So sánh với tình hình trên, ta thấy Nga lại đặt trọng điểm trên biển vào tàu ngầm hạt nhân mang tên lửa chiến lược, nhưng giá trị của nó thể hiện chủ yếu ở chỗ muốn duy trì địa vị nước lớn, tránh bị mất cân bằng quá mức về chiến lược. Năm 2006, Nga đã 2 lần bắn thử tên lửa đường đạn phóng từ tàu ngầm “Bulava” nhưng thất bại. Về chíến hạm mặt nước, tàu sân bay cỡ lớn duy nhất “Ku-dơ-nhét-xốp” đã hoàn thành cải tạo, trở lại phục vụ chỉ có ý nghĩa tượng trưng. Tháng 5-2006 hạ thuỷ hạm hộ vệ hạng nhẹ “Phòng thủ” là hạm mới duy nhất Hải quân Nga có được trong năm 2006. Trong vài năm sau, giữ được một ít lực lượng tinh nhuệ để duy trì địa vị nước lớn vẫn sẽ là sách lược cơ bản của Hải quân Nga.
Năm 2006, cũng là một năm rạng rỡ ánh đèn trên triền đóng tàu của châu Âu. Trong tháng 2, chiếc hạm khu trục kiểu 45đầu tiên của Anh và chiến hạm khu trục lớp “Horizon” đầu tiên do Pháp-Italia liên hợp sản xuất đã theo nhau hạ thuỷ. Trong làn sóng đổi mới hạm tàu lần này, hầu như mỗi hạm kiểu mới đều nhấn mạnh nhiệm vụ truyền thống phòng không, chống hạm, chống ngầm và cả nhu cầu kiểu mới đối với việc công kích đối bờ, gìn giữ hoà bình, cứu nạn...
Nhưng chịu ảnh hưởng lớn nhất với sứ mệnh mới là loại hạm chiến đấu thuỷ bộ. Ngoài chiếc LPD-17 lớp “San Antoneo” của Mỹ, trong năm 2006 được hạn thuỷ còn có “Hạm bảo đảm linh hoạt” của Đan Mạch, hạm đa năng “Defender” của Niu Di-lân và hạm đổ bộ máy bay trực thăng của Ốt-xtrây-li-a đang gọi thầu đều cùng một loại. Muốn khỏi ỷ lại vào các căn cứ trên bờ và trực tiếp chuyển được lượng lớn binh lực lên đất liền, Mỹ sẽ cải tiến toàn diện các hạm bố trí sẵn trên biển, các phương tiện nổi và vận chuyển trên biển, bố trí cho nó những công cụ vận chuyển cao tốc tiên tiến trên biển, trong số đó đã bắt đầu thử nghiệm “phương tiện đổ bộ cơ động”.
Một tiết mục quan trọng kiểu chuyển đổi của Hải quân Mỹ là tháng 10-2006 đã hạ thuỷ hạm tác chiến biển gần LCS “Freedom”. Do nó có ưu thế mô-đun hoá và giá thành rẻ, có sự chi viện của máy bay không người lái, tàu không người lái, nó sẽ là công cụ có hiệu quả của Hải quân Mỹ đối phó với mối uy hiếp không cân xứng của thuỷ lôi, tàu ngầm, tàu cao tốc ở vùng nước gần bờ.
Năm 2006, “Florida” - chiếc tàu ngầm hạt nhân thứ hai kiểu công kích tên lửa đường đạn được cải tạo từ tàu ngầm hạt nhân lớp “Ohio” của Hải quân Mỹ đã được hạ thuỷ, tiếp tục đẩy mạnh một trào lưu mới đa dạng hoá nhiệm vụ cho tàu ngầm. Cùng phối hợp với nó là sự phát triển nhanh chóng các phương tiện lặn không người lái, khiến cho tai mắt và xúc tu của tàu ngầm đều được vươn rất xa. Vì dưới mặt nước vẫn là nơi được che chắn rất tốt, nên khát vọng có tàu ngầm của các nước vừa và nhỏ ngày càng mạnh. Trong năm 2006 Inđônêxia, Pakixtan, Nam Phi đều tiếp tục hoặc có kế hoạch mua sắm tàu ngầm.
CHIẾN TRƯỜNG MẶT ĐẤT ĐANG TRONG GIAI ĐOẠN NGHIÊN CỨU MÒ MẪM.
Hệ thống chiến đấu tương lai FCS trong ý tưởng của quân đội Mỹ đảo lộn mọi mặt chiến trương mặt đất, nhằm sử dụng ưu thế thông tin để hình thành kiểu công kích mạng hoá, chỉ tập trung hoả lực, không tập trung binh lực và phương tiện, tiêu diệt kẻ địch với hiệu suất cao nhất đồng thời bảo vệ được mình. Nhìn vào tình hình năm 2006, tiến triển lớn nhất vẫn là thông tin (tin học), hiệu suất tiêu diệt địch cũng được nâng cao gấp mấy lần, nhưng khả năng công kích chính xác cũng như công nghệ thông tin đang dần dần phổ biến rộng tới tay đổi thủ. Phái Gi-hát đã sử dụng được tên lửa chống hạm và tên lửa chống tăng, tuy chưa thật là tiên tiến. Trong tác chiến đánh gần trên đường phố, các loại xe hạng nhẹ thông tin hoá không có cách nào phát hiện được những vũ khí đơn giản như súng hoả tiễn và bom bố trí bên vệ đường, đồng thời còn do muốn cơ động và hiệu quả cao nên phải hy sinh sức phòng hộ, nên chúng rất yếu ớt trước sức công kích của kẻ địch. Điều này đã buộc kế hoạch FCS phải tăng cường sức phòng hộ, ý tưởng trước kia cho rằng xe tăng chủ lực sẽ dần dần rút khỏi vũ đài cũng trở nên mờ mịt. Trái lại, các kiểu xe tăng kinh điển như Leopard II, Leclarc và Merkava trong năm 2006 đều đã tung ra kiểu xe chiến đấu trong thành phố.
Đương nhiên xu thế phân tán hoá, mạng hoá và không người lái không có gì sai, điều mấu chốt là hiện nay điều mà FCS có thể thực hiện được vẫn chỉ là một lực lượng hỗn tạp giữa các phương tiện có người lái và không người lái, trừ phi những đôi giầy lính không cần phải đặt chân lên trận địa đối phương, nếu không sự đi lên theo vòng xoáy ốc của tư tưởng và công nghệ này khó mà đạt tới hoàn thiện.
Năm 2006, việc nghiên cứu phát triển các loại xe rô-bốt vẫn trong giai đoạn nghiên cứu sơ bộ, cuộc đua lớn các loại xe rô-bốt của “Cục nghiên cứu quốc phòng tiên tiến của Bộ Quốc phòng Mỹ”, trong năm 2007 sẽ là một thách thức đối với địa hình thành thị. Đồng thời các biện pháp tiên tiến phòng vệ cơ thể và thiết giáp của xe, sát thương mềm xe cộ và phòng hộ chủ động, ụ vũ khí điều khiển từ xa và hoả lực đánh gần chính xác, sử dụng máy bay không người lái và tác chiến điện tử để chống lại bom bố trí vệ đường, thiết giáp hoá xe hạng nhẹ và xe vận tải, đều trở thành lĩnh vực không thể bỏ qua đối với trang bị mặt đất trong năm 2006. Nếu súng hoả tiễn và bom bố trí vệ đường về cơ bản có thể bị phát hiện, gây nhiễu và phòng thủ, thì quân đội Mỹ sẽ còn có được ưu thế mới. Đương nhiên điều đó vẫn chưa đủ để giải quyết rất nhiều vấn đề phi quân sự và phi kỹ thuật mà quân đội Mỹ gặp phải ỏ I-rắc và Áp-ga-ni-xtan.
Do có sự thúc đẩy của FCS, nên một số vấn đề về kỹ thuật công nghệ của xe tương lai như lực đẩy điện của chiến xa, điện tử học xe cộ và thủ đoạn công kích mặt đất tiên tiến kiểu không có điểu khiển như “Netfire”, NLOS-C, cũng đã có một số tiến triển trong năm 2006. So sánh với việc nghiên cứu có hiệu quả của đa số quốc gia sử dụng công nghệ thông tin để chế tạo hệ thống “Binh sĩ tương lai”, thì pháo mặt đất và vũ khí nhẹ trong năm 2006 cũng không có đột phá gì nhiều về mặt công nghệ.
VÙNG EO BIỂN KHÔNG YÊN TĨNH
Năm 2006 khu vực Đài Loan nằm trong cục diện đợt mua sắm trang bị quân sự trước đã cơ bản xong, đợt mua sắm trang bị quân sự mới đang dao động dữ dội. Các hạm khu trục “KID” của Đài Loan và hạm khu trục lớp “Hiện đại” của lục địa cũng đã cặp bến toàn bộ, Đài Loan còn đưa ra nhu cầu mua máy bay chiến đấu F-16C/D. Trong bản danh sách mục mua sắm trang bị quân sự đợt mới của Đài Loan có thể thấy rõ cách suy nghĩ của nhà đương cục Đài Loan là trong trường hợp không thể nắm được toàn bộ quyền khống chế trên không, sẽ sử dụng tên lửa “Patriot” PAC-3 để làm suy yếu ưu thế tên lửa của lục địa, lấy máy bay chống ngầm P-3C để chống lại ưu thế tàu ngầm của lục địa, lấy 8 chiếc tàu ngầm đi-ê-den-điện để răn đe đổ bộ và hạm đội hộ tống, đồng thời tăng cường hoả lực chống đổ bộ.
Nhưng điều đáng quan tâm hơn vẫn là cái gọi là “Răn đe có hiệu quả”. Trong năm 2006, loại tên lửa hành trình “Hùng Phong” 2E và “Hùng Phong” 3 đều đang ngọ ngậy. Một động thái quan trọng nữa là, Đài Loan đang từng bước nắm khả năng trinh sát vệ tinh. Cách tính toán của nhà cầm quyền Đài Loan là dù chỉ có khả năng phản kích hạn chế cũng phải làm cho đối thủ bị tổn thất khó bề chịu đựng, buộc đối thủ phải từ bỏ vũ lực, để họ có thể tìm ra lối thoát trong sự can thiệp của nước ngoài. Gần đây một tạp chí ở Đài Loan đưa ra giả thiết cho cuộc diễn tập “Hán Quang” 2016 đã mô tả tình cảnh như thế.