Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 01:02:19 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Ứng dụng hạt nhân trong quân sự và dân sự  (Đọc 119956 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
SSX
Thành viên
*
Bài viết: 654


« Trả lời #110 vào lúc: 26 Tháng Hai, 2013, 03:48:21 pm »

Đây là đoạn đúng mô tả công việc của Teller lấy ở nguồn Nga, ở đây:
  
http://nuclear-weapons.nm.ru/usa/weapons/first-bombs/termonuclear.htm

Tạm dịch: Phát triển theo cách này đòi hỏi giải quyết 2 nhiệm vụ: (1) nhìn chung làm thế nào để đốt (gia nhiệt) toàn bộ nhiên liệu và (2) khi nào thì phản ứng (nhiệt hạch) có hỗ trợ bởi sự đốt như thế sẽ xảy ra.

Bất chấp nhiệt độ và mật độ năng lượng cao tại vụ nổ hạt nhân (bom A), vấn đề đầu tiên (1) còn xa mới là đơn giản. Khoảng 80% năng lượng thoát ra ở dạng X ray mềm, nhưng hidro i-on hóa thực tế là trong suốt đối với nó (khoảng cách truyền sóng đến hàng trăm mét). Vì vậy, trực tiếp X-ray không thể có tính chất đốt nóng nhiên liệu. Phần còn lại khoảng 20% là động năng của các hạt electron và mảnh phân rã, năng lượng chuyển đổi ở dạng sóng xung kích, có thể lan truyền đến nhiên liệu.

Phần ít trong đó khoảng 1% là năng lượng neutron nhanh, nhưng chúng tương tác năng lượng với hidro ở lớp khá mỏng (khoảng 8cm chiều dày). Vì vậy, cần phải có liều nổ (bom A) rất mạnh, cỡ hàng trăm kiloton để cần thiết châm ngòi phản ứng (bom H).

Vấn đề thứ (2), liệu có đốt cháy nhiên liệu được hiệu quả và chắc chắn hay không, đó là vấn đề cực kỳ khó khăn để giải quyết. Trong thực tế có rất nhiều yếu tố: năng lượng sinh ra, vấn đề truyền năng lượng phản ứng (i-on, electron, neutron), năng lượng mất đi do chuyển đổi hiệu ứng Compton, etc.

Nhanh chóng trở thành rõ ràng là đốt nóng trực tiếp deuterium không tạo ra điều kiện để đốt cháy và ngay cả vụ nổ hạt nhân cũng không đủ cấp nhiệt hiệu quả cho mục đích này. Cần đưa vào hỗn hợp rất đắt đỏ tritium. Phản ứng D-T sẽ cung cấp nhiệt cao hơn đến điều kiện cần thiết của phản ứng tổng hợp D-D. Bên cạnh việc sử dụng tritium cực kỳ bất tiện có thêm vấn đề: liệu nhiên liệu có tiếp tục được đốt cháy khi chuyển sang sử dụng thuần deuterium? Vấn đề được nghiên cứu cho đến tận cuối 1950.
 
Thực tế rõ ràng cho dù sử dụng lượng lớn tritium (3-5 kg tritium sẽ làm giảm sản xuất 220-250 kg plutonium), xung quanh bom A được nhồi hỗn hợp D-T, thì để đốt cháy ổn định trong thiết bị này vẫn là không thể. Phản ứng tổng hợp D-D 2-3 lần nhỏ hơn điều kiện thực tế cần thiết.

Các nghiên cứu đi vào ngõ cụt.

Ngoài lề: Liên Xô cũng sử sụng hỗn hợp D-T nhưng rất ít. Họ có cách làm bom khác mà ít phụ thuộc hoặc không phụ thuộc vào tritium đắt đỏ tốn kém. Mỗi cân tritium bằng gần 80 kg Pu-239, nghĩa là bằng 10 quả bom A khác. Cũng không rõ họ có đầu đạn kiểu W88 hay không. Chỉ có Mỹ là kêu gào thiếu tritium và liên tục đề nghị Nga cắt giảm đầu đạn.

Bom A nổ thì lần lượt những gì thoát ra?

Đầu tiên là photon (gama, tia X), sau đó là electron, neutron, cuối cùng là các mảnh phân rã. Chúng nhanh chóng va đập vào nhau sinh X-ray. Ở máy chụp X-quang, electron đập vào Anode sinh tia X có đúng không?

Teller biến X-ray thành plasma đốt nóng Li-D bằng mấy cách. Nhồi polystyrene vào khoang rỗng. Chất hữu cơ này bị đốt cháy sinh các bon và hidro, chúng bị X-ray plasma hóa. Cách 2 là dùng vỏ chắn X-ray bên ngoài bằng U-238. X-ray đập vào vỏ U-238, plasma hóa nó, phản xạ vào trong nén khối Li-D đến 1000 lần. Phải đến 3 mô hình, Teller mới thành công và đã chậm sau Liên Xô.
Logged
SSX
Thành viên
*
Bài viết: 654


« Trả lời #111 vào lúc: 26 Tháng Hai, 2013, 04:44:04 pm »

Từ 1932-1935, các nhà khoa học Liên Xô có đến 10 công bố quan trọng về vật lý hạt nhân, trong đó có những vấn đề là nền tảng của vật lý hạt neutron. D. D. Ivanenko đưa ra mô hình cấu trúc proton-neutron, G. A. Gamov công bố chuyên khảo "Cấu trúc hạt nhân nguyên tử và bức xạ". Các hội nghị, hội thảo vật lý hạt nhân ở Liên Xô trở thành có uy tín, thường xuyên được các nhà khoa học hàng đầu thế giới tham dự: F.Zholio, F.Perren, P. Dirac, V.Pauli, R.Payerls, F.Razetti, P.Ozhe.

Kể từ 1932, xuất hiện một tên tuổi lớn, người sau này được coi là cha đẻ ngành hạt nhân nguyên tử Liên Xô hiện đại, cha đẻ bom hạt nhân và lò phản ứng hạt nhân Liên Xô xuất hiện, đó là I. V. Kurchatov. Năm 1933, Kurchatov lần đầu tiên trình bày về "phân chia hạt nhân" trong hội thảo quốc tế. Năm 1935 là chuyên khảo khoa học cùng nội dung và 17 nghiên cứu khác. Đội ngũ khoa học vật lý hạt nhân Liên Xô tăng nhanh, nếu năm 1930 là khoảng 30 tên tuổi lớn thì 1940 đã là 200.

Có thể nói, cho đến cuối thập kỷ 1930, các nghiên cứu đều có mục đích hòa bình, không nhà khoa học nào có ý định chiến tranh hạt nhân. Cho dù là hạt nhân Liên Xô đã rất phát triển, từng được quan tâm từ cấp nhà nước, nhưng họ thiếu các cơ sở thực nghiệm hiện đại, đầu tư tốn kém và cũng đã có những dấu hiệu tụt hậu trước các nước tư bản hàng đầu châu Âu như Đức, Pháp, Anh. Phương tây phát triển còn nhanh hơn. Giới lãnh đạo Liên Xô lúc đó, có nhiều mối bận tâm hơn là nguyên tử.

Cho đến mùa thu năm 1938, lò phản ứng hạt nhân thực nghiệm bắt đầu được xây dựng. Đầu năm 1939, các nhà khoa học hàng đầu nỗ lực gây chú ý từ chính phủ. Họ gửi thư cho người đứng đầu nêu rõ hạt nhân nguyên tử là một trong những phần quan trọng nhất của vật lý hiện đại, và cơ sở kỹ thuật của nhà nước rất không tương xứng, lạc hậu đến bi thảm so với các phòng thí nghiệm ở nước ngoài. Họ muốn được đầu tư một phòng thí nghiệm qui mô như thế. Nhưng đáp lại là sự thờ ơ, ngoài việc cho phép nhận đầu từ hỗ trợ từ nước ngoài. Họ cũng muốn có máy gia tốc hạt, máy cyclotron, là nguồn hạt để nghiên cứu, như thiết bị được E. Louren bỏ tiền đầu tư ở Berkeley Mỹ.

Thế rồi LX cũng có cyclotron, nó được khởi chạy năm 1937 sau 5 năm xây dựng. Đó là nước thứ 2 có thiết bị cyclotron sau Mỹ. Kurchatov được cử làm lãnh đạo phòng thí nghiệm có cyclotron này. Chúng ta hiểu nôm na, cyclotron là thiết bị gia tốc hạt hạ nguyên tử (proton, neutron, electron...) dùng nó để bắn vào bia, nghiên cứu phản ứng phân rã của các hạt nhân nguyên tố khác nhau. Ngày nay, cũng chỉ có 3 nước có máy cyclotron mạnh: Nga, Mỹ và Pháp, không kể cái LHC to tướng vừa mới chạy năm ngoái là tài sản chung của nhiều nước.

Thiết bị Cyclotron đưa đến bước phát triển mới trong nghiên cứu. LX đã tạo ra vô số các đồng vị phóng xạ nhân tạo khác nhau. V. G. Khlopin, M. A. Pasvik và N. V. Volkovym nghiên cứu urani với neutron và phát hiện ra 2 kiểu phân rã mới. Họ cũng thấy hạt nhân urani phân rã theo nhiều cách khác nhau. Lần đầu tiên, những nghiên cứu kiểu này được công bố ra thế giới cho mục đích nghiên cứu là từ Liên Xô. Cùng những nghiên cứu như thế được các nhà khoa học Đức thực hiện, họ cũng phát hiện ra các nguyên tố chuyển đổi của urani như LX, đó là năm 1935 ở Đức và 1939 ở LX. Những nghiên cứu và phát hiện tương tự được tiến hành ở Berkeley  Mỹ chỉ vào năm sau 1940. Chiến tranh đã làm công việc của các nhà khoa học LX chậm lại. Máy gia tốc cyclotron họ đặt ở Leningrad và thành phố bị bao vây.
« Sửa lần cuối: 26 Tháng Hai, 2013, 09:23:36 pm gửi bởi SSX » Logged
SSX
Thành viên
*
Bài viết: 654


« Trả lời #112 vào lúc: 26 Tháng Hai, 2013, 05:20:27 pm »

Tại sao nguyên tố chuyển đổi của urani lại quan trọng. Chúng ta biết Pu-239 là nguyên tố không hoặc ít có trong tự nhiên. Nó được chuyển đổi nhân tạo từ U-238 là đồng vị bền trong lò phản ứng. Nước Mỹ với tiền của như thế, cũng không thể nào làm giàu U-235 đủ để có nhiều bom. Con đường làm bom bằng Pu-239 là tất yếu. Như các quốc gia theo đuổi vũ khí hạt nhân sau này đều làm bom qua ngả Pu-239 từ lò phản ứng. Không ai ngu ngốc vận hành hàng ngàn máy ly tâm rất khó khăn tốn kém để có nhiều U-235 tinh khiết trên 90% làm bom.


U-238 + n -> U-239 -> Np-239 + e- + ev-

Np-239 -> Pu-239 + e- + ev-

Thế mới thấy những gì media phương Tây gào rú điên cuồng về Iran, Tiều Tiên giống như tiếng rú của chó dại.
Logged
SSX
Thành viên
*
Bài viết: 654


« Trả lời #113 vào lúc: 26 Tháng Hai, 2013, 08:35:46 pm »

Cũng trong thập kỷ 1930, Khlopin nghiên cứu và thực nghiệm các thành phần vi mô 2 pha, ông thấy chúng tuân theo qui luật nào đó, về sau gọi là luật Khlopin, kết quả từ nghiên cứu này được lấy làm cơ sở để phát triển công nghệ Pu-239 ở LX, chế Pu-239 từ lò phản ứng.

Giai đoạn 1935-1936, Kurchatov và Alihanov đang là chủ của dự án máy gia tốc cyclotron đang xây dựng, đó là chiếc thứ 2 của LX hay là chiếc đầu tiên rất mạnh để tiến hành nhiều nghiên cứu. Lúc đó, Kapitsa là nhà vật lý cũng đã có tên tuổi làm chủ tịch Ủy ban nghiên cứu. Kapitsa cực lực phản đối cyclotron của Kurchatov, ông nói nó thiếu độc đáo, là bản sao như chiếc cyclotron dựa trên ý tưởng của Lawrence xây ở Berkeley Mỹ mà không có sáng tạo đáng kể. Từ đây có những thay đổi và Kapitsa đã để lại dấu ấn, dựa trên kỹ thuật mới ở LX và là bước tiến trước đáng kể so với những gì thế giới hiện có. Năm 1939 khởi công xây dựng, nhưng năm 1942 bị dừng khi đang chiến tranh và chưa hoàn thiện.

Những thiết bị gia tốc khác tiếp tục được các nhà khoa học LX xây dựng trong thập kỷ 1930: máy gia tốc 2 pha, máy gia tốc tĩnh điện của Kurchatov và Valter, họ cũng làm máy gia tốc xung để nghiên cứu nuclide với neutron ngay trước khi chiếc tương tự ở Chadwick của Anh. Đầu năm 1935 là chiếc súng điện tử - chiếc lớn nhất và hiện đại nhất thế giới, dùng để bắn chùm electron vào hạt nhân của Kurchatov, Sinelnikov, và Valter, năm 1937 là máy tạo tĩnh điện Van de Graaff. Có thể nói, nửa đầu thập kỷ 1930, LX không thua kém hay tụt hậu trong lĩnh vực hạt nhân.

Khám phá phản ứng phân rã urani của O. Hahn và F. Strassmann cuối 1938, mở ra một chương quan trọng nhất về phản ứng hạt nhân. Ngay sau đó, các nhà vật lý thế giới nghĩ về khả năng lý thuyết của phản ứng dây chuyền. Kurchatov hướng dẫn các học trò đi theo hướng này, họ cũng phân tích trạng thái tới hạn.

Theo những công bố về phân tách và làm giàu đồng vị bằng máy ly tâm năm 1937. Năm 1939, Yu.B.Khariton được mời đến Kharkiv để phát triển máy làm giàu ly tâm khí. Cũng năm đó, Flerov và Rusinov làm thử nghiệm về chuỗi phản ứng hạt nhân, mặc dù kết quả không được công bố, nhưng là bước quan trọng để xác định những thông số chìa khóa của chuỗi phản ứng.

Năm 1940, Kurchatov phát biểu tại hội nghị vật lý hạt nhân những vấn đề quan trọng nhất, chưa từng có hay được ứng dụng về phản ứng chuỗi hạt nhân tự duy trì. Báo cáo của ông nói về chuỗi phản ứng urani tinh khiết và urani hỗn hợp trong nước nặng, khởi đầu của loại lò phản ứng urani-nước, với điều kiện được ông công bố rõ: làm giàu đồng vị urani-235. Kurchatov cũng kết luận về chuỗi phân rã urani-235 trong urani không làm giàu với nước là chất điều tiết (làm chậm neutron). Ông còn báo cáo về chuỗi phản ứng với neutron nhanh trong urani-235 tinh khiết không có chất điều hòa, như một nguyên tắc căn bản để làm nhiên liệu bom sau này. Kurchatov nhấn mạnh, cần có phương pháp hiệu quả để làm giàu urani đến mức đảm bảo duy trì chuỗi phản ứng. Sau đó, các nhà khoa học LX triển khai nghiên cứu nhiều về chuỗi phản ứng với urani thường, với hỗn hợp và trong nước nặng, trong graphite. 
Logged
Trần Anh
Thành viên
*
Bài viết: 318



« Trả lời #114 vào lúc: 26 Tháng Hai, 2013, 09:05:40 pm »


Thế thì tra bảng tuần hoàn Mendeleev chứ cần gì đến vụ nổ bom. Này nhé Pu-239 lẽ ra phải có khối lượng = 1,007825 X 239 (nuclides) = 240,870 u; thực tế đo được có 239.052 u; Trừ 2 số đi nhau là độ hụt khối lượng, nhân lên thành "năng lượng liên kết";

Đây là 3 trường hợp Einstein ôm mặt khóc nức nở. Có người động lòng mới hỏi cớ làm sao? Ổng bảo, ai giải được mấy chỗ bí thì ngồi hẳn trên đầu ổng luôn, chứ ngồi trên vai người khổng lồ chưa oai.

1. Phân rã beta: H-3 -> He-3 + e- + ev- (+Q)

Q này gồm động năng của electron, nó biến động, mỗi một H-3 cho ra 1 -e có động năng khác nhau. Thử tính E= MC^2 xem?

2. Phân rã gama: (Anh-xờ-tanh ơi, ông ở đâu mau hiện về!!!)

Thí dụ thằng Bari này thật quá đáng: Ba-137 -> Ba-137 + gama

Trong máy gia tốc, thằng electron và positron đập vào nhau, Anhxtanh chạy mất: e- + e+ -> gama

Gama ray của vụ đập này cỡ 1,022 MeV, gấp đôi năng lượng tổng Anhxtanh của e- và e+ là 0,511 MeV

3. Thôi thì đi hẳn vào phân rã U-235 vậy! Pu-239 cũng thế thôi. Một U-235 bắt neutron, nó có thể vỡ thành 2 mảnh ở đây là Xeri và Ziriconi

U-235 + n  -> Ce-140 + Zr-94 + 2n + Q (208 MeV)

Bỏ qua năng lượng hạt n vì nó rất thấp.

Theo năng lượng liên kết tính được:

U-235 là 1784 MeV
Ce-140 là 1173 MeV
Zr-94 là 815 MeV
 
Cân bằng 2 bên:

1784 MeV < 1173 MeV + 815 MeV + 208 MeV

Bảo toàn năng lượng thì chưa ai thấy bị vi phạm vậy phải kết luận (đã có từ gần nửa thế kỷ này): hoặc năng lượng nghỉ sai, hoặc E=MC^2 sai hoặc cả 2 cùng sai.

E=MC^2 đúng nhưng có điều kiện, cũng như cần những khái niệm khác nữa. Thực ra trong di sản Anhxtanh, E-MC^2 lạc lõng, chẳng nằm trong tương đối nào cả. Đó là công thức của nhiều người khác có trước Anhxtanh, ông ta mượn nó quên không trả.



Em đang rất bận nên chỉ trả lời bác vắn tắt thế này thôi.

Thứ nhất, đó là phần trích dẫn của bác từ Wiki, nếu nó đơn giản thì ok, chúng ta công nhận Wiki đúng đoạn này.

Thứ hai, về cái ví dụ thứ 3 của bác:
"
U-235 + n  -> Ce-140 + Zr-94 + 2n + Q (208 MeV)

Bỏ qua năng lượng hạt n vì nó rất thấp.

Theo năng lượng liên kết tính được:

U-235 là 1784 MeV
Ce-140 là 1173 MeV
Zr-94 là 815 MeV
 
Cân bằng 2 bên:

1784 MeV < 1173 MeV + 815 MeV + 208 MeV

Bảo toàn năng lượng thì chưa ai thấy bị vi phạm vậy phải kết luận (đã có từ gần nửa thế kỷ này): hoặc năng lượng nghỉ sai, hoặc E=MC^2 sai hoặc cả 2 cùng sai."

Có lẽ có nhầm lẫn ở đây, em nghĩ nên xem lại kiến thức cơ bản về một phản ứng hạt nhân. Trong các định luật bảo toàn áp dụng cho phản ứng hạt nhân:

1. Định luật bảo toàn số khối (Định luật bảo toàn số nucleon)
2. Định luật bảo toàn điện tích (Định luật bảo toàn nguyên tử số)
3. Định luật bảo toàn động lượng.
4. Định luật bảo toàn năng lượng toàn phần.

Vâng, Nó chỉ có định luật bảo toàn năng lượng toàn phần, chứ không có định luật bảo toàn năng lượng ở các dạng riêng lẻ kiểu năng lượng liên kết hay độ hụt khối !

Cho nên cái phương trình cân bằng năng lượng liên kết như ý tưởng của bác vốn nó không tồn tại.

Như trong phản ứng này,
Khối lượng Uranium 235 là  235.0439299 u.
Khối lượng Cerium 140 là 139.9054387 u.
Khối lượng Zirconium 94 là 93.9063152 u.

Lấy khối lượng của U235 trừ đi khối lượng của Ce 140 và Zr 94, trừ luôn cả khối lượng 1 neutron nữa. Ta có sơ sơ độ hụt khối của phản ứng này khoảng 3.7345439X10^-28 kg.
Nghĩa là tổng khối lượng vế sản phẩm nhỏ hơn tổng khối lượng vế nguyên liệu 3.7345439X10^-28 kg.
Vậy chỗ khối lượng ấy nó biến đi đâu? xin thưa chủ yếu nó chuyển thành năng lượng trong liên kết riêng của sản phẩm bù vào số lượng lượng liên kết cũ đã được giải phóng trong phản ứng. Theo công thức E=m.c^2.

Tóm lại, chỉ có năng lượng toàn phần được bảo toàn trong phản ứng.

Thứ ba, em xin phép không bình luận về 2 cái ví dụ đầu của bác, vì đơn giản em tiếp tục thấy nó không liên quan gì đến đoạn đang tranh luận.

Nếu bác thấy có thể chứng minh Einstein sai và tin là mình đúng với 3 ví dụ trên thì bác cứ viết một bài rồi gửi lên các trang Uy tín kiểu Physic World hay Science để các nhà khoa học đánh giá.
Còn nếu cái tên Albert Einstein hay một cái tên lừng lẫy nào khác chỉ được gọi ra  một cách tùy tiện nhằm mục đích khác thì thú thực em không đủ tầm để tranh luận.

Thứ tư, em cám ơn các bài viết của bác !
 
« Sửa lần cuối: 26 Tháng Hai, 2013, 09:55:30 pm gửi bởi Trần Anh » Logged

As long as you love me. We could be starving, we could be homeless, we could be broke.
As long as you love me. I'll be your platinum, I'll be your silver, I'll be your gold...
 
SSX
Thành viên
*
Bài viết: 654


« Trả lời #115 vào lúc: 26 Tháng Hai, 2013, 09:15:20 pm »

Năm 1940 Vernadsky có báo cáo về urani và "về kỹ thuật sử dụng năng lượng hạt nhân là có thể". Có đề nghị lập Ủy ban để nghiên cứu sâu hơn với những nhiệm vụ cụ thể.

Nhìn chung, sau khoảng giữa và cuối thập kỷ 1930, mối liên hệ LX và phương Tây gián đoạn, 2 bên không còn biết đến nghiên cứu của nhau. Việc công bố nghiên cứu ở LX khó khăn, giới khoa học và giới lãnh đạo chính trị thường có những đối đầu căng thẳng, thiếu ngân sách và thiếu quan tâm cấp quốc gia, không có sự tin tưởng từ lãnh đạo, công việc của các nhà khoa học gần như là "chết lâm sàng". Chỉ có những nỗ lực cá nhân của họ mới có được những kết quả nào đó.

Những đề nghị liên quan đến bom đầu tiên là tháng 10 năm 1940. Quân đội đề nghị V. A. Maslov và B. C. Shpinel nghiên cứu về "sử dụng urani trong vụ nổ và các chất độc hại". Theo người thiết kế bom đầu tiên của LX là Yu. B. Khariton, sau khi CQ phân tích hậu quả và ảnh hưởng, họ không quan tâm đến bom nữa. Tuy vậy, dù có những thăng trầm, trải qua gần 2 thập kỷ phát triển, nhân sự và nguồn lực khoa học hạt nhân Xô Viết sau 1940 đã đầy đủ, với những tích lũy lý thuyết, thực nghiệm rất bài bản, họ là đội ngũ tốt nhất thế giới. Đường đến bom hạt nhân không còn xa, họ chỉ thực sự bắt đầu nghiên cứu bom khi những tin tức tình báo cho biết, đối phương đang triển khai chương trình đồ sộ sử dụng vũ khí hạt nhân, vào khoảng năm 1943.

Lược theo: Lịch sử nghành vật lý hạt nhân LX trước WW-II
Logged
DanViet2011
Thành viên
*
Bài viết: 83


« Trả lời #116 vào lúc: 26 Tháng Hai, 2013, 09:54:14 pm »

Sao cái mặt cắt tam giác này lại tránh được netron thoát ra ngoài vậy nhỉ, em thấy nó vẫn có kẽ hở đấy chứ Grin



« Sửa lần cuối: 27 Tháng Hai, 2013, 01:18:07 pm gửi bởi DanViet2011 » Logged
DanViet2011
Thành viên
*
Bài viết: 83


« Trả lời #117 vào lúc: 27 Tháng Hai, 2013, 02:16:19 pm »

@SSX: Cám ơn bạn đả cho tôi được đọc các bài về lịch sử khoa học gia Liên Xô thật hay. Tôi học được rất nhiều điều.

@Tran Anh: Nhờ bài Tokamak lần nửa mới thấy bài trả lời qua lại giửa hai bạn. Bài này lấp bài kia nên không thấy. Thôi để trả lời phụ cho Tran Anh.

Thế thì tra bảng tuần hoàn Mendeleev chứ cần gì đến vụ nổ bom. Này nhé Pu-239 lẽ ra phải có khối lượng = 1,007825 X 239 (nuclides) = 240,870 u; thực tế đo được có 239.052 u; Trừ 2 số đi nhau là độ hụt khối lượng, nhân lên thành "năng lượng liên kết";

     Không ai cần phải nổ bom, mới thấy năng lượng kết nối cả. Trái bom chỉ là sản phẩm mà thôi.

     Đúng thế, năng lượng liên kết chỉ cần tra bảng Mendeleev, và xài E=mc^2 thì tính ra năng lượng liên kết (strong force) rồi. Nhưng nhờ Einstein giải tỏa được vấn đề nan giải, mà họ đang bị đứng khựng (năng lượng tương ứng với khối lượng) Và từ đó cả Nga và Mỹ mới khám phá thật sự khả năng của năng lượng nguyên tử.

Einstein là ai, làm được gì cho nhân loại

     Cơ học lượng tử (quantum mechanics) mà thiếu E=mc^2 thì như cua gảy càng. Mặc dù vậy, tới ngày ông Einstein chết; ông vẫn một mực không bằng lòng với những lý thuyết rắc rối của các khoa học gia cả Nga lẫn Mỷ. 20 năm cuối cùng của cuộc đời ông vẫn ôm mộng tạo ra lý thuyết mới, gồm thu tất cả thành một, Unified Field Theory. Ông sống các xa tất cả mọi người, hầu như không còn muốn liên lạc với bất cứ nhà khoa học gia nào.

     Hàng ngàn lá thư gởi đến ông ta. Ông vẫn im lặng. Đến một ngày kia, có một cậu bé 20 tuổi, John Moffat, một người chưa có lấy mảnh bằng trung học. Nhưng anh ta yêu vật lý, tự học và coi ông Einstein là thần tượng. Cậu này đả gởi thơ cho ông và nói rằng “Tôi rất buồn về những gì ông làm trong thời gian qua”. Một cách châm biếm, mong ông thức tỉnh. Rất là ngạc nhiên Einstein đả hồi âm:

     “Ông Moffat mến.”...”Tình trạng của chúng ta là như thế này. Chúng ta đang đứng trước một cái hộp được đậy kín mà chúng ta không có thể mở ra được, và chúng ta đang cố gắng tìm hiểu bên trong nó đang chứa những gì và không có chứa những gì.”
“Dear Mr. Moffat,” the reply began. “Our situation is the following. We are standing in front of a closed box which we cannot open, and we try hard to discover about what is and is not in it.”

     Một con người đã tận tụy một đời cống hiến cho nhân loại. Nhưng 20 năm cuối cùng cuộc đời, không cống hiến gì cho ngành vật lý, chỉ thấy ông hoàn toàn không thích ứng với cơ học lượng tử mà khoa học gia Nga và Mỷ đang đeo đuổi. Ông đả làm một việc ngoài khả năng của ông, đi tìm một lý thuyết hoàn hảo hơn. Cho đến hôm nay, với nền khoa học kỷ thuật vượt trội, vẫn chưa một ai tìm được một lý thuyết nào gọi là có hửu dụng như E=mc^2.

    Einstein đả tìm ra được gì, ai củng biết.

    Nhưng Einstein đả cống hiến thực tiển được gì cho nền văn minh nhân loại. Từ các lý thuyết cơ bản của ông, người ta xây nền móng cho ngành Vật lý lượng tử, hoá học, và tạo nên những bước nhảy vượt bực cho nền văn minh.
Không có Einstein. Chúng ta sẽ không có kỷ thuật bán dẫn (semiconductor) như ngày nay. Từ phương pháp tính giếng năng lượng đưa đến kỷ thuật P-N-P (bắt nguồn từ bóng bán dẫn). Chúng ta có IC cho máy điện toán. À quên, kể cả kỷ thuật CDV để làm các IC tân tiến nhất hiện nay, đều lấy căn bảng từ Einstein làm nền móng, cho căn bản lý thuyết hoá học.

     Ông ta sẽ không còn đúng, trong tương lai khi có lý thuyết khác hay hơn, vững chắc hơn, gọn gàng hơn. Nhưng, những cống hiến của ông cho nền văn minh nhân loại thì không thể chối bỏ được. Chúng ta đang xài computer là đả và đang thụ hưởng sự cống hiến của ông ta.

     Tự hỏi chúng ta đã làm gì được cho nhân loại? _ Chưa bằng hạt bụi.

     Vậy thì không nên lấy tên ông Einstein ra để đùa giởn xằn bậy.


...
1. Phân rã beta: H-3 -> He-3 + e- + ev- (+Q)

Q này gồm động năng của electron, nó biến động, mỗi một H-3 cho ra 1 -e có động năng khác nhau. Thử tính E= MC^2 xem?

2. Phân rã gama: (Anh-xờ-tanh ơi, ông ở đâu mau hiện về!!!)

Thí dụ thằng Bari này thật quá đáng: Ba-137 -> Ba-137 + gama

Trong máy gia tốc, thằng electron và positron đập vào nhau, Anhxtanh chạy mất: e- + e+ -> gama

Gama ray của vụ đập này cỡ 1,022 MeV, gấp đôi năng lượng tổng Anhxtanh của e- và e+ là 0,511 MeV

3. Thôi thì đi hẳn vào phân rã U-235 vậy! Pu-239 cũng thế thôi. Một U-235 bắt neutron, nó có thể vỡ thành 2 mảnh ở đây là Xeri và Ziriconi

U-235 + n  -> Ce-140 + Zr-94 + 2n + Q (208 MeV)

Bỏ qua năng lượng hạt n vì nó rất thấp.

Theo năng lượng liên kết tính được:

U-235 là 1784 MeV
Ce-140 là 1173 MeV
Zr-94 là 815 MeV
 
Cân bằng 2 bên:

1784 MeV < 1173 MeV + 815 MeV + 208 MeV

Bảo toàn năng lượng thì chưa ai thấy bị vi phạm vậy phải kết luận (đã có từ gần nửa thế kỷ này): hoặc năng lượng nghỉ sai, hoặc E=MC^2 sai hoặc cả 2 cùng sai.

Nếu đả cóp-dê, thì nên cóp-dê cho đủ ý của chủ nhân bài viết.
Nếu không hiểu hết ý của bài viết, thì cóp nguyên một đoạn văn, chứ đừng hai ba mớ chặt khúc như trên.

Ông Johann Marinsek viết một bài lý luận chứng minh “rest energy” là không có. Lần sau bạn bỏ nguồn vào nhé, nếu không diễn tả được hết ý của tác giả.
http://www.marinsek.com/files/a--_refutation_of_rest_energy_e_=_mc2.pdf

Nếu ai muốn thử, cứ cầm bài viết này nhảy vào “forum” vật lý của Nga (ĐH Moscow), hay Mỷ (ĐH MIT) gì củng được, bước vào, khi ra mà "lành lặng" thì đúng là được phép màu trời ban.

Trong gần một thế kỷ, đả có không biết bao nhiêu tay cố chứng minh Einstein sai. Cứ một vài năm lại có một anh trồi lên. Rồi bị “rút gân”, làm giây cột dày cho các khoa học gia trên thế giới. Mới đây nhất là vụ phòng thí ngiệm CERN, Geneva, tháng 9 năm 2011, họ chứng minh Einstein là sai. Và rồi, tháng 2 năm 2012, họ xin lỗi họ đã sai.

Vì đây là VMH, chứ không phải forum Vật Lý, cho nên chúng ta không cần đi xa hơn. Nhưng tôi phải nói, vì không muốn những em còn đang đi học hiểu sai, học sai. Các bác thử nghĩ nếu ai dạy sai cho con em chúng ta, thì chúng ta sẽ làm gì?


E=MC^2 đúng nhưng có điều kiện, cũng như cần những khái niệm khác nữa. Thực ra trong di sản Anhxtanh, E-MC^2 lạc lõng, chẳng nằm trong tương đối nào cả. Đó là công thức của nhiều người khác có trước Anhxtanh, ông ta mượn nó quên không trả.

Đừng nói bậy. Đưa nguồn đi, nếu không có nguồn thì bạn không nên nói như thế.

Thế hệ trẻ = tương lai của Việt Nam

Dạy sai cho thế hệ trẻ = Đầu độc tương lai dân Việt (Tội này hoàn toàn không tha được.)

Bác Longtrec nói một câu rất hay.
"Tranh luận để tự rèn luyện, học hỏi nâng cao kiến thức mà mỗi chúng ta đều khiếm khuyết."
Hảy tranh luận một cách đúng đắng. Hảy kể cho nhau nghe những cái hay của thiên hạ, của Nga, của Mỷ. Chúng ta cần phải tiến bộ, chúng ta cần mở mang kiến thức.
Logged
SSX
Thành viên
*
Bài viết: 654


« Trả lời #118 vào lúc: 15 Tháng Ba, 2013, 02:01:41 am »

Các bạn trẻ đi đâu cả rồi nhỉ?

Anhxtanh toàn tài cống hiến cho văn minh nhân loại lại chịu thua 2 phản ứng cỏn con này sao?
 
1. Phân rã beta: H-3 -> He-3 + e- + ev- (+Q)

2. Phân rã gama: Ba-137 -> Ba-137 + gama

3. Phân rã U-235: U-235 + n  -> Ce-140 + Zr-94 + 2n + Q (208 MeV)

1784 MeV < 1173 MeV + 815 MeV + 208 MeV

Tôn giáo khác khoa học ở chỗ: tôn giáo dựa trên niềm tin. Các tín đồ của một số giáo phái rất cuồng tín. Họ mạ vàng vào khe, bịt hết đường thoát của neutron để cho bom hột nhơn nổ ngay trong nhà máy. Họ bảo Anhxtanh là ông thánh, toàn tài, vĩ đại khinh không giải thích 3 điều ở trên.

Ông Teller không phải thánh, ông ta dùng sóng điện từ thoát ra (và thoát trước nhất) để ép khối D-T lên 1000 lần trước khi nó vỡ ra. Vì thế bom H của ông ta nổ được.

Hóa ra photon gây ra áp lực lên vật chất, cứ như là nước ép lên thành bình, chất nổ hóa ép lên khối Pu đến tới hạn.

Hình như photon có khối lượng?




 
Logged
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #119 vào lúc: 15 Tháng Ba, 2013, 04:11:49 pm »

Tự xóa! Thôi thôi xin tránh xa, không hỏi nữa!   Grin
« Sửa lần cuối: 15 Tháng Ba, 2013, 04:21:16 pm gửi bởi Giangtvx » Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM