sáng phóng ra với cường độ ánh sáng tăng lên nhiều lần so với ánh nắng mặt trời vào giữa ban ngày. Vụ nổ phát sáng lan khắp mọi núi đồi và len đến từng khe hở và kẽ nứt ở dãy núi ngay gần đó với những ánh sáng không thể miêu tả được nhưng khiến chúng ta đều có thể hình dung. Vụ nổ bắt đầu từ những luồng gió lớn rồi đến một tiếng gầm đáng sợ mạnh mẽ cảnh báo về những chết chóc mà trái bom đem theo. Vụ nổ thậm chí còn làm vỡ tung cửa sổ của khu dân cư nằm cách đó 200km nhưng người dân trong khu vực này lại được thông báo rằng đó chỉ là một vụ nổ của kho đạn quân đội. Edward Teller, một trong những nhà khoa học   hàng đầu của dự án này phải đeo kính sát tròng để chứng kiến vụ nổ mà không bị mù mắt. Tại lõi của vũ khí, nhiệt độ đã lên đến hàng triệu độ, giống như một quả cầu lửa. Sau khi mặt trời mọc, một nhóm được trang bị đồ bảo vệ thân thể khỏi tia phóng xạ, đã lần đường tìm đến chỗ phát nổ mà tại đó đã phóng lên một trái cầu lửa. Toà tháp bằng thép đã biến mất, hai chân thép cắm sâu vào trong bê tông, một hố nông lan rộng khoảng 800m phủ lên một chất trắng cho thấy độ nóng đã làm bốc hơi   cả cát sa mạc.

Ngày 6-8-1945, vụ đánh bom thành phố Hiroshima đã làm 140.000 người gần nửa dân số của thành phố trong thời gian đó thiệt mạng. Ba ngày sau đó, hơn 70.000 người cũng bị thiệt mạng trong một trận đánh bom xuống thành phố Nagasaki. Sau 6 ngày, Nhật Hoàng lần đầu tiên đã tuyên bố đầu hàng trên đài phát thanh.


Manhattan Project US Map
Logged
BinhNguyen2108
Thành viên
*
Bài viết: 34


« Trả lời #19 vào lúc: 02 Tháng Mười Một, 2009, 10:09:16 am »

ủa em tưởng dự án Mahattan là tuyệt mật mà sao lắm trung tâm nghiên cứu thế nhỉ Grin
Logged

Tôi yêu Việt Nam
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM