Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:16:32 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Những người thắng cuộc  (Đọc 88372 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 4021



WWW
« Trả lời #100 vào lúc: 30 Tháng Chín, 2008, 08:54:44 pm »

Chương 23
“TÔI GHÉT CHUYẾN ĐI ẤY CỠ NÀO!"

Sáng thứ năm ngày 5 tháng Bảy 1945, trước ngày Truman đi Postdam, Morgenthau đến Phòng Bầu dục trong trạng thái giận dữ. Căm phẫn về sự bổ nhiệm Byrnes, ông lo lắng về các tin đồn ông sẽ là thành viên Nội các tiếp theo bị sa thải. Ông nói, “Lần cuối cùng tôi ở đây, ngài bảo ngài cảm thấy mình như người anh trai tôi. Tôi muốn đáp lại tình cảm đó và có buổi nói chuyện chính thức với gia đình. Ngài sẽ đi, và có tất cả mọi chuyện tầm phào về con người tôi."

Truman nói, “Ồ, tôi sẽ nói ông là người gánh vác trách nhiệm trong khi tôi đi vắng."

Morgenthau vạch một đường thẳng trên cát: “Bây giờ tôi muốn biết có phải ngài muốn tôi ở lại cho đến NGÀY-VJ không.”

Truman trả lời, “Tôi không biết. Có thể tôi muốn có một Bộ trưởng Tài chính mới."

Dao động và đau khổ, Morgenthau trả lời, “Vâng, thưa Tổng thống, nếu ngài không nghi ngờ gì-sau thành tích mười hai năm của tôi ở đây, và sau vài tháng làm việc với ngài mà tôi biểu thị lòng trung thành của tôi-ngài phải biết tâm trạng tôi hiện giờ. Và nếu ngài không biết, tôi muốn ra đi ngay bây giờ.”
Truman nói, "Để tôi suy nghĩ kỹ đã.”


Morgenthau từ chối: "Hoặc ngài muốn tôi ở lại cho đến NGÀY-VJ hoặc ngài không muốn!... Tôi không nghĩ mình tự phụ khi nói rằng ít nhất tôi cũng tốt hoặc tốt hơn năm người mà ngài mới bổ nhiệm vào Nội các, và một số người trong bọn họ tôi nghĩ ngài dứt khoát sai lầm.177 (Không những ám chỉ đến Byrnes mà ám chỉ cả đến sự kiện Truman đã loại bỏ Chưởng lý, Trưởng phòng Bưu điện và các Bộ trường Lao động và Nông nghiệp) Tôi sẽ viết cho ngài lá thư từ chức. Ngài có muốn tôi ở lại trong khi ngài ra nước ngoài không, hoặc ngài muốn có hiệu quả ngay tức thì?"


Truman nói, “Ông sẽ đi." Tổng thống đề nghị, trong lúc này, ông nói với công chúng rằng Morgenthau sẽ ở lại. Rồi sau hội nghị Postdam, ông sẽ thông báo Morgenthau từ chức. Truman muốn Morgenthau vẫn ở lại chức vụ cho đến sau hội nghị Bộ Ba vì ứng viên được chọn sẽ kế tục Morgenthau, cựu Nghị sĩ Fred Vinson bang Kentucky, cũng lên đường đi Postdam.


Morgenthau đồng ý ở lại Bộ Tài chính cho đến khi Truman trở về Hoa Thịnh Đốn. Nhưng ông muốn việc ông từ chức phải được thông báo ngay chiều hôm ấy. Nếu không, “Tôi sẽ buộc phải đưa nó ra ngày mai-và tôi không muốn thực hiện điều đó khi ngài đang ở trên biển khơi."

Truman ưng thuận.

Morgenthau than van là không ai ở Bộ Tài chính đi Postdam “vì chúng tôi có thông tin mà không một ai khác có." Tổng thống có muốn một bản sao Kế Hoạch Morgenthau mang đi không? Truman nói ông đã biết "mọi điều trong đó.” Không chút tin tưởng, ông nói thêm, "Tôi nghĩ nó rất tốt."


Sững sờ bởi cuộc đối mặt với Truman, Morgenthau quay về Bộ Tài chính. Ông nói với Harry Dexter White và nhân viên, "Tôi không thể ngẩng cao đầu và để người đàn ông này nói với tôi ông không chắc chắn về tôi... Đã mười hai năm trôi qua và chúng ta đã làm việc chăm chỉ."


Năm 1954, Truman bí mật đưa ra phiên bản khoe khoang về cuộc đối đầu với Morgenthau: "Khi chuyến đi Postdam đang được thu xếp, Morgenthau đến gặp tôi và nói ông phải được đi cùng. Tôi nói, “Tôi không cần ông theo và đó không phải là công việc của ông.”... ông trả lời, “Nếu tôi không thể đi Postdam, điều gì sẽ xảy ra với Kế hoạch Morgenthau?” Tôi nói họ có thể ném nó ra ngoài cửa sổ. Ông bĩu môi và nói ông sẽ từ chức. Tôi nói, “Được thôi. Tôi chấp nhận ông từ chức ngay từ bây giờ.”


Truman tiếp tục nhớ lại rằng kế hoạch của Morgenthau “không đáng một xu”: "Việc Hitler đối xử với người Do Thái là cái để thúc đẩy Morgenthau tiến lên... Không đủ đất ở trung Âu để nuôi tám mươi triệu người của nước Đức theo kiểu hạng nhất. Nửa trong số họ sẽ phải chết đói... Tôi không nghĩ Roosevelt thích thú gì Kế hoạch Morgenthau, một kế hoạch thực sự nô dịch hóa dân tộc Đức... Morgenthau muốn tròng ách sắt vào cổ người Đức."


Trong những năm sau khi Morgenthau ra đi, Truman bí mật nói với các bạn chí thân rằng người bạn già của Roosevelt là một “gã khó chơi" và là một "con người đần độn" không "phân biệt” nổi "cứt với nước sốt táo.”
Trưa thứ Năm, Truman nói với các phóng viên rằng Morgenthau sẽ rời khỏi Bộ Tài chính sau khi hội nghị Postdam kết thúc. Nhưng ngày hôm sau ông nghe được những lời phàn nàn rằng nếu tàu chở ông và Byrnes chìm ở Đại Tây dương, vị trí ông sẽ được kế vị bởi một Tổng thống Do Thái không được bầu cử, đàng hoàng ban hành kế hoạch hận thù chống nước Đức.


Ông hướng đến Sam Rosenman, một người lưu nhiệm của Roosevelt và hiện là phụ tá người Do Thái có chức vụ cao nhất. Ông bảo Rosenmnan rằng ông đã “chịu sức ép suốt cả ngày, là phải loại bỏ ngay lập tức Morgenthau ra khỏi hàng ngũ kế vị Tổng thống. Vinson sẽ được kéo ra khỏi con tàu đến Postdam để tên ông ta có thể được gửi ngay đến Nghị viện. (Hành lý của Vinson đang trên đường đến Đức.) Rosenman phải thông báo tin xấu đó cho Morgenthau.178 (Từ cuộc trò chuyện những năm sau đó với bà quả phụ Rosenman, Dorothy, Henry Morgenthau III suy luận ra rằng Truman đã yêu cầu Rosenman nói với Morgenthau như một người Do Thái nói với một người Do Thái) Thứ hai tiếp theo, Rosenman bảo Morgenthau rằng ông ngượng ngùng với sứ mệnh của mình. Nhưng Tổng thống nhận thức rằng chỉ chốc lát là ông quay trở về từ Postdam và nhận thấy người ta "rất lo lắng" về sự kế ví. Ông nói ông không biết Morgenthau có muốn ở lại trong “ân huệ" của Truman không, nhưng "Tổng thống sẽ rất hạnh phúc" nếu Morgenthau rời khỏi Bộ Tài chính ngay tức khắc. Rosenman hoàn toàn tự ý nói thêm rằng, nếu Morgenthau ra đi lặng lẽ, Truman có thể bổ nhiệm ông làm thống đốc Ngân hàng Thế giới mới và Quỹ Tiền tệ Quốc tế.
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 4021



WWW
« Trả lời #101 vào lúc: 30 Tháng Chín, 2008, 08:57:11 pm »

Harry Dexter White và các phụ tá khác nài nỉ ông chủ chấp nhận đề nghị của Rosenman. Morgenthau hứa sẽ suy nghĩ điều đó, nhưng khôn ngoan tiên đoán rằng Byrnes và Vinson sẽ phản đối ông. Ông soạn thảo ba lá thư cho Truman ký và gửi chúng cho Tổng thống, đang trên đường đến Postdam, xin phê chuẩn. Lá thư đầu tiên là yêu cầu xin từ chức tức khắc. Lá thư thứ hai là trả lời của Truman, tán dương “ý thức sâu sắc của Morgenthau về trách nhiệm công khai." Lá thư thứ ba, được thiết kế để "phun đầy khói vào Tổng thống," sẽ là lời đề nghị của Truman về Quỹ Tiền tệ và Ngân hàng. Đúng như Morgenthau đã tiên đoán, Tổng thống chỉ phê chuẩn hai lá thư đầu. Không quá thuyết phục, Morgenthau nhấn mạnh rằng ông thực sự không muốn công việc ở Quỹ Tiền tệ-ngân hàng nhưng lại muốn được yêu cầu.


Ông viết cho các con trai rằng chẳng bao lâu ông sẽ không còn là Bộ trưởng Tài chính” nữa và yêu cầu họ "hủy lá thư này” ngay.179 (Morgenthau giữ lại bản sao) Trong đó ông mô tả các lo lắng của Truman về sự kế vị Tổng thống-“không bổ sung gì vào ông già của các con." ông viết rằng vì ông dứt khoát là một phần của thời đại Roosevelt," Truman không muốn “có tôi ở gần... Một khi các con nhận được một thông điệp từ Tổng thống rằng các con không được sủng ái, các con hành động càng nhanh càng tốt ít nhất là hiện nay ông đã hiểu ông đứng ở đâu: "Tôi là một đại lý tự đo, và tôi đang bắt đầu thích điều đó... Vâng, các con trai ta, hãy hồi âm cho cha sớm, và viết địa chỉ của cha là Henry Morgenthau, Jr., Private First Class."


Morgenthau từ chức Bộ trưởng Tài chính đã phục vụ lâu nhất sau Albert Gallatin phục vụ mười ba năm dưới trướng Tổng thống Jefferson và Madison. Mặc dù làm ra vẻ can đảm gượng gạo, ông cảm thấy bị làm nhục công khai bởi cách Truman đình chỉ chức vụ của ông. Phụ tá Henrietta Kloz thuật lại chi tiết rằng khi Vinson tuyên thệ nhậm chức, ông chủ già “rất bất hạnh của bà" “đứng một mình trong góc" và “không ai đến" với ông. Klotz nhớ lại rằng Morgenthau trông giống như “một con chiên lạc," và bà nói thêm, “hình ảnh đó khiến tôi đau lòng."


Những chiếc xe tải của Bộ Tài chính Mỹ chở hàng trăm thùng đựng giấy tờ và đồ dùng cá nhân của Morgenthau theo hướng bắc về Fishkill Farm. Mùa thu đó, cựu Bộ trưởng cho xuất bản tập nói về Kế hoạch Morgenthau như Nước Đức là Vấn đề của Chúng ta.180 (Nhà xuất bản Harper and Brothers, 1945) Trong khi hoàn tất cuốn sách, ông xin Churchill cho phép công bố bản ghi nhớ vẫn còn là bí mật xác nhận một nước Đức “nông nghiệp" mà Churchill đọc và ký tắt tại Quebec cùng với Roosevelt. Nhưng qua điện báo, Churchill nài nỉ Morgenthau đừng tiết lộ bản ghi nhớ, ông lưu ý rằng tình hình thế giới đã "thay đổi nhiều mặt." Ông không bổ sung thêm rằng điều đó cũng đang gây trở ngại cho ông về mặt chính trị.


Morgenthau thất vọng vì gần như không nhận được đề nghị công việc nào sau khi từ chức Bộ trưởng Tài chính. Ông luôn thui thủi một mình, một số người trên Phố Uốn muốn có được bất kỳ phần nào trong Chính Sách Kinh tế Xã hội mới của Roosevelt năm 1932. Một người Do Thái một thời trung lập được yêu cầu làm chủ tịch United Jewich Appeal. Cha của Morgenthau cảnh báo ông, trước khi qua đời ở tuổi chín mươi, “Đừng làm bất kỳ điều gì với người Do Thái. Họ sẽ đâm sau lưng con." Nhưng Morgenthau chấp nhận. Như con trai Henry III nhớ lại đó là cuộc thi đấu hoàn hảo: "Ông cần sự kính trọng và lòng yêu thương mà cộng đồng Do Thái sẵn sàng dành cho ông, và đến lượt họ cần ông là người đáng trọng trên toàn thế giới."


Trong vai trò mới, Morgenthau tìm kiếm lời chỉ dẫn trong các lĩnh vực mênh mông về lễ nghi Do Thái xa lạ với ông. Tại một bữa tiệc gây quỹ với cách nấu nướng Do Thái, Morgenthau hỏi ông đang ăn món gì, và chỉ được trả lời rằng nếu ông biết, ông sẽ không ăn được món đó. Henrietta Klotz nhớ lại là một lát sau, ông chủ già “trở nên phần nào Do Thái."


Lúc đó, Klotz cảm thấy thoải mái nói cho ông biết về mưu mẹo bà đã tiếp tay làm bậy vào năm 1943 trong cố gắng kích động ông cứu người Do Thái khỏi tay Hitler. Trong một cuộc họp của Bộ Tài chính, Morgenthau rất bối rối khi Giáo sĩ Abraham Kalmanowitz, vì nài nỉ ông giúp người Do Thái, đã ngất xỉu đổ người xuống sàn nhà. Klotz, người hiểu được tiếng Yiddish (tiếng Đức cổ của người Do Thái ở Trung và Đông Âu) nghe thấy vị giáo sĩ nói bằng tiếng Yiddish với người thông dịch, "Sao, tôi khóc lóc tốt không?" Klotz chưa bao giờ tiết lộ cho chủ nhân biết cú đổ người của Kalmanowitz là giả vờ, vì bà sợ “nếu tôi nói cho ông biết, ông sẽ không bao giờ cho phép một giáo sĩ khác vào hội kiến."


Năm 1948, một ông già “một trăm phần trăm Mỹ" là người theo chủ nghĩa Phục quốc Do Thái (Zionist). Rơi lệ, Morgenthau đi tham quan đất nước Israel mới khi đất nước chiến đấu giành độc lập. Bất chấp pháo kích và bắn tỉa, ông tuyên bố "nếu không có một Jerusalem của người Do Thái," Israel sẽ “giống như dân tộc Do Thái không có lịch sử." Ông ca ngợi quân đội Israel vì đã cho thế giới biết rằng "mỗi người Do Thái là một chiến sĩ." Sau này Bộ trưởng Tài chính Israel, Levi Eshkol, rõ ràng không biết gì về Kế hoạch Morgenthau và việc nó được tiếp nhận ở nước Đức, ghi nhận rằng vì Morgenthau là người Do Thái và "có nguồn gốc Đức," nên ông hẳn thích hợp để giúp Israel giành được 120 triệu mỹ kim tiền bồi thường chiến tranh từ nước Đức.


Morgenthau nhẹ nhàng giải thích rằng ảnh hưởng của ông không chính xác là hữu dụng tại Đức: "Hạt giống mà Goebbels gieo về Roosevelt và tôi vẫn còn tươi nguyên trong đầu óc người Đức." Ngoài ra, ông còn nói ông kiên quyết không bao giờ đặt chân lên đất nước này.
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 4021



WWW
« Trả lời #102 vào lúc: 30 Tháng Chín, 2008, 08:58:38 pm »

Sau khi Elinor Morgenthau qua đời vào năm 1949, Henrietta Klotz, người đã ngấm ngầm mồi chài Morgenthau trong nhiều thập niên trước hiển nhiên hy vọng người đàn ông goá vợ quẫn trí kia cuối cùng sẽ kết hôn với bà. Henry III nghi ngờ rằng trong những tháng tiếp theo, cha ông có thể có một cuộc tình ngắn ngủi với người phụ nu trước kia ông gọi là “người giám hộ" tại Bộ Tài chính. Bà Klotz cay đắng khi Morgenthau kết hôn với Marcelle Pu thon Hirsch, một người Pháp theo đạo Công giáo đã ly dị chồng là người Do Thái quốc tịch Pháp giàu có. Klotz ghen tức gọi người vợ mới của Morgenthau là "mụ này mụ nọ" và so sánh bà ta với Madame Bovary.


Với cặp kiếng cận dày và mái tóc bạch kim, bà Morgenthau mới trang hoàng sặc sỡ lại căn hộ ở Nữu Ước và thúc chồng tránh các tổ chức từ thiện Do Thái. Các bạn cũ của Morgenthau mộc mạc thất kinh khi nghe ông bông đùa, "Bây giờ tôi kết hôn với một phụ nữ Pháp, tôi phải về nhà vào buổi trưa!" Điềm đạm, Eleanor Roosevelt giải thích với Henry III, “cha cháu chưa bao giờ có bà chủ. Ông phải kết hôn với rnột bà chủ."


Vào cuối đời, Henry III buồn bã nhớ lại ông đã gặp rắc rối với sự kết hôn không tương xứng của cha mình, "cha tôi gần như tách biệt hẳn với mọi người." Klotz nhớ lại, không phải là bằng chứng vô tư, “Ông rất bất hạnh. Bà ta dữ tợn. Tầm thường và hung ác.”


Một khoảnh khắc vui sướng hơn, là đám cưới của con trai cả năm 1962 với Ruth Schachter, một người Do Thái tị nạn đến từ Vienna. Cựu Bộ trưởng Tài chính bảo cô con dâu mới rằng cô hẳn đã biết ông ta khi ông đã "là một ai đó." ông hoàn toàn không đùa cợt.


Cho đến khi qua đời vào năm 1967, Morgenthau chưa bao giờ buông lơi niềm tin mãnh liệt vào kế hoạch cứng rắn về nước Đức hậu chiến. Trong khi làm việc về lý lịch được ủy quyền của Morgenthau, sử gia trẻ người xứ Yale, John Morton Blum, nói với Morgenthau rằng ông nghĩ kế hoạch đó là một sai lầm.


Người đàn ông già vặn lại, “cậu còn quá trẻ không thể biết được Kế hoạch Morgenthau có sai lầm hay không. Và tôi đánh cược với cậu-mặc dù tôi sẽ không đi đây đó để thu thập-rằng cậu sẽ phải chiến đấu với nước Đức một lần nữa trước khi cậu từ giã cõi đời này."


Tại Washington, chiều thứ sáu, ngày 6 tháng Bảy 1945, Harry Truman đáp chuyến tàu dành riêng cho Tổng thống đến Newport News, nơi tàu tuần dương hạng nặng Augusta đang chờ đưa ông và đoàn tùy tùng vượt Đại Tây dương. Hạ thủy trong chuyến thử thách ngoại giao đầu tiên đầy rủi ro. Truman không có sự tự tin của Roosevelt. Harold Ickes nhận thấy Tổng thống quá "sợ hãi" chuyến đi đến nỗi ông cảm thấy “có thể tốt hơn nếu Truman ở lại nhà." Truman viết cho Bess, vợ ông, rằng ông cảm thấy "xanh như tràm” về việc hội kiến với “Ngài Nga và Ngài Vương quốc Anh." Ông viết trong nhật ký, "Tôi căm ghét chuyến đi này biết bao! Nhưng tôi phải thực hiện nó.”


Trong tám ngày hành trình, tâm trạng Truman phấn chấn hẳn lên. Ban ngày ông đi dạo lúc sáng sớm xuống boong tàu Augusta, cầm một khay kim loại đựng món mì ống, theo dõi các thủy thủ thực tập bắn súng và dùng ống nhòm chăm chú quan sát đại dương. Ban đêm, ông vừa ăn tối vừa nghe “nhạc sống,” chơi bài poker với các phụ tá và xem phim, kể cả phim Something for the Boys, có diễn viên Carmen Miranda. Truman viết cho Bess, “Một chuyến đi thư giãn và thỏa mãn nhất. Không có một phút nào để đau ốm."


Dưới bầu trời êm dịu, Truman ngồi trong ghế trên boong tàu với Byrnes, Đô đốc Leahy, chuyên gia về Liên Xô Charles Bohlen và những người đã cố vấn cho Roosevelt ở hội nghị Casablanca, Tehran, Quebec và Yalta. Như Leahy nhớ lại, Tổng thống vắt kiệt "sự kiện và ý kiến” từ những người này suốt ngày.


Truman nhớ lại năm 1954 sau khi đọc xong các bức điện cuối cùng Stalin gửi cho Roosevelt, ông đã "cảnh giác đề phòng" nhưng vẫn có "các cảm giác thân ái nhất trên thế giới về nước Nga... Họ mất bảy triệu người trong chiến tranh, ngoài các công dân đã bị Đức giết chết... Tôi luôn hi vọng người Nga sẽ sống theo các thỏa thuận." Đoán chừng rằng Roosevelt dã cam kết Mỹ chia cắt nước Đức theo một cách nào đó. Truman nói với các cố vấn của mình rằng ông sẽ lắng nghe mọi ý kiến được đưa ra ở Postdam về việc chia cắt đất nước bại trận181 (Năm 1955 và 1956, khi Truman xuất bản hồi ký Tổng thống, hăm hở tự trình bày mình là một người bạn của người Đức hậu chiến và Liên Xô như đảng gây hấn, Truman tuyên bố ông không muốn chia cắt nước Đức: "Mục đích của tôi là một nước Đức thống nhất có chính quyền trung ương ở Bá Linh." Thế nhưng văn thư đương thời cho thấy ông thích dự thảo cũ của Roosevelt về một liên bang miền nam nước Đức)-nhưng không phải là các dự thảo của Morgenthau. Ông nói, những dự thảo như thế phải bị “loại bỏ."


Khi tàu tuần dương Augusta đến Antwerp, Bỉ, vào Chủ nhật 15 tháng Bảy, Tướng Eisenhower đang chờ. Ám chỉ đến Clay, ông bảo Truman và Byrnes rằng “chính quyền dân sự” phải đảm trách càng nhanh càng tốt vùng Mỹ chiếm đóng. Đương nhiên quân đội "phải ở lại để kiểm soát” cho đến khi vãn hồi trật tự, song “trách nhiệm quân sự" không bao gồm “chính quyền của những cá nhân trong cuộc sống hàng ngày." Eisenhower cũng giới thiệu khu tái cư trú sớm ở Ruhr. Ông nói, "Hãy để cho nước Đức xuất khẩu các sản phẩm tiêu dùng không liên quan đến “các nghành công nghiệp chiến tranh bị cấm." Nếu người Đức không có tiền nhập khẩu lương thực, họ sẽ “sớm chết đói."


Từ Brussels, Truman và đoàn tùy tùng lên chiếc chuyên cơ Sacred Cow cũ của Roosevelt và hai chiếc C-54 đi Bá Linh. Từ chỗ ngồi nơi cửa sổ, Truman lần đầu tiên nhìn lướt qua đất nước bại trận. Ông được thông tin rằng trong vùng Liên Xô chiếm đóng, Hồng quân “giật sập" các nhà máy và cướp đi “mọi thứ."
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 4021



WWW
« Trả lời #103 vào lúc: 30 Tháng Chín, 2008, 09:00:28 pm »

Năm 1954, Truman nhớ lại những gì người Nga đã làm trong các căn nhà riêng của người Đức: "Họ lấy đi các chiếc đồng hồ đứng to đùng và đặt chúng lên sàn xe tải hoặc sàn toa chở hàng và sau đó ném mọi thứ lên trên... Binh lính Nga chưa bao giờ nhìn thấy một chiếc giường tiện nghi và họ không biết sử dụng chúng ra sao... Họ phá hủy mọi thứ họ có thể có được trong tay... Đó là điều Stalin gọi là chiến lợi phẩm. Định nghĩa của người Tarta về chiến lợi phẩm là “ấy mọi thứ vớ được và không sử dụng nó.”


Đoàn tùy tùng của Tổng thống được đưa về vùng phụ cận Postdam là Babelsberg, một thời là nơi trú ẩn mùa hè cho các ngôi sao điện ảnh và các nhà sản xuất người Đức. Ở đó Truman được đưa đến nghỉ trong một biệt thự trát vữa màu vàng gần một hồ nước, ông nhận thấy nó ảm đạm đến nỗi gọi nó là "căn nhà ác mộng.” Trong nhật ký, ông ghi rằng Hồng quân đã luộc sạch căn biệt thự-“một cái muỗng sắt cũng không bỏ lại."


Phái đoàn Mỹ được người Nga cho biết biệt thự thuộc về một người có vai vế trong ngành điện ảnh Đức, đã bị tống đi lao động ở Siberia. Truman chưa bao giờ gặp Churchill trước hội nghị Postdam. Ông ghi chép rằng khi Thủ tướng ghé thăm ông tại biệt thự vào sáng thứ hai, ngày 16 tháng Bảy, Churchill “cho tôi biết nhiều điều phi lý về đất nước vĩ đại của tôi thế nào và ông yêu mến Roosevelt ra sao và ông có ý định yêu thương tôi thế nào." Năm 1954, ông nhớ lại, “Tôi thích ông ngay từ đầu... Tôi nghĩ ông ngạc nhiên và hài lòng khi gặp tôi. Dĩ nhiêng ông đã được thông tin về một người đứng đầu quốc gia không tương xứng nào mà ông phải giao thiệp. Nhưng tôi nghĩ ông đã thay đổi ý kiến."

Truman được cho biết rằng Stalin sẽ đến Postdam muộn. Sẵn thời giờ, Tổng thống quyết định kinh lý Bá Linh.

Những người chiến thắng giống như Thành Cát Tư Hãn, và Julius Caesar, mà Truman đã đọc ngấu nghiến khi còn bé, trình bày các hoạt cảnh lịch sử mênh mông, trong đó họ trên lưng ngựa nhìn thấy các miền đất bị đánh bại. Nếu Franklin Roosevelt đạt được giấc mơ đi kinh lý Bá Linh bị đánh bại, hầu như ông chắc chắn đã đến được thủ đô của Hitler với nhà hát và nghi thức.


Nhưng Truman khiêm tốn hơn. Với chuyến kinh lý không dự định trước, ông chỉ cùng với Byrnes và Leahy ngồi vào ghế sau chiếc Chrysler mui trần trang hoàng hai bên mỗi bên một ngôi sao trắng lớn, và người tài xế bắt đầu ra xa lộ tiến vào Bá Linh lúc không giờ. Dọc hai bên đường ông nhìn thấy "một đoàn người dài đến vô tận," gồm nam, nữ và trẻ em, tất cả đều “nhìn thẳng về phía trước.” Bị người Nga đuổi ra, họ “đang mang những gì họ có thể mang là đồ dùng cá nhân để không đi đến một nơi nào hết."


Cảnh tượng những người Đức bại trận và nạn nhân của họ một lần nữa nhắc nhở Truman về người bà của ông trong Liên bang thời nội chiến Mỹ và gia đình bà sau Nội chiến: “Bị buộc rời khỏi nông trại theo luật lính Mỹ thời nội chiến Mỹ,” họ lang thang trong nhiều tuần lễ "dọc theo các con đường nóng bỏng của bang Missouri cho đến khi tìm được một nơi an toàn để trụ lại.” Truman nghĩ đến “hàng triệu người ở châu Âu hiện nay giống như bà của ông.”


Đi qua các khu đổ nát ở Berlin, Truman ngửi thấy mùi hôi thối của xác chết thối rứa và nhìn thấy những gì còn lại của Tòa nhà Quốc hội tức tối sẫm. Ông nói, “Đó là điều khủng khiếp, nhưng chính họ đã gây ra." Ông tưởng tượng những gì mà một Hitler chiến thắng có thể thực hiện cho Thủ đô Hoa Thịnh Đốn. Ông cảm thấy “biết ơn" vì người Mỹ đã “ít phá phách."


Họ dừng lại trước phủ Hitler, gần boong ke ngầm dưới mặt đất Truman từ chối không bước vào trong, ông nói ông không muốn bất kỳ "người bất hạnh nào trong số đó" nghĩ ông đang “nhìn chúng một cách thèm thuồng.” Nhưng ông chua chát thầm thì với Byrnes rằng ông không chắc người Đức đã "học được gì” từ kết thúc thảm hại của Đức quốc xã.


Truman quay trở về biệt thự chiều hôm đó với tâm trạng phiền muộn sâu sắc. Ông viết cho Bess, "Đây là chốn địa ngục - những con người suy nhược, bẩn thỉu, hôi thối, tuyệt vọng, dáng vẻ xấu hổ đang lê bước. Em chưa bao giờ nhìn thấy một thành phố đổ nát hoàn toàn như thế đâu.” Trong nhật ký, ông viết rằng “nguyên nhân phá sản tuyệt đối của Bá Linh là sự điên rồ của Hitler. Ông ta thất bại vì cố xâm chiếm vào quá nhiều lãnh thổ. Ông ta không có đạo đức và dân tộc ông đã ủng hộ ông ta.”


Đúng trưa thứ ba, ngày 17 tháng Bảy, Tổng thống đang làm công việc nghiên cứu thì, như sau này ông kể lại, “Tôi ngẩng lên và bắt gặp Stalin đứng ngay ở cửa... Chúng tôi đã dùng cơm trưa, nói chuyện xã giao, nâng cốc chúc mừng mọi người, và sau đó chụp hình ở sân sau. Tôi có thể giao dịch với Stalin. Ông trung thực, nhưng rất khôn lanh."


Suốt bữa trưa, Byrnes mô tả chuyến viếng thăm của họ đến tổng hành dinh của Hitler và hỏi Stalin xem ông nghĩ Hitler chết như thế nào. Nguyên soái tự biện rằng Quốc trưởng vẫn còn sống-“ở Tây Ban Nha hoặc ở Argentina.”182 (Có thể Stalin đang lấy cớ là Hitler vẫn còn sống và nguy hiểm để cho phép áp dụng các biện pháp cứng rắn hơn chống lại nước Đức và, như sử gia Alonzo Hamby ghi lại, có lẽ để làm lệch hướng chú ý khỏi các tham vọng gây hấn của riêng ông ta)

Truman nói với Stalin rằng ông "rất lo lắng về việc cơ cấu tổ chức của người đức hoạt động thế nào" để Hội đồng Kiểm soát Đồng minh có thể "cai trị” nước Đức “như một tổng thể."
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 4021



WWW
« Trả lời #104 vào lúc: 30 Tháng Chín, 2008, 09:01:43 pm »

Phiên hội nghị chính thức đầu tiên bắt đầu lúc 5 giờ 00 chiều tại Dinh Cecilienhof, được xây dựng năm 1917 trước khi Đức bại trận trong Thế chiến I. Để chứng tỏ sự bình đẳng giữa họ, trong bản nhạc cường quốc, Truman, Stalin và Churchill bước vào phòng cùng một lúc qua ba cửa riêng biệt.


Ngồi cùng với đồng minh tại một chiếc bàn tròn trải khăn màu rượu chát, Truman nhớ lại bi kịch Versailles năm 1919. Lúc này, bất kỳ hội nghị về hòa bình nước Đức nào cũng “được các cường quốc chiến thắng chuẩn bị trước." Ông đề nghị cơ sở sẽ giao cho một Hội Đồng các Bộ trưởng Ngoại giao, gồm Bộ Ba cộng thêm Pháp và Trung Quốc.


Stalin phàn nàn Pháp là những kẻ xu nịnh Mỹ và Trung Quốc không được quyền dính líu vào "các vấn đề châu Âu.” Truman và Churchill thỏa thuận loại bỏ Trung Quốc.

Stalin nói đùa rằng nếu các ngoại trưởng phải làm việc thì “chúng ta không còn việc gì để làm." Truman đáp, “Tôi không muốn tranh luận. Tôi muốn quyết định.” Ông hy vọng họ có thể bắt đầu vào sáng sớm ngày mai. Churchill vui vẻ hứa “vâng theo mệnh lệnh của các Ngài.”


Stalin nói, vì Churchill ở trong "trạng thái vâng lời như thế," nên ông muốn biết liệu nước Anh có “chia hạm đội Đức với chúng tôi không." Churchill nói có lẽ phải dẹp bỏ hạm đội. Vũ khí chiến tranh là những thứ khủng khiếp.


Stalin nói, “Chúng ta hãy chia nó ra. Nếu Ngài Churchỉll muốn, ngài có thể nhấn chìm phần chia của ngài.”
Truman đề nghị Hội đồng Kiểm soát Đồng minh bắt đầu làm việc ngay tức khắc. Về "các vấn đề ảnh hưởng đến nước Đức như một tổng thể," Hội đồng Kiểm soát phải là “tối cao." Về các vấn đề ảnh hưởng đến từng vùng, tư lệnh vùng nắm quyền tối cao.


Trưa thứ Tư, 18 tháng Bảy, Churchill ghi lại rằng các đối tác của ông tiếp tục sử dụng từ ngữ nước Đức. Ông hỏi họ, “Bây giờ ý nghĩa của từ 'nước Đức' là gì? Có phải nó được hiểu theo cùng một nghĩa trước chiến tranh không?"


Cuộc tranh luận về các biên giới nước Đức hậu chiến bắt đầu. Tại Yalta, Bộ Ba đã thỏa thuận Đường biên giới Curzon, được vẽ ra sau Thế chiến I, sẽ là đường biên giới phía đông Ba Lan với Liên bang Liên Xô. Họ cũng quyết định rằng Ba Lan sẽ được đền bù bằng lãnh thổ Đức thực tế tới phía tây.


Stalin cảm thấy Ba Lan đáng được hưởng cả đông Đức có sông Oder và Neisse. Điều này sẽ buộc hàng triệu người Đức di về phía tây và tước của nước Đức một số các đất nông nghiệp chăn nuôi phì nhiêu nhất. Theo như Stalin biết, đây là việc đã rồi; “nước Đức là cái nó đã trở thành sau chiến tranh."


Nhưng Truman từ chối xem xét vấn đề đã giải quyết rồi: “Tại sao không nói nước Đức như nó đã là trước chiến tranh, năm 1937?" Stalin trả lời, như nó hiện là-năm 1945." Truman nhắc Stalin nhớ rằng nước Đức đã "mất mọi thứ năm 1945,” và tại Yalta. Bộ Ba đã thỏa thuận trì hoãn các vấn đề như thế cho đến khi có hội nghị hòa bình cuối cùng về nước Đức.


Mất kiên nhẫn, Truman viết trong nhật ký, "Tôi sẽ không ở lại nơi khủng khiếp này suốt kỳ hè chỉ để nghe các bài diễn văn. Tôi sẽ về nhà, đến Nghị viện để nói điều này.”

Thứ Sáu, ngày 20 tháng Bảy, Truman cùng với Tướng Eisenhower và Tướng Bradley theo dõi việc chính thức kéo cờ Mỹ lên trên vùng Mỹ chiếm đóng ở Bá Linh. Nói không cần bản ghi chép, Truman phát biểu với nhóm binh linh Mỹ, “Chúng ta không chiến đấu để xâm chiếm. Chúng ta không muốn chiếm một mảnh lãnh thổ nào hoặc một đồng tiền nào nhờ vào chiến tranh."


Chính xác là một năm kể từ khi âm mưu của Claus von Stauffenberg chống Hitler thất bại. Nếu người Mỹ nào cũng nhớ đến ngày kỷ niệm này họ đã không công khai đề cập đến nó. Lúc này họ đang cố gắng liệt kê tội lỗi chung về những điều khủng khiếp của Hitler, họ không muốn làm xáo động vấn đề bằng cách nhắc nhở thế giới rằng một số người Đức đã liều mạng, dù muộn và vì bất kỳ lý do nào, để ngăn chặn Quốc trưởng.


Hôm sau, thứ bảy ngày 21 tháng Bảy, Stimson mang đến cho Tổng thống một thông điệp khẩn. Một quả bom kích nổ pluton được thử nghiệm ở Alamogordo, New Mexico, sớm hơn năm ngày, đã “thành công vượt ngoài mong đợi lạc quan nhất của mọi người."


Truman bảo Stimson rằng tin ấy cho ông "một cảm giác tin tưởng hoàn toàn mới." Ông biết rằng nếu Mỹ là chủ nhân duy nhất của bom nguyên tử thành công, việc kết thúc nhanh chiến tranh Nhật Bản được đặt ở thế sẵn sàng, không cần đến sự hỗ trợ của Liên Xô hoặc Anh quốc, và sẽ thực hiện được ý chí Mỹ trên thế giới hậu chiến.


Trưa hôm đó, Truman phàn nàn với Stalin rằng người Ba Lan được phân cho một vùng nước Đức “mà không có sự tham khảo ý kiến với chúng tôi."183 (Thực ra, theo sử gia Warren Kimball ghi lại, kể từ năm 1941 Mỹ và Anh “chưa bao giờ phản đối mạnh các đòi hỏi của Liên Xô rằng Đông Đức phải được nhượng cho Ba Lan hoặc Nga, hoặc cả hai", và các "đòi hỏi trước kia của Liên Xô về điều chỉnh đường biên giới Nga-Ba Lan theo hướng tây," Anh và Mỹ đã đi đến việc "chấp nhận một loại thay đổi nào đó theo hướng tây trong đường biên giới Ba Lan-Đức) Có phải họ sẽ “chia nhỏ nước Đức thành từng phần một?" Truman cảnh báo Stalin rằng sẽ khó thỏa thuận về bồi thường thiệt hại chiến tranh và các vấn đề khác "nếu nước Đức bị chia nhỏ trước khi có hội nghị hòa bình."


Stalin trả lời, "Chúng tôi quan tâm đến bồi thường thiệt hại chiến tranh, nhưng chúng tôi sẽ liều." Ông nhấn mạnh rằng việc cấp đất của nước Đức cho Ba Lan sẽ không có vấn đề gì vì không một người Đức nào còn ở lại trong vùng đất đó.


Leahy thì thầm với Truman, “Dĩ nhiên là không rồi. Những người Bônsêvíc sẽ giết chết hết bọn họ?"
Churchill ghi lại rằng “hai hoặc ba triệu người Đức vẫn còn lại trong vùng Stalin muốn giao cho Ba Lan. Loại bỏ nó khỏi nước Đức sẽ loại bỏ một phần tư phần đất nông nghiệp Đức, mà từ đó mang lại thực phẩm cho người Đức và phần bồi thường thiệt hại chiến tranh."


Truman nói, "Nước Pháp muốn vùng Saar và Ruhr. Cái gì sẽ bị bỏ lại đây?" Churchill cảnh báo rằng nếu nước Đức không đủ thực phẩm, "chúng ta có thể phải đương đầu với các tình thế giống như các tình thế trong các trại tập trung Đức-kể cả trên phạm vi rộng lớn hơn.” Stalin đáp, “Hãy để người Đức mua thêm bánh mì của Ba Lan!"


Churchill đòi hỏi nguồn cung cấp thực phẩm trên toàn nước Đức theo các đường biên giới năm 1937, phải có sẵn cho mọi người Đức, “bất kể thuộc vùng chiếm đóng nào." Ông phàn nàn rằng Ba Lan đang bán than của Đức cho Thuỷ Điển, trong khi người Anh phải đối mặt với “một mùa đông khắc nghiệt, không có lửa, tệ hại hơn bất kỳ mùa đông nào trong chiến tranh."

Stalin vặn lại rằng than được khai thác bằng sức lao động của người Ba Lan. Về phần người Đức, "chúng ta ít thương cảm bọn vô lại và tội phạm chiến tranh này."

Churchill ghi nhớ Stalin đã nói ngay từ đầu rằng "đau khổ quá khứ không được tô vẽ cho các quyết định của chúng ta." Nghe giống như Morgenthau ở Quebec, Stalin nhắc ông rằng “Chúng tôi càng để lại nước Đức ít công nghiệp càng có nhiều thị trường cho hàng hóa của các ông."


Truman cảnh cáo rằng ông không thể tán thành việc loại bỏ đông Đức ra khỏi “phần đóng góp kinh tế vào toàn thể nước Đức.” Sau này ông viết cho Bess, “Nga và Ba Lan đã ăn ngấu nghiến khoanh bánh to nước Đức và muốn Anh và Mỹ chúng ta đồng ý. Nhưng tôi dứt khoát bác bỏ."


Churchill cho tính táo bạo mới của Tổng thống là do tin tức tốt đẹp từ Alamogordo. Thủ tướng thông tin cho Stimson, “Đến hội nghị sau khi đã đọc bản báo cáo này, ông là một con người thay đồi hoàn toàn. Ông nói với người Nga ngay tại nơi họ ra vào và nói chung là làm chủ toàn bộ hội nghị."
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 4021



WWW
« Trả lời #105 vào lúc: 01 Tháng Mười, 2008, 06:45:00 pm »

Chương 24
"CHÚNG TA ĐANG ĐỂ TRÔI ĐƯỜNG BIÊN GIỚI XUỐNG TRUNG TÂM NƯỚC ĐỨC"


Là chủ sở hữu duy nhất bom nguyên tử, Tổng thống Truman vừa trở thành người quyền lực nhất mà nhân loại biết đến. Ngay trước khi thành công ở Alamogordo, ông đã mong mỏi trở về Mỹ với vợ. Vẫn còn âm ỉ căm hờn sự kiện Stalin bảo vệ “việc chiếm đoạt đất cho người Bônsêvíc," Truman muốn các đối tác phê chuẩn kế hoạch trừng phạt người Đức, bóp chết khả năng và khát vọng của nước Đức khởi phát một chiến tranh toàn cầu khác, và vẫn nuôi dưỡng và sưởi ấm toàn châu Âu. Hiện nay, với vũ khí hạt nhân trong kho, Truman yêu cầu Jimmy Byrnes tạo sức ép bế mạc nhanh hội nghị Postdam.


Ngoại trưởng mới không phải là Cordell Hull thủ cựu hoặc Edward Stettinius ngọt sớt. Byrnes cảm thấy ông phải là Tổng thống thay vì Truman. Truman biết điều đó, nhưng ông mong đợi rằng nếu Byrnes có thể được tạo ra để làm theo quyền lực của Tổng thống, ông ta sẽ là một nhà đàm phán ngoại giao cứng rắn và một chiến sĩ quốc hội đầy quyền lực cho các chương trình hậu chiến của Truman.


Sinh ra là người Công giáo ở Charleston, Nam Carolina, năm 1884, Byrnes là con trai của người cha Ái Nhĩ Lan nhập cư, chết trước khi ông chào đời. Mẹ ông may vá nuôi hai chị em ông. Khi lên mười bốn tuổi, ông rời trường trung học và lúc đầu trở thành đứa trẻ chạy giấy cho một công ty luật, và sau đó là phóng viên tòa án ở Spartanburg, quê hương của người theo thuyết chủ trương ưu thế của người da trắng và theo chủ nghĩa dân kiểm ruộng đất, Nghị sĩ "Pitchfork Ben” Tillman.


Byrnes đọc sách luật để thi vào trường luật và ở tuổi hai mươi sáu ông được chọn làm ủy viên công tố quận. Ông vào Quốc hội năm 1920 như một Tillmanite, hỗ trợ cho Hội Quốc Liên. Bốn năm sau, ông rớt Thượng Nghị viện sau khi từ chối không gia nhập Đảng Ku Klux Klan (đảng 3K, đảng cực đoan phân biệt chủng tộc ở Mỹ). Vì vợ ông, Maude, là người theo Tin Lành, Byrnes trở thành tín hữu của Tin Lành, nhưng ông từ chối không gia nhập bất kỳ một tổ chức chống Công giáo nào như Klan trong khi mẹ ông vẫn còn sống.


Năm 1930, Byrnes trở thành Thượng Nghị sĩ bằng sự giúp đỡ tài chính từ người đồng hương Nam Carolina là Bernard Baruch. Ông xây dựng ảnh hưởng với các Nghị sĩ đồng hương bằng cách xin Baruch cho biết ai trong số họ mà ông phải “đóng vai Santa Claus.”184 (Trong thập niên 1930, bạn thân của Byrnes là Joseph Kennedy cũng sử dụng sổ tay nhỏ để nâng cao địa vị trong Thượng Nghị viện. Kennedy bí mật nói với bạn ông Thomas Corcoran, “Tôi không ngạc nhiên khi các Nghị sĩ đang rao bán mình. Điều khiến tôi ngạc nhiên là giá bán quá thấp!" Alonzo Hamby tin rằng sự hào phóng tài chính của Byrnes-Baruch làm cho Truman sau này thay đổi giữa lòng biết ơn và sự oán giận mà ông hàm ơn hai người ủng hộ) Một trong các người hưởng hoa lợi chính là Truman, trong cuộc bầu cử chọn ứng cử viên Thượng Nghị viện khó khăn của ông vào năm 1940. Là người ủng hộ Roosevelt ngay từ đầu, Byrnes là một trong các người ủng hộ Tổng thống tích cực ở Nghị viện, mặc dù có các nghi ngờ đang phát sinh về trung ương tập quyền ở Hoa Thịnh Đốn.


Khi Mỹ bị lôi kéo vào Thế chiến II, Byrnes giúp Roosevelt thúc đẩy Thỏa ước Thuê-Mượn và viện trợ khác cho Anh quốc. Tổng thống đáp trả cho ông một vị trí trong Tòa án Tối cao, nơi mà Byrnes cảm thấy trước là sẽ bị xiềng xích và khốn khổ. Sau trận Trân Châu Cảng, Roosevelt đưa ông ra khỏi Tòa án để nắm chức vụ chỉ huy bộ phận huy động chiến tranh. Dựa vào biệt hiệu báo chí là “phụ tá Tổng thống," điều này khiến Roosevelt bực bội, Byrnes khai thác công việc nước Mỹ phía sau nỗ lực chiến tranh.


Nghi ngờ Roosevelt không thể đảm trách hết nhiệm kỳ thứ tư, ham muốn trở thành người kế vị, năm 1944 Byrnes sắp đặt âm mưu trở thành Phó Tổng thống. Roosevelt khâm phục trí thông minh, tính quỷ quyệt và tinh thần dám nghĩ dám làm của Byrnes nhưng cũng thận trọng cảnh giác ông. Ông biết các cử tri da đen, Công giáo, liên minh và tự do không bao giờ chấp nhận Byrnes làm Phó Tổng thống. Ngay từ đầu sự nghiệp, Byrnes đã chủ trương ép buộc người Mỹ gốc châu Phi di dân.


Với tính hai mặt cố hữu, tháng Bảy năm 1944, Roosevelt bảo Byrnes rằng Byrnes là "người có đủ tư cách nhất trong toàn đội ngũ”: "Ông không cần ra mặt chạy đua. Nếu tôi còn ở lại ông chắc chắn sẽ giành được."


Nghe đồn rằng Roosevelt thực sự chọn Truman hoặc Thẩm phán Tòa án Tối cao William O.Douglas, Bymes buộc phải chơi bài ngửa với Tổng thống trong cú gọi điện đến Hyde Park. Khi Roosevelt nói, Bymes tốc ký ghi lại để tự bảo vệ mình trong trường hợp sau này Tổng thống bóp méo những gì đã nói. Roosevelt nhấn mạnh rằng ông không đưa Truman hay Douglas ra: "Này Jimmy, điều đó hoàn toàn sai... Tôi nói với ông rằng tôi không thiên vị... ông tiếp tục hay bỏ chạy? Cuối cùng, này Jimmy, ông thân thiết với tôi... còn tôi hầu như không hề biết Truman."


Sau khi Truman được bổ nhiệm. Bymes giận dữ với "hành động đạo đức giả” của Roosevelt. Khi Tổng thống qua đài phát thanh phát biểu với hội nghị Chicago từ San Diego, các đại biểu vỗ tay nhiệt liệt hoan nghênh ông. Bymes kiềm chế ngồi lại trong ghế. Tuy nhiên, sau chiến thắng đắc cử nhiệm kỳ thứ tư của Roosevelt, Bymes đánh điện báo cho ông sự từ chối vui vẻ các trách nhiệm chiến dịch của Dewey: "Đối với một người già ốm yếu, dễ cáu gắt, mệt mỏi, thì ngài chắc chắn có thể rượt đuổi được."
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 4021



WWW
« Trả lời #106 vào lúc: 01 Tháng Mười, 2008, 06:45:44 pm »

Byrnes đang hào hiệp vì ông hy vọng Roosevelt sẽ bổ nhiệm ông kế vị Hull làm ngoại trưởng. Lo lắng vì chủ tâm của Byrnes, Roosevelt đã chọn Stettimus dễ bảo.


Để xoa dịu tự ái bị tổn thương của Byrnes, Tổng thống đưa ông đi Yalta, nhưng khi Byrnes nhận thấy ông đang bị bỏ ra ngoài các cuộc họp quan trọng, ông phàn nàn, "Tôi không cưỡi ngựa xem hoa." Roosevelt nhượng bộ. Khi Stalin phát hiện ra Byrnes ở bàn hội nghị ông nghĩ Byrnes là "tên ăn cắp ngựa có dáng vẻ trung thực nhất" mà tôi từng gặp.


Quay trở về Hoa Thịnh Đốn, Byrnes nghiêm túc tổ chức họp báo ca ngợi các thỏa hiệp ở Yalta. Sau đó ông rời bỏ chính quyền, cam đoan với Roosevelt rằng ông “không hề bực tức với bất kỳ ai". Tổng thống nói rằng việc Byrnes từ chức đã “chặt chân chặt tay tôi” và ông sẽ "nhớ Byrnes và Maude nhiều hơn tôi có thể thổ lộ.” Nhưng Roosevelt bí mật phàn nàn, “thật xấu hổ với nhưng con người khó tính."


Sau khi Truman lên làm Tổng thống, vì quá ấn tượng với sự hiện diện của Byrnes ở Yalta và quan tâm đến uy tín của ông ta trong Thượng Nghị viện, ông bổ nhiệm Byrnes vào “Uỷ ban Lâm thời" bí mật của mình về việc bom nguyên tử thành công phải được sử dụng thế nào. Hồ hởi phấn khởi với loại vũ khí mới, Byrnes cố vấn cho Tổng thống rằng nó "có thể đặt chúng ta vào vị trí tuyên bố các điều khoản riêng của chúng ta vào lúc kết thúc chiến tranh."


Thứ hai, ngày 23 tháng Bảy, được Truman hậu thuẫn, Byrnes bảo Molotov rằng ông "quan tâm sâu sắc" đến bồi thường thiệt hại chiến tranh. Bằng việc đột ngột giao lãnh thổ của Đức cho Ba Lan, Liên Xô đã đặt Anh và Mỹ vào các "tình thế nguy hiểm nghiêm trọng." Ông đề nghị mỗi cường quốc chiếm đóng chỉ nhận bồi thường thiệt hại chiến tranh từ vùng mình chiếm đóng. Anh-Mỹ muốn chia sẻ phần của họ với Pháp, Bỉ, Hà Lan và các nạn nhân khác của Đức quốc xã.


Byrnes nhấn mạnh rằng giải pháp này sẽ không gây tổn hại cho Liên bang Liên Xô, và lưu ý rằng vùng Liên Xô chiếm đóng chiếm khoảng một nửa của cải hiện có của nước Đức.185 (Byrnes cường điệu quá mức. Các phụ tá của ông thực sự khuyên ông rằng vùng Liên Xô chiếm đóng chiếm 31 phần trăm phương tiện sản xuất, 35 đến 39 phần trăm tống sản lượng và khai thác mỏ của nước Đức và 48 phần trăm nông nghiệp Đức) Theo kế hoạch này, nếu Liên Xô muốn thiết bị hoặc vật liệu nào đó từ các vùng khác, họ có thể trao đổi than để lấy chúng. Về các vấn đề như tiền tệ và phương tiện vận chuyển, Hội đồng Kiểm soát Đồng minh vẫn cai trị nước Đức như “một tổng thể kinh tế."


Bị sốc bởi mối nguy hiểm bất ngờ là Anh-Mỹ có thể không đưa ra chút bồi thường thiệt hại chiến tranh nào, Molotov cảnh báo Stalin phải "mạnh mẽ” ủng hộ một kế hoạch đòi bồi thường thường thiệt hại chiến tranh toàn bộ. Ông đề nghị giảm yêu cầu của Liên Xô từ 10 tỉ mỹ kim xuống 8 tỉ-với điều kiện Liên bang Liên Xô có thể lấy được 2 tỉ từ Rurh.


Ngày hôm sau, thứ ba 24 tháng Bảy, Bymes ghi chép rằng trong nhiều ngày Bộ Ba cứ ba hoa về "hội nghị hòa bình" quan trọng cuối cùng của người Đức. Ông nói lúc này Tổng thống và ông tin rằng một hội nghị như thế, với “các đại biểu từ trên năm mươi đất nước" không có quyền lợi trực tiếp ở châu Âu, sẽ chỉ đẻ ra ra các “cuộc thảo luận vô tận." Vì sao không đưa các vấn đề châu Âu, như chúng phát sinh, vào các hội nghị thường xuyên giữa các ngoại trưởng Mỹ, Liên Xô, Anh và Pháp?

Thứ tư ngày 25 tháng Bảy, Stalin nói với Truman và Churchill rằng “nếu Ruhr vẫn còn là một phần của nước Đức, nó phải cung cấp cho toàn nước Đức.”

Mỹ tái mặt. Charles Bohlen của phái đoàn Mỹ bí mật cảnh báo rằng Stalin sẽ sử dụng đặc quyền như thế để “làm tê liệt" nền kinh tế Đức và đẩy đất nước bại trận “hướng đến chủ nghĩa Cộng sản.”

Hội nghị Postdam ngừng họp khi Churchill quay trở về London chờ thông báo về kết quả cuộc bầu cử ở Anh.186 (Cuộc bỏ phiếu kín diễn ra trước đó ba tuần, nhưng phán quyết dược hoãn lại vì chờ kiểm phiếu quân sự)


Truman bay đến Frankfurt gặp Eisenhower tại tổng hành dinh trước kia của I.G. Farben, một trong các nhà máy sản xuất chiến tranh của Đức được Nghị sĩ Truman điều tra nghiên cứu trong chiến tranh. Truman viết cho mẹ và em gái Mary, “các thành phố lớn như Frankfurt và Darmstadt bị tàn phá, nhưng các thành phố nhỏ vẫn còn nguyên vẹn. Thật khủng khiếp khi nhìn thấy bom đã làm gì thành phố, đường xá và cầu cống. Cứ nghĩ đến hàng triệu người Nga, Ba Lan, Anh và Mỹ bị tàn sát tất cả vì sự điên rồ của một kẻ tự cao tự đại điên khùng tên là Hitler. Con hy vọng điều đó sẽ không xảy ra nữa.”


Ở Luân Đôn, Churchill biết rằng tuy ông có vai trò chiến thắng trong việc kết thúc chiến tranh châu Âu, song các cử tri Anh, hiện nay đang tập trung vào các vấn đề nội địa, đã chuyển hướng sang đảng Bảo thủ. Các phụ tá của Thủ tướng phàn nàn về “sự vô ơn bạc nghĩa" của dân tộc. Chán nản, Churchill trả lời với tư cách một người cha, "Tôi không thể nói như thế được. Họ đã có một thời gian rất cơ cực.”


Thứ bảy, ngày 28 tháng Bảy, Molotov nài ép Byrnes chấp nhận lời đề nghị của ông là mỗi cường quốc nhận bồi thường thiệt hại chiến tranh từ vùng mình chiếm đóng và trao đổi để lấy hàng hóa cần thiết. Có phải điều đó có nghĩa là "mỗi nước sẽ rảnh một tay trong vùng mình chiếm đóng” và “hành động hoàn toàn độc lập với các nước khác không? “Byrnes trả lời, Đúng về căn bản.”

Molotov nhắc Byrnes rằng tại Yalta, Mỹ đã đồng ý với Liên Xô là “họ sẽ lấy được nhiều bồi thường thiệt hại chiến tranh bao nhiêu có thể từ nước Đức."
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 4021



WWW
« Trả lời #107 vào lúc: 01 Tháng Mười, 2008, 06:46:31 pm »

Byrnes kháng biện là đã có nhiều thay đổi kể từ sau hội nghị Yalta. Họ không biết “phạm vi phá hủy của nước Đức” hoặc chuyện Liên Xô sẽ cho Ba Lan "một phần to lớn và màu mỡ của nước Đức trước kia.”

Chủ nhật, ngày 29 tháng Bảy, Truman viết cho vợ rằng nếu ông có thể tạo ra sự giao dịch “vững chắc hợp lý” về bồi thường thiệt hại chiến tranh và biên giới Ba Lan-Đức, ông có thể “giải quyết được sự tranh cãi ầm ĩ này” và đi thẳng về nhà.


Buổi trưa, Molotov nói với Byrnes rằng lời đề nghị bồi thường thiệt hại chiến tranh của ông ta có thể "được chấp nhận trên nguyên tắc." Nhưng trái ngược với yêu sách của Byrnes, ông nói vùng Liên Xô chỉ bao gồm khoảng bốn mươi hai phần trăm của cải nước Đức. Do đó Liên bang Liên Xô xứng đáng được khoảng tám phần trăm từ các vùng khác, bao gồm 2 tỉ mỹ kim trang thiết bị công nghiệp từ Ruhr.


Byrnes trả lời rằng các chuyên gia của ông nghĩ không thể “đưa ra được bất kỳ giá trị đặc biệt nào bằng tiền" về bồi thường thiệt hại chiến tranh tiềm năng. Do đó Liên Xô phải có hái mươi lăm phần trăm mọi trang thiết bị “có sẵn cho bồi thường thiệt hại chiến tranh" từ Ruhr. Nhưng Liên Xô phải trả tiền cho các máy móc đó bằng than và các hàng hóa khác từ vùng họ chiếm đóng.


Trưa thứ hai, ngày 30 tháng Bảy, Byrnes bảo Molotov rằng "như một sự nhượng bộ,” lúc này Mỹ sẽ phải chịu đựng việc Liên Xô nhượng lại phần lãnh thổ của nước Đức vượt quá Đường biên giới Oder-Neisse cho Ba Lan. Đáp ứng yêu cầu khác của Liên Xô, ông đồng ý trao tặng sự công nhận mang tính ngoại giao "đến chừng mực có thể" về các chính quyền Liên Xô thống trị ở Lỗ Ma Ni, Hung Gia Lợi, Bảo Gia Lợi (Bulgaria) và Phần Lan.


Khi thực hiện hai nhượng bộ, Byrnes nêu ra “vấn đề khó khăn nhất trong mọi vấn đề”: bồi thường thiệt hại chiến tranh. Ông đề nghị họ rút bỏ số lượng mỹ kim đã đặt ra trước và thay vào đó đồng ý các tỷ lệ phần trăm của cải nước Đức.


Sau khi thỉnh thị ý kiến Stalin, người nghi ngờ công thức phần trăm rút cục có thể đưa đến cho Liên Xô một phần chia không có gì hết, Molotov yêu cầu 800 triệu mỹ kim tiền bồi thường thiệt hại chiến tranh. Nhưng Bymes một lần nữa bác bỏ ý kiến về số tiền đã đặt ra.


Molotov hỏi, theo kế hoạch của Bymes, ai sẽ quyết định các nhà máy nào và trang thiết bị nào trong từng vùng phía Tây “có sẵn" dành cho khoản bồi thường thiệt hại chiến tranh. Byrnes trả lời, "Tư lệnh vùng."
Molotov lưu ý rằng một tư lệnh có thể nói trong vùng ông ta không có sẵn khoản bồi thường thiệt hại chiến tranh. Nhưng Byrnes không nhúc nhích. Ông nhấn mạnh rằng lời đề nghị của ông về Ba Lan là “sự nhượng bộ trên phần của chúng tôi lớn hơn phần của người Nga." Molotov xác nhận đây là “sự nhượng bộ cho Ba Lan," không phải cho Liên bang Liên Xô.


Tối đó, Truman viết trong nhật ký rằng các cuộc đàm phán đang “đi vào ngõ cụt." Ông viết cho Bess, "Toàn bộ khó khăn là bồi thường thiệt hại chiến tranh. Dĩ nhiên, người Nga đương nhiên là kẻ cướp bóc và họ đã bị người Đức cướp bóc tận tình hết lần này đến lần khác và em khó có thể khiển trách được thái độ của họ. Điều anh phải canh chừng là giữ cho phần phạm vi của chúng ta sạch sẽ và không đưa ra bất kỳ cam kết nào khác."


Sáng thứ ba, ngày 31 tháng Bảy, Bymes bảo Molotov rằng các đề nghị của ông về các mối quan hệ ngoại giao với Tây Âu, phần đất nước Đức cho Ba Lan và bồi thường chiến tranh của Đức là một gói; “Chúng ta sẽ tán thành cả ba hoặc không phần nào cả."


Stalin đưa ra đề nghị bồi thường thiệt hại chiến tranh riêng của mình. Mỗi chính quyền sẽ lấy từ các sự rút quân gộp cả vùng riêng trong hai năm và các hàng hóa phân phối hàng năm từ sản lượng hiện hành trong mười năm. Từ các vùng phía Tây, Liên bang Liên Xô cũng nhận mười lăm phần trăm trang thiết bị công nghiệp cơ bản, mà Liên Xô sẽ trả lại một số lượng tương tự bằng thực phẩm, than đá, ka li, gỗ xây dựng, hàng hóa đồ gốm và sản phẩm tử dầu ông nói Liên Xô cũng sẽ lấy phần chia trị giá 500 triệu mỹ kim bằng nhà máy và các xí nghiệp ở các vùng phía Tây, cũng như ba mươi phần trăm vàng và các phần đầu tư ở nước ngoài của nước Đức. Hội đồng Kiểm soát Đồng minh có thể quyết định “khối lượng rút ra" khỏi các vùng phía Tây.


Nguyên soái nói ông hy vọng Anh và Mỹ sẽ "đáp ứng một nửa." Liên bang Liên Xô đã thiệt hại một "số lượng khủng khiếp, trang thiết bị trong chiến tranh: “Ít nhất cũng phải được phục hồi hai mươi phần trăm."
Byrnes phàn nàn rằng yêu cầu của Stalin cho các phần chia trong công nghiệp Đức ở vùng phía Tây và tài sản nước Đức ở ngoại quốc vượt xa đề nghị của Mỹ.

Stalin trả lời rằng nếu những điều này bị từ chối, thì phần trăm tài sản nước Đức dành cho Liên bang Liên Xô phải được tăng lên.

Chiều tối hôm đó, Truman bí mật viết ra sự phê chuẩn chính thức cho phép thả bom nguyên tử đầu tiên xuống Nhật. Ba ngày sau khi biết được cuộc thử nghiệm thành công ở Alamogordo, Tổng thống bình thản nói với Stalin rằng hiện nay Mỹ đã có một vũ khí hủy diệt bất thường mới. Truman không biết rằng cơ quan tình báo Liên Xô đã tóm tắt cho Stalin biết về Dự án Manhattan và cuộc thử nghiệm. Stalin chỉ trả lời Truman rằng ông hy vọng Mỹ sẽ sử dụng tốt vũ khí chống lại Nhật.187 (Tháng Sáu năm 1942, các gián điệp Liên Xô ở Nữu Ước, Luân Đôn, Bá Linh được thông báo là Nhà Trắng, "theo như tin đã đưa," đã quyết định “cấp một số tiền lớn cho dự án bí mật phát triển bom nguyên tử”)
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 4021



WWW
« Trả lời #108 vào lúc: 01 Tháng Mười, 2008, 06:47:12 pm »

Lúc này, khi ra lệnh bằng văn bản, Truman định rõ rằng biến cố vang như sấm sẽ chỉ bộc lộ sau khi ông và đoàn của ông an toàn đến Postdam: "Thả bom ngay nhưng không được trước ngày 2 tháng Tám.”


Trưa thứ tư ngày 1 tháng Tám, trong khi đang thảo luận về tài sản của Đức ở ngoại quốc, Stalin đưa ra đề nghị quyết định. Với Truman và Thủ tướng mới thuộc Đảng Lao động của Anh, Clement Attlee, lúc này thay thế Churchill tại Postdam, Stalin đề nghị rằng Liên bang Liên Xô "xem như toàn bộ Tây Đức thuộc về phạm vi các ông và Đông Đức thuộc về chúng tôi."

Truman hỏi có phải Stalin có ý muốn nói thiết lập một “đường biên giới” xuống châu Âu, “chạy từ Baltic đến Adriatic.”

Stalin trả lời “đúng vậy".”Về phần các vốn đầu tư của Đức ở châu Âu, chúng vẫn thuộc về chúng tôi và phần còn lại thuộc về các ông." Truman hỏi, “Điều này chỉ áp dụng cho các vốn đầu tư của Đức ở châu Âu châu hay ở cả các nước khác?”


Stalin nói, "Để tôi nói rõ thêm. Các vốn đầu tư của Đức ở Lỗ Ma Ni, Bảo Gia Lợi, Hung Gia Lợi, và Phần Lan thuộc về chúng tôi, còn tất cả phần còn lại thuộc về các ông... Trong tất cả các quốc gia khác-nam Mỹ, Gia Nã Đại, và các quốc gia tương tự-tất cả đều thuộc về các ông."

Luật sư Byrnes hỏi, thế một công ty Đức có công ty mẹ ở Bá Linh, nhưng công việc kinh doanh lại ở nơi khác thì sao.

Stalin trả lời, “Nếu công việc kinh doanh ở phương Tây, chúng tôi sẽ không yêu sách gì."

Byrnes hỏi, "Nếu xí nghiệp không nằm trong Đông Âu nhưng nằm trong Tây âu hoặc trong các phần khác trên thế giới, thì xí nghiệp đó vẫn thuộc về chúng tôi chứ?" Stalin trả lời ở nước Mỹ, Na Uy, Thuỵ Sĩ, Thuỵ Điển, A Căn Đình-tất cả là của các ông!" Mọi người phá lên cười.

Stalin tiếp tục, “Chúng tôi không đấu đá với Anh hoặc Mỹ."


Họ chuyển đề tài qua tội phạm chiến tranh. Không ai nghi ngờ rằng Mỹ sẽ cố gắng nnh nọt người Đức-đặc biệt là các nhà đại tư bản Đức. Stalin phàn nàn rằng người Mỹ không muốn công bố danh sách dài các tội phạm chiến tranh Đức: "Có phải chúng ta không hành động chống lại bất kỳ nhà tư bản công nghiệp Đức nào không? Tôi nghĩ là chúng ta phải.” Nêu lên một dẫn chứng, Stalin đề cập đến triều đại Krupp, từ lâu nổi tiếng là tạo ra sức mạnh của nước Đức: “Nếu họ không làm, chúng ta hãy đề cử người khác.”


Truman nói, “Tôi không thích bất kỳ người nào trong bọn họ!" Cả hội nghị phá ra cười. Tổng thống thuyết phục rằng nếu họ đề cập đến một số tên này nhưng lại bỏ sót các tên khác, “người ta có thể nghĩ chúng ta không có ý định đưa nhưng người khác đó ra xét xử."


Chừng như ở Yalta, Stalin vặn lại người Anh bằng cách đề cập đến người tay chân già Rudolf Hess của Hitler, vẫn còn bị cầm tù ở Tháp Luân Đôn: "Điều ngạc nhiên là Hess ở nước Anh, được chu cấp đầy đủ, và không bị đưa ra xét xử."

Ernest Bevin, Ngoại trưởng mới của Anh, trả lời, "Nếu có bất kỳ điều nghi ngờ nào về Hess, tôi sẽ hiểu rằng Hess phải được chuyển giao-và chúng tôi cũng sẽ gửi hóa đơn thanh toán việc giam giữ ông ta!"


Stalin nói ông hài lòng với việc liệt kê "chỉ ba tên” tội phạm chiến tranh Đức. Tóm tắt quan điểm Stalin cho rằng Hitler có thể vẫn còn sống, Attlee đề nghị họ bắt đầu với Hitler. Stalin nói họ không có tư liệu về Hitler “để tùy ý sử dụng," nhưng ông rất muốn nêu tên Hitler ra. Cuối cùng Bộ Ba đồng ý công bố danh sách các tội phạm chiến tranh hàng đầu của Đức trong vòng "một tháng."


Tối hôm đó, vào lúc 10 giờ 40, Truman, Stalin và Attlee ký Tuyên ngôn Postdam. Tuyên ngôn viết, “Dân tộc Đức bắt đầu phải chuộc lỗi từ các tội ác khủng khiếp mà họ đã phạm phải dưới sự lãnh đạo của những người mà trong giờ phút thành công, họ đã công khai tán thành và mù quáng vâng lời."


Những người chiến thắng không muốn “hủy diệt hoặc nô dịch hóa" người Đức, nhưng muốn giúp họ "chuẩn bị tái xây dựng cuộc sống họ dựa trên nền tảng hòa bình và dân chủ," các chính sách của Đồng minh về nước Đức là đồng nhất, “khả thi." Trong thời hạn chiếm đóng, "nước Đức sẽ được đối xử như một khối kinh tế duy nhất." Mỗi cường quốc chiếm đóng sẽ hưởng khoản bồi thường thiệt hại chiến tranh từ các vùng mình chiếm đóng. Ngoài ra, Liên Xô sẽ hưởng mười lăm phần trăm trang thiết bị công nghiệp "không cần thiết cho nền kinh tế thời bình của nước Đức," để trao đổi lấy thực phẩm, than đá và các hàng hóa khác. Họ cũng sẽ được nhận thêm mười phần trăm. Hội đồng các Ngoại trưởng sẽ soạn thảo một hiệp ước hòa bình “được chính quyền Đức chấp nhận khi thiết lập được một chính quyền thích hợp với mục đích trên.”


Sau khi văn kiện được cả ba nhà lãnh đạo ký kết, Truman thông báo hội nghị “hoãn lại đến hội nghị sau của chúng ta, và tôi hy vọng sẽ được tổ chức ở Hoa Thịnh Đốn.” Stalin mỉm cười đáp lễ, “Nếu Chúa muốn!"

Truman viết cho mẹ mình, “Mẹ chưa bao giờ nhìn thấy những con người cứng đầu cứng cổ như người Nga đâu. Con hy vọng sẽ không bao giờ phải tổ chức một hội nghị khác với họ. Nhưng đương nhiên là con sẽ phải.”

Ông đã sai. Vì từ khi Chiến tranh Lạnh trầm trọng hơn, Truman không bao giờ gặp lại Stalin nữa.

Thứ hai, ngày 6 tháng tám, Truman lại vượt Đại Tây dương trên chiếc Augusta và ông được trao tay một thông điệp sau bữa tiệc trưa. Một quả bom nguyên tử đã được thả xuống Hiroshima và “thành công mọi mặt.” Chiến tranh chống Nhật nhanh chóng giành chiến thắng. Tổng thống nói, "Đây là sự kiện vĩ đại nhất trong lịch sử." Sau báo cáo thứ hai tuyên bố “thành công hoàn toàn," Truman nhảy cẫng lên nói với Byrnes, "Đã đến lúc chúng ta về nhà”
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 4021



WWW
« Trả lời #109 vào lúc: 01 Tháng Mười, 2008, 06:47:53 pm »

Ba ngày sau, thứ năm ngày 9 tháng Tám, Mỹ kết thúc chiến thắng với Nhật bằng quả bom nguyên tử thứ hai, theo mệnh lệnh hiện hành, được thả xuống Nagasaki. Hoàng đế Hirohito bí mật quyết định "không thể chịu đựng nổi nữa" và đáp ứng đòi hỏi đầu hàng vô điều kiện của Quân Đồng minh.


Nhưng Truman chưa biết điều đó. Tối hôm đó, qua đài phát thanh ông nói chuyện với công chúng Mỹ về chuyến đi châu Âu: "Tôi vừa từ Bá Linh trở về, thành phố mà người Đức có ý định từ đó thống trị thế giới." Ông thuật lại là thủ đô của Hitler nay là “thành phố ma... Tôi vui mừng xiết bao khi được trở về nhà-và rất biết ơn Thiên chúa Quyền năng đã dung thứ cho đất nước chúng ta!"


Ông báo cáo rằng tuyên ngôn được ký kết tại Postdam “có ý định xóa bỏ chủ nghĩa Quốc xã, vũ trang, công nghệ chiến tranh, Tổng tham mưu Đức và mọi truyền thống quân sự của nó.” Tuyên ngôn hy vọng “tái xây dựng nền dân chủ" bằng kiểm soát nền giáo dục Đức, bằng tái tổ chức chính quyền địa phương và bộ máy tư pháp, bằng khuyến khích tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tôn giáo và quyền được lao động." Công nghiệp Đức sẽ được “phân ra để loại bỏ sự tập trung sức mạnh kinh tế trong kinh tế cartel (tập đoàn các công ty thương mại phối hợp để độc quyền về thị trường và sản xuất kinh doanh) và kinh tế tư bản độc quyền." Người Đức sẽ không được hưởng một tiêu chuẩn sống cao hơn các nạn nhân trước kia của chúng.

Truman nói quân đồng minh thời chiến kiên quyết “làm những gì chúng ta có thể để biến nước Đức thành một quốc gia tử tế , và cuối cùng gia nhập" lại vào "thế giới văn minh."

Bài diễn văn của Truman phần lớn che lấp các vấn đề chưa được giải quyết và các thỏa hiệp khó nghe là di sản của Postdam. Liên Xô sẽ được bồi thường thiệt hại chiến tranh, nhưng người chiến thắng vẫn còn thỏa hiệp về một điều gì đó Nước Đức sẽ được đối xử như một "tổng thể kinh tế," nhưng trong mỗi vùng, tư lệnh vùng sẽ có quyền lực tối cao. Đất nước bại trận sẽ không bị chia cắt; việc thay đổi đất cấp cho Ba Lan chỉ "tạm thời."


Như nhà ngoại giao và học giả Mỹ W.R.Smyser viết năm 1999, tại Postdam "mỗi bên đã trả những gì họ phải trả để có được những gì họ muốn nhất.” Stalin giao gần một phần tư lãnh thổ nước Đức trước Thế chiến II cho Ba Lan. Anh và Mỹ, bằng việc đòi hỏi mỗi bên chiến thắng chiếm hữu khoản bồi thường thiệt hại chiến tranh từ vùng mình chiếm đóng, đã miễn cho nước Đức hậu chiến khoản bồi thường chiến tranh lớn và món nợ mà trong thập niên 1920 đã đưa đến lạm phát, thất nghiệp và Hitler. Họ cũng chuẩn bị một phương tiện, nếu cần thiết, để bảo vệ Tây Đức khỏi bị Liên Xô xâm lấn.


John McCloy biết rằng nếu các mối quan hệ giữa Liên Xô và Mỹ xấu đi, vết cắt giữa Liên Xô và các vùng chiếm đóng ở Tây Đức sẽ trở thành trừu tượng hơn nhiều. Ông viết trong nhật ký, "Chúng ta sẽ để trôi đường biên giới xuống trung tâm nước Đức."


Bằng thái độ chịu trách nhiệm, Byrnes ép Henry Stimson vào phía mà trước khi hội nghị Postdam kết thúc, vị cựu Bộ trưởng Chiến tranh đòi hỏi Truman chấp thuận quay trở về Mỹ sớm. Ông cảm thấy tổn thương khi Tổng thống đồng ý Trên đường trở về, Stimson dừng lại ở Frankfurt dùng cơm trưa trên sân thượng đầy nắng với Eisenhower và Lucius Clay, người với tư cách một tư lệnh vùng chẳng bao lâu nữa chịu trách nhiệm thực hiện JCS 1067 và Hiệp ước Postdam.


Eisenhower thúc Clay diễn đạt cho Stimson hiểu "một số điều ông quan tâm." Clay nói với Bộ trưởng Chiến tranh rằng “rõ ràng" là người Mỹ không cho phép xảy ra đói và chết đói hàng loạt trong vùng họ chiếm đóng. Phí tổn sẽ “khủng khiếp” nếu chính quyền quân sự không giúp người Đức đứng trở lại trên chân của họ.


Stimson đồng ý. Ông bảo Clay rằng việc bắt giam và đưa ra xét xử các tội phạm chiến tranh Quốc xã rất cần thiết cho nền hòa bình, nhưng không phải là sự cố ý phá hủy nền kinh tế nước Đức. Ông cảnh báo rằng bất kể người Mỹ lúc này cảm thấy "hận thù thế nào đi nứa," và nếu Clay không khôi phục lại “đời sống kinh tế” cho người Đức, ông cũng sẽ bị từ chối bởi “những người đã đưa ra các hướng dẫn này."

Stimson khuyên Clay, "Chắc chắn rồi, ông phải sống cùng với 1067." Nhưng họ không được “để cho đất nước này chết đói”.
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM