Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 08:19:49 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Ứng dụng hạt nhân trong quân sự và dân sự  (Đọc 119903 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #100 vào lúc: 22 Tháng Hai, 2013, 09:28:07 pm »

Các bác tiếp tục phần cơ bản về hạt nhân đi. Hết phần cơ bản để lấy cơ sở thì rẽ sang hướng thảo luận nào cũng thuận lợi hơn. Trong loạt bài của bác DanViet2011, có phần nào các bác không đồng ý có thể góp ý, bổ sung hay phản biện nhưng các bác lưu ý: Không vi phạm Nội quy diễn đàn và quy chế riêng của Kiến thức quốc phòng.
Logged
Trần Anh
Thành viên
*
Bài viết: 318



« Trả lời #101 vào lúc: 22 Tháng Hai, 2013, 09:33:57 pm »

Nợ các bác nhiều "*" quá, em phải trả nợ dần thôi Tongue
Nhưng trước đó em cũng muốn 1 chút thế này


Ta ngoài lề chút, một ví dụ về việc wiki đánh lừa các bạn như thế nào. Đó là khi đọc về quả bom Fat Man nó nói thế này: The result was that in the Fat Man bomb, about 1 kilogram (2.2 lb) of the 6.2 kilograms (14 lb) of plutonium in the pit (about 17%) fissioned. In this process 1 gram (0.035 oz) of matter in the bomb was converted into the active energy of heat and radiation (see mass-energy equivalence for detail), releasing the energy equivalent of 21 kilotons of TNT or 88 terajoules.

À hà, tính bom bằng Anhstanh vĩ đại đây! E=MC^2 đây. Thế mình hỏi các bạn trẻ: 17% Pu-239 biến mất không để lại cặn bã gì à? Vứt cái đồ thị bên trên đi à? Chuỗi phân rã hạt nhân đâu mà Anhstanh ở đây?


Thứ nhất em muốn nói với bác là kiến thức này em chưa từng dùng, ít nhất là trong khuôn khổ của VMH và cũng thấy nó không liên quan gì đến đoạn đang tranh luận.

Thứ hai, em không thấy có sự sai sót nào trong đoạn trích này:

Pu239 khi phân hạch tạo ra năng lượng 207.1 MeV  =  3.318 × 10−11 J.
Năng lượng này có được là do hạt nhân Pu239 bị phá vỡ để tạo ra các nuclide  trung bình (VD Ce, Kr...) và phát ra năng lượng, năng lượng đó bắt nguồn từ một phần năng lượng liên kết riêng giữa các nucleon của hạt nhân Pu239.  Năng lượng liên kết cũng chính là nguyên nhân gây ra độ hụt khối của hạt nhân (delta m).
Mo là tổng khối lượng các nucleon trong hạt nhân, M là khối lượng hạt nhân.

Mo-M= delta m.

Theo công thức của Einstein. Ta có thể tính được độ hụt khối trong phản ứng phân hạch Pu 239

delta m x C^2 = 207.1 MeV
=> delta m = 207.1 MeV / C^2.
=> delta m = 3,687 x 10^-28 (kg)

Trong khi khối lượng của 1 nguyên tử Pu239 = (239 x mP + 94 x mE) – delta m
= 3,99 x 10^-25 (kg)

=> độ hụt khối trong phản ứng phân hạch  Pu239 tương đương với khoảng gần 1 phần 1000 khối lượng nguyên tử.
Cũng có nghĩa là nếu có 1kg Pu239 phản ứng thì độ hụt khối sẽ là 1g.
=> năng lượng tỏa ra là 0,001 x C^2 = 90 Tera Jun.

Đó là lý thuyết tính toán. Năng lượng tạo ra ở mức lý tưởng.

Còn theo số liệu công bố thì trong quả Fat Man 17%  khối lượng Pu239 phản ứng phân hạch thức tức (17% của 6,2 kg) là khoảng 1 kg Pu239 và năng lượng giải phóng ra là 21 KT = 88 Tera Jun.

Nghĩa là khá khớp với kết quả tính toán ở trên, hiệu suất thực tế thấp hơn một chút cũng là chuyện bình thường. Các hạt nhẹ hơn được tạo thành sau phản ứng.

Nói chung là các số liệu ở phần này của Wiki là hợp lý mà bác.Wink

Có lẽ chúng ta nên tạm dừng các tranh luận ở đây.

Quay trở lại bài, đầu tiên em xin phép trình bày về một số thiết bị, phương pháp tạo ra phản ứng nhiệt hạch có điều khiển. Trước tiên là Tokamak. Bài còn nhiều sai sót, mong các bác cho thêm ý kiến hoàn thiện  Smiley

TOKAMAK


Tokamak là một khái niệm có nguồn gốc từ tiếng Nga  токамак, là viết tắt của từ  "тороидальная камера смагнитными катушками" (toroidal'naya kamera s magnitnymi katushkami)- toroidal chamber with axial magnetic field. Có nghĩa là buồng từ hình phỏng xuyến. Để chỉ một thiết bị tổng hợp nhiệt hạch được phát triển lần đầu tiên tại Liên Xô vào những năm 1950  bởi 2 nhà vật lý Igor Tamm và Andrei Sakharov , lấy cảm hứng từ một ý tưởng ban đầu của Oleg Lavrentiev.

Một chút về lịch sử :

Mặc dù nàn sóng nghiên cứu về tổng hợp hạt nhân được tiến hành từ sau Đại chiến thế giới lần thứ II, tuy nhiên ban đầu đó là những chương trình thuộc dạng bí mật quốc gia.
Cho đến khi Hội nghị quốc tế của Liên Hiệp Quốc về sử dụng năng lượng nguyên tử cho mục đích hoà bình họp tại Geneva năm 1955 thì các chương trình này mới được công bố và các nhà khoa học thuộc các quốc gia khác nhau cũng được phép hợp tác với nhau. Đó là cơ hội tuyệt vời để gia tăng các hoạt động phát triển tokamak trên toàn Thế giới.

Năm 1951, nhà độc tài Argentina Juan Perun tuyên bố rằng nước ông ta đã có một nhà máy phản ứng nhiệt hạch hoạt động. Đây là một công trình của nhà vật lý Lyman Spitzer tại Princeton.
Cùng năm đó, các nhà vật lý của Liên Xô Andrei Sakharov và Igor Tamm thiết kế ra một thiết bị tổng hợp hạt nhân sau này sẽ được gọi là tokamak.
Ở Anh cũng có một vài nghiên cứu được công bố nhưng sau thì các kết quả đều bị rút lại.
Và cuối cùng lịch sử đã chứng minh, chỉ có những tuyên bố của người
Nga là có cơ sở.

Theo những tài liệu bên giáo sư V.P. Smirnov viện trưởng viện Kurchatov
Năm 1951, tại Viện Kurchatov, những thử nghiệm về các tổ hợp từ hình xuyến tạo ra plasma được bắt đầu. Đây có thể coi là một phần của chương trình phát triển vũ khí nhiệt hạch của Liên Xô vì Tamm cũng như học trò cũ của ông Sakharov vào thời điểm đó là người của Arzamas-16. Có lẽ những người làm nguyên tử đặc biệt là những đã từng đi Nga đều biết đến định danh này. Thời đó người ta có câu: “Mỹ có Los Alamos, Liên Xô có Arzamas-16”.

Sakharov lúc đó đã tính toán trên lý thuyết về một lò phản ứng nhiệt hạch nhân với nguyên liệu D-D. Công suất 900MW, bán kính lớn: 12 m, bán kính nhỏ 2m, từ trường 5 Tesla (T)  (Phải hiểu là từ trường của Trái đất chỉ 0,00005 Tesla.), mật độ plasma: 3 × 10^20 m^-3,
nhiệt độ ion 100 keV.
Trên thực tế thì những buồng hình xuyến đầu tiên được xây dựng có chất liệu sứ, gốm hoặc kim loại có lớp ốp cách nhiệt. Cái lớn nhất của loại này (loại TMP) có đường kính ngoài R=0,8 m đường kính trong a= 0,13 m. Từ trường B= 1,5T, cường độ dòng điện I=0,25 MA.
Nó đã khá gần với thiết kế của Tokamak thực thụ đầu tiên mang tên T-1. T-1 có một điểm khác chính mà được duy trì tới các Tokamak sau này là buồng hình xuyến của nó làm hoàn toàn bằng kim loại, không ốp lớp cách nhiệt. R= 0,67m, a= 0,17m, B= 1,5T, I= 100KA. Nó hoạt động thành công vào năm 1958. Năm nay là vừa tròn 55 năm.

Hình ảnh Tokamak trên một con tem Soviet

Tiếp nối thành công Liên Xô xây dựng các Tokamak đời tiếp theo, chúng ngày càng lớn và hoàn thiệt hơn. Tokamak cuối cùng , lớn nhất mạnh nhất của Soviet là Superconducting Tokamak T-15 (thời 1987,1988), R= 2,43m, a= 0,42m, B= 3,5T, I=1MA. Đây cũng là Tokamak lớn nhất của Nga, hiện tại nó vẫn đang được nâng cấp lên công suất 20MW cho những kế hoạch đến 2022 . T-15 ứng dụng nhiều công nghệ mới, đặc biệt là Tokamak đầu tiên sử dụng nam châm siêu dẫn.
Có 1 cái vụ mà bác DanViet đã nhắc đến: Năm 1968, tại Hội nghị quốc tế của IAEA (Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế) về vật lý plasma và nghiên cứu tổng hợp hạt nhân có điều khiển tổ chức tại Novosibirsk (Nga), các nhà khoa học Nga công bố họ đã đạt được nhiệt độ electron trên 1 keV (tương đương với trên 11 triệu độ Kelvin). Điều này khiến các khoa học gia Anh và Mỹ hết sức sửng sốt bởi vì họ còn xa mới đạt được kết quả này. Chỉ đến khi các thử nghiệm bằng tán xạ laser được thực hiện sau đó vài năm, khẳng định các phép đo nhiệt độ ban đầu thì họ mới hết nghi ngờ.

Đặc trưng của tokamak là tính đối xứng quay (hay đối xứng phương vị)
Trong một Tokamak, các hạt tích điện tạo nên Plasma nóng được giữ bởi một cấu trúc từ trường có dạng hình xuyến (toroidal).

Tại sao lại chon hình xuyến thì các sách báo nói nhiều rồi:
Hình dạng đặc biệt của lò phản ứng nhiệt hạch nhằm tạo ra từ trường càng đều
càng tốt. Hình xuyến có tính chất hình học mà các hình dạng khác, như hình cầu chẳng hạn, không có. Vấn đề ở đề liên quan tới định lý “hairy ball”. Tưởng tượng một hình cầu có tóc mọc xung quanh, tương tự như con đường từ trường / đường sức từ (magnetic field lines) trong lò phản ứng hợp hạch. Người ta thấy rằng không thể chải tóc trên quả cầu mà không làm cho tóc dựng đứng lên / mắc vào nhau (stick up). Hiện tượng này (A strand of hair that is standing on end) tạo ra sự bất ổn trong lò phản ứng. Một hình xuyến “có tóc” giải quyết được vấn đề này, giúp cho việc điều chỉnh từ trường tránhh các trường hợp sai quy luật, cho phép từ trường chứa plasma tốt hơn.
Trong vật lý, từ trường là một thực thể được sản sinh do các vật mang điện (các dòng điện) di động sử dụng lực trên các vật mang điện di động khác. Sự xoắn theo cơ chế lượng tử (quantum-mechanical spin) của một hạt tạo ra từ trường và bị từ trường này tác động như thể nó là một dòng điện (acted on by them as though it were a current).

Như vậy, một tokamak bao gồm nhiều bộ phận khác nhau như : Buồng chứa plasma, hệ thống tạo từ trường, khoang chứa Deuterium, khoang chứa Lithium , hệ thống Divertor trích lọc nhiệt năng từ phản ứng nhiệt hạch .......
Bộ phận quan trọng nhất của tokamak là hệ thống tạo từ trường. Hệ thống này gồm hai phần chính :
+ Hệ thống tạo từ trường toroidal : từ trường dọc bên trong thành ống.
+ Hệ thống tạo từ trường poloidal : tạo từ trường vòng
+ Ở giữa vòng xuyến là cuộn CS(Ohmic heating magnet)

Dòng plasma chuyển động trong từ trường sẽ chịu tác dụng của lực Lorentz.
Lực này làm cho hạt chuyển động xoắn ốc quanh các đường sức của từ trường và tác dụng vào plasma không cho chúng chạm vào thành bình. Tokamak có một hệ thống các cuộn trường hình phỏng xuyến (toroidal field coils) và tổ hợp các trường đó sẽ cho ra trường giữ xoắn ốc (helical magnetic field) .
Nhưng nếu cứ để như vậy dòng hạt sẽ đập vào điểm kết thúc của từ trường do đó quỹ đạo của hạt bị hạn chế. Để giải quyết vấn đề này Tokamak sử dụng một hệ thống từ trường cong bên dọc thành ống hình xuyến ( Poloidal magnetic field) tạo ra bởi cuộn Poloidal (poloidal field coils) do đó sẽ không có điểm kết thúc của từ trường, quỹ đạo của hạt không còn bị hạn chế. Thêm vào đó từ trường Poloidal được tạo ra bởi dòng plasma thật sự cần thiết cho sự cân bằng từ thủy động lực học (MHD).Dòng điện tạo ra từ trường trong trường Poloidal được cảm ứng trong chính Plasma và cũng được dùng để đốt nóng nó Như vậy từ trường bên trong tokamak có dạng


Để bắt đầu quá trình, hydrogen được phun vào buồng chân không và dòng điện trong các cuộn toridal được tăng lên tạo ra từ trường ổn định, có thể chứa plasma khi nó bắt đầu hình thành.Sau đó một điện trường cực lớn được tạo ra bên trong buồng phản ứng bằng cách sử dụng các cuộn CS. Từ trường này tạo ra sự phân cực trong nguyên tử và tách chúng ra tạo thành plasma .Sự va chạm của các ion bên trong plasma làm cho nó có điện trở. Điện trở này sẽ đốt nóng plasma (bằng cuộn CS). Khi nhiệt độ tăng, giá trị điện trở cũng tăng theo và làm cho cuộn CS mất đi tác dụng đốt nóng. Để tạo nhiệt độ cần thiết cho phản ứng nhiệt hạch, nhiệt độ phải tăng trên 100 triệu độ, tức gấp 6 lần nhiệt độ bên trong tâm Mặt trời. Có nhiều cách để tạo nên nhiệt đó đó như: bắn một chùm hạt được gia tốc vào trong plasma, sử dụng tần số radio … Một khoảng thời gian ngắn sau khi hình thành plasma, nhiên liệu sẽ được phun thêm vào buồng phản ứng để gia tăng mật độ cũng như áp suất. Chuyển động của plasma bên trong buồng phản ứng được điều khiển bởi các cuộn PF, dòng điện trong các cuộn này sẽ tương tác với dòng plasma. Chúng có tác dụng điều chỉnh hướng, hình dạng cũng như vị trí của plasma.
Cũng cần lưu ý rằng, trong việc điều khiển vị trí , hướng , hình dạng của plasma việc sự dụng sự tương tác phản hồi (feelback) không phải là sự lựa chọn duy nhất...

« Sửa lần cuối: 23 Tháng Hai, 2013, 02:45:53 pm gửi bởi Trần Anh » Logged

As long as you love me. We could be starving, we could be homeless, we could be broke.
As long as you love me. I'll be your platinum, I'll be your silver, I'll be your gold...
 
DanViet2011
Thành viên
*
Bài viết: 83


« Trả lời #102 vào lúc: 23 Tháng Hai, 2013, 02:48:46 pm »


2. Có  phải “Fat Man” được sinh ra để giải quyết cho sự yếu kém của “Little Boy” hay không?


Theo như đồ thị trên thì Pu-239 gần như hoàn toàn giống U-235 với mọi giá trị cho năng lượng neutron. Vậy là người Mỹ, tiếp tục chế thêm mấy cái võ bom cho “Little Boy - Pu” phần hai. Nhưng câu chuyện không đơn giản như thế.

Với “Little Boy” chúng ta thấy với U-235 thì khối lượng quá hạn là 47.6 kg (theo bài #69). Và theo nhiều dử liệu đáng tin cậy, thì họ đã xài đến 64kg U-235 loại 80% tinh chất. Và chỉ gặt hái được cở 1.4% sức mạnh. Có thể vì họ đã phỏng tính được năng xuất thấp, hay vì họ đã khô cạn nguồn U-235 tinh chất, hay vì tính tò mò muốn khám phá cái mới; do đó họ mới tiến hành nghiên cứu xài nguyên liệu Pu.

Theo bài trước chúng ta có khối lượng “quá hạn” của Pu là khoảng 10 kg. Trái bom sẽ nhỏ hơn, đở tốn nguyên liệu hơn. Với mẻ Pu-239 nhận được (98.8% tinh chất), phòng thí nghiệm Los Alamos thấy rằng mẩu bom kiểu “súng” (Gun Type) vẫn còn xài được. Chỉ cần tăng tốc độ bắn là mọi chuyện sẽ êm xuôi.
Nhưng khi mớ Pu-239 thật sự dùng cho bom được mang đến, thì lượng Pu-240 quá cao, cở 5-7%. Cấu trúc kiểu súng hoàn toàn không phù hợp. Khi người ta chế ra Pu-239, chỉ cần để cho một anh neutron bị bắt là nó tự biến thành Pu-240. Loại này có tính năng phân hạch tự phát, thải neutron tùy thích. Với 1% Pu-240 ở trong khối nguyên liệu Pu-239, mỗi gram Pu-240 sẽ phóng ra cở 1,030 neutron mỗi giây. Với 10 kg thì chúng ta sẽ có cở 10,3 triệu neutron bay lung tung trong 1 giây. Chưa gì đả trở thành con cháu Bin Ladin mất rồi, trái bom có xác xuất tự nổ cực kỳ cao, bị nổ sớm. May mà họ phát hiện sớm, khoảng giửa năm 1944, không thì còn phải đổ xương máu dài dài với phi đội thần phong.

Để khắc phục vấn đề này họ cần một cấu trúc bom mới. Sau một thời gian nghiên cứu, họ cho ra đời cấu trúc nổ ép. Trái bom này mang tính chất kỷ thuật cao hơn nhiều.

1.   Hợp kim Plutonium với kim loại nhẹ.
2.   Cấu trúc khối cầu, nổ ép.
3.   Các mảnh chất nổ lỏm, hệ thống châm ngòi đồng loạt.
4.   Ngòi Po-Be, phụ thêm sức “đốt” nguyên liệu, nhằm nâng cao năng xuất.
5.   Bọc bằng phần đệm U-238, 108kg, làm thành phần phản xạ neutron.

Tất cả những điều trên phải được giải quyết triệt để, và chính xác.

Logged
DanViet2011
Thành viên
*
Bài viết: 83


« Trả lời #103 vào lúc: 24 Tháng Hai, 2013, 04:41:12 pm »

Hợp kim Gallium-Plutonium
Ngưòi ta thấy rằng trộn thêm hợp kim nhẹ vào, thì dể uốn nắn theo hình dạng mình muốn, mà không gây ảnh hưởng gì đến tác động nổ của Pu. Đồng thời có một số nguồn họ còn cho là giúp làm Pu ở trạng thái thăng bằng hơn, vì cái mớ Pu-240 lộn xộn. Tuy nhiên chưa tìm thấy nguồn giải thích nào dẫn chứng một cách thỏa đáng được bằng toán học. Thường họ trộn 3% hợp kim gallium với Pu, để có độ dẻo, dể ép thành hình khối cầu rổng. Phần rổng bên trong sẽ chứa ngòi tiếp sức Po-be.

Tại sao họ chọn cấu trúc theo kiểu khối cầu, nổ ép
Có những khó khăn cơ bản họ cần vượt qua và hiểu thấu, đó là phải chế phần lõi theo hình đạng gì là lợi nhất.

Hình khối vuông:
Dể ép để lên đến quá hạn, vì chỉ cần cho nổ 6 mặt ép vào. Tránh được khó khăn trong vấn đề khống chế việc nổ đồng bộ. Cái bất lợi là diện tích mặt ngoài của khối khá lớn, tạo thất thoát cao cho neutron trên bề vỏ. Ở các góc khó tạo sức ép đồng đều.  Nếu xài thêm phần đệm (tamper) / phần phản xạ neutron (reflector) thì các góc sẽ có phản ứng không đồng bộ với phần lõi. Những neutron ở gần góc vuông này chỉ cần di chuyển một đoạn ngắn là đã thoát ra khỏi lõi Pu và dội lại bởi phần đệm (tamper); làm giảm tốc độ neutron. Tạo nên phản ứng hấp thụ, như Pu-239 -> Pu-240. Làm chậm đi sự phản ứng đột biến ở các góc.

Hình khối chử nhật:
Mang tất cả tính chất của khối vuông, mà còn cần thêm nhiều nguyên liệu mới mong nổ ép (implosive) lên đến mức quá hạn.

Khối tam giác bốn mặt: (giống như ta cắt một góc của khối vuông)
Dể chế tạo và kiểm soát chất nổ ép, vì chỉ có 4 mặt. Nhưng các góc sẽ tạo ra nhiều trở ngại hơn cả góc của khối vuông.

Khối hình trụ:
Khó khăn khi tạo nổ ép cùng lúc, bởi vì hai đầu và thân của khối có hình dạng và cấu trúc diện tích hoàn toàn khác nhau. Nhưng nếu chúng ta liên tưởng đến một trái banh nằm trong khối trụ. Có thể tích cở 55% của khối trụ, là một loại hình học ba chiều cân đối.

Khối hình cầu:
Các bác bỏ qua phần toán... rồi đọc tiếp. Grin Grin Grin




Mấy cái công thức đóng khung, là một phần tử giúp cho các bạn bên vật lý nguyên tử lắp vào các phương trình khác để tính xác xuất hấp thụ, tiết diện phân hạch, từ đó tính được khối lượng cần thiết để đi đến “quá hạn”. Thấy mấy công thức đóng khung như một đám giun. Nhưng cái phần khó là phần bên trên của nó, nhìn thì đơn giản, thật ra là khó hơn nhiều. Các anh toán học phải làm trước, rồi đưa phần “giun dán” cho đám vật lý xài. Rất nhiều thứ các anh toán học nhúng tay vào, mà không bao giờ được biết đến. Cùng với các phương trình “angular momentum Eigenfunctions”, Schrodinger equation... theo cơ học lượng tử. Một mình tôi mà tự tính thì củng phải mất cả năm mới xong, nếu không tính sai bất cứ một phép tính nào, và xài gần như hầu hết các phương trình của cơ học lượng tử. Chỉ để chứng minh, những điều trong phần đoạn văn kế tiếp là chính xác mà thôi. May mà giờ họ đả tính hết rồi, mình chỉ cần chiếu theo đó mà làm. Hú hồn. Grin

Diện tích vỏ (area) của khối cầu là nhỏ nhất trong các loại hình khối, khi có cùng chung khối lượng. Giúp giảm thiểu neutron thoát ra từ tiết diện vỏ ngoài. Đồng thời vì nó là loại khối đối xứng hoàn hảo nhất, cho nên neutron từ tâm đi ra, sẽ có cùng xác xuất phản ứng như nhau, qua đoạn đường dài bằng nhau, cho tất cả các hướng; cũng như khi bị phản chiếu lại từ phần đệm U-238. Đồng thời nó có được giá trị khối lượng quá hạn nhỏ nhất.

Cấu trúc các mảnh chất nổ lỏm, hệ thống châm ngòi đồng loạt.
Trường hợp khối thuốc nổ không được kích hỏa cùng lúc. Nó sẽ bóp lõi Pu thành hai mảnh. Xác xuất nổ thấp, hoặc chỉ xé đôi thành hai mảnh Pu...

Cái khó của chất nổ lỏm là làm sao, khi ngòi kích hoạt, sức nổ phải ép đều lên vỏ của trái cầu. Mỗi mảnh phải được tính toán theo dạng khối “truncated icosahedron”. Lúc này phải mời anh toán học nhảy vào giúp.

Từ phần trên các nhà toán học, sẽ tạo ra các phương trình cơ bản thích ứng cho việc tính kích thước chính xác, cho các lõi chất nổ. Mặc dù hầu hết các anh vật lý đều thuộc loại cao thủ toán, nhưng núi cao còn có núi cao hơn. Đi hỏi sư phụ cho chắc ăn. Rồi phải lấy dử kiện tốc độ cháy của của chất nổ, tạo ra phương trình  để tính ra độ lỏm của khối nổ lỏm, theo quy trình sau đây.

Thời gian chất nổ cháy theo đường nào củng đều phải bằng nhau. Từ đó chúng ta tính được độ lỏm của chất nổ. Đồng thời đáp số của tốc độ cháy và sức ép, cộng với mớ “giun dán” bên trên. Chúng ta sẽ có đáp số là sau khi nổ, lõi nguyên liệu sẽ bị ép nhỏ bao nhiêu, và được bao nhiêu lần khối lượng quá hạn. Nếu chưa đủ lần cho độ quá hạn, thường là gấp 2 đến 3 lần, thì chúng ta cần phải thay đổi tốc độ cháy của loại chất nổ. Đồng thời, tất cả nguyên liệu khối chất nổ phải được sản xuất cùng một lượt. Lý do là tránh bị hai “mẻ” chất nổ khác nhau, cháy không đồng đều. Dây ngòi nổ kéo từ bộ phận phát điện đến ngòi nổ phải dài bằng nhau. Độ điện trở trong dây dài ngắn sẽ làm cho tốc độ kích hỏa chung quanh lõi Pu không đồng đều, tạo nên nổ sớm - nổ lép; tạo năng xuất bom thấp.
« Sửa lần cuối: 25 Tháng Hai, 2013, 08:22:55 am gửi bởi DanViet2011 » Logged
DanViet2011
Thành viên
*
Bài viết: 83


« Trả lời #104 vào lúc: 25 Tháng Hai, 2013, 02:05:20 pm »


Ngòi Po-Be, phụ thêm sức “đốt” nguyên liệu, nhằm nâng cao năng xuất.
Ngòi Polonium-Beryllium


Đây là một trong nhiều kiểu ngòi Po-be. Lõi Beryllium được bọc bởi 1 lớp vàng(Gold) mỏng. Vỏ ngoài cũng là Beryllium, các khe răng cưa cũng được bọc bởi 1 lớp vàng mỏng. Kẻ hở của khe răng cưa thì chứa Polonium. Tổng sức nặng của lỏi này cở khoảng 7 gram. Khi bị ép mạnh, bởi tác động bên ngoài, các răng cưa sẽ bắn vọt ra, gọi là Munroe effect, tác động này sẽ trộn lẫn Polonium với Beryllium; tạo ra phản ứng giải phóng neutron. Chúng ta chỉ cần hiểu sơ về quy trình này, bởi vì sau này không còn ai xử dụng ngòi Po-Be nữa. Polonium có thời gian phân rả là 138,39 ngày, nghiã là sau thời gian đó ngòi Po-Be coi như là vô dụng. Vì phải thay ngòi liên tục để bảo đảm vũ khí ở trong tình trạng chiến đấu, do đó nó đã bị thay thế bởi các loại ngòi khác.

Khắc phục khó khăn giửa kẻ hở giáp nối của hai mảnh Pu
Trước khi vào chi tiết về bộ phận “đệm/phản xạ neutron - U-238”. Chúng ta cần phải hình dung được hình dạng cơ bản của lỏi Plutonium.



Với khối trụ được vặn ra để bỏ ngòi Po-Be vào, như vậy sẽ tiện cho việc thay ngòi khi Polonium gần quá hạn xử dụng.

Và dưới đây là mặt cắt của trái bom “Fat Man” căn bản.



Chổ giáp nối này sẽ tạo ra những rắc rối đáng kể.

Chúng ta hảy hình dung mặt cắt nơi giáp mối giửa hai mảnh lỏi lỏi bán cầu Pu-239 như hình trên. Hình bên phải kẻ hở tuy rất, rất nhỏ, đối với chúng ta. Nhưng đối với hạt neutron thì cả một đại lộthênh thang rộng lớn. Khi quả bom bị ép lên quá hạn. Một lượng lớn neutron sẽ thoát ra theo kẻ hở như hình bên phải. Chúng nó hầu hết sẽ bị va chạm và tạo phản ứng phân hạch ngay chổ nối. Nhiệt độ tăng, sức phản ứng phân hạch sẽ đẩy hai mảnh khối bán cầu Pu tách rời ra trước khi khối bom kịp đốt một lượng nguyên liệu đáng kể. Tạo ra vụ nổ lép.

Để khắc phục vấn đề này, khi họ thử trái “Gadget”, là anh em sinh đôi với “Fat Man”. Họ đả bọc một lớp vàng và kẽm lên chổ nối. Theo lời miêu tả của ông Robert F. Batcher, trưởng nhóm chế tạo Gadget của Los Alamos.

Hiệu quả thật khả quan. Họ đả khắc phục được vấn đề này. Trái Trinity tạo ra một vụ nổ khoảng 20 kilotonsTNT, trên xa mạc.

Nhưng ông Batcher lại cho rằng, khi chế “Fat Man” họ đã đổi cấu trúc, không cần bọc vàng ở phần nối nửa. Họ chế phần giửa thành một vòng có mặt cắt tam giác ở giửa hai mảnh Pu.

Như vậy thì vẫn chưa được, chúng ta có đến gấp đôi lần vấn đề nan giải ban đầu. Đến hai cái hành lang khổng lồ.

A ha, đây rồi. Neutron không thể thoát ra ngoài ở kẻ hở. Và đây là hình dạng lõi Pu-239 của trái “Fat Man”

Logged
SSX
Thành viên
*
Bài viết: 654


« Trả lời #105 vào lúc: 26 Tháng Hai, 2013, 02:24:11 am »

Nợ các bác nhiều "*" quá, em phải trả nợ dần thôi Tongue
Nhưng trước đó em cũng muốn 1 chút thế này


Thứ nhất em muốn nói với bác là kiến thức này em chưa từng dùng, ít nhất là trong khuôn khổ của VMH và cũng thấy nó không liên quan gì đến đoạn đang tranh luận.

Thứ hai, em không thấy có sự sai sót nào trong đoạn trích này:

Pu239 khi phân hạch tạo ra năng lượng 207.1 MeV  =  3.318 × 10−11 J.
Năng lượng này có được là do hạt nhân Pu239 bị phá vỡ để tạo ra các nuclide  trung bình (VD Ce, Kr...) và phát ra năng lượng, năng lượng đó bắt nguồn từ một phần năng lượng liên kết riêng giữa các nucleon của hạt nhân Pu239.  Năng lượng liên kết cũng chính là nguyên nhân gây ra độ hụt khối của hạt nhân (delta m).
Mo là tổng khối lượng các nucleon trong hạt nhân, M là khối lượng hạt nhân.

Mo-M= delta m.

Theo công thức của Einstein. Ta có thể tính được độ hụt khối trong phản ứng phân hạch Pu 239

delta m x C^2 = 207.1 MeV
=> delta m = 207.1 MeV / C^2.
=> delta m = 3,687 x 10^-28 (kg)

Trong khi khối lượng của 1 nguyên tử Pu239 = (239 x mP + 94 x mE) – delta m
= 3,99 x 10^-25 (kg)

=> độ hụt khối trong phản ứng phân hạch  Pu239 tương đương với khoảng gần 1 phần 1000 khối lượng nguyên tử.
Cũng có nghĩa là nếu có 1kg Pu239 phản ứng thì độ hụt khối sẽ là 1g.
=> năng lượng tỏa ra là 0,001 x C^2 = 90 Tera Jun.

Đó là lý thuyết tính toán. Năng lượng tạo ra ở mức lý tưởng.

Còn theo số liệu công bố thì trong quả Fat Man 17%  khối lượng Pu239 phản ứng phân hạch thức tức (17% của 6,2 kg) là khoảng 1 kg Pu239 và năng lượng giải phóng ra là 21 KT = 88 Tera Jun.

Nghĩa là khá khớp với kết quả tính toán ở trên, hiệu suất thực tế thấp hơn một chút cũng là chuyện bình thường. Các hạt nhẹ hơn được tạo thành sau phản ứng.

Nói chung là các số liệu ở phần này của Wiki là hợp lý mà bác.Wink

Có lẽ chúng ta nên tạm dừng các tranh luận ở đây.



Thế thì tra bảng tuần hoàn Mendeleev chứ cần gì đến vụ nổ bom. Này nhé Pu-239 lẽ ra phải có khối lượng = 1,007825 X 239 (nuclides) = 240,870 u; thực tế đo được có 239.052 u; Trừ 2 số đi nhau là độ hụt khối lượng, nhân lên thành "năng lượng liên kết";

Đây là 3 trường hợp Einstein ôm mặt khóc nức nở. Có người động lòng mới hỏi cớ làm sao? Ổng bảo, ai giải được mấy chỗ bí thì ngồi hẳn trên đầu ổng luôn, chứ ngồi trên vai người khổng lồ chưa oai.

1. Phân rã beta: H-3 -> He-3 + e- + ev- (+Q)

Q này gồm động năng của electron, nó biến động, mỗi một H-3 cho ra 1 -e có động năng khác nhau. Thử tính E= MC^2 xem?

2. Phân rã gama: (Anh-xờ-tanh ơi, ông ở đâu mau hiện về!!!)

Thí dụ thằng Bari này thật quá đáng: Ba-137 -> Ba-137 + gama

Trong máy gia tốc, thằng electron và positron đập vào nhau, Anhxtanh chạy mất: e- + e+ -> gama

Gama ray của vụ đập này cỡ 1,022 MeV, gấp đôi năng lượng tổng Anhxtanh của e- và e+ là 0,511 MeV

3. Thôi thì đi hẳn vào phân rã U-235 vậy! Pu-239 cũng thế thôi. Một U-235 bắt neutron, nó có thể vỡ thành 2 mảnh ở đây là Xeri và Ziriconi

U-235 + n  -> Ce-140 + Zr-94 + 2n + Q (208 MeV)

Bỏ qua năng lượng hạt n vì nó rất thấp.

Theo năng lượng liên kết tính được:

U-235 là 1784 MeV
Ce-140 là 1173 MeV
Zr-94 là 815 MeV
 
Cân bằng 2 bên:

1784 MeV < 1173 MeV + 815 MeV + 208 MeV

Bảo toàn năng lượng thì chưa ai thấy bị vi phạm vậy phải kết luận (đã có từ gần nửa thế kỷ này): hoặc năng lượng nghỉ sai, hoặc E=MC^2 sai hoặc cả 2 cùng sai.

E=MC^2 đúng nhưng có điều kiện, cũng như cần những khái niệm khác nữa. Thực ra trong di sản Anhxtanh, E-MC^2 lạc lõng, chẳng nằm trong tương đối nào cả. Đó là công thức của nhiều người khác có trước Anhxtanh, ông ta mượn nó quên không trả.

« Sửa lần cuối: 26 Tháng Hai, 2013, 04:10:22 am gửi bởi SSX » Logged
maxttien
Thành viên
*
Bài viết: 211



« Trả lời #106 vào lúc: 26 Tháng Hai, 2013, 10:33:15 am »


Sao cái mặt cắt tam giác này lại tránh được netron thoát ra ngoài vậy nhỉ, em thấy nó vẫn có kẽ hở đấy chứ Grin
Logged
huonghn76
Thành viên
*
Bài viết: 1166


WWW
« Trả lời #107 vào lúc: 26 Tháng Hai, 2013, 10:38:31 am »

         Do nó khít và nó cong hình parapon nên có thể nó phản xạ lại
Logged
SSX
Thành viên
*
Bài viết: 654


« Trả lời #108 vào lúc: 26 Tháng Hai, 2013, 12:26:17 pm »


Sao cái mặt cắt tam giác này lại tránh được netron thoát ra ngoài vậy nhỉ, em thấy nó vẫn có kẽ hở đấy chứ Grin

Thực sự khi đó họ không biết nổ hướng vào trong là như thế nào? Có câu hỏi đơn giản làm lộ la cái ngốc nghếch của bác học Mỹ lúc đó: Thế Po-Be trộn vào nhau bằng cách nào?

Hà, trộn bằng cách co thể tích nổ nén vào trong!

Rồi, nổ nén định hướng có từ đâu? Từ lựu pháo chống tăng và súng chống tăng Đức trong WW-II. Sau đó là khẩu RPG-2 mà ta gọi là B-40 năm 1947.

Nổ nén là như thế nào? Là nổ gây áp suất nén cực lớn ép lên vật liệu rắn khiến nó chảy ra dưới áp suất cao. Kể cả đạn xuyên tăng DU sau này cũng có nguyên lý như thế.

Khi đó vật liệu Pu-239 bị nén chảy dẻo ra, co nhỏ thể tích mới đến trạng thái tới hạn đồng thời làm Po-Be bên trong vỡ ra. Vậy thì cái khe đó mạ vàng mạ bạc là vô ích. Ở quả đạn B41 ,cái nón làm bằng đồng, bí quá người ta làm bằng sắt non cũng được, nó có nhiệt chảy hơn 1000 độ C, Pu-239 có nhiệt chảy 640 độ C, hơn nhôm tý chút, thừa sức để 1 vụ nổ định hướng ép chảy dẻo. Các nhà bác học Mỹ lại không biết điều này, mãi sau mới bỏ cái rừng kíp điện, đi vời Nobel AG. Po-Be về sau cũng bỏ, thay bằng D-T. Vậy, trong trạng thái không nổ, người ta phải làm sao đó để neutron thoát ra càng nhiều càng tốt, không ở lại trong khối vật liệu gây phản ứng. Có ai ngốc nghếch đến mức khối liền chưa tới hạn như fat man lại cố gắng bịt neutron lại!!! Giữ neutron lại để cho bom nổ à? Bom A to của Liên Xô, người ta làm quả cầu rỗng to, khoan các lỗ nhét các thanh hấp thụ neutron vào giời ạ. Khi nổ, đẩy bật các thanh này ra, bom khắc ở trạng thái tới hạn.

Ngay cả lý thuyết cũng nói điều đó: neutron thoát ra của vụ nổ là neutron nhanh. Vận tốc 200 000 km/s. Kể cả neutron chậm, vận tốc cũng cỡ 1000 km/s thử hỏi cả cái thành vật liệu Pu-239 cần mấy micro giây để xuyên qua. Mặt khác, neutron thoát ra là vô hướng, hay nói cách khác nó chạy mọi hướng, khe hở chiều nào cũng là vô ích.

Thậm chí ngay cả sách này cũng không thấy giải thích Po-Be có tác dụng gì? Po phân rã sinh tia gama, gama kích thích Be phân rã sinh neutron, có tác dụng là neutron mồi ban đầu, giúp phản ứng xảy ra nhanh. Mặt khác Be có diện tích phản xạ lớn, ví nó như tấm gương phản xạ neutron. Vì vậy người ta còn dùng Be bao bọc bên ngoài.

Nếu quả cầu cần mạ vàng bạc vào khe, cần xẻ chéo xẻ ngang này nọ. Thế loại gun type 2 hình trụ lồng vào nhau thì xẻ thế nào, mạ cái gì? Học sách như thế này không liệt não mới là lạ.


Trái Gadget được làm với công nghệ công nông đầu dọc. Để trong cái lán hiện đại cỡ chuồng bò! Thử hỏi bao nhiêu tiền của người Mỹ đã đi đâu? Hàng trăm nhà bác học trong đó có 12 nhà bác học giải Nobel, hàng ngàn chuyên gia, hàng chục ngàn nhân viên mà làm như thế này đây.


Người Mỹ về sau, vứt sạch cả rừng ngòi nổ, mua trạm truyền nổ định hướng của Nobel AG, kiểu như thế này, rất đơn giản, ảnh lấy từ wiki.
« Sửa lần cuối: 26 Tháng Hai, 2013, 04:20:02 pm gửi bởi SSX » Logged
SSX
Thành viên
*
Bài viết: 654


« Trả lời #109 vào lúc: 26 Tháng Hai, 2013, 12:55:01 pm »

The Teller-Ulam configuration makes use of the fact that at the high temperatures of a fission bomb 80% or more of the energy exists as soft X-rays, not kinetic energy. The transport of energy by radiation from the fission core greatly exceeds the core's expansion rate (a mere 1000 km/sec or so). It is possible then to use this energy to compress, and ignite a physically separate mass of fusion fuel (the second stage) through radiation implosion before the expanding trigger disrupts it.

Đoạn trên viết sai hay ít nhất là hiểu sai. Hình ảnh cái lò dưới này, tia X phát sáng xanh lè (dĩ nhiên mắt thường, kể cả máy ảnh thông thường, không nhìn thấy tia X, tia X thoát ra, đập vào vật liệu phát ánh sáng màu xanh).

Vậy các bạn trẻ nghĩ lại xem sai ở chỗ nào? Cái sai đó dẫn đển hiểu sai hoàn toàn những nỗ lực của Teller-Ulam. at the high temperatures và 80% or more of the energy exists as soft X-rays là phát xạ tự nhiên của vụ nổ bom A. Chứ không hề là ông Teller cố gắng để có tia X, hay kinetic. Cái lò bên dưới cũng thế, có ai cố gắng có tia X đâu.

Trạng thái vật chất có được từ vụ nổ bom A, không thích hợp để làm nổ bom H. Nhiệt hạch là phản ứng cần cấp nhiệt để khởi động. Tia X không sinh nhiệt, Teller nỗ lực để biến tia X thành nhiệt để nổ bom H. (nhiệt cao, nén vật liệu để tăng va đập).

Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM