Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 10:52:51 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Kissinger-Những biên bản hội đàm tuyệt mật chưa công bố  (Đọc 173282 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #20 vào lúc: 08 Tháng Mười Hai, 2009, 05:09:25 pm »

Kít-sinh-gơ cảm thấy tự hào về "một thế giới hiện hành" của hậu kỳ năm 1973 hoà bình và ổn định. Không chỉ quan hệ Trung-Mỹ trong trạng thái chững lại, ngay cả quan hệ hoà hoãn giữa Mỹ và Liên Xô được Ních-xơn và Kít-sinh-gơ dành nhiều tâm huyết đều có hướng chậm lại.

Quan hệ Trung-Mỹ chững lại là do Bắc Kinh hoài nghi về Hiệp định Mỹ-Xô và Rốc-cơ-phe-lơ đã không chịu cắt đứt quan hệ chính trị với Đài Loan, mà đó lại là điều kiện để đi đến một hiệp nghị với Bắc Kinh. Còn trở ngại cho quan hệ Mỹ-Xô hoà hoãn, lại là đàm phán về SALT II đi vào bế tắc và Liên Xô đang trợ giúp MPLA (Phong trào nhân dân giải phóng Ăng-gô-la).

Bản thân các biên bản đăng trong cuốn sách này không giải thích được nguyên nhân làm cho quan hệ Trung-Mỹ và Mỹ-Xô xấu đi. Những công văn quan trọng làm rõ sự phát triển quan hệ Trung-Mỹ và Mỹ-Xô thời kỳ giữa những năm 70 hiện còn là cơ mật, không thể tiếp cận. Nhưng tài liệu đã có cho thấy, những điều phiền toái gây ra đối với Bắc Kinh và Mát-xcơ-va bắt nguồn từ sai lầm của Ních-xơn và Kít-sinh-gơ về chính sách, trong đó một số sai lầm đã dẫn tới Ních-xơn phải ra đi, làm cho vai trò của Kít-sinh-gơ giảm sút. Những sai lầm đó bao gồm: sự khát khao về phát hiện bí mật, mở rộng quyền hạn của Tổng thống, coi thường các cơ quan, các ngành và Quốc hội, và họ đã kiên trì quan điểm kiểm soát chính trị trong quan hệ quốc tế.

Mở rộng và sử dụng một cách bí mật quyền lực Tổng thống, Ních-xơn và Kít-sinh-gơ gây ra một số. sự cố bất ngờ: Sáu tháng cuối năm 1973, Ních-xơn một mặt ngậm đắng nuốt cay về vụ Oa-tơ-ghết, một mặt tiếp tục tham gia tranh cử Tổng thống. Ních-xơn không thể tiếp tục bước đi hoà hoãn Mỹ-Xô và sau khi Ních-xơn từ chức, cam kết về bình thường hóa quan hệ Trung-Mỹ tan thành mây khói.

Chính sự "năng động" của Kít-sinh-gơ đã ảnh hưởng tới sự đeo đuổi về quan hệ hòa dịu của ông ta với Liên Xô. Và khi ông ta có ý đồ muốn đạt được thỏa thuận trong đàm phán SALT II năm 1975, 1976, thì các quan chức Lầu Năm Góc vốn không tin ở Kít-sinh-gơ, đã thành công trong việc đẩy ông ta ra ngoài rìa.

Ních-xơn và Kít-sinh-gơ đều muốn giành được "sự tín nhiệm" nhất định trong Quốc hội và công chúng. Nhưng cùng với dư luận về chiến tranh lạnh, sự hoài nghi về chính sách ngoại giao và vụ Oa-tơ-ghết, sự  phục tùng và sự tin tưởng trở thành vấn đề, không chỉ đối với những người theo chủ nghĩa chống chiến tranh, mà cả đối với các nghị sĩ trong cuộc chiến tranh lạnh tại Quốc hội, mà họ là những người có ảnh hưởng, có tham vọng. Vì vậy: “bản thiết kế vĩ mô" về hoà hoãn bị thất bại một phần do vấn đề dành ưu đãi cho kinh tế Liên Xô, vấn đề quy chế tối huệ quốc và vay vốn ngân hàng xuất khẩu không được Quốc hội ủng hộ.

Đối với Ních-xơn và Kít-sinh-gơ, những vấn đề trên lại là điều kiện tất yếu để thúc đẩy sự hợp tác với Liên Xô, đặc biệt là sự chống đối hoà hoãn về kinh tế từ phía Hăng-ri Giắc-xơn khiến Kít-sinh-gơ phải vất vả đối phó. Sự nghiên cứu mưu lược của các chính khách thế kỷ 19 cũng không giúp cho ông ta bài học xử lý mối quan hệ giữa thế giới hiện thực và cơ quan lập pháp. Tán đồng sự nghi ngại của Ních-xơn đối với Ban lãnh đạo Liên Xô, Kít-sinh-gơ đã làm yếu đi khả năng cấp vốn cho Mát-xcơ-va: bởi không ai muốn Liên Xô mạnh về kinh tế

Sự phủ định thực chất về lợi ích kinh tế không phải là nguyên nhân duy nhất gây cản trở cho hòa dịu. Tình hình Angôla mà Kít-sinh-gơ khăng khăng cho rằng đó là sự thách thức của Liên Xô đối với độ tin cậy của Mỹ, cũng khiến cho quan hệ Mỹ-Xô xấu đi. Ngay cả khi không có cuộc xung đột ở miền Nam châu Phi, thì chính sách của Kít-sinh-gơ cũng khó được Quốc hội chấp nhận.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #21 vào lúc: 08 Tháng Mười Hai, 2009, 05:10:00 pm »

Tuy rằng những năm 70, trong cuộc trưng cầu dân ý, ông ta được tỷ lệ người ủng hộ rất cao. Nhưng tỷ lệ ấy cũng cho thấy công chúng tin rằng Liên Xô đang tăng cường thực lực. Rõ ràng, chính sách ngoại giao của Kít-sinh-gơ đã không làm yên lòng công chúng, chứ chưa nói đến sự hòa hoãn là con đường tối ưu để kiềm chế sức mạnh của Liên Xô.

Sự coi trọng tài năng của công chúng, khiến Kít-sinh-gơ đã quên mất nguyên tắc của mình, đó là tính thực tiễn của chính sách có được bởi khả năng ủng hộ ở trong nước. Mãi cho đến năm 1975, ông ta mới ưu tiên xem xét vấn đề giáo dục cộng đồng, hay nói một cách khác là phát triển đội quân dự bị, nhất là trong Đảng Bảo thủ.

Hòa hoãn, đó là ý tưởng nhằm kiểm soát cuộc chạy đua giữa hai đối thủ, điều này không phải không thực hiện được, mà là người Mỹ không có kinh nghiệm điều hoà mối quan hệ tế nhị dối với thế lực chống đối hoà hoãn bởi thế lực này coi Liên Xô là kẻ thù, chứ không phải là đối thủ chạy đua. Do cuộc khủng hoảng ở Ăng-gô-la mất đi, Kít-sinh-gơ đã dễ dàng cường điệu quan điểm về Liên Xô là đối thủ cạnh tranh cần kiềm chế .

Tuy rằng đi vào thực hiện còn nhiều vấn đề, nhùng chính sách hoà hoãn Mỹ-Xô đã tạo ra một tiền lệ quan trọng, điều mà những người quyết định chính sách không thể bỏ qua trong tương lai. Ri-gân, người từng phê phán chính sách hòa hoãn của Kít-sinh-gơ trong những năm 70 đã phát hiện ra rằng, từ năm 1981 đến 1983, khi quan hệ Mỹ-Xô căng thẳng đến mức làm mọi người lo lắng, thì chính ông ta đã nối lại được cuộc nói chuyện với Mát-xcơ-va và phát triển "sự hợp tác mang tính xây dựng".

Tất nhiên, Ri-gân may mắn hơn, bởi người lãnh đạo Liên Xô mà Ri-gân đối thoại là Goóc-ba-chốp người biết cách giải quyết công việc chứ không phải Brê-giơ-nhép. Nhưng trước khi Goóc-ba-chốp lên cầm quyền, Ri-gân đã buộc phải kết luận rằng "thực hiện chính sách đối đầu với Liên Xô là không phù hợp với an ninh nước Mỹ". Và như Ri-gân từng nói "cho dù chúng ta không thích chế độ đó nhưng sống trong thời đại vũ khí hạt nhân buộc chúng ta phải tiến hành đối thoại".

Cho dù nói thế nào thì, Ních-xơn và Kít-sinh-gơ cũng gặt hái được nhiều thành công trong đối thoại với Trung Quốc và cuộc đàm phán hoà hoãn Mỹ-Xô. Kít-sinh-gơ, G.Pho đã không thực hiện cam kết của người tiền nhiệm trong năm 1976 là bình thường hóa quan hệ Trung-Mỹ đã khiến Bắc Kinh tức giận. Nhưng nguyên nhân chính là do quan hệ Trung-Mỹ năm 1974-1975 đi vào bế tắc, Kít-sinh-gơ hy vọng xây dựng được liên minh chiến lược với Trung Quốc, và tin tưởng ở Chính phủ có khả năng kiềm chế cả Trung Quốc lẫn Liên Xô. Ông ta đã nhiều lần nhắc nhở Trung Quốc cần đề phòng Liên Xô.

Nhưng sự lo ngại quá đáng của ông ta khiến ban lãnh đạo Trung Quốc cho rằng ông ta có ý kiểm soát Trung Quốc. Trung Quốc không muốn mạo hiểm để xây dựng quan hệ với Mỹ. Họ đã tỏ ra lạnh nhạt với đề nghị của Kít-sinh-gơ. Trong khi đó, Phó Thủ tướng Trung Quốc Đặng Tiểu Bình rất giỏi đối phó với sự đe doạ của Liên Xô và phê phán chính sách hòa hoãn của Mỹ, khiến cho Kít-sinh-gơ cụt hứng.

Tuy rằng, quan hệ Bắc Kinh-Oa-sinh-tơn phát triển không suôn sẻ, nhưng sự nỗ lực của Kít-sinh-gơ là khá quan trọng. Xây dựng với Bắc Kinh muốn quan hệ về an ninh, đặc biệt mở rộng hợp tác tình báo, đề nghị hợp tác về cảnh báo chiến lược, nới rộng hạn chế xuất khẩu kỹ thuật nhạy cảm, Kít-sinh-gơ muốn thực hiện ý đồ tăng cường quan hệ Trung-Mỹ để chống lại Mát-xcơ-va.

Chính sách nghiêng về quan hệ an ninh thân mật với Mỹ, dường như đã đẩy Bắc Kinh đến chỗ không chịu hợp tác với hệ thống an ninh phương Tây, nhưng điều này cũng khiến Kít-sinh-gơ lâm vào cảnh khốn đốn. Bởi sau sự kiện Thiên An Môn năm 1989, vấn đề nhân quyền của Trung Quốc lại trở thành một bất đồng với Mỹ.

Khi nắm trong tay cơ quan quyết định chính sách, Kít-sinh-gơ không cho rằng hoạt động chính trị nội bộ của Bắc Kinh liên quan đến chính sách hợp tác. Bởi nó hầu như không liên quan đến tính hợp pháp về quốc tế của một Chính phủ. Còn người quyết định chính sách ở Mỹ lại có cách lý giải rộng hơn về tính hợp pháp. Họ nghiêng về lôgích tư tưởng của Kít-sinh-gơ, đặt nhân quyền vào sau vị trí toàn bộ chiến lược tổng thể và quan hệ kinh tế.

Tuy có khiếm khuyết và sai lầm, nhưng vai trò trung tâm của Kít-sinh-gơ thúc đẩy bình thường hóa quan hệ Trung-Mỹ và giảm bớt sự đối đầu Mỹ-Xô là đáng khen. Nội dung hội đàm này được công khai, đã miêu tả người quyết định chính sách nước Mỹ có ý đồ vượt lên sự đối đầu trước đây, đó là một khâu then chốt trong lịch sử chiến tranh lạnh.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #22 vào lúc: 09 Tháng Mười Hai, 2009, 09:10:28 pm »

Chương 1
"THỬ XEM SỰ KIỆN HƯỚNG TỚI CÓ LỢI CHO CHÚNG TA"
OA-SINH-TƠN-MÁT-XCƠ-VA-BẮC KINH (1971-1972)

Lời dẫn

Là Cố vấn số 1 của Tổng thống và là người xây dựng chính sách an ninh Quốc gia, Kít-sinh-gơ đã phát huy vai trò trung tâm của mình trong quá trình phát triển mối quan hệ mới với các đối thủ cũ. Tuy nhiên, trong diễn văn nhậm chức năm 1969, Ních-xơn nói: "Thời đại đàm phán mới đang mở ra một cách chậm chạp và gay go".

Trong quá trình đàm phán kéo dài liên tục với Bắc Việt Nam, do Ních-xơn và Kít-sinh-gơ đòi "nền hoà bình được tôn trọng” nhằm giữ uy tín cho Mỹ, nên sự biện hộ cho cuộc đổ máu vẫn tiếp tục cho đến tháng 1/1973, Mỹ chấm dứt dính líu quân sự vào Việt Nam, mới coi như được giải quyết.

Tuy cuộc chiến tranh Đông Dương khiến những nỗ lực của Mỹ nhằm hoà hoãn mối quan hệ căng thẳng với Trung Quốc và Liên Xô trở nên phức tạp, nhưng đàm phán vẫn được tiến hành, tuy rằng không chấm dứt được hiện tượng đe doạ bằng vũ lực. Ních-xơn không những mở ra cục diện mới trong quan hệ với Trung Quốc (một kẻ thù ngầm trong thời kỳ chiến tranh lạnh) và dưới sự lãnh đạo của ông ta, quan hệ Mỹ-Xô có thay đổi lớn.

Lập nên quan hệ ngoại giao tam giác cấp Chính phủ, là một thành công cực lớn (đầu năm 1972, Ních-xơn thăm Trung Quốc và tháng năm tiến hành gặp gỡ cấp cao tại Mát-xcơ-va) quả thực đây là một lợi thế trong năm bầu cử. Nhưng nền hoà bình lâu dài mà Ních-xơn tuyên bố lại xây dựng trên cơ sở không tin nhau trong chiến tranh lạnh.

Cuối cùng, nghi ngờ của Liên Xô, khiến quan hệ Ních-xơn, Kít-sinh-gơ với Bắc Kinh lại ngày càng khăng khít hơn và đem lại sự cân bằng làm dịu đi tình hình quốc tế vốn căng thẳng, có nghĩa là kiềm chế sức mạnh Liên Xô, hỗ trợ sức mạnh Hoa Kỳ.

Những biên bản văn kiện liên quan tới việc Nhà Trắng chủ động tiếp cận Trung Quốc, tìm cách hoà hoãn với Liên Xô có rất ít. Tuy rằng một số cơ quan liên bang đã cho công bố văn kiện quan trọng về "cuộc đối thoại hạn chế vũ khi chiến lược", nhưng phần văn kiện của Nhà Trắng về Trung Quốc và Liên Xô, phần lớn chưa công bố.

Tuy văn kiện của Uyn-tơn Lốt, Người hoạch định chính sách rất có giá trị, nhưng ngay cả văn kiện đó cũng không có biên bản hội đàm bí mật của Kít-sinh-gơ tại Bắc Kinh tháng 7/1971 và biên bản về chuyến viếng thăm của ông ta năm 1971 và 1972. Nhưng trong văn kiện của Lốt có một số tài liệu cực kỳ quan trọng (biên bản Hội đàm Mao Trạch Đông và Ních-xơn tháng 2/1972 và biên bản về cuộc hội đàm với lãnh đạo nước Nga).

Chính những nguyên nhân thúc đẩy Ních-xơn và Kít-sinh-gơ thực hiện nền ngoại giao bí mật. Qua gần hai năm tiếp xúc cuối cùng đã dẫn tới chuyến viếng thăm Bắc Kinh bí mật của Kít-sinh-gơ tháng 7-1971. Nhưng nhân tố then chốt biến các hành động trở thành hiệu lực còn phụ thuộc vào hàng loạt động thái từ phía Oa-sinh-tơn, những động thái đó được đưa ra vào cuối kỳ Hội nghị thường lệ do đại diện Trung-Mỹ tiến hành tại Vác-sa-va.

Tháng 2/1970, Đại sứ Mỹ Oa-tơ Stô-sen bắn tin với Trung Quốc: Sau khi kết thúc chiến tranh Việt Nam, "chúng tôi có thể giảm bớt cơ sở quân sự hiện có ở Đài Loan", Stô-sen nói, đó là ý đồ của Mỹ. Bắc Kinh đã bày tỏ thái độ rõ ràng, họ muốn nhìn thấy quân đội Mỹ có mặt tại Đài Loan có đôi chút thay đổi. Đó là vấn đề có tính quyết định nhất trong quan hệ Trung-Mỹ.

Xuất phát từ chỗ cả Oa-sinh-tơn và Bắc Kinh đều quan tâm đến vấn đề Liên Xô. Và Mao Trạch Đông muốn chứng minh vai trò của Trung Quốc trong cộng đồng quốc tế qua chuyến thăm của Tổng thống Mỹ tới Bắc Kinh, cùng một số hành động khéo léo khác khiến cả hai bên đều đạt được mục tiêu của mình. "Ngoại giao bóng bàn" của Bắc Kinh (mời đội bóng bàn Mỹ thăm Trung Quốc vào mùa xuân 1971) và thực hiện vòng hội đàm bí mật mới với sự trợ giúp của Tổng thống Pa-kit-xtan Yahya Khan đã đóng vai trò cực kỳ quan trọng.
« Sửa lần cuối: 09 Tháng Mười Hai, 2009, 09:15:45 pm gửi bởi SaoVang » Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #23 vào lúc: 09 Tháng Mười Hai, 2009, 09:12:25 pm »

Ngày 21/4, sau khi Ních-xơn công khai bày tỏ hứng thú về một chuyến thăm Trung Quốc, Chu Ân Lai liền bắn tin về khả năng một chuyến viếng thăm của Tổng thống. Trong thư trả lời Chu Ân Lai ngày 10/5, Ních-xơn cho biết sẵn sàng đón nhận một đề nghị như vậy, và đề cử Kít-sinh-gơ sẽ có cuộc gặp bí mật với Chu Ân Lai, nhằm trao đổi quan điểm và khả năng về chuyến thăm của Tổng thống.

Trong thư ngày 29-5 Chu Ân Lai đồng ý có chuyến thăm bí mật của Kít-sinh-gơ, và nêu thêm "Chủ tịch Mao Trạch Đông hoan nghênh Tổng thống Ních-xơn đến thăm". Ngày 4/6, Ních-xơn trả lời "Mong có cuộc gặp riêng với nhà lãnh đạo Trung Quốc", coi như mở màn cho quá trình thương lượng.

Thượng tuần tháng 7, Kít-sinh-gơ tiến hành chuyến đi bí mật sang Trung Quốc. Ngày 15/7, Ních-xơn và Chu Ân Lai cùng tuyên bố, Trung Quốc và Mỹ sẽ tiến hành hội đàm cấp cao vào 6 tháng đầu năm 1972. Ních-xơn đưa ra tuyên bố trên trong bối cảnh: ông ta và Kít-sinh-gơ đang thực hiện chiến lược cân bằng lực lượng, nhằm tăng cường tác dụng đòn bẩy của Mỹ trong nền chính trị thế giới; đồng thời tránh khỏi sự hiểu lầm nhau với Trung Quốc.

Kít-sinh-gơ phán đoán trong khi Bắc Kinh và Oa-sinh-tơn tiến hành cuộc đối thoại chính trị, Liên Xô buộc phải cố gắng để giữ vững và tăng cường quan hệ với Mỹ, nhằm ngăn cản quan hệ Trung-Mỹ quá ư thân mật. Đồng thời, Kít-sinh-gơ cũng đang tìm kiếm tác dụng đòn bẩy đối với người lãnh đạo Trung Quốc. Theo quan điểm của ông ta, người lãnh đạo Trung Quốc là kẻ theo chủ nghĩa không tưởng cứng rắn và tuy có quan điểm hoàn toàn khác nhau trong vấn đề tương lai của thế giới, nhưng mục đích chính của Kít-sinh-gơ là nhồi vào ban lãnh đạo Trung Quốc tư tưởng thù địch chống Liên Xô.

Trong cuộc chiến tranh Ấn Độ Pa-kit-xtan, Kít-sinh-gơ cho rằng Ấn Độ là tay sai của Liên Xô bị đẩy đi đánh nhau với Pa-kit-xtan, đồng minh của Trung Quốc, nếu cần thiết Mỹ có thể ủng hộ Trung Quốc về quân sự, nhưng Kít-sinh-gơ cũng lo ngại, quan chức cấp dưới của Mao Trạch Đông sẽ nghi ngờ chính sách mở cửa với Mỹ. Cho nên, Mỹ phải tỏ ra có một mặt trận vững vàng để lấy được lòng tin, đó là điều rất cần thiết, và như vậy tránh được Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai thay đổi chủ trương.

Nhớ lại trong hồi ức, Kít-sinh-gơ luôn thận trọng để xử lý mọi vấp váp đối với Bắc Kinh. Khi dành cho Trung Quốc sự ưu đãi đặc biệt, ông ta buộc phải thận trọng xử lý mối quan hệ tam giác, để Mát-xcơ-va và Bắc Kinh đều hiểu rằng, hợp tác với Mỹ là có lợi. Tuy vậy, bất luận Trung Quốc nghĩ thế nào, Kít-sinh-gơ vẫn dành cho Bắc Kinh một chút ưu đãi đặc biệt, cho rằng giữa Trung Quốc và Mỹ có quan hệ đặc biệt. Ví dụ: ông ta quyết định cung cấp cho Bắc Kinh một số thông tin khoa học công nghệ cao, trong đó có kỹ thuật vệ tinh. Về điểm này, Kít-sinh-gơ đối xử với Bắc Kinh như với quốc gia đồng minh của Mỹ trong NATO .

Chuyến thăm của Ních-xơn tới Trung Quốc, đặc biệt là cuộc hội đàm cấp cao với Mao Trạch Đông ngày 21-2-1972, không những là thành quả trong quan hệ quốc tế, mà còn là thắng lợi về chính trị. Khi Ních-xơn khá vất vả chuyển đề tài câu chuyện sang vấn đề chính trị, thì Mao Trạch Đông đề nghị ông ta hãy nói gọn lại.

Tuy vậy, sự nhượng bộ của Kít-sinh-gơ trong vấn đề Đài Loan, và nhận thức chung của họ đạt được trong vấn đề lực lượng của đôi bên có sức mạnh đe dọa đối với đối thủ cạnh tranh của mỗi bên đã tạo cơ sở cho việc ký kết bản thông cáo Thượng Hải ngày 28-2-1972 (tức trước ngày Ních-xơn tuyên bố ủng hộ chiến tranh giải phóng dân tộc và cách mạng xã hội chủ nghĩa, phía Mỹ tuyên bố ủng hộ hoà bình, hai bên bày tỏ chống lại chủ nghĩa bá quyền tại châu Á-Thái Bình Dương)

Thông cáo Thượng Hải cho biết, trong hội đàm, ban đầu đã đạt được sự nhất trí về vấn đề Đài Loan, Oa-sinh-tơn không có sự nhân nhượng đặc biệt nào trong vấn đề "có hay không”, hoặc khi nào chấm dứt quan hệ ngoại giao với Đài Loan. Nhưng ông ta thừa nhận lập trường của Bắc Kinh, đó là "chỉ có một Trung Quốc, Đài Loan là một bộ phận của Trung Quốc".

Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #24 vào lúc: 09 Tháng Mười Hai, 2009, 09:16:10 pm »

Ngoài ra, Mỹ nhắc lại cam kết từ năm 1970: Sau khi tình hình căng thẳng ở khu vực này giảm đi, Oa-sinh-tơn sẽ giảm dần số quân và cơ sở quân sự đóng tại khu vực Đài Loan. Mỹ cũng đề cập đến lợi ích của họ trong giải quyết hoà bình vấn đề Đài Loan, nhưng bản thông cáo Thượng Hải không nhắc tới Ních-xơn đã nhân nhượng trong vấn đề Đài Loan, để củng cố quan hệ Trung-Mỹ. Điều quan trọng nhất là Ních-xơn đã cam kết sẽ có hành động tích cực để đến năm 1976 quan hệ Trung-Mỹ bình thường hóa hoàn toàn.

Ngoài việc cam kết không ủng hộ bất kỳ phong trào đòi độc lập nào ở Đài Loan, cũng như hành động quân sự của Đài Loan chống Trung Quốc, Ních-xơn còn nhận lời thuyết phục Nhật Bản, hoặc các quốc gia khác, hoặc một nước thứ ba quan hệ với Đài Loan sau khi quân Mỹ rút đi. Điểm cuối đã nói lên mối quan hệ của Bắc Kinh đối với lực lượng Nhật Bản trong khu vực. Những cam kết này của Ních-xơn đều là bí mật, nhằm tránh sự chống đối của Đài Loan và những kẻ ủng hộ Đài Loan ở Mỹ.

Sự lý giải trong vấn đề Đài Loan dựa trên cơ sở tình hình căng thẳng trong khu vực được hoà dịu. Ẩn ý này có nghĩa, Trung Quốc cần khích lệ Bắc Việt Nam trở lại bàn đàm phán để giúp giải quyết tình hình căng thẳng. Mấy tháng sau khi Ních-xơn thăm Trung Quốc, Kít-sinh-gơ tích cực tìm hiểu thái độ của phía Trung Quốc, thông qua quan chức ngoại giao Trung Quốc tại hội đàm Pa-ri, và yêu cầu Trung Quốc can thiệp với phía Việt Nam. Trung Quốc chỉ trích cuộc không kích của Mỹ. Nhưng Kít-sinh-gơ phát hiện ra rằng, sự chỉ trích là "ôn hoà".

Cuộc đàm phán hoà bình thất bại trong khi Kít-sinh-gơ đọc bài diễn văn nổi tiếng "Nền hoà bình bị thao túng". Lúc này, Trung Quốc chỉ trích mạnh mẽ Kít-sinh-gơ cho rằng chỉ có Liên Xô, chứ không phải là Trung Quốc sẽ được lợi thông qua mở rộng xung đột. Thứ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Kiều Quán Hoa cảnh cáo, một nước không nên chỉ vì muốn được Nam Việt Nam mà vứt bỏ cả thế giới. Và Trung Quốc luôn chờ đợi hồi âm của Kít-sinh-gơ. Tuy Trung Quốc lên án mạnh mẽ "cuộc không kích đêm Noen", nhưng họ đã đóng vai trò trung gian quan trọng trong cả quá trình đi đến ký kết Hiệp định Hoà bình Pa-ri.

Chạy đua trong đối đầu đó là phương châm cơ bản của Ních-xơn và Kít-sinh-gơ thể hiện trong chính sách đối với Liên Xô. Nhưng do phải tìm kiếm giải pháp cho vấn đề Việt Nam, và xua đi "bóng mây đen chiến tranh hạt nhân đang lơ lửng trên đầu thế giới" buộc Ních-xơn và Kít-sinh-gơ tìm kiếm nhưng phương thức khác nhau để cùng tồn tại với Liên Xô.

Cuộc tìm kiếm này đã dẫn đến ký kết Hiệp định Béc-lin 4 bên, cải thiện rất nhiều bầu không khí chiến tranh lạnh ở Bec-lin, và cùng cải thiện được bầu không khí cuộc hội đàm cấp cao Mỹ-Xô.

Trong cuộc gặp gỡ cấp cao tháng 5-1972, Ních-xơn và Brê-giơ-nhép đã thỏa thuận được hai Hiệp định, đó là "Hiệp định chống tên lửa đạn đạo" và "Hiệp định tạm thời về hạn chế chừng mực vũ khí phòng ngự chiến lược".

Để loại bỏ cuộc chạy đua của Mỹ và Liên Xô về hệ thống phòng ngự chống tên lửa, "Hiệp định chống tên lửa đạn đạo” quy định: hai bên chỉ có thể xây dựng một trong hai hệ thống sau đây: Một loại nhằm bảo vệ ICBM (Tên lửa đạn đạo vượt đại dương.) Sites, một loại khác là hệ thống phòng ngự nhằm tránh cho cơ quan pháp lệnh Nhà nước ở Oa-sinh-tơn và Mát-xcơ-va bị tập kích bởi tên lửa. Hai Hiệp ước nói trên là một trong những thành quả đạt được trong cuộc hội đàm vòng một về hạn chế vũ khí hạt nhân.

Cuộc hội đàm vòng một về hạn chế vũ khí hạt nhân cho phép Liên Xô chế tạo một số tên lửa phóng đi từ tàu ngầm thay thế cho một số tên lửa cũ phóng từ mặt đất. Tuy vậy, hội đàm vòng một là một bước rất quan trọng nhằm hạn chế cuộc chạy đua chiến lược. Trong cuộc hội đàm vòng hai về hạn chế vũ khí chiến lược, hai phía Mỹ-Xô bắt đầu đàm phán về một số mặt hạn chế khác, thậm chí bắt đầu thảo luận vấn đề giải trừ quân bị.

Sử dụng "Kênh ngầm" tiến hành hàng loạt cuộc đàm phán, Kít-sinh-gơ phát huy tác dụng quan trọng trong cuộc hội đàm về hạn chế vũ khí chiến lược (SALT). Ngoại trưởng Rô-gơ cho rằng ngoại giao bí mật của Kít-sinh-gơ không đem lại hiệu quả tối ưu. Nhưng theo Kít-sinh-gơ, ông ta coi trọng việc ký được với Mát-xcơ-va một loạt Hiệp định, chứ không phải là kết quả thực chất đạt được trong hội đàm vòng một.

Theo Kít-sinh-gơ, Mỹ giữ vững được ưu thế về MIRV (Phương tiện bay chở nhiều đầu đạn nhằm vào nhiều mục tiêu.) thông qua Hiệp định tạm thời là đủ rồi. Bởi đó là sản phẩm tối quan trọng trong cuộc chạy đua vũ khí hạt nhân chiến lược.

Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #25 vào lúc: 09 Tháng Mười Hai, 2009, 09:16:18 pm »

Cuộc hội đàm vòng một về hạn chế vũ khí chiến lược đã quy định: sau khi kết thúc Hội đàm Liên Xô được phép có 1.618 tên lửa đạn đạo xuyên lục địa. Nhưng Mỹ lại chiếm ưu thế về tên lửa đạn đạo mang nhiều đầu đạn bắn từ dưới đáy biển. MIRV được thông qua. Tên lửa chiến lược của Mỹ gấp hơn 2 lần so với Liên Xô

Sau này Kít-sinh-gơ đã nói rằng, ưu thế này khá quan trọng về chính trị. Điều đó có nghĩa, một khi nổ ra chiến tranh, hoả lực siêu mạnh của Mỹ đặt Liên Xô vào tình trạng nguy hiểm. Một loạt vấn đề như "Bộ nguyên tắc cơ bản về quan hệ Mỹ-Xô, Hội đồng An ninh châu Âu, Hội đàm cấp cao về vấn đề đôi bên cân bằng trong giải trừ quân bị" không được Oa-sinh-tơn tích cực hưởng ứng. Bởi Ních-xơn và Kít-sinh-gơ không thích thú các vấn đề đó.

Nhưng phía Liên Xô lại coi "Bộ nguyên tắc cơ bản" là cơ sở có tính quyết định để xử lý mối quan hệ giữa hai siêu cường. Theo Mát-xcơ-va, đạt được "bản tuyên ngôn chung về chung sống hoà bình" là một thành công rất lớn. Điều đó có nghĩa là đã thực hiện được mối quan hệ ngoại giao giữa Mỹ và Liên Xô có đi có lại và bình đẳng. Nhưng theo Ních-xơn và Kít-sinh-gơ, "Bộ nguyên tắc cơ bản" chỉ là bản sơ đồ về hàng loạt mục tiêu xa vời.

Còn vấn đề Hội nghị An ninh châu Âu, trước mắt có dính đến triển vọng cuộc hội đàm về MBFR, Ních-xơn và Kít-sinh-gơ tỏ ra hoài nghi về sự tiến triển mang tính đột phá của nó. Vì thế, Ních-xơn đã cho tổ chức Hội nghị an ninh châu Âu vài tháng trước khi có cuộc Hội đàm cấp cao. "Có khả năng Liên Xô lợi dụng cuộc hội đàm vòng một về hạn chế vũ khí chiến lược và Hội nghị an minh châu Âu để giải tán NATO".

Trong cuộc hội đàm cấp cao Ních-xơn và Brê-giơ-nhép không ký kết được một Hiệp định kinh tế quan trọng nào nhưng triển vọng về hoà hoãn trong quan hệ đã khích lệ hợp tác trong các mặt khác. Không lâu sau chuyến viếng thăm của Ních-xơn, Chính phủ của ông ta cam kết cấp tín dụng nông nghiệp, liền sau đó Liên Xô đã mua hàng chục triệu đô la lúa mì của Mỹ.

Tháng 10/1972 Mỹ ký với Liên Xô hàng loạt hợp động về mậu dịch, và Mỹ dành cho Liên Xô qui chế tối huệ quốc. Chính phủ Ních-xơn còn cam kết cho vay ngân hàng về xuất khẩu với một khoản tiền lớn, nhằm đảm bảo cho hàng công nghiệp Liên Xô xuất khẩu sang Mỹ.

Cuộc hội đàm cấp cao Mát-xcơ-va đạt được một loạt kết quả thực tế, đã khích lệ Ních-xơn, Kít-sinh-gơ và ban lãnh đạo Liên Xô coi vấn đề làm dịu tình hình là quá trình cần được thúc đẩy. Sau cuộc gặp gỡ Mát-xcơ-va, thông qua hệ thống truyền thông, Ních-xơn chuyển tới công chúng một thông tin: Làm dịu tình hình quốc tế có lợi cho thế giới trong thời đại có nền hòa bình lâu dài, làm biến đổi nền quân sự và chính trị. Nhưng trong cuộc nói chuyện riêng với các Cố vấn sau đó mấy tháng, ông ta cho rằng quan hệ giữa các siêu cường chủ yếu là cuộc chạy đua trong đối đầu, "hai bên đều tìm cách thâm nhập vào nhau”.

Trên thực tế, Ních-xơn đã ngầm nói rằng, nếu không gặp khó khăn về kinh tế trong nước và lo ngại "Quốc gia lân bang phương Đông", Liên Xô sẽ không hứng thú gì về vấn đề kiểm soát vũ khí và hợp tác. Điều này cũng có nghĩa, trong thời kỳ cân bằng lực lượng hạt nhân, tuy Liên Xô có thể có thái độ hợp tác và không đối kháng, nhưng Liên Xô vẫn là một lực lượng cần phải "giải quyết" bởi "khả năng xâm lược "từ phía Liên Xô rất lớn.

Có trong một văn kiện, Ních-xơn đã giới thiệu một phần "bản thiết kế vĩ đại" với Tổng thống Pháp Pom-pi-đu về quan hệ Mỹ-Xô, Mỹ-Trung và Mỹ-Tây Âu. Cuộc hội đàm này không bắt nguồn từ cái gọi là "tinh thần sáng tạo" của Trung Quốc, mà nảy sinh ra từ ảnh hưởng của chính sách kinh tế mới của Mỹ. Chính sách này đã kiểm soát được lạm phát, bù đắp được thâm hụt thương mại ngày càng mở rộng, cứu nguy cho đồng đô la Mỹ khỏi yếu đi bởi chấm dứt được qui chế gắn liền với bản vị vàng, tăng được 10% thuế quan cho hàng nhập khẩu và kiểm soát được quá trình tăng trưởng quá nhanh. Do lo ngại các nước châu Âu trả đũa đối với hành động của Mỹ, Ních-xơn và Kít-sinh-gơ đã có hàng loạt gặp gỡ cấp cao với các quốc gia Đồng minh châu Âu, góp phần đạt tới sự nhất trí về chính sách kinh tế quốc tế.

Nhưng bối cảnh lúc đó có nhiều cuộc gặp gỡ đòi hỏi Ních-xơn phải nói đến "Cái khung hoà bình thế giới". Những văn kiện đó đã phản ảnh tư tưởng của Ních-xơn, một thứ tư tưởng hỗn tạp giữa tư duy về chiến tranh lạnh và sự nhận thức tỉnh táo về cơ cấu lực lượng quốc tế. Về cá nhân mà nói, Kít-sinh-gơ không thích Ních-xơn, Nhưng sau này ông ta thừa nhận, do "Ních-xơn hiểu biết thấu đáo toàn bộ mối quan hệ" nên ông ta gặt hái khá nhiều thành công.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #26 vào lúc: 09 Tháng Mười Hai, 2009, 09:19:33 pm »

BỊ VONG LỤC VỀ HỘI ĐÀM.
CƠ MẬT TỐI CAO

Chủ đề. Biên bản Hội đàm ở quần đảo Azoes.

Thời gian; 9 giờ sáng ngày 13-12-1971

Người dự. Tổng thống Ních-xơn, Tổng thống Pom-pi-đu, ông Ang-đrây-rô-nhi-cốp, thị trưởng Uốt-tơ.

Ních-xơn và Tổng thống Pháp G.Pom-pi-đu trao đổi về trình tự và tiến độ cuộc thảo luận, sau đó đồng ý nhìn lại một cách tổng quát quan hệ giữa Mỹ, châu Âu với Liên Xô

Trước khi tóm tắt cuộc đi thăm Liên Xô của Ních-xơn, Pom-pi-đu miêu tả Liên Xô "rất lo ngại" về Đức và hy vọng ở châu Âu xuất hiện một nước Pháp hùng mạnh, càng không muốn vai trò lãnh đạo châu Âu rơi vào tay của Bon.

Pom-pi-đu ba lần gặp Côt-xư-ghin, và ba lần gặp Brê-giơ-nhép. Với cương vị là Thủ tướng, ông ta đã đi thăm Liên Xô, gặp cả Brê-giơ-nhép lẫn Côt-xư-ghin lúc đó trong cương vị Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, ông là Tổng thống sau khi từ Liên Xô trở về Pháp. Ních-xơn biết, trước đó Brê-giơ-nhép đã ở Pháp. Họ là hai con người rất khác nhau.

Là con người không xởi lởi lắm, nhưng Côt-xư-ghin rất nghiêm túc xem xét các vấn đề kinh tế, kỹ thuật, say mê về phát triển công nghiệp, ông đến từ Lê-nin-grát, nên có thể bảo thủ hơn những người khác, ông lo ngại người Đức chống trả quyết liệt một khi bị tấn công.

Ông Brê-giơ-nhép là người miền nam U-crai-na, tính tình thoải mái, nhiệt tâm với mọi người, thích ăn uống, rất bình dân, ham các loại xe con, ông coi một xe Méc-xê-đéc, xe Stơen... nhưng không có Mazda. Tổng thống Ních-xơn nhận xét, Brê-giơ-nhép có rất nhiều loại xe nhưng chỉ thiếu xe Mỹ.  Brê-giơ-nhép thích sống thư thái, ông ta dễ bắt chuyện, nhưng lại có thái độ cứng rắn khi đi sâu vào vấn đề, ông luôn ý thức được tầm quan trọng của sức mạnh quân sự, nhưng cũng nhận thức rõ ràng phải nâng cao mức sống của quốc dân. Brê-giơ-nhép mong Pháp, Đức và phương Tây cung cấp một khả năng có thể nhanh chóng sản xuất ra nhiều hàng tiêu dùng.

Giờ đây, người Liên Xô rất muốn nhấn mạnh đến hoà hoãn về chính trị, đạt được thỏa thuận với người Đức để có được một đạo luật tu chính về Hiệp định. Họ rất sốt ruột, lặng lẽ theo dõi thị trường chung đang hình thành. Điều quan trọng hơn cả là họ theo dõi mọi diễn biến ở châu Á. Hiện nay, họ rất lo ngại về tiềm lực của Trung Quốc. Theo Tổng thống Pom-pi-đu, người Liên Xô muốn thực hiện giấc mộng, cùng với Mỹ chia nhau thế giới. Tư tưởng này đã ăn sâu trong họ. Nhưng Trung Quốc đã làm tan biến giấc mộng kia, khiến họ rất bực bội.

Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #27 vào lúc: 09 Tháng Mười Hai, 2009, 09:19:41 pm »

Theo Tổng thống Pom-pi-đu, trừ chuyện thời sự (cuộc chiến tranh Ấn Độ Pa-kit-xtan), ông ta tin rằng người Liên Xô sẽ tìm kiếm con đường đi đến thoả thuận với Mỹ. Về điều này, Ních-xơn biết và đã hiểu. Đối với họ là không có đường rút lui mà chỉ có sẵn sàng tiến lên. Đối với mọi dân tộc có sức mạnh là như vậy.

Theo Tổng thống Ních-xơn, sự phân tích của Tổng thống Pom-pi-đu rất thấu đáo, thẳng thắn, là điều rất rốt. Ních-xơn đảm bảo với Tổng thống Pháp rằng, sự thẳng thắn đó được tôn trọng, và lòng tin đó không bị phụ. Ních-xơn muốn nêu lên vấn đề: Liên Xô sợ ai nhất, Trung Quốc hay là Mỹ. Tổng thống Pom-pi-đu trả lời rằng, sợ Trung Quốc nhất, bởi Liên Xô cho rằng, 20 năm đến 50 năm nữa, một Trung Quốc với số dân khổng lồ sẽ trở nên hùng mạnh khó bề đối phó. Còn Đức là nước thứ hai Liên Xô lo sợ, Đức có thể nhen lên một cái gì đó, mà Mỹ lại có quan hệ đồng loã với Đức. 

Trong lời nói của Tổng thống Ních-xơn, lại có đôi chút khác. Liên Xô lo ngại Trung Quốc là điều đương nhiên, nhưng với Đức thì chưa chắc, bởi họ là láng giềng, sự đe doạ, chỉ có thể tạo nên về khía cạnh địa lý. Tuy họ lo ngại sức mạnh của Mỹ, nhưng không lo ngại Mỹ có tham vọng mở rộng đất đai bất lợi cho họ. Ních-xơn tin rằng, trên bản đồ mênh mông như Tổng thống Pom-pi-đu đã miêu tả, "lô nào chúng ta đang quan tâm sẽ đem lại lợi ích cho chúng ta chứ không phải là họ".

Trước hết, trong quan hệ, Tây Âu Mỹ, người Đức cảm thấy người Mỹ không đáng tin cậy không còn là điều bí mật nữa. Vì theo linh cảm của người Đức, Mỹ sẽ rút quân ra khỏi châu Âu, chỉ để lại một lực lượng nhỏ là điều không thể tránh, nhưng điều không  thể xảy ra là Mỹ hy sinh Đức trong cuộc chiến tranh hạt nhân để bảo vệ châu Âu.

Nghị sĩ Mỹ Men-sphin đã nhấn mạnh quan điểm này trong luật tu chính. Chúng ta cần giữ vững chủ trương phải đứng về phía châu Âu, để giành được sự ủng hộ. Luận điệu cơ bản của ông ta là Mỹ và Tây Âu đều nhận thấy có sự khác biệt, nhưng họ vẫn quấn lấy nhau chặt chẽ. Đứng về lâu dài mà xét đây là tai vạ vì Mỹ có thể biến châu Âu thành con tin của Liên Xô. Chính vì vậy Mỹ tăng cường mối liên hệ kinh tế với châu Âu là cần thiết.

Điều có tầm quân sự quan trọng đối với Mỹ là giữ cho châu Âu được nguyên vẹn và thực lực không bị yếu đi. MBFR đã bắt đầu được thực hiện từ năm 1968 trước cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ. Chính sách của Mỹ cần xây dựng trên cơ sở đa phương.

Bài phân tích của Kít-sinh-gơ cho người ta thấy những toán tính của Mỹ. Chúng ta chưa tìm ra một phương án mà giải trừ quân bị lại không làm yếu đi lợi ích của chúng ta và tập đoàn Liên Xô. Chúng ta có thể tiếp tục cuộc thảo luận với Bu-rô-xi-ôn, hiệp thương với Tổng thống Pom-pi-đu để đạt tới mức độ mong muốn. Về cá nhân Tổng thống, ông ta nghi ngờ nhiều, lo rằng MBFR chỉ đổi lại sự rút lui của Mỹ. Chỉ cần Mỹ ở lại châu Âu, lợi ích của chúng ta mới được đảm bảo. Người Liên Xô hiểu điều đó nên tìm cách làm chúng ta rút lui.

Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #28 vào lúc: 09 Tháng Mười Hai, 2009, 09:24:14 pm »

Về cuộc nói chuyện giữa chúng ta với người Liên Xô về SALT hoặc trong cuộc hội kiến với Brê-giơ~nhép và Côt-xư-ghin tháng 5, Ních-xơn đảm bảo với Tổng thống Pom-pi-đu rằng tuyệt đối không hy sinh lợi ích của Đồng minh châu Âu để đổi lấy cuộc đối thoại Mỹ-Xô.

Tổng thống Pom-pi đu đã đề cập tới lợi ích mà Liên Xô và Mỹ đạt được trong một Hiệp định kiểu Y-an-ta. Nhiều người Mỹ cho rằng, Hiệp định Y-an-ta rất có hại cho châu Âu về chính trị và kinh tế, có hại cho Mỹ, chỉ có lợi cho Liên Xô mà thôi. Vì vậy, Tổng thống coi cuộc đối thoại tới là rất khó khăn.

Người Liên Xô muốn có được sự tiến triển về buôn bán, nhưng vấn đề không lớn như nhiều người nghĩ. Nếu hai bên đều thỏa mãn với nội dung cuộc nói chuyện, thì vấn đề giải trừ quân bị rất có khả năng tiến triển. Nhưng cần phải rõ một điều, về vũ khí hạt nhân, Liên Xô và Mỹ là người tám lạng kẻ nửa cân. Sự việc nếu có tiến triển không có nghĩa Liên Xô đã khỏi bẽ mặt, hoặc chính sách về vai trò phòng ngự của Mỹ trong Đồng minh châu Âu bị yếu đi.

Tổng thống hầu như cho rằng, giữ vững thực lực và nội lực trong cơ cấu đó là điều quan trọng hơn bao giờ hết. Đứng về lâu dài mà xét, nếu không có châu Âu, thì Mỹ không thể có được một thế giới. Còn châu Âu nếu không có Mỹ trợ giúp về sức mạnh hạt nhân thì cũng không sống nổi. Người Liên Xô cũng hiểu rằng, người Đức là trọng tâm của vấn đề châu Âu.

Tổng thống Pom-pi-đu đã nêu ra một cách chính xác rằng, Đức là trái tim của châu Âu, tuy có mối liên hệ với phương Tây về văn hóa và kinh tế, nhưng ảnh hưởng của phương Đông đang tác động ngầm tới họ. Vì vậy, chúng ta phải làm cho nước Đức gắn chặt với cộng đồng châu Âu về kinh tế, chính trị và quân sự.

Nếu ở cương vị Bran-đô, Tổng thống Pom-pi-đu cũng sẽ làm như vậy Nhưng về chính trị mà xét, hy sinh lợi ích của người bạn cũ cho người mà không thể kết bạn là điều rất nguy hiểm. An ninh của chúng ta tại châu Âu, cần cứng rắn đối với người Liên Xô. Hiện nay, Pháp, Anh, Đức đều có mặt trong bức tranh đó.

Nếu trong cuộc hội đàm, Tổng thống Pom-pi-đu và Ních-xơn có thể bình tâm đi đến sự hiểu biết về vấn đề nguyên tắc, thì không chỉ có lợi cho hai nước, mà còn góp phần để Ních-xơn cùng với Anh thúc đẩy vấn đề châu Âu. Chúng ta cần hiểu rằng, trong suy nghĩ của những người có thái độ hoài nghi và cả người cả tin, việc Pháp rút ra khỏi NATO là biểu hiện của NATO giải thể.

Tổng thống biết rằng tuy là một thành viên của Liên minh, Pháp lại tách mình ra khỏi cái khung nhất thể hoá quân sự. Nếu vì một số quan hệ kinh tế mà Pháp quyết định chơi canh bạc chạy theo Mát-xcơ-va, thì chúng ta biết cách ứng phó với đối thủ tiềm ẩn này. Tổng thống Ních-xơn không nói, Pháp và các quốc gia khác không nên có chính sách phương Đông độc lập. Chính vì vậy, ông ta hội đàm với liên minh châu Âu. Đó là vì lợi ích của chúng ta, nó sẽ phát huy tác dụng khi chúng ta là đối tác của người Liên Xô". 

Pom-pi-đu nêu ra thắc mắc về luật tu chính của Men-phin "có ý nghĩa hơn vụ Trân Châu cảng”, bởi Tây Âu không chỉ là một phần của hạm đội Mỹ có thể "nhường cho người Liên Xô", ông ta cũng nêu ra thắc mắc về lợi ích của Tây Đức "chung quanh việc giải trừ quân bị của Mỹ-Xô ở châu Âu.

Họ (tức Tây Đức) có nhiều tư tưởng chống đối trong dự kiến giải trừ quân bị của MBFR. Rốt cuộc họ là người thiệt thòi trước tiên. Bran-đô đã từng bày tỏ rằng, ngán nhất là Đức trung lập hóa hoặc "Phần Lan hóa". Một khi Mỹ rút khỏi Hiệp định, Đức, Anh và Pháp cũng không chịu chậm chân. Khi đó, trung lập đối với Đức không còn xa nữa" .

Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #29 vào lúc: 09 Tháng Mười Hai, 2009, 09:24:36 pm »

Tổng thống Ních-xơn cho rằng, cũng như vấn đề châu Âu, vấn đề nội bộ nước Mỹ phần lớn bắt nguồn từ tâm lý. Nhiều người Mỹ ngây thơ, nhiều trí thức, giới truyền thông và giáo sư tin rằng, người Liên Xô không gây ra bất kỳ đe dọa nào đối với họ. Giới trẻ cũng nghĩ như vậy. Tổng thống Pom-pi-đu nói chêm vào "Đại giáo chủ cũng vậy. Tổng thống Ních-xơn nói, nhiều tín đồ Cơ đốc giáo và linh mục, Thiên chúa giáo cũng có quan điểm như vậy".

Điều quan trọng là Tổng thống Pom-pi-đu đã hội kiến với người Liên Xô và nêu cao tinh thần hòa hoãn trong hội kiến, ông không muốn những người giàu lòng yêu nước tin rằng, "nguyện vọng của người Liên Xô mưu tìm hoà bình" là người Cộng sản mà vì họ là cường quốc có mục tiêu đối đầu với chúng ta. Người Pháp thì không ngây thơ. Thái độ của họ đối với hai siêu cường cộng sản là: có hai siêu cường cũng chết, mà không hai siêu cường cũng chết. Do nhu cầu về xã hội và văn hóa đòi hỏi chúng ta cần nhận rõ sự khác nhau căn bản giữa thái độ, nguyện vọng và chính sách ngoại giao của họ với sự tồn tại của chúng ta".

Nói đến đây, Tổng thống cho rằng không có nghĩa các nước phi cộng sản không có tham vọng, chỗ khác nhau là ở điểm cơ bản trong chính sách chinh phục. Tổng thống không rõ tại sao ban lãnh đạo Liên Xô và lãnh đạo Trung Quốc lại quyết định gặp gỡ ban lãnh đạo Mỹ. Nguyên nhân chính không phải là họ muốn xây dựng quan hệ tốt đẹp với Liên Xô và Trung Quốc. Nếu không có một châu Âu mạnh, nếu người Liên Xô không gây ra sự đe dọa Tổng thống Ních-xơn ở phía đông, thì chắc rằng họ sẽ không có hứng thú đối thoại với Mỹ.

Tổng thống Ních-xơn cũng muốn Tiến sĩ Kít-sinh-gơ nói với Tổng thống Pom-pi-đu biết về quan điểm của người Trung Quốc. Tổng thống tin rằng Mao Trạch Đông sẽ hội đàm với người đứng đầu tư bản, lấy lòng Mỹ, trừ phi Mao lo ngại Liên Xô và cảnh giác với Nhật Bản, người Liên Xô sẽ bác bỏ cuộc đối thoại với chúng ta khi Tổng thống Ních-xơn tuyến bố về chuyến viếng thăm Bắc Kinh.

Trên thực tế sau khi Bắc Kinh tuyên bố chuyến thăm này, người Liên Xô không giống trước đây mà lại muốn nói chuyện về SATL, về châu Âu và Béc-lin. Thông tin về Tổng thống thăm Mát-xcơ-va vừa truyền đi, người Trung Quốc lại tỏ ra rất quan tâm về cuộc nói chuyện với chúng ta".

Tổng thống Ních-xơn nhớ lại rằng ông ta từng nói với Tổng thống Pom-pi-đu về cuộc gặp tướng Đờ-gôn và đề nghị hiến kế sách cho Mỹ. Tướng Đờ-gôn trả lời rằng, Mỹ và ông ta đặt tất cả hy vọng vào Liên Xô, khác nào như Pháp thi hành chính sách mở cửa đối với Trung Quốc. Tướng Đờ-gôn có tinh thần trách nhiệm như Tổng thống Pom-pi-đu. Về chuyện này, họ hết sức bênh vực cho quan điểm của Mỹ.

Về Hội nghị an ninh Đông Tây Âu: Ních-xơn cho rằng có lẽ đó không phải "sự may mắn trong lộn xộn đối với người Liên Xô. Một trong những thành quả mà Hội nghị đạt được là có khả năng Đông Âu mở cửa cho phương Tây. Dù sao chăng nữa, Tổng thống Ních-xơn vẫn lo ngại Hội nghị "làm cho chúng ta bớt cảnh giác và mọi người tin rằng chiến tranh lạnh đã kết thúc".

Trường hợp, ban lãnh đạo Liên Xô dám mạo hiểm gây ra chiến tranh hạt nhân và kéo theo cả Mỹ, thì họ hiểu được rằng họ có sức mạnh tiêu diệt 70 triệu người Mỹ và chúng ta có sức mạnh để tiêu diệt 70 triệu người Nga. Tổng thống Mỹ cũng hiểu điều đó. Hạn chế vũ lực không phải xuất phát từ yêu mến, mà là từ lo sợ. Hai quốc gia dùng đàm phán thay thế cho đối đầu, đó là điều quan trọng nhất. Hai mươi bốn giờ qua trong cuộc thảo luận về vấn đề Nam Á, chúng ta đã nhấn mạnh với người Liên Xô điều này. Tổng thống hy vọng bổ sung thêm nguyện vọng về làm dịu tình hình chính trị thế giới.

Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM