Như vậy, qua các bài viết chúng ta hình dung ra nén nhiên liệu quan trọng như thế nào trong quả bom hạt nhân.
Hai quả bom đầu tiên nổ ở Nhật Bản Little Boy và Fat Man khác nhau 1 quả không nén và 1 có nén đã khác nhau đến chục lần hiệu suất phân rã.
Trong đời sống hàng ngày, không lạ gì mỗi lần chúng ta ngồi ô tô, tàu thủy, xe lửa, máy bay. Hiệu suất hoạt động của các động cơ nhiệt của chúng có cao hay không cũng nhờ tỉ số nén có cao hay không.
Ở bom H, để nổ được cần nén rất mạnh, những mô hình đầu tiên mà Teller và các nhà bác học Mỹ đưa ra, chỉ chất nhiên liệu nhiệt hạch D-T xung quanh cái nhân phân rã đã không thành công.
Cả mô hình bom kép mà bom H hình trụ cũng kém thành công bởi hình trụ kém chịu nén, vật liệu nhiệt hạch dưới tác động bom A nổ đã rã ra và tản mát (Teller về sau đổi ra hình cầu như đầu đạn W88 mới nổ được).
Như thế này:

Như vậy là các bài toán khác nhau, đều có chung một số thông số cần giải quyết, ví như nén ban đầu.
Tính toán trong bom A, hàng tấn chất nổ hóa đã nén được nhiên liệu phân rã lên cả hàng ngàn lần. Chất rắn Pu-239, U-235 bị co thể tích, tăng mật độ lên 2,5 lần. Học vật lý, các em bé được thầy cô bảo chất lỏng như nước đã là không nén được, kể cả dưới hàng ngàn at, nhưng các thầy cô đã không nói điều đó đúng trong một số điều kiện, và có một điều kiện khác biệt ở quả bom là xung chứ không phải nén tĩnh. Ở Bom H, có khác một chút, nén bằng chất nổ hóa không đủ để kích phản ứng nhiệt hạch. Năng lượng từ bom A thoát ra, 80% là X-ray không có tác dụng đốt nóng nhiên liệu D-T.
Để nén và đốt nóng khối D-T đến trạng thái phản ứng tổng hợp, cần tận dụng hiệu ứng áp lực sóng điện từ, bởi photon là thứ bay ra đầu tiên từ vụ nổ bom A, rồi mới đến neutron nên cần cái vỏ nặng U-238 để phản xạ, cần làm khối D-T thành hình cầu tròn đều tập trung photon phản xạ từ vỏ U-238. Cái vỏ U-238 rất dày chặn neutron bắt nó quay trở lại khối nhiên liệu theo nghĩa phản xạ. Chứ neutron không phải là chất khí mà thoát ra từ khe hở nào đó như các bác học Mỹ trứ danh tưởng tượng. Nhiệt và mật độ cao tăng khả năng va chạm của các nucleus và trong hàng triệu/tỷ lần va chạm, phản ứng tổng hợp có khả năng xảy ra. Đó cũng là cái ẩn ý của khái niệm nhiệt hạch. Nhưng không thấy tài liệu nào đề cập nó nén được bao nhiêu, chỉ biết là rất lớn.
Điều đó nhiều sách vở tử tế đề cập công khai, không có gì là bí mật cả.
Trong ứng dụng nhiệt hạch thu năng lượng, có điều khiển, như Tokamak ở Liên Xô hay laser fusion mà người Mỹ gọi là National Ignition Facility đều không thành công nhiệt hạch.
Nhưng trước hết chúng ta xem qua áp lực sóng điện từ cái đã.
Ánh sáng gây áp lực lên bề mặt vật chất chúng đập vào được nhà bác học tên tuổi James Clerk Maxwell chỉ ra từ tận năm 1871. Thời đó rất cổ lỗ, không có các phương tiện hiện đại để thí nghiệm mà không hiểu làm sao ông đã tính toán rất chính xác chứ không chỉ là nêu ra hiện tượng. Ông tính toán từ lý thuyết điện từ-lượng tử của ông. Về sau, nhà vật lý Peter Lebedev đã làm nhiều thực nghiệm chứng minh Maxwell hoàn toàn đúng.
Có rất nhiều nhà khoa học quả thật vĩ đại. Thậm chí trong lịch sử nghiên cứu khoa học, mỗi ai đó nhớ hết được tên của họ đã là quá vất vả. Thay vào đó, các cháu nghiên cứu khoa học thời đại @ chỉ cần nhớ mỗi cái tên Anhxtanh là đủ. Tất tần tật cái gì cũng Anhxtanh, Anhxtanh là cha đẻ ra photon, đẻ ra bom nguyên tử, đẻ ra thời gian, đẻ ra không gian, đẻ ra cả vũ trụ. Có rất nhiều cháu đi du học bằng tiền của nhà nước cơ đấy, mai ngày về nước bằng này cấp nọ, làm ông to bà lớn! Chết cha! Cái thời những người như anh huyphongssi sang Liên Xô trong đói rách, rồi về nước cũng vất vưởng phải đi canh chim trong sân bay nhưng làm sao vẫn giữ được đầu óc minh mẫn. Các cháu đi du học theo
tiêu chuẩn Mỹ bây giờ lại toàn bị nhồi sọ.
Peter Lebedev đã làm thí nghiệm và chứng minh công thức áp lực sóng điện từ của Maxwell là đúng cho dù áp lực là rất nhỏ. Thí nghiệm của ông đơn giản thôi: một tấm kim loại mỏng gắn trên trục quay được, một nửa bôi đen và nửa để trắng, chiếu ánh sáng lên một bên và nó quay. Đo đạc của Lebedev thấy sai số với tính toán của Maxwell là +- 20%. Về sau ông làm thí nghiệm khác nữa, cho kết quả chính xác hơn nhiều. Liên Xô trước đây còn phóng cả một vệ tinh mang một cái ô hylebol rất lớn xòe ra hứng ánh sáng mặt trời. Họ thử nghiệm sức đẩy photon để có thể bay xa trong hệ mặt trời. Nhưng rất tiếc là thử nghiệm đã thất bại chỉ vì cái ô đó đã không xòe ra được theo đúng hình dáng yêu cầu và bị rách. Nhật Bản về sau cũng có 1 vệ tinh là Akatsuki gắn thêm "cánh buồm" để phụ thêm sức đẩy bay đến Venus.
Và như vậy, không nghi ngờ gì ứng dụng hiệu ứng áp lực sóng điện từ trở thành quan trọng nhất để quả bom H phát nổ. Cả lò plasma Tokamak, cả National Ignition Facility rất tốn kém nhưng đã thất bại bởi chúng không tạo ra những điều kiện giống như ở quả bom.
Minh họa thí nghiệm Lebedev áp lực ánh sáng làm quay một tấm kim loại.

Cái hình này đúng về nguyên lý nhưng sai về kết cấu, nó phải hình cầu mới nổ được. Hình số 5 ghi rõ:
compressed;
