Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 11:57:22 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tổng hợp các báo cáo, nghiên cứu và tin tức quốc phòng về QĐND Việt Nam  (Đọc 393767 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
baogt
Thành viên
*
Bài viết: 771



« Trả lời #30 vào lúc: 18 Tháng Ba, 2010, 07:44:51 am »

Theo báo cáo về "Tình hình mua sắm, chuyển giao vũ khí trang bị đến hết năm 2009" mới công bố hôm nay (15/03/2010) của SIPRI, xác nhận:
Việt Nam đã mua 2 hệ thống tên lửa bờ K-300P Bastion-P cùng 40 quả tên lửa Yakhont trị giá 300 triệu USD (HĐ ký năm 2007). Trong năm 2009 vừa rồi đã chuyển giao 1 hệ thống kèm 20 quả tên lửa Yakhont. VN cũng đã ký hợp đồng mua 8 chiếc Su-30MK trị giá 400-500 triệu USD giao hàng 2010-2011, có thể lựa chọn mua thêm 12 chiếc. và 6 chiếc tàu ngầm Kilo-636E trị giá 1,8-2,0 tỷ USD.

Đồng thời, cũng trong 2009, Việt Nam đã nhận được đủ 10 máy bay huấn luyện Yak-52M theo hợp đồng đã ký năm 2008 với Romania và ký hợp đồng mua 4 hệ thống radar phòng không Kolchnya (Triumf: Kolchuga?).

Kolchuga theo em nghe hôm lên Sơn Tây, hi Cheesy
Mà bác làm thế nào để ảnh cứ cong lên thế? nguy thật.
« Sửa lần cuối: 18 Tháng Ba, 2010, 08:42:06 am gửi bởi baogt » Logged

Nhờ trời! Không yêu cầu cũng được ra
khoa162
Thành viên
*
Bài viết: 88


« Trả lời #31 vào lúc: 18 Tháng Ba, 2010, 05:10:07 pm »

Kolchuga theo em nghe hôm lên Sơn Tây, hi Cheesy

mình không hiểu câu này của bác baogt, bác thấy kolchuga trên sơn tây hả
Logged
baogt
Thành viên
*
Bài viết: 771



« Trả lời #32 vào lúc: 18 Tháng Ba, 2010, 05:31:03 pm »

Kolchuga theo em nghe hôm lên Sơn Tây, hi Cheesy

mình không hiểu câu này của bác baogt, bác thấy kolchuga trên sơn tây hả
Hì, bác không chịu hiểu từ "nghe" à,
Logged

Nhờ trời! Không yêu cầu cũng được ra
lam_cantho
Thành viên
*
Bài viết: 36


WWW
« Trả lời #33 vào lúc: 18 Tháng Ba, 2010, 05:33:06 pm »

chụp màn hình vi tính crt bằng máy chụp hình thì ảnh phải cong Huh
Logged

IntelDH55HC, Intel corei3, DDR3 2GB, GPU 9800GTX
trucngon
Thành viên
*
Bài viết: 1776



« Trả lời #34 vào lúc: 19 Tháng Ba, 2010, 10:07:56 am »

Thúc đẩy hợp tác kỹ thuật quân sự Việt Nam-Nga



Sáng 17/3, tại Trụ sở Bộ Quốc phòng, Đại tướng Phùng Quang Thanh, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, đã tiếp ông V.K. Đzirkan, Phó giám đốc Cơ quan Liên bang về hợp tác kỹ thuật quân sự Nga, Chủ tịch Phân ban Nga trong Ủy ban liên Chính phủ Nga-Việt về hợp tác kỹ thuật quân sự.

Đại tướng Phùng Quang Thanh chào mừng ông V.K. Đzirkan và các thành viên trong đoàn sang thăm và làm việc tại Việt Nam, coi đây là dịp tốt để Ủy ban liên Chính phủ Nga-Việt cùng trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm và tìm hiểu các lĩnh vực có thể hợp tác.

Thời gian qua, quan hệ hợp tác kỹ thuật giữa hai nước đã đạt được một số kết quả tốt đẹp. Đại tướng mong rằng các mối quan hệ hợp tác hữu nghị này tiếp tục phát triển phù hợp với lợi ích và quan hệ hợp tác phát triển chung giữa quân đội và nhân dân hai nước.

Ông V.K. Đzirkan bày tỏ vui mừng được đến thăm, làm việc tại Việt Nam, đồng thời thông báo kết quả hội đàm của Ủy ban liên Chính phủ Nga-Việt, mong muốn các thỏa thuận đã đạt được sớm trở thành hiện thực./.

Minh Khánh (Vietnam+)
Logged
Triumf
Trung tá
*
Bài viết: 11033



« Trả lời #35 vào lúc: 30 Tháng Ba, 2010, 10:01:11 am »

Ranh giới thềm lục địa và các quốc gia quanh Biển Đông

Tác giả: Việt Long - ĐHQG Hà Nội
Bài đã được xuất bản 29/03/2010 - 06:00 GMT+7 đăng tại Tuanvietnam.net

Trong khi Việt Nam và Malaysia có quan điểm tách biệt vấn đề trình báo cáo RGNTLĐ ngoài 200 hải lý với vấn đề tranh chấp chủ quyền trên các đảo thì Trung Quốc và Philippin lại muốn gắn kết hai vấn đề.

LTS: Biển Đông vẫn tiếp tục nóng lên với sự quan tâm ngày càng lớn hơn của cộng đồng quốc tế. Ngày 25/3/2010, một hội thảo quốc tế về chủ quyền Biển Đông được tổ chức tại Đại học Temple (Philadelphia, Mỹ) với sự tham gia của các học giả trong nước và quốc tế. Đây là hội thảo quốc tế thứ 3 về chủ đề này.

Tuần Việt Nam giới thiệu bài phân tích của một học giả trong nước  về ranh giới thềm lục địa (CLCS) của các quốc gia quanh Biển Đông sau khi các nước này đã trình hồ sơ về ranh giới thềm lục địa mở rộng hồi tháng 5/2009 như một tư liệu tham khảo.

Công ước của Liên hợp quốc về luật biển năm 1982 UNCLOS đã có hiệu lực được 15 năm (1994-2009). Theo các điều khoản của UNCLOS, mỗi quốc gia ven biển có quyền có lãnh hải 12 hải lý, đặc quyền kinh tế 200 hải lý và thềm lục địa.


Điều 76, khoản 8 của UNCLOS quy định: "QGVB thông báo những thông tin về các ranh giới thềm lục địa của mình, khi thềm lục địa đó mở rộng quá 200 hải lý kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải, cho Uỷ ban ranh giới thềm lục địa được thành lập theo Phụ lục II, trên cơ sở sự đại diện công bằng về địa lý. Uỷ ban gửi cho các QGVB những kiến nghị về các vấn đề liên quan đến việc ấn định ranh giới ngoài thềm lục địa của họ. Các ranh giới do một quốc gia ven biển ấn định trên cơ sở các kiến nghị đó là dứt khoát và có tính chất bắt buộc".

Thời hạn trình Uỷ ban ranh giới thềm lục địa CLCS là 10 năm kể từ ngày Công ước UNCLOS có hiệu lực với quốc gia thành viên (Phụ lục II, điều 4 UNCLOS). Tuy nhiên thời hạn cuối cùng đối với các quốc gia ven biển thành viên của Công ước đã được ấn định là 13 tháng 5 năm 2009 bằng Quyết định ngày 29 tháng 5 năm 2001 (SPLOS/72) được thông qua trong phiên họp lần thứ 11 của các quốc gia thành viên Công ước Lụât biển.

Tới ngày đó các quốc gia phải lựa chọn một trong ba khả năng: 1) trình hồ sơ cuối cùng về ranh giới ngoài thềm lục địa mở rộng ra ngoài 200 M tính từ đường cơ sở cho CLCS. Một quốc gia có thể trình hồ sơ toàn thể hay một phần. Quốc gia có thể trình một hoặc nhiều hồ sơ từng phần thay cho một hồ sơ toàn thể cho cả vùng biển. Hai hay nhiều quốc gia có thể trình chung một hồ sơ theo Mục 4 Phụ lục I Quy định thủ tục của Uỷ ban CLCS.;

2) Trình Tổng thư ký các thông tin ban đầu về ranh giới ngoài thềm lục địa mở rộng ra ngoài 200 M và bản mô tả tình hình chuẩn bị và ngày dự kiến trình hồ sơ phù hợp với các yêu cầu của điều 76 của Công ước và với Quy định thủ tục và hướng dẫn khoa học và kỹ thuật của Uỷ ban CLCS;

3) Bảo lưu các quyền của mình về thềm lục địa bằng cách phản đối các hồ sơ đã được trình. Quốc gia nào không tiến hành bất kỳ hành động nào nói trên sẽ được coi là không quan tâm tới việc mỏ rộng thềm lục địa ra ngoài 200 hải lý tính từ đường cơ sở của họ.

Biển Đông được bao bọc bởi 10 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong số đó có Trung Quốc, Philippin, Malaysia, Brunei, Indonesia và Việt Nam có khả năng xem xét vấn đề trình ranh giới ngoài thềm lục địa.

Theo điều 76, khoản 8 của Công ước luật biển, các nước trên có thể có 3 lựa chọn sau:

Trình hồ sơ ranh giới ngoài thềm lục địa (RGNTLĐ) lên Uỷ ban ranh giới thềm lục địa (CLCS).

Philippin, Malaysia, Indonesia và Việt Nam đã lựa chọn cách này từng phần.

Ngày 16 tháng 6 năm 2008, Cộng hoà Indonesia trình CLCS, phù hợp với điều 76, khoản 8 của CULB, thông tin về ranh giới thềm lục địa ngoài 200 hải lý tính từ đường cơ sở quần đảo dùng để tính chiều rộng lãnh hải của Indonesia ở Tây bắc quần đảo Sumatra. Indonesia đã chuẩn bị trình CLCS tổng hợp các số liệu đo sâu do Dự án số hoá quản lý tài nguyên biển (DMRM), ETOPO-2 cũng như các số liệu khảo sát địa chấn và độ dày trầm tích thu thập từ những năm 1999. Ranh giới ngoài thềm lục địa ở khu vực Tây Bắc Sumatra trong bản trình một phần này được xác định theo công thức 1% bề dày trầm tích (công thức Gardiner hoặc Irish). Theo Indonesia, khu vực này không phải là đối tượng tranh chấp giữa Indonesia với bất kỳ quốc gia nào. Indonesia cũng bảo lưu việc trình ranh giới ngoài thềm lục địa của Indonesia tại những khu vực khác trong tương lai.

Ngày 8 tháng 4 năm 2009, Cộng hòa Philippin là quốc gia thứ hai trong khu vực trình báo cáo một phần cho CLCS. Ranh giới Thềm lục địa ngoài 200 M từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải trong khu vực Rãnh Benham. Khu vực này được giới hạn về phía Bắc và Đông bởi  bồn Tây Philippin và về phía Tây và Nam bởi quần đảo Luzon. Philippin.cho rằng báo cáo với các số liệu của khu vực Rãnh Benham chạy dọc theo bờ Thái Bình Dương và hoàn toàn không ảnh hưởng đến phân định biển với các nước có bờ biển đối diện hay tiếp giáp. Ranh giới ngoài của mảng thềm lục địa thuộc khu vực Rãnh Benham được xác định hoàn toàn theo Điều 76, khoản 8 (a) (i). Các số liệu thuỷ đạc thu thập từ các chuyến khảo sát trong những năm 2004-2008.

Tuy nhiên Philippin cũng bảo lưu quyền của mình được trình các báo cáo RGNTLĐ ngoài 200 hải lý cho các khu vực khác trong tương lai phù hợp Phụ lục I của Quy chế và thủ tục của CLCS. Khu vực phái Tây trong biển Đông có thể được coi là một trong những khu vực như vậy.

Ngày 7 tháng 5 năm 2009, Malaysia và Việt Nam trình báo cáo chung về khu vực phía Nam Biển Đông. Khu vực xác định chung được giới hạn bởi điểm cắt của vòng cung bán kính 200 hải lý với ranh giới TLĐ Malaysia và Philippin. Ở phía Đông tại điểm A, điểm cắt của hai vòng cung bán kính 200 hải lý từ phía Malaysia về phía Tây Nam điểm A (điểm B và C), bởi đường biên giới theo Hiệp định thềm lục địa ký giữa Malaysia và Indonesia năm 1969 (điểm D và E), đường ranh giới theo Hiệp định ranh giới thềm lục địa Việt Nam-Indonesia năm 2003 về phía Tây Bắc (điểm F và G) và điểm giao của vòng cung từ ranh giới phía Việt Nam về phía Đông Bắc (điểm H và I). Khu vực xác định hoàn toàn nằm ngoài 200 hải lý tính từ đường cơ sở lãnh thổ lục địa của Malaysia và Việt Nam và nằm ngoài các ranh giới đã thoả thuận với các nước hữu quan. Đây là lý do hai nước khẳng định báo cáo chung không làm tổn hại các vấn đề liên quan đến phân định ranh giới giữa các quốc gia có bờ biển đối diện hoặc tiếp giáp. Theo các nguồn tin ngoại giao, có vẻ việc trình báo cáo chung Malaysia và Việt Nam đã được thông báo cho các nước liên quan trước ngày 6 tháng 5 năm 2009.

Khu vực Bắc (VNM-N) do Việt Nam trình Báo cáo riêng ngày 8 tháng 5 năm 2009 nằm ở phía Đông Bắc Biển Đông. Việt Nam giữ quan điểm rằng nước này thực hiện chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán trong các vùng biển và thềm lục địa Việt Nam phù hợp CULB 1982. Việt Nam đã ký CULB năm 1982 ngày 10 tháng 12 năm 1982 và phê chuẩn ngày 23 tháng 6 năm 1994. Căn cứ các điều khoản của CULB (điều 76, khoản 1,4,5 và 7) và đặc điểm tự nhiên của bờ biển và thềm lục địa của mình, Việt Nam giữ quan điểm có quyền thiết lập RGNTLĐ ngoài 200 hải lý tính từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải CHXHCN Việt Nam.

Theo khoản 3 Phụ lục I của Quy tắc thủ tục, Báo cáo xác định ranh giới ngoài của TLĐ khu vực Bắc (VNM-N) thuộc Việt Nam. Khu vực VNM-N được xác định và giới hạn về phía Bắc bởi đường cách đều giữa đường cơ sở lãnh hải Việt Nam và CHND Trung Hoa, ở phía Đông và phía Nam bởi ranh giới ngoài thềm lục địa đựơc xác định trong Báo cáo phù hợp với điều 76 (Cool của CULB, về phía Tây bởi đường 200 hải lý tính từ đường cơ sở lãnh hải Việt Nam.

Theo điều 76 (10) của CULB, điều 9 Phụ lục II của CULB, quy tắc 46 và Phụ lục I của Quy tắc thủ tục của CLCS, Việt Nam cho rằng khu vực thềm lục địa trong Báo cáo không chồng lấn và tranh chấp và không ảnh hưởng gì đến vấn đề phân định biển giữa Việt Nam và các quốc gia hữu quan.

Việt Nam xác định ranh giới ngoài thềm lục địa khu vực VNM-N  theo cả hai phương pháp 1% bề dày trầm tích (công thức Gardiner) và chân dốc lục địa + 60 hải lý (công thức Hedberg). Báo cáo của Việt Nam được chuẩn bị trên cơ sở các số liệu khảo sát mới nhất năm 2007, 2008 và các số liệu đã được công bố bao gồm đo sâu, từ trường, trọng lực và địa chấn.

Tóm lại, chỉ có Việt Nam và Malaysia có báo cáo trong Biển Đông. Indonesia và Philippin có báo cáo về các khu vực nằm ngoài và không liên quan trực tiếp Biển Đông. Tuy nhiên hai nước vẫn bảo lưu quyền có các báo cáo bộ phận về các khu vực khác nằm ngoài 200 hải lý tính từ đường cơ sở của mình.

Các thông tin ban đầu về ranh giới thềm lục địa ngoài 200 hải lý

Brunei và Trung Quốc lựa chọn cách này.

Ngày 11 tháng 5 năm 2009, CHND Trung Quốc trình các số liệu khảo sát ban đầu về ranh giới ngoài thềm lục địa cho CLCS. Tuy nhiên báo cáo này chỉ nêu yêu sách phần thềm lục địa mở rộng ngoài 200 hải lý sườn phía Tây của Máng Okinawa tại biển Hoa Đông chứ không phải trong biển Đông. Trong báo cáo Trung Quốc tuyên bố bảo lưu quyền đưa ra các yêu sách bổ sung về thềm lục địa mở rộng trong biển Hoa Đông và bất kỳ đâu. Trong biển Hoa Đông có các vùng chồng lấn yêu sách do Trung Quốc và Nhật Bản đưa ra theo CULB. Trung Quốc luôn yêu sách thềm lục địa phía ngoài Máng Okinawa trên cơ sở nguyên tắc kéo dài tự nhiên trong khi Nhật bản yêu sách vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa qua đường trung tuyến biển Hoa Đông. Trung cho rằng đảo đá của Nhật chỉ nên có lãnh hải 12 hải lý trong khi Nhật giữ quan điểm các địa vật này cần có vùng biển rộng hơn lãnh hải 12 hải lý.

Ngày 12 tháng 5 năm 2009, Brunei thông báo nước này đã có những cố gắng quan trọng trong việc chuẩn bị trình báo cáo toàn thể lên CLCS phù hợp với điều 76, khoản 8 của CULB. Brunei đã nghiên cứu và phân tích khối lượng lớn các số liệu liên quan đến thềm lục địa. Các số liệu này bao gồm các số liệu địa tầng, địa chất, địa vật lý và địa chấn. Tuy nhiên Brunei chỉ có thể nộp báo cáo toàn phần lên CLCS sau ngày 13 tháng 5 năm 2009. Báo cáo toàn phần của Brunei sẽ phù hợp với điều 76 của CULB là sự kéo dài tự nhiên từ lãnh thổ Brunei mở rộng qua các khu vực thềm Tây Bắc Borneo, Máng Tây Bắc Borneo và khu vực Vùng nguy hiểm (Trường Sa) tới tận rìa ngoài của đáy sâu đại dương thuộc Bồn biển Đông. Điều đó có nghĩa rằng báo cáo toàn phần của Brunei trình CLCS sẽ thể hiện rìa ngoài của lục địa nằm trong phần chuyển tiếp giữa Trường Sa và đáy sâu đại dương của Biển Đông, nằm ngoài 200 hải lý tính từ đường cơ sở lãnh hải Brunei.

Với các thông tin ban đầu này, cả Trung Quốc và Brunei dường như đều thể hiện ý định sẽ ấn định ranh giới ngoài thềm lục địa ngoài 200 hải lý từ lãnh thổ của mình trên cơ sở nguyên tắc kéo dài tự nhiên. Thực tế hành động của Trung quốc xuất phát từ thái độ khác nhau đối với hai biển. Trong biển Hoa Đông, tranh chấp đảo Điếu Ngư giữa Nhật Bản và Trung Quốc dường như không cản trở Bắc Kinh có một báo cáo toàn phần về thềm lục địa mở rộng trình CLCS. Ngược lại, trong Biển Đông, các tranh chấp yêu sách về các đảo với các bên hữu quan và "vùng biển truyền thống" là cơ sở cho việc Trung Quốc phản đối báo cáo chung Việt Nam-Malaysia và báo cáo riêng của Việt Nam tại vùng phía Bắc VNM-N lên CLCS. Philippin cũng chọn cách thứ ba này với những toan tính riêng.

Phản đối của Trung Quốc và Philippin

Ngày 8 tháng 5 năm 2009, Phái đoàn đại diện của CHND Trung Hoa tại Liên hợp quốc đã gửi công hàm tới Tổng Thư ký Liên hợp quốc yêu cầu CLCS không xem xét  báo cáo chung Việt Nam-Malaysia và sau đó là báo cáo riêng  của Việt Nam. Trung Quốc cho rằng các báo cáo này đã làm tổn hại chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với các vùng nước và các đảo nằm trong đường đứt khúc 9 đoạn (bản đồ kèm theo Công hàm). Đây là lần đầu tiên Trung Quốc đưa đường đứt khúc ra tại Liên hợp quốc trong bối cảnh yêu sách phân định biển của Trung Quốc ở Biển Đông. Đã có một số bình luận về phản đối của Trung Quốc không dựa trên bất kỳ một tiêu chí khoa học nào của CULB về xác định ranh giới ngoài thềm lục địa. Nếu trong biển Hoa Đông, các tiêu chí khoa học của CULB được Trung Quốc sử dụng trong quan hệ đối với Nhật Bản thì trong Biển Đông, các tiêu chí này đã được thay bằng một đường đứt khúc mơ hồ và không chấp nhận được. Khía cạnh khoa học của việc xác định RGNTLĐ đã được Trung Quốc gắn với vấn đề tranh chấp lãnh thổ trên Hoàng Sa và Trường Sa. Trong biển Hoa Đông, báo cáo trình của Trung Quốc tuyên bố Trung Quốc sẽ "thông qua thương lượng hoà bình, phân định thềm lục địa giữa các quốc gia có bờ biển đối diện hay tiếp giáp bằng các thoả thuận trên cơ sở luật pháp quốc tế và nguyên tắc công bằng". Tuy nhiên trong Biển Đông, Bắc Kinh lại giữ yên lặng về khả năng có đàm phán hoà bình.về vấn đề trên.

Ngược lại với quan điểm của Trung Quốc, trong phản đối của Philippin đưa ra ngày 4 tháng 8 năm 2009 lại bảo lưu khả năng thảo luận. Trong Công hàm nói báo cáo chung Việt Nam - Malaysia đã đưa yêu sách lên vùng có tranh chấp vì nó chồng lấn lên các vùng thuộc Philippin. Philippin yêu cầu CLCS ngừng việc xem xét các báo cáo trên cho đến khi các bên có sự thảo luận và giải quyết tranh chấp giữa họ.

Như vậy, trong cả hai phản đối, Trung Quốc và Philippin đều gắn vấn đề xác định khoa học ranh giới ngoài thềm lục địa với các tranh chấp lãnh thổ trên các đảo ở Biển Đông. Ngược lại Việt Nam và Malaysia trình báo cáo RGNTLĐ của mình không đề cập gì đến các đảo tranh chấp. Các tuyên bố này rất rõ ràng. Đây là hai vấn đề khác biệt. Báo cáo chung của Việt Nam và Malaysia xác định RGNTLĐ bên ngoài 200 hải lý là sự giải thích hợp pháp về việc thi hành các nghĩa vụ của quốc gia ven biển với CULB 1982, phù hợp với các điều khoản của CULB cũng như Quy tắc thủ tục của CLCS.

Trong Công hàm HA 24/09 ngày 20 tháng 5 năm 2009, Phái đoàn đại diện của Malaysia tại Liên hợp quốc khẳng định rằng báo cáo chung không làm tổn hại tới vấn đề phân định thềm lục địa giữa các quốc gia có bờ biển đối diện hay tiếp giáp, phù hợp với điều 76 (10) của CULB 1982, điều 9 của Phụ lục II của CULB, điều 46 và các khoản 1,2 và 5 của Phụ lục I  Quy tắc thủ tục của CLCS. Công hàm cũng khẳng định lại báo cáo chung không ảnh hưởng đến lập trường các quốc gia có tranh chấp đất liền và biển theo khoản 5 (b) Phụ lục I của Quy tắc thủ tục của CLCS. Hai quốc gia đã mời các bên liên quan đàm phán hoà bình để giải quyết tất cả các vấn đề nảy sinh trong Biển Đông.

Logged

Ô hay nhỉ! Tài nhỉ!
Triumf
Trung tá
*
Bài viết: 11033



« Trả lời #36 vào lúc: 30 Tháng Ba, 2010, 10:02:40 am »

Viễn cảnh Biển Đông sau tháng 5 năm 2009

Tác giả: Việt Long - ĐHQG Hà Nội
Bài đã được xuất bản 30/03/2010 đăng tại Tuanvietnam.net

Trong 20 năm tới, các báo cáo sẽ chưa có tác động trực tiếp đến sự phát triển tình hình trong Biển Đông. Nhưng việc trình báo cáo lên Uỷ ban CLCS và các phản đối có thể đưa các quốc gia yêu sách trong Biển Đông đến mức độ hợp tác mới.

Theo điều 76 khoản 8 của CULB 1982, quá trình xác định ranh giới ngoài thềm lục địa gồm nhiều giai đoạn. Trong giai đoạn đầu quốc gia ven biển hữu quan tiến hành các khảo sát khoa học và thu thập số liệu nhằm đánh giá liệu họ có quyền lập báo cáo phù hợp với điều 76 của CULB hay không.

Báo cáo là quyền của quốc gia ven biển nhưng quyền này bị hạn chế bởi nghĩa vụ không làm ảnh hưởng đến quyền của các bên khác, bao gồm quyền lợi của cộng đồng quốc tế và các quốc gia liên quan.

Lợi ích của cộng đồng quốc tế được CLCS xem xét bảo vệ. Tuy nhiên không dễ để xác định các quyền trên do sự giải thích khác nhau của các bên liên quan đối với các điều khoản của CULB 1982.

Quyết định lập báo cáo hay không chỉ đơn phương thuộc quốc gia ven biển có tính đến các số liệu khảo sát khoa học thu thập và phân tích cũng như thái độ của các quốc gia láng giềng.

Trong giai đoạn hai, CLCS sẽ xem xét báo cáo nhằm cân bằng quyền của quốc gia ven biển với cộng đồng quốc tế. Uỷ ban sẽ kiểm tra các số liệu nhận được trên quan điểm khoa học và kỹ thuật trong khuôn khổ pháp lý của Công ước luật biển 1982.

Các kiến nghị của CLCS sẽ trả lời cho các câu hỏi các số liệu khoa học nào của quốc gia yêu sách có thềm lục địa mở rộng ngoài 200 hải lý sẽ được chấp nhận, công thức nào sẽ được áp dụng đúng với điều 76 CULB.

Trong giai đoạn 3, quốc gia ven biển và CLCS sẽ hợp tác với nhau để chỉnh sửa Báo cáo cho phù hợp với các kiến nghị. "Quá trình tham vấn" này có thể kéo dài vài lần cho đến khi báo cáo của quốc gia ven biển (bản chỉnh sửa hoặc mới) sẽ phù hợp hoàn toàn với các kiến nghị của Uỷ ban CLCS.

Giai đoạn 4 là giai đoạn thủ tục trong đó quốc gia ven biển và CLCS sẽ báo cáo về các số liệu và bản đồ thích ứng với Tổng Thư ký Liên hợp quốc nhằm mục đích đăng ký. Đường ranh giới ngoài thềm lục địa ngoài 200 hải lý đã được chỉnh sửa trên cơ sở các kiến nghị của CLCS vầ đăng ký sẽ được công nhận là đường phân định cuối cùng và có giá trị bắt buộc.

Về lý thuyết, đường phân định cuối cùng như vậy chỉ đạt được trong các khu vực nơi khoảng cách giữa hai quốc gia đối diện lớn hơn 400 hải lý và có sự tồn tại của Vùng đáy biển di sản chung của loài người.


Trong các biển nơi có các yêu sách chồng lấn, đường phân định cuối cùng thuộc thẩm quyền của các quốc gia hữu quan. Uỷ ban không có thẩm quyền đối với các yêu sách chồng lấn. Uỷ ban chỉ có thẩm quyền đưa ra các khuyến nghị trong trường hợp phạm vi khu vực làm báo cáo không ảnh hưởng đến khu vực có yêu sách chồng lấn được xác định rõ ràng.
Thậm chí trong trường hợp không có phản đối từ các quốc gia hữu quan, giải pháp cuối cùng cũng không thể đạt được trong một thời gian ngắn. Từ năm 2004 đến 2008 chỉ có 9 báo cáo được trình cho CLCS đánh giá. Thời gian cho xem xét một báo cáo trung bình là 20 tháng.

Cho đến ngày 30 tháng 10 năm 2009 Uỷ ban đã nhận được 51 báo cáo và 44 thông tin ban đầu. Với tốc độ 2 báo cáo được xem xét trong một năm thì đến năm 2059 CLCS mới xem xét xong toàn bộ 51 báo cáo. Thời hạn này sẽ là 2034 và 2022 với tốc độ xem xét 4 hoặc 8 báo cáo một năm tương ứng.

Biển Đông được biết đến do có sự tranh chấp chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và tầm quan trọng của các tuyến đường giao lưu hàng hải quốc tế. Các nước yêu sách đều là thành viên của CULB 1982 và đều đã thể hiện quan điểm thực thi điều 76 xác định RGNTLĐ ngoài 200 hải lý ở những cấp độ khác nhau: trình báo cáo, thông tin ban đầu hoặc phản đối.

Trong khi Việt Nam và Malaysia có quan điểm tách biệt vấn đề trình báo cáo RGNTLĐ ngoài 200 hải lý với vấn đề tranh chấp chủ quyền trên các đảo thì Trung Quốc và Philippin lại muốn gắn kết hai vấn đề.

Căn cứ theo lời văn trong thông tin ban đầu, Brunei có vẻ chia sẻ quan điểm xác định ranh giới ngoài của thềm lục địa mở rộng ra ngoài 200 hải lý tính từ đường cơ sở của lãnh thổ Brunei mà không tính đến các đảo đang tranh chấp.

Các bên có các quan điểm khác biệt vì sự không rõ ràng của CULB đối với quy chế của các đảo. Điều 121 (3) quy định: "các đảo không thích hợp cho con người đến ở hoặc không có đời sống kinh tế riêng sẽ không có đặc quyền kinh tế hoặc thềm lục địa". Điều khoản không rõ ràng này dẫn tới những cuộc tranh luận nảy lửa giữa các học giải, nhà nghiên cứu. Một số cho rằng các địa vật ở quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa không thể có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa riêng. Số khác lại cho rằng một số những địa vật trong quần đảo - nổi trên mặt nước khi thuỷ triều lên - có thể có được các vùng biển khác hơn là chỉ có lãnh hải

Chưa tác động trực tiếp đến tình hình Biển Đông 20 năm tới

Sẽ dễ dàng cho việc xem xét của CLCS nếu Việt Nam và Malaysia thành công trong việc thuyết phục các nước liên quan để không có phản đối với các báo cáo của mình.  Và họ đã có những bước đi và cố gắng làm như vậy. Nếu không có phản đối và với số lượng lớn các báo cáo trình Uỷ ban CLCS thì báo cáo của Việt Nam và Malaysia cũng chỉ được xem xét sớm là vào năm 2024-2035.

Nói một cách khác, trong 20 năm tới, các báo cáo sẽ chưa có tác động trực tiếp đến sự phát triển tình hình trong Biển Đông.

Tuy nhiên, từ cách nhìn khác, việc trình báo cáo lên Uỷ ban CLCS và các phản đối có thể đưa các quốc gia yêu sách trong Biển Đông đến mức độ hợp tác mới.

Trước hết, các hoạt động này cổ vũ các quốc gia tuân thủ CULB 1982 nhiều hơn là một căn cứ nào khác. Các nước chưa trình báo cáo sẽ đẩy mạnh các hoạt động hoàn thành. Có thể xuất hiện những báo cáo từng phần hoặc các báo cáo chung mới cũng như các phản đối mới. Nhưng qua đó các bên sẽ hiểu nhau hơn, thể hiện rõ hơn lập trường về các vấn đề cụ thể, tạo diễn đàn trao đổi.

Thứ hai, chúng khuyến khích các bên có được những thảo luận nghiêm chỉnh về quy chế của các đảo theo điều 121 (3) của CULB và vấn đề ranh giới ngoài thềm lục địa 200 hải lý. Thứ ba, chúng khuyến khích các bên làm rõ các đường yêu sách của mình phải phù hợp với các tiêu chí pháp lý, khoa học và trung lập, khách quan của CULB. Làm việc cùng nhau sẽ tạo ra sự hợp tác mới trong giải quyết các vấn đề phát sinh.

Để kết luận, CULB 1982 phải là cơ sở chung và cao nhất cho tất cả các hoạt động biển. Các tranh chấp trong Biển Đông không phải là trở ngại cho việc tiến hành các nghĩa vụ khác của các quốc gia ven biển thực thi CULB 1982. Chìa khoá giải quyết tất cả các vấn đề ở Biển Đông là việc xây dựng lòng tin và thiện chí giữa các quốc gia liên quan. Hãy nói với đối tác của bạn, lắng nghe đối tác của bạn và cùng nhau làm việc.
Logged

Ô hay nhỉ! Tài nhỉ!
Triumf
Trung tá
*
Bài viết: 11033



« Trả lời #37 vào lúc: 07 Tháng Tư, 2010, 01:25:42 pm »

Quân đội Trung Quốc: Mối đe dọa đang tăng thêm?

Tác giả: Thu Hiền (dịch từ Foreign Affairs) đăng trên tuanvietnam.net

Tạp chí Chính sách Đối ngoại Foreign Policy vừa có bài viết nhìn lại quân đội Trung Quốc, giải đáp các nghi vấn về lực lượng này.

Là mối đe dọa đang tăng thêm?

Câu trả lời là: Vẫn chưa. Sau hai thập niên đầu tư một lượng tiền khổng lồ lên tới hàng trăm triệu đô cho việc hiện đại hóa lực lượng vũ trang, Trung Quốc đang tăng dần khả năng thách thức Mỹ trong lĩnh vực này, nếu chưa nói là khả năng đó đã vượt qua Mỹ. Nhưng khả năng tổ chức lực lượng không cho chúng ta biết liệu Trung Quốc có sẵn lòng sử dụng nó hay không.

Rõ ràng, Trung Quốc đã đạt được bước tiến đáng kể suốt những năm qua, châm ngòi cho cuộc tranh luận về mối đe dọa Trung Quốc tại Washington. Đơn cử, năm 2007, Bắc Kinh phóng một tên lửa phá hủy vệ tinh liên lạc, một bước tiến đáng ngạc nhiên về khả năng quân sự, vàsau đó giữ im lặng trong suốt 12 ngày trước khi phát ngôn viên Bộ Ngoại giao xác nhận và tuyên bố rằng: Cuộc thử nghiệm không nhằm thẳng hay có ý đe dọa bất cứ quốc gia nào.

Tháng 5 năm 2008, hình ảnh vệ tinh đã cho thấy Trung Quốc đã xây dựng một căn cứ hải quân bí mật lớn tại phía nam đảo Hải Nam. Đây có thể là bước khởi động cho việc đưa lực lượng hải quân vào Thái Bình Dương.
Hồi tháng một, Trung Quốc đã tiến hành vụ thử tên lửa đánh chặn ngay sau khi Mỹ thông báo về việc bán vũ khí cho Đài Loan.

Tiến triển tương tự đã được minh chứng một cách xác thực các báo cáo hàng năm của Lầu Năm Góc về sự mở rộng quân đội Trung Quốc, điều đã không được đề cập đến trong các bài báo như bài 'Chúng ta sẽ chống lại Trung quốc như thế nào?' của Robert Kaplan.

Thậm chí cả Robert Gates, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ đã đưa ra lời cảnh báo vào năm ngoái rằng sự hiện đại hóa quân đội Trung Quốc có thể bước đầu đe dọa các phương tiện của Mỹ trong việc thiết lập quyền lực và giúp các nước đồng minh ở Thái Bình Dương: các căn cứ quân sự, các tài nguyên trời và biển, và các hệ thống hỗ trợ.

Mùa thu năm ngoái, Robert Willard, tân chỉ huy của Bộ tư lệnh Thái Bình Dương Mỹ lưu ý: trong thập kỉ qua và xa hơn nữa, Trung Quốc đã vượt qua hầu hết các thông tin dự báo tình báo về tiềm năng quân sự của họ, ám chỉ rằng, những cảnh báo gây hoang mang hoàn toàn có thể xảy ra.

Cùng lúc này, các nhà lãnh đạo Trung Quốc bác bỏ mạnh mẽ bất cứ một ý kiến nào cho rằng Trung Quốc có ý đồ làm bất kì điều gì khác ngoài điều mà nước này khẳng định: "phát triển hòa bình" và Trung Quốc đã không tham gia bất kì cuộc xung đột lớn nào kể từ cuộc chiến với Việt Nam năm 1979.

Nhưng họ cũng không giải thích tại sao Trung Quốc lại đang đầu tư quá nhiều như vậy cho cuộc chạy đua vũ trang mới này.

Quan điểm chính thức của Bắc Kinh cho rằng Trung Quốc chỉ muốn bảo vệ mình khỏi sự công kích của nước ngoài và theo kịp với các nước phương Tây, điều mà Trung Quốc đã không thể làm được ở thế kỉ 19.

Khi Đặng Tiểu Bình bắt đầu công cuộc cải cách, mở cửa năm 1979, ông đã quyết định việc phát triển nền kinh tế sẽ dành được vị thế cao hơn so với đầu tư vào quân sự. Nhưng 12 năm sau, cuộc chiến tranh vùng vịnh lần đầu tiên đã có tác dụng như một lời thức tỉnh Bắc Kinh, làm tăng thêm mối quan tâm về việc một quân đội kém cỏi có thể bị các lực lượng vũ trang được trang bị tốt phương Tây tiêu diệt nhanh như thế nào.

Năm 1991, Lầu năm góc đã đột ngột cho phép dùng một vài vũ khí tối tân nhất - bao gồm công nghệ tàng hình và đạn chính xác để chống lại quân đội Iraq - lực lượng quân đội mạnh thứ 4 thế giới vào thời điểm này. Việc Mỹ và các lực lượng đồng minh hoàn thành phần cứng của Hiệp ước Warsaw về chiến tranh Iraq một cách nhanh chóng, gây hoang mang cho Trung Quốc và khiến nước này lo sợ.

Điều này ngay lập tức làm sáng tỏ rằng học thuyết của Mao Trạch Đông "tấn công bằng làn sóng con người" - có nhiều lính hơn lượng đạn của kẻ thù - sẽ không đáp ứng các yêu cầu quốc phòng của Trung Quốc trong thế kỷ 21.

Ngay từ đầu thập niên 90, các nhà hoạch định chiến lược quốc phòng Trung Quốc đã bắt đầu nghiên cứu sâu lí thuyết của Mao Trạch Đông và tìm cách để có được các công nghệ tiên tiến của nước ngoài cho Quân đội Giải phóng nhân dân (PLA).

Trung Quốc cũng tiến hành một cuộc điều chỉnh chiến lược lớn với việc cắt giảm quy mô lực lượng quân đội để tập trung vào các công nghệ mới cho phép nước này bắt kịp với Hoa Kỳ và đối thủ khác.

Phần còn lại của thế giới có nên lo lắng?

Đài Loan, được cho là một phần lãnh thổ Trung Quốc, nằm trong tầm tên lửa đạn đạo và các lực lượng thông thường Trung Quốc chắc chắn cảm thấy bị đe dọa. Ngay cả khi quan hệ giữa hai bờ eo biển đã ấm lên trong những năm gần đây, Bắc Kinh đã đặt tên lửa tầm trung đối mặt với Đài Loan hơn bao giờ hết. Khi được hỏi tại sao, Bắc Kinh đã lảng tránh không trả lời.

Ấn Độ, một cường quốc tiềm năng khác của châu Á cũng ngày càng gần trong tầm ngắm của Trung Quốc. Tháng 9 vừa qua, các nhà phân tích Ấn Độ và các phương tiện truyền thông lớn tiếng quan ngại về việc công bố bài viết của nhà phân tích Trung Quốc, ông Li Qiulin tại một cơ quan phát ngôn của Đảng Cộng sản, trong đó đã thúc giục PLA tăng cường khả năng triển khai quân tại Nam Á.

Tuy nhiên còn quá sớm để người Mỹ hoảng sợ. Nhiều chuyên gia - những người đã xem xét kỹ vấn đề này, chia sẻ quan điểm rằng Trung Quốc hiện nay đơn giản là không có đủ khả năng quân sự để thách thức Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương, mặc dù chương trình hiện đại hóa đã tăng khả năng giao chiến với Hoa Kỳ ở gần bờ biển Trung Quốc. Và dù phải đối mặt với các rắc rối tại Iraq và Afghanistan, quân đội Mỹ vẫn là lực lượng chiến đấu mạnh nhất hành tinh.

Là lực lượng lớn nhất trên thế giới?

Câu trả lời là đúng vậy, nhưng nó phụ thuộc vào cách bạn tính như thế nào.

Quân giải phóng Trung Quốc có danh sách trên bảng lương dài nhất với 2,2 triệu binh sĩ. Mặc dù giữa 1985 và 2005, con số này đã giảm xuống 1,7 triệu binh sĩ và vẫn đang tiếp tục cắt giảm thì nó vẫn còn vượt xa so với con số 1,4 triệu binh sĩ tại ngũ trong quân đội Hoa Kỳ.

Tuy nhiên, Hoa Kỳ còn có hơn 700.000 công nhân quốc phòng và một con số đáng kể các nhà cung cấp lương thực. Tại Iraq và Afghanistan cũng có một lượng tương đương các nhà thầu và những người mặc quân phục (khoảng 250.000 nhà thầu và 180.000 binh sĩ).

Tại Trung Quốc, lực lượng quân giải phóng mặc đồng phục đảm nhiệm nhiều trách nhiệm bao gồm cả công việc mà các nhà thầu thực hiện cho quân đội Mỹ.

Người ta có thể cho rằng, số liệu quan trọng hơn để so sánh là chi tiêu quốc phòng. Quân giải phóng tụt hậu khá xa so với Lầu Năm Góc trong lĩnh vực này.

Trong năm 2009, quân đội Hoa Kỳ đã dành 738 tỷ đô cho quốc phòng và an ninh quốc gia. Ngân sách ước tính dành cho quốc phòng của Trung Quốc hàng năm thay đổi không đáng kể từ 69,5 tỷ đô đới 150 tỷ.

Rõ ràng rằng chi tiêu quốc phòng của Mỹ lớn hơn gấp nhiều lần so với Trung Quốc - đất nước chi tiêu quốc phòng nhiền thứ hai thế giới.

Và việc triển khai ở tầm toàn cầu của quân giải phóng thì còn hạn chế hơn nhiều. Tính đến cuối tháng sáu, Mỹ đã có 285.773 người đương nhiệm đóng quân trên toàn thế giới. Còn Trung Quốc hoạt động không có căn cứ ở nước ngoài và chỉ có một số ít các quân giải phóng đóng tại các đại sứ quán, các hiệp hội, và tham gia các hoạt động gìn giữ hòa bình Liên Hiệp Quốc.

Logged

Ô hay nhỉ! Tài nhỉ!
Triumf
Trung tá
*
Bài viết: 11033



« Trả lời #38 vào lúc: 14 Tháng Tư, 2010, 12:16:29 pm »

Một số thông tin mới:

Tạp chí Nga: Moscow Defense Brief  No.1, 2010

Russian Arms Trade in 2009:
Figures, Trends and Projections

Dmitry Vasiliev
# 1, 2010 Moscow Defense Brief

Russian arms exports edged upwards by USD 150m in 2009 to USD 8.5bn (see Figure 1). Adjusted for the 0.3 per cent deflation1 of the US dollar, the real-terms growth was a modest 2.1 per cent, meaning that sales have essentially been flat over the past two years. That serves as further indication that the Russian defense industry has reached the limits of its export revenue generating capacity2. Further growth will require a serious upgrade of production facilities, as well as investment in skills and training. But for all that, Russian defense contractors can expect a sharp rise in their rouble earnings thanks to favorable exchange rate conditions (the rouble fell from 24.89 to 31.76 to the US dollar in 2009)3.

Surprise rise in defense contracts portfolio
Official figures show that Russia’s portfolio of defense contracts had reached USD 40bn by the end of 2009 – an increase of USD 7bn on the previous year. Rosoboroneksport (ROE), Russia’s sole authorized exporter of finished military equipment, secured an unprecedented USD 15bn of new sales last year. The previous record - USD 14bn - was set in 2006, when the Algerian and the first Venezuelan deals were announced (see Figure 1b)4. Taking inflation into account, 2009 has been as successful for the Russian defense contractors as 2006, despite the world economic crisis. Indeed, if export contracts signed by independent suppliers of spare parts and components (worth an estimated USD 500m) are added to the final tally, 2009 becomes the best year ever for the industry.

It appears that demand for Russian weapons has been immune to the world economic crisis. Many observers were taken by surprise by the much higher than expected official arms exports figures - owing perhaps to the fact that many deals (such as the Venezuelan and Vietnamese contracts) had not been reported in the media. It is quite possible that ROE could have raked in even more orders (especially considering the ongoing talks with Saudi Arabia and Libya). But it appears that the capacity of the Russian defense contractors, hidebound as they are by all the aforementioned problems, simply cannot keep up with demand.

Key developments in 2009
1. Vietnam became Russia’s largest weapons customer in terms of new contracts signed in 2009. It placed a large order (estimated at USD 4bn) for six Project 636M (Kilo class) conventional submarines and the requisite onshore infrastructure to be built by Russian companies. It also signed a contract for eight Su-30MK2 Flanker fighter jets in early 2009 and later, possible another twelve during PM Nguyen Tan Dung visiting Moscow in December 2009, becoming one of Russia’s top six defense customers along with India, China, Algeria, Venezuela and Syria.

2. Venezuela, which received a USD 2.2bn loan from Moscow in 2009 to be spent on Russian weapons, probably, was the second-largest customer. But it is not clear what exactly the Venezuelans have bought. The only known contract is for the delivery of 92 upgraded T-72M1M main battle tanks. The rest is pure speculation, though on the whole it is safe to assume that the new Venezuelan deal includes a large number of air defense missile systems and artillery equipment (S-300V and Pechora-2M SAM systems, Smerch MLR systems, Msta-S and Gvozdika self-propelled howitzers, etc.). Unofficial reports claim that the deal is actually much bigger than the size of the Russian loan would suggest, estimating it at up to USD 4bn. 3. According to open sources, not a single large contract was signed with India in 2009. The only new sale reported in the media is the purchase of five Ka-31 Helix E airborne early warning helicopters worth USD 100m.

4. For the first time in several years, fighter jets made by RSK MiG have become a significant export item. Deliveries have begun in earnest on an earlier contract for MiG-29K fighters to be based on India’s Vikramaditya aircraft carrier. Russia has also signed a EUR 400m contract with Burma for 20 MiG-29 Fulcrum fighter jets.

5. The Russian Defense Ministry has made clear its intention to begin buying arms and military equipment abroad - and not just a few samples to gain access to foreign technology, but as part of the Russian army’s routine weapons procurement program. The announcement of the plan to buy a Mistral-class amphibious assault ship from France was the first signal of this new policy.




Logged

Ô hay nhỉ! Tài nhỉ!
Triumf
Trung tá
*
Bài viết: 11033



« Trả lời #39 vào lúc: 14 Tháng Tư, 2010, 12:17:13 pm »

Tạp chí Nga: National Defense No.3/2009

Nhữ­ng cơ hội xuất khẩu cho ngành đóng tàu quân sự Nga




P/S: [hl]Việt Nam chắc chắn sẽ đóng ít nhất 4 chiếc Gepard 3.9[/hl]
Logged

Ô hay nhỉ! Tài nhỉ!
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM