Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 04:22:44 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Biên giới Tây Nam  (Đọc 150950 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 4021



WWW
« Trả lời #70 vào lúc: 29 Tháng Tám, 2009, 05:31:53 pm »

EM HƯƠNG


HỒ PHƯƠNG


Mùa mưa đã tới rồi. Từ bao giờ vậy? Cũng không nhớ rõ nữa, chỉ còn thấy thường thường về những buổi chiều, mưa nối tiếp nhau âm vang và ồn ào đổ xuống khắp núi đồi, đồng ruộng của đất nước Chùa Tháp này.


Thế là bọn tôi được tắm gội cái mưa Campuchia ít nhất đã được hai mùa - Bọn tôi với nhũng chú chuồn chuồn con dẻo dang và cần mẫn xiết bao đáng quý. Vâng, từ sau mùa xuân 1979 đất nước Campuchia được giải phóng, ở Tổ quốc ta có lẽ ít ai còn nghe nói tới những phi đội trực thăng vẫn còn tiếp tục được bay trên đất nước bạn để tham gia những chiến dịch cứu đói vô cùng rộng lờn, và góp phần vào những công việc tiếp tế, vận chuyển cho các tiền đồn xa xôi của bạn và cả của ta trên khắp các miền biên địa.


Như vậy đấy, bọn tôi đã qua ít nhất cũng đã hai mùa mưa trên xứ sở này, làm nghĩa vụ quốc tế, với không ít chuyện vui buồn và những kỷ niệm vô giá.

Và buổi chiều nay, sau sau chuyến vận chuyển liên tục căng thẳng lên phía bắc, tôi lại nhận được nhiệm vụ bay lên EH1, một tiền đồn khuất nẻo, xa mù trên những đỉnh núi trập trùng ở miền biên giới phía tây nam nước bạn. Trên đó có một thương binh đang cần được chuyển gấp về phía sau. Thêm nữa: Mưa đã kéo dài mấy hôm liền, tất cả những con đường lên núi đều bị suối lũ và thác cắt đứt hết. EH1 đang rất cần tiếp tế.


Nhiệm vụ quả là cần kíp, nhưng trời đang đầy mây. Những cơn mưa lớn đang đe dọa lại đồ xuống. Chuông, ngươi lái phụ của tôi lại bắt đầu lên cơn sốt. Mặt hắn đỏ rờ. Cầm lấy bàn tay thấy nóng như nung. Đã đến lúc cả những ngươi lái máy bay chúng tôi cũng đổ sốt rét trên đất nước này sao? Lái phụ còn có nghĩa là ngươi dẫn đường. Chưa một lần nào tôi bay thiếu lại phụ. Những tiền đồn đang kêu gọi. Tôi đã được bay lên cái chốt ấy vài lần. Đó là một đồn tiền tiêu xa xôi cách biệt nhất. Nó như mất hút trong mây mù, nơi tận cùng của xứ sở này. Trên đó có một đơn vị bộ binh ta. Họ đã chốt ở đấy từ mùa hè 1979. Cho tới nay vẫn chưa có ai lên thay họ. Từ 1979, chưa một chiến sĩ nào ở trên đó được đặt chân xuống đồng bằng, chưa nói gì được về thăm quê hương, Tổ quốc. Ở trên đó họ có đủ tất cả, đủ lực lượng, đủ sức mạnh, đủ trí tuệ. Nhưng trên đó họ cũng thiếu rất nhiêu: thiếu từ một giọng nói trẻ thơ, từ một nụ cười thiếu nữ, thiếu cả từng mẩu giấy nhỏ để gói thuốc lào...


EH1, chính trực thăng chúng tôi đã gọi nó bằng hai tiếng Em Hương yêu dấu, dịu dàng. Chúng tôi đã dành cho Em một tình cảm riêng biệt. Cũng bời vậy, hôm nay có nhiệm vụ, nhất định tôi sẽ phải bay lên với nó.


Cầm chiếc mũ bay, khoác tấm áo giáp đỡ đạn vào người, tôi an ủi Chuông vài lời rồi theo Tục, thợ máy trên không cùng bước nhanh ra bãi đậu trực thăng. Đây cũng là bãi hàng của căn cứ tiếp liệu “Tre xanh” thuộc một binh đoàn bộ binh của chúng ta đang làm nhiệm vụ trên cánh cung miền Tây của nước bạn.


Anh em bộ binh đã chờ sẵn chúng tôi bên những kiện hàng lớn, nhỏ. Có cả mấy đồng chí chỉ huy đơn vị. Thấy các anh cũng có mặt, tôi càng hiểu thêm: nhiệm vụ chiều nay quan trọng khá nhiều. Anh Sáu Chiến, con hùm xám miệt An Giang, Bảy Núi của chúng ta tiến lại, nắm lấy tay tôi:

- Núi đấy ư em? Gắng lên với tụi nó! Trời xấu quá. Nhưng cố gắng nghe em!

Rồi anh ân cần:

- Núi nè, lại sắp kỷ niệm Cách mạng tháng Tám của Tổ quốc. Cũng cần phải gửi lên cho tụi nó một ít gì để xài. Bởi vậy, em bay lên bữa nay cũng là có ý nghĩa...

Tôi hiểu. Anh ôm hôn tôi lên trán, như cha hôn con giờ tiễn biệt. Tới lúc đó tôi mới để ý thấy có cả mấy anh, mấy chị người Campuchia cũng đang hăng hái cùng bộ đội Việt chuyển hàng lên máy bay. Trong số đó có một cô gái váy đen, áo đen, da thịt khá óng ả. Đặc biệt cô có một đôi mắt thật thông minh và duyên dăng. Một đôi mắt rất Campuchia. Anh Sáu vẫy cô lại:

- Đây là Chăn Đi, y tá của một đơn vị Campuchia đóng ở gần đây. Chăn Đi đến lĩnh thuộc về cho đơn vị. Chăn Đi cũng là một người sống sót. Bộ đội của chúng ta đã tìm thấy Chăn Đi năm 1979 trong một khu rừng ở vùng Lếch, bên một đống lửa cùng mấy con dao và một chiếc búa lớn. Lúc đó cô sắp bị bọn tàn binh Pôn Pốt giết ăn thịt, vì chúng quá đói...

Đôi mắt đẹp của Chăn Đi ngước nhìn chúng tôi với một nụ cười thoáng lướt.

Nhưng chúng tôi không còn nhiêu thì giờ để nói chuyện với cô nữa.

Chiếc trục thăng bắt đầu gầm lẽn. Toàn thân nõ rung rinh như một con chim đang sẵn sàng để cất cánh.

Tôi cho treo mấy bay trên độ cao hơn chục mét để kiểm tra lại máy móc, đồng hồ một lần cuối, đoạn bay đi.

Những vạt sương màu nâu sẫm, những khu doanh trại của căn cứ tiếp liệu xa dần. Núi rừng bắt đầu mở ra xanh rì, cuồn cuộn như biển sông ở dưới bụng máy bay.

Thiếu Chuông lái phụ, công việc của tôi quả là khá căng thẳng. Tôi không còn một giây phút rảnh tay và rảnh cả đầu óc nữa. Trước mặt tôi là cả một hệ thống đồng hồ, nút bấm... là cả con đường hành trình băng qua một vùng núi nổi tiếng hiểm trở của nước bạn, để tới với Em Hương. Trước khi tới đó, bọn tôi còn bắt buộc phải vượt qua một ngọn núi ác hiểm cao tới trên hai nhàn mét. Mùa mưa năm ngoái, đã chẳng ít người lái chúng tôi mếu giở, khóc giở vì ngọn núi này. Mây luôn luôn phủ kín lên ngọn. Xuyến lên, không vững tay lái, đâm vào vách núi như chơi. Lách trong các khe núi cũng chẳng dễ gì hơn. Thêm nữa theo kinh nghiệm và cả sách dạy, trực thăng không nén bay vào các khe núi vì dễ bị phục binh bắn hạ. Chính bọn Mỹ trước đây cũng rất ngại khi phải bay vào giữa hai triền núi hẹp.
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 4021



WWW
« Trả lời #71 vào lúc: 29 Tháng Tám, 2009, 05:34:00 pm »

Đã qua mười lăm phút. Chú chuồn con của chúng tôi đã hoàn toàn lọt vào giữa một thế giới ngợp xanh, mênh mông vô tận. Cũng đã tới lúc không còn liên lạc được với phía sau bằng điện đài được nữa. Chúng tôi phải hoàn toàn độc lập tác chiến. Túc, chàng thợ máy trên không mỗi lúc phải thêm chăm chú hơn để quan sát theo dõi hệ thống máy móc. Túc ít nói. Chúng tôi quen gọi đùa hắn là Cục sắt. Nhưng Cục sắt của chúng tôi lại là người rất giàu tình cảm, lần nào lên chốt Túc cũng cho anh em trên đó tất cả những gì mà hắn có, kể cả những bức thư của mẹ, và của cả người yêu hắn, chỉ trừ bộ đồ bay và những cuốn sổ công tác với bộ lắc lê, kìm búa...

- Mưa! - Cục sắt bỗng thốt lên.

Hắn nhìn khá tinh. Một cơn mưa rất lớn đang sầm sầm kéo tới. Một thoáng đã nghe choang choang những giọt mưa quất vào thành máy bay.

Rồi mưa ào ạt, trắng xóa, trùm kín tất cả đất trời. Mưa dữ đến mức dần dần không còn thấy trắng xóa nữa, mà như tối tăm mù mịt. Mưa đập vào thân máy bay cũng không còn là tiếng một nửa mà như cả trăm ngàn bó roi tàn bạo tơi tấp quất tới. Hoàn toàn không còn nhìn thấy gì nữa. Hoàn toàn không. Tất cả chỉ còn biết trông vào chiếc đồng hồ chân trời giả để khỏi mất cảm giác.


Mưa vẫn sôi réo. Chiếc trực thăng như run lên. Nó lảo đảo, không giữ được thăng bằng nữa. Nước như thác luôn muốn tống nó xuống, lôi tuột nó xuống các ngọn rừng, các lòng khe đang gầm thết, lồng lộn ở bên dưới. Chúng tôi có cảm giác đang ngồi trên một con thuyền đi trên biển bão.

- Túc! - Không còn nhìn được gì cả! - Tôi không kìm được mình nữa, phải thốt lên.
Cũng lại Cục sắt vẫn câm lặng, cặp mắt đỏ ngầu.

- Túc! Sắp tơi ngọn hai ngàn! - Một phút sau tôi lại cất tiếng.

Mưa vẫn tối tăm, man rợ.

Bấy giơ Cục sắt mới khó nhọc nói khẽ:

- Ông xem nếu tiếp tục đi được thì đi. Nếu hệ số an toàn quá thấp thì đành quay lại vậy!

Hệ số an toàn quả là quá thấp mất rồi. Chúng tôi chỉ còn một phút để chọn lựa một quyết định: tiếp tục bay hay quay lát. Quay lại lòng tự trọng sẽ bị tổn thương biết bao. Và người ta vẫn thường che giấu sĩ diện cá nhân mình dưới cái lòng tự trọng ấy. Quay lại. Ai sẽ chịu trách nhiệm về việc này? Tất nhiên là tôi, lái chính...

- Quay lại thôi - Tôi thoắt nói, gần như giật giọng đến nỗi chính tôi cũng phải ngạc nhiên trước nỗi giận dữ và cả niềm đau đớn ấy.

Từ lúc đó Cục sắt hoàn toàn câm lặng.

Một lát sau, qua màn mưa, đã thấy mờ mờ một dải đồng bằng lênh láng, buồn bã. Rồi đã nhìn thấy nhũng mái nhà lợp tôn với vách gỗ ghép của căn cứ tiếp liệu “Tre xanh". Đã thấp thoáng thấy cả những bóng người đội vải nhựa lướt thướt chạy ra. Có cả anh Sáu Chiến ở đấy không? Và Chăn Đi nữa...?

Chiếc trực thăng kêu lên rền rĩ như khóc và từ từ đáp xuống.

Cũng may, anh Sáu đã rời căn cứ này đi xuống một đơn vị cách đây vài chục dặm. Chỉ còn có Chăn Đi. Cô cũng đội vải nhựa, mau mắn chạy ra. Mưa lạnh vậy mà sao gương mặt cô lại hồng hào? Cô đến bên máy bay. Một bàn tay mềm mại đưa lên.

- Mưa ở nước em dữ quá hả? Em biết mà các anh sẽ phải quay lại thôi…

Đêm ấy, lần đầu tiên tôi đã không hoàn thành nhiệm vụ. Phải ngủ đỡ ở căn cứ tiếp liệu này.

Mưa vẫn rơi suốt đêm. Một ngọn lửa liu riu trên bếp như một niềm đau day dứt. Tôi ngồi âm thầm cời lửa, nghe mưa gõ triền miên trên các mái tôn, và ồn ào cãi lộn ngoài các khe rãnh quanh căn cứ.

Tất cả ý nghĩ của tôi, luôn luôn bay lên với Em Hương. Thương binh có sao không? Anh em bộ binh liệu còn vét thêm được hạt gạo nào để tiếp tục trông chờ những chú chuồn con bay tơi?... Bọn tôi đã góp phần làm được những gì cho họ? Bọn tôi sẽ còn phải làm những gì đây cho xứng đáng với họ? Có thể làm gì? Làm gì ngoài những lời cảm thông đã quá đủ. Cần phải hành động! Hãy hành động thực sự cho họ, vì họ, những con ngươi đang được vinh quang gánh vác những nhiệm vụ thực sự lớn lao, cao cả ấy.

Nửa đêm, một bóng đen mềm mại bỗng trườn vào trong căn nhà trống. Tôi ngẩng lên: Chăn Đi.

Ngọn lửa được thổi bừng lên cùng một nỗi ngạc nhiên ấm áp.

- Mây anh chưa ngủ sao?

- Không ngủ được, cô ạ!

- Mai các anh lại lên chốt chứ?

- Vâng, nhất đinh chúng tôi phải tiếp tế cho anh em chúng tôi ở trên ấy.

- Không, các anh tiếp tế cho chính đất nước Campuchia này đấy!

Tôi nhìn vào đôi mắt trong suốt, thông minh. Ai đã dạy cho cô biết nói như vậy? Hay điều ấy đã tự đáy long cô như một mầm xanh nhú lên từ một hạt trái cây đã được gieo trên mặt đất ngọt mềm? Tôi lay, đánh thức Cục sắt dậy. Cả ba chúng tôi cùng nhìn nhau qua ngọn lửa. Chúng tôi chưa biết nhiều tiếng Campuchia. Chăn Đi cũng mới học được một số câu tiếng Việt. Nhưng cả ba chúng tôi vẫn tiếp tục nói chuyện tới nhau trong một sự im lặng thật dịu dàng và tin cậy.

- Mấy anh ngủ đì! Mai Chăn Đi cũng đưa thuốc trở về tiếp tế cho đơn vị đấy!

Cuối cùng, hai đứa chúng tôi cũng ngoan ngoãn nghe lời cô, đặt mình xuống. Chúng tôi ngủ trong hơi ấm của ngọn lửa, trong đáy mắt của cô gái hồi sinh.

Sáng hôm sau, mưa tạnh, tuy trời còn đây mây.

Tôi và Cục sắt nhất quyết ra máy bay. Chăn Đi cùng đi theo ra bãi đáp. Giũa lúc đó một chiếc xe díp đầy bùn từ xa phóng về. Anh Sáu Chiến vừa nhảy từ trên xe xuống và nói luôn, gấp gáp:

- Mới có tin ngày hôm qua: thêm một số phỉ Pôn Pốt được tung từ Thái Lan về. Chúng đang ẩn náu ở dãy núi hai ngàn...

Chúng tôi hiểu: thế là trên đường bay của chúng tôi hôm nay có thể sẽ có những chuyện gì xảy tới!

- Cẩn thận nghe, mấy em! Có cần thêm vũ khí không?

- Dạ, đủ rồi, anh Sáu. Trời đã hơi quang. Bọn em đi đây!

- Vậy chúc các em bình an, thắng lợi!
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 4021



WWW
« Trả lời #72 vào lúc: 29 Tháng Tám, 2009, 05:35:15 pm »

Trong phút chốc, chúng tôi đã như ngồi trên một lồng kính bay lên, ngoái nhìn lại những người ở dưới đang vẫy tay chào tiễn. Vẫn thấy Chăn Đi. Nhưng kìa, cô đã vội vã quay lại. Cô cũng bắt đầu lên đường...
Mây vẫn đầy trời. Đặc biệt, hôm nay lên trên cao mới chỉ năm trăm mét, gió đã rất mạnh. Càng bay vào gần, rồi vào sâu trong vùng núi, gió càng lớn. Gió lên như một thách thức mới. Nhưng gió lên cũng như để nói lên cả nỗi xao động, lẫn niềm hăm hở của lòng người.

- Gió lớn quá hả - Cục sắt rin rít trong kẽ răng. Mây bay vun vút.

Gió làm cho toàn thân chiếc trục thăng rung lên từng hồi dữ dội. Đã nhiều lúc chú chuồn con của chúng tôi bị nhồi lên, nhấn xuống, bị thổi dạt, liệng qua, liệng lại, như một chiếc lá bay trong cơn lốc.

Hai tay tôi dần dần mỏi nhừ và đau nhức. Đôi bàn chân đạp giữ trên hai bàn đạp cũng gần như tê cứng. Đầu óc tôi dầy tràn gió thổi.

- Núi, cẩn thận đấy nhé!

- Núi! Dãy hai ngàn kia rồi! Nhưng mây kín hết ngọn! Làm sao bây giờ cậu! Xuyên lên được không?

Hôm nay đến lượt tôi làm Cục sắt. Tôi không đáp nó. Vì không có đủ thì giờ, không đủ sức và cũng không đủ cả ý nghĩ để đáp nó nữa. Tất cả con người tôi đang bị căng xé. Chỉ một sơ xuất nhỏ chỉ một chút hoảng hốt, tôi hiểu: chiếc máy bay nhỏ bé của chúng tôi sẽ là một nắm sắt bẹp dúrn bị ném xuống vực.

Không thể xuyên mây đi. Tôi biết chắc như thế. Mây dày đặc, mênh mông, khủng khiếp. Tôi sẽ bay luồn lách trong các khe núi.

- Núi! Cậu bay luồn khe hả?

- Phải!

- Cẩn thận đấy - Hắn hét lên, chồm tới sau lưng tôi như ôm chặt.

Hai bàn tay tôi càng thêm đau nhức, đầu óc tôi càng ào ào gió thổi. Chiếc trực thăng của chúng tôi đã bắt đầu bay vào một khe núi lớn. Hai bên vách núi sừng sững như thành. Nhưng cũng không ngờ bay vào giữa hai vách núi, gió lồng canh dữ. Chiếc trực thăng, nhiều lục như bị đẩy lùi rồi bị hất ngược trở lại. Hai mắt tôi luôn tối sẫm.


Tôi nghiến chặt răng lại. Máu như đã bật ra khỏi các kẽ ngón tay. Chúng tôi đã vào cơn tử chiến. Nhưng, rồi cả tôi và cả Túc đều đã nhìn ra được cách đè gió, và lướt gió. Từ đó, chiếc trực thăng tinh khôn, dẻo dang và khỏe mạnh tuyệt vơi của chúng tôi cũng dần dần giữ được thế thăng bằng nhiều hơn, để tiếp tục luồn lách trong các khe núi, bay tới và bay lên cao mãi. Nó như một chú cá rô don mạnh bạo, hăm hở, rạch lên mãi trên một đồng nước ngược ngoằn nghèo đang mùa mưa lũ.

- Nó bắn đấy! - Đang giữa lúc đó, Cục sắt chợt la lên.

- Gì thế?

- Nó bắn đấy! Nghe choang một cái ở phía đuôi, cậu không thấy sao?

- Có lẽ! Nhưng mặc mẹ chúng nó!

Gió vẫn lộng lên. Hai vách núi xanh rì rừng nguyên thủy vẫn ép kín hai bên.

- Nó lại bắn đấy!

- Có thấy gì đâu?

- Tớ nom thấy một vệt đạn lửa! Mà kìa, có bóng mấy thằng đang chạy dưới lòng khe!

- Vậy tương cha cho chúng nó một quả cối, mau lên! Tôi thét vang.

Một quả cối ném xuống trong lúc đang bay, thật khó trúng quá. Nhưng dẫu sao cũng phải cho bọn phỉ này hiểu rằng chúng đã bị quật lại.


Chiếc trực thăng vẫn đè gió, lướt gió tiếp tục luồn lách trong các triền núi. Rồi lát sau, bỗng thấy ở phía trước sáng lên một mảng trời kẹp giữa hai ngọn nui lớn. Tôi thở trút:

Khe Bình Yên. Đó là cái tên mà bọn lái trực thăng chúng tôi đã đặt ra cho nó. Và đấy cũng là "Cổng trời" để vượt sang phía bên kia ngọn hai ngàn, đáp xuống EH1. Sắp tới Em Hương rồi! - Chúng tôi cùng mừng rỡ thốt lên.


Chiếc rực thăng nhẹ nhàng vượt qua khe Bình Yên. Đã nhìn thấy ở xa xa một chút biển, cùng một vệt đồng bằng mờ mờ với những dãy núi nhấp nhô bên đất Thái.


Thoắt cái EH1 hiện ra đột ngột trên một sườn nui cao ngất, hướng ra phía biển và đất Thái Những mái nhà li ti màu vàng nhạt chụm lại trên một mảng đất gần như hình bầu dục màu vàng xuộm. Thoáng nhìn tưởng một thum của người rẻo cao khuất trong mây mù. Những rồi đã nhai thấy rõ những đường chiến hào gân guốc, xa gần. Đã nhìn thấy cả những bóng người đang chạy đi chạy lại nhộn nhịp. Một bãi đáp đã được phát quang ở ngay bên khu nhà doanh trại.


Chiếc trực thăng reo vang, lặp một vòng lượn kiêu hãnh. Chúng tôi chuẩn bị để đáp xuống. Tôi đã biết bãi đáp này. Tuy Em Hương đã tích cực sửa sang, nhưng bãi vẫn tương đối dốc, rất khó hạ cánh. Cũng như mấy lần trước, tôi phải quyết định chọn phương pháp hạ cánh trên độ dốc, một phương pháp khá khó khăn đối với những tay lái dẫu sao cũng còn là mới như lũ chúng tôi.


Dưới bãi đáp, một chiếc dù trắng đã được trải rộng. Những người của Em Hương đã lố nhố đứng đợi. Họ đang giơ cao tay vẫy rẫy rối rít. Nhiều chiếc mũ được tung lên cuồng nhiệt.


Cố nén tất cả niềm xúc động, tôi tiếp tục tập trung tâm trí não tay lái, và bàn đạp. Tôi cho treo máy bay lại mấy giây để quan sát mặt đất một lần cuối rồi mới hạ cánh xuống, thật chậm chạp, thật thân trọng; đặt càng phía sườn dốc xuống trước. Cùng lúc đó, giảm độ sải và đặt cần lái ngang, cho đến khi cả trọng lượng máy bay đã nằm chắc trên mặt đất. Cuối cùng, đặt cần lái trở lại điểm trung hòa, tôi mới buông rời tay và ngả vật người ra thành ghế.

Cửa máy bay đã được Cục sắt mở toang.
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 4021



WWW
« Trả lời #73 vào lúc: 29 Tháng Tám, 2009, 05:41:00 pm »

Tất cả những người anh em ra đón cùng một loạt reo ầm, ùa tới. Không nhìn rõ ai với ai nữa. Chỉ còn thấy một loạt những gương mặt sáng ngời với những nụ cười rạng rỡ.
Rồi cả hai chúng tôi bị lôi tuột ra khỏi máy bay. Cả hai cùng được tung lên, rồi lại được tất cả những cánh tay thân yêu đỡ lấy. Cứ như thế nhiều lẫn với những tiếng hò reo vang dậy.

Và gân như tất cả cũng bật khóc.

- Này! Chúng nó bắn thủng toang một mảng đuôi của các cậu đây này!

Một anh nào đó bỗng réo lên. Nhưng tất cả đám đông vẫn vây tròn lấy chúng tôi và cùng xem xét lại đầu, ngực, mình, mẩy, chân, tay của cả hai đứa, coi thử có bị dính một viên đạn nào không.

Dần dần tôi mới có đủ bình tĩnh để nhận ra: đây là Bình Hà Nội, đây là Mùi B Hải Phòng, đây là Lữ Hà Sơn Bình, đây là Thể Vĩnh Phú và đây nữa; Lập Thái Bình đồng hương “đồng khói" của riêng tôi. Toàn là lính trẻ, sàn sàn trên dưới hai mươi.


Họ vẫn vây quanh chung tôi, tranh nhau hỏi hàng ngàn thứ chuyện "ở dưới đó" và ở quê nhà. So với lần trước lên đây, tôi thầm nhận thấy tất cả những gương mặt này đều đã thêm dầu dãi cũng như thêm gan góc, kể cả thêm tinh khôn. Nhưng cũng có cái gì đó thêm gian khổ... Những bộ quần áo đã thêm úa vàng. Những mái tóc thêm rậm rạp và những cặp mắt thêm hoang vu, xanh biếc.


Tôi ngắm nhìn họ. Tôi muốn nói với họ rất nhiều điều mà không sao nói hết nổi. Ôi những người chiến sĩ bộ binh chân đất cực kỳ gian nan và cũng hết sức anh hùng? Ai biết đủ tên các anh? Ai biết hết việc các anh đã làm cho Tổ quốc và cho nước bạn? Ai hiểu nổi mọi niềm tâm sự của các anh? Ai đã thấy hết mọi ước mơ cũng như những nhu cầu nhỏ bé, khiêm tốn, nhưng lại vô cùng cần thiết đối với cuộc sống và chiến đấu của các anh hôm nay?...


Những người lính của chúng ta như vậy đấy! Bao giờ cũng luôn luôn là những người giản dị, giản dị như đến mức tận cùng. Không bao giờ đòi hỏi. Mà cũng luôn tự nghĩ rằng mình không nên đòi hòi...


Tôi ngắm nhìn mãi, ngắm nhìn những bàn tay đã trở nên thô rắn đầy chai sẹo, ngắm nhìn những bàn chân nứt nẻ - Những đôi chân ấy đạp qua bao ngọn núi? Những bàn tay ấy đã góp lại tạo nên biệt bao sự nghiệp?

Thế rồi chúng tôi đã được đưa về khu doanh trại của tiền đòn.

Anh San, đơn vị trưởng đã ra đón chúng tôi tư xa. Cũng trạc hăm hai, hăm ba. Cũng đầu trần, cũng áo quần nhàu nát, vàng úa. Nếu không biết, dễ lẫn anh với tất cả đám đông chiến sĩ.

Trẻ, nhưng San rất chắc chẵn và trầm tĩnh. Anh cũng rất ít nói. Đã nói câu nào là nghĩ thật kỹ mới nói và nói một cách hoàn toàn thẳng thắn, thành thật. Ngang tuổi, mà bọn tôi trọng San như anh.

- Các ông vất vả quá! Thời tiết thế này! Lại còn cái bọn chỗ ấy nữa...

- Không! - Tôi vội kêu lên - Vất vả của tụi tôi chỉ là hạt bụi đối với các anh.

- Các ông đến, dẫu sao thế là vẫn rất kịp thời. Thương binh khá trầm trọng. Lương thực bọn này, nói thật, cũng đã phải dùng tơi số dự trữ tác chiến. Chà, cái mưa ác hại!

Anh đưa chúng tôi đi lướt qua khu doanh trại. Cũng như những con người, tất cả nhà cửa, đồ đạc, ở đây đều đã có cái gì thêm dầu dãi. Nhưng nhìn chung vẫn không có gì thay đổi nhiêu. Tôi chỉ để ý thấy cái cây đu đủ trước nhà ban chỉ huy đã biến mất. Lần trước lên, thấy chỉ có thân mà không có lá. Lạ quá, hỏi anh San giai thích: Thèm thuốc hút, không có, anh em đã vặt hết lá thân ra để đốt cho đỡ cơn nghiền.

- Nhưng còn lần này, anh?

- Hết lá, cạo đến thân, cạo mãi cũng hết nốt cả thân rồi!

Lại thêm một chuyện về cây đu đủ bốc khói này nữa sao, trong biết bao nhiêu câu chuyện đã xảy ra tưởng như huyền thoại trên cái tiền đồn cao ngất, xa mù này.
Không dừng lại nghỉ và ăn trưa, hai chúng tôi xin nhận thương binh để bay luôn.
Thương binh đã được đưa ra bãi đáp. Anh nằm gần như bất động trên một cáng vai, khuôn mặt vàng như sáp nến. Tất cả con người dường như chỉ còn có đôi mắt.


Đôi mắt hiền hậu và bĩnh tĩnh lạ lùng. Tôi có cảm giác như anh không biết đau đớn và buồn bã. Nếu có đau, có lẽ ấy chỉ lã nỗi đau ở đâu kia, ngoài thể xác, ngoài tâm hồn anh. Người chiến sĩ còn đang bận suy nghĩ về những chuyện gì rất khác.

Tôi nói với anh y tá đơn vị, để cho tôi được khiêng một đầu cáng đưa lên máy bay.

Bỗng nhiên, anh thương binh ngóc đầu dậy. Và lần đầu tiên tôi nghe anh nói:

- Khoan đã!

- Gì vậy anh!

- Đề nghị nâng đầu cáng lên, cho tôi nhìn lại chốt, nhìn lại anh em một lần nữa.

Tôi run rẩy làm đúng theo lời anh. Và tất cả những người ra tiễn cũng đứng im phắc trước mặt anh. Cảnh tuợng thật lạ lùng chưa từng thấy. Xin hay tin cho: Suốt đời tôi sẽ không bao giờ quên khung cảnh này. Và tự nhiên tôi cũng ngẩng cao mặt, nhìn lại về phía cái chốt tiền tiêu, nhìn lại tất cả những ngước chiến sĩ dãi dầu, gan góc nọ. Vâng! Đúng là suốt đời tôi sẽ không sao quên...

Chiếc máy bay của chúng tôi bắt đầu cất cánh.

Nhìn xuống: những người chiến sĩ của tiền đồn vẫn còn nguyên ở đó, đang văy theo. Lòng mình, thú nhận, vụt se sắt lại. Tôi yếu đuối. Tôi tự biết sai lầm ấy của minh. Nhưng quả thật, nhìn lại họ, lòng tôi rung lên. Dẫu sao: chúng tôi cũng chỉ là những người chợt đến rồi chợt đi. Họ mới là những người còn ở lại đây lâu dài. Đối với họ, chúng tôi đúng chỉ lã nhưng hạt cát...


Gió lại lồng lên dọc theo các triền núi. Chiếc trực thăng lại như một chiếc lá bay.

- Các anh đưa tôi về đâu thế? - Anh thương binh bỗng hỏi khe khẽ

- Trước hết chúng tôi sẽ đưa anh về căn cư tiếp liệu “Tre xanh”. Rồi sau đó có thể về tuyến sau nữa, ví dụ Quân khu Bảy chẳng hạn. Anh cứ yên tâm.

- À, căn cứ “Tre xanh"! Này, vùng đó, mùa hè 1979 tiểu đoàn chúng tôi có tham gia đấy. Đã tìm được một có gái sắp bị chúng, nó ăn thịt...

- Ôi chăn Đi hả?

- Ghê rợn quá, các anh ạ! Tôi xin thề, không nói hơn không nói kém, chúng đã ăn thịt lẫn nhau...

- Chăn Đi! Anh còn nhớ Chăn Đi chứ!

- Không! Sau đó còn tìm được bao nhiêu người nữa, làm sao mà nhớ được. Riêng tiểu đoàn tôi đã tìm được ngót một trăm người như vậy...

- Chăn Đi? Cô gái ở vùng căn cứ “Tre xanh" mà anh vữa nói tên là Chăn Đi đấy, anh ạ!

- Không! Tôi không nhớ. Làm sao mà nhớ hết được anh?

Ôi Chăn Đi, thế còn cô, giả dụ lúc này gặp lại anh chiến sĩ này, liệu cô có thể nhớ ra được anh là một trong số những người lính Việt đã tìm được cô bên đống lửa với lưỡi rìu và mấy con dao nhọn? Chắc là cô nhớ!


Chiếc trực thăng tiếp tục lướt gió, đè gió. Ngoái nhìn lại lần nữa không còn thấy gì hết, ngoài những vách núi lì lợm, xanh rì, ngoài mây bay trắng. Dường như làm gì có cái chốt tiền tiêu ở nơi xa mù, trên cao tít ấy, làm gì có những, con người của chung ta đang tiếp tục bám trụ trên vách núi ấy để góp phần làm cho đất nước hồi sinh này vững bền mãi mãi.


Nhưng thật là có. Chúng tôi sẽ lại tiếp tục bay lên với họ. Bay lên với lương thực, vũ khí. Bay lên với tất cả sức mạnh và tấm lòng nồng cháy của hậu phương yêu dấu.

Tháng 7 năm 1981
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 4021



WWW
« Trả lời #74 vào lúc: 29 Tháng Tám, 2009, 05:43:41 pm »

KHÔ CHĂNĐARA


ĐỐ VIẾT NGHIỆM

Hơn một tuần lặn lội để chuyển tiền tặng phẩm cứu trợ của độc giả tới đồng bào miên Trung đang gặp khó khăn, liên tiếp chịu hai cơn bão tàn phá, Sơn đã trở về cơ quan.
Sơn bả lả đẩy cửa bước vào phòng, dự tính kiếm gì ăn qua quít đánh một giấc cho lại sức chiều trở về nhà. Sơn đưa tay bật công tắc điện, căn phòng sáng bừng lên, sang trọng Sơn cúi xuống định cởi dây giày và nhận ra một phong thư ngay dưới chân. Sơn cầm lên giật mình vì tên người và nét chữ. “Trần Hoàng Bắc, thân gửi: Lê Minh Sơn". “Thằng Bắc” - Sơn thốt lên - "Bắc ở bên kia cầu, sát bờ sông Hồng, nhưng người ta đã báo tử. Hồi hộp, hoài nghi, Sơn khẽ khàng bóc bì thư rút ra một tờ giấy gấp đôi xòe to như một con bướm lớn. Thư viết: "Sơn, cậu còn nhớ tớ không? Bắc đâyl Bắc rái cá của trung đội đây. Biết cậu do một sự tình cờ hai hôm trước tớ có đọc trên tờ báo Thanh Niên cuối tuần bài: Quân tình nguyện Việt Nam mãi mãi là niềm tự hào của Tổ quốc. Bài viết rất tuyệt, đọc cảm động làm tớ ứa nước mắt. Sơn ạ cậu giỏi thật đấy. Không ngờ cái thằng mặt lù đù như rùa, đánh nhau lì như đất đá, lại trở thành nhà báo.


Tớ đến tìm cậu, mời về nhà chơi, nhưng chờ mãi không biết khi nào cậu về, đành viết thư lại nhờ bác bảo vệ chuyển giúp. Đến nhé, mười sáu giờ ngay mười tại nhà tớ”. Sơn liếc nhìn đồng hồ. “Ngày hôm nay” - Sơn lẩm bẩm rồi lấy chiếc Motorola di động ấn phím. Tiếng máy “tin tín" thanh mỏng, điệu đàng như một nốt si trong khúc nhạc tình vang lên. Một chiếc tắc xi tấp vào lề đường, người tài xế với tay mở cửa. Sơn bước vào. Xe lao đi, hai chục phút sau đã sang bên kia cầu.


Làng Ngạn phất lên độ mười năm lại đây. Đúng hơn từ ngày nhà nước có chủ trương đổi mới. Dân làng Ngạn đua nhau đi kiếm tiền vào Nam, ra Bắc, lên biên giới làm nghề cửu vạn. Nhờ vậy làng Ngạn giờ thay đồi nhiều lắm, xênh xang nửa quê nửa tỉnh. Chuyện Bắc đi chiến đấu ở chiến trường K mất tích, một bận gây xôn xao, ly kỳ như truyện trinh thám. Sau được kết luận đã hy sinh và báo tử, rồi tên Bắc đã khắc vào bia đá của làng. Đột nhiên, cách đây một năm, Bắc gửi thư về. Ông Bảo, bố Bắc mừng khôn xiết, nước mắt ròng ròng, cầm thư chạy khoe khắp làng: "Con tôi còn sống. Con tôi còn sống”. Chuyện cứ như thần thoại. Một sôố lão làng nói nhỏ với nhau. "Ông Bảo thương nhớ con quá, mà sinh ra lầm tưởng đó thôi". Nhưng rồi hôm nay Bắc đã trở về. Một anh Bắc bằng xương, bằng thịt. Chưa hết, anh còn mang về theo cả một tổ ấm gia đình gồm vợ và đứa con trai hơn mười tuổi. Tin Bắc trở về, ngay buổi sáng cả làng đều biết. Người làng Ngạn quý cái tình ai cũng tới thăm anh. Họ chúc mừng ông Bảo và vợ chồng Bắc. Lũ trẻ làng Ngạn đi tắm ngoài sông kháo nhau: “Chú Bắc lấy vợ ngoại, mặc váy, sắp tổ chức cưới lại rồi". Bắc tổ chức tiệc mặn. Anh mời anh em: bạn bè thân thích gọi là báo cáo chớ cưới xin gì đâu. Trước là để trình diện làng xóm, sau là để vợ con khỏi mủi lòng, lần đầu về thăm quê nội. Sơn tới đúng vào lúc chương trình chuyển sang phần văn nghệ. Một chành trai đang ngất ngưởng hát bài “Người lính tình nguyện Việt Nam”. “Ápsara... Ôi điệu múa: Ápsara ơi..." Đám thanh mền bật dậy, làm thành một vòng tròn đung đưa, nhún nhảy. Số khác ngồi ngoài vỗ tay theo nhịp. Sơn lặng lẽ bước vào sân, chính anh cũng đang bị bài hát cuốn hút, mê hoặc. Những ký ức một thời bất chợt trào dâng trong anh. “Ápsara... Ôi điệu múa... Ôi lời hát Ápsara ơi...".

- Sơn! - Bắc kêu lên rồi nhào tới, len qua các dãy bàn ôm chầm lấy anh lắc mạnh.

- Bắc! Bắc! Thế mà tớ cứ tưởng...

- Đã chết đúng không? Tớ sống lại đấy!

- Cậu có phép màu hả Bắc?

- Bình tĩnh, chưa phạt tội đến muộn. Nào, lại đây để tớ giới thiệu!

- Không cần đâu Bắc. Tớ không muốn vì tớ mà phải dừng cuộc vui.

- Pai Lây đấy. Nhưng cậu phải thức suốt đêm nay?

- OK!

Vợ Bắc đã nhận ra hai người. Bắc đưa tay vẫy vợ và con trai lại gần. Bắc chỉ vào Sơn.

- Đây là anh Sơn bạn anh. Còn đây là vợ và con trai mình.

Vợ Bắc chắp tay nhún người xá, môi nở một nụ cười hiền hậu. Sơn chắp tay đáp lại, anh quay sang Bắc:

- Cậu thật hạnh phúc.

- Tiếng vỗ tav rào rào, tiếng cụng ly chan chất, tiếng hát lại vút lên, giống như một dòng chảy không ngừng.

Hai người bước dọc triền sông, họ chọn một ụ đất vặt vài bông ngô già trải làm nệm ngồi, mặt hướng ra sông.

Một con thuyền gỗ gần đó đã cắm sào, trong bóng đêm trông nó lặng tênh, giống như một chiếc ngoặc đơn. Bắc nói chầm chậm:

- Nếu ngày ấy cậu cho rút sớm, đơn vị sẽ ít tổn thất hơn.

- Rút, rút thế đếch nào được. Cấp trên chưa lệnh; mặt khác, không ngờ địch lại tập trung lực lượng lớn đến thế.

Bắc im lặng, nghe được cả tiếng ộp oạp vỗ vào mạn thuyền. Bắc móc túi lấy bao ba số, gẩy nhẹ một điếu thuốc trồi ra, trông rất điệu nghệ.

- Hút?

- Bỏ lâu rồi.

Nói xong Sơn cúi xuống nhặt một xiên sỏi vung tav ném mạnh ra xa, viên sỏi mất hút, khoảnh khắc vọng tới một tiếng “bụp" nghe như cá đớp mồi.

- Giỏi, bên ấy rẻ tớ không nở bỏ, hơn nữa nghề câu cá lênh đênh sông nước, không đốt thuốc buồn bỏ mẹ.

Bắc bật lửa châm thuốc. Lửa tắt chỉ còn cái đầu thuốc lập lòe như con đom đóm bay ngang tầm mắt.
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 4021



WWW
« Trả lời #75 vào lúc: 29 Tháng Tám, 2009, 05:44:52 pm »

Bắc thở dài nhớ lại câu chuyện đã qua.

- Đúng, cậu nói phải? - Anh nói, sau này tớ mời biết được trận đó địch tập trung gần một tiểu đoàn, có pháo binh yểm trợ, mà bên ta chỉ có hai mươi tay súng. Trận đánh có cường độ cao và khốc liệt phải không? Loạt pháo đầu chúng dùng toàn đạn xuyên để phá công sự. Bọn chó quỷ thật, khói chưa tan đã bắn cấp tập loạt hai đến vài chục quả, toàn là đạn chạm nổ. Cậu nhớ chứ, mười hai đứa chết ngay. Thằng Hồng, thằng Quốc đứng cách tớ hơn chục thước bị một quả rớt trúng.

- Thuốc đâu? - Sơn hỏi. Bắc thờ ơ trao bao thuốc cho bạn, Sơn quẹt lửa, rít một hơi thật dài rồi ho khằn khặt.

- Ừ phải... kể tiếp đi.

- Hôm đó địch đoạn được lực lượng ta mỏng. Chúng chia làm ba mũi tiến lên vừa đi vừa bắn. Tớ thấy cậu gào trong tiếng khóc, nhìn cậu tớ thương và khâm phục. Tớ đã đọc nhiều tiểu thuyết chiến tranh. Tớ cũng xem nhiều phim nói về người lính. Nhưng mấy cha dạo diễn chỉ tài bốc phét?

- Nghệ thuật Bắc ạ.

- Tớ hiểu. Nghệ thuật không có nghĩa lã bất chấp sự thật. Bữa đó Chúng ào lên như một bầy thú dữ, miệng hô: “Duôn, Duôn". Hình như máu trong ngươi cậu sôi lên. Cậu bật khỏi công sự, hai hàm răng nghiến, khẩu trung liên trong tay cậu gầm lên, địch chết nhiều quá tớ không đếm được. Quái thật tớ lại thấy cậu khóc. Tớ lấy làm lạ rồi chợt hiểu ra, có phải tâm cậu day dứt...? Tớ thông cảm với cậu, không còn cách nào khác, khi người ta vào cuộc đối mặt nhau, với cái chết! Bên cánh trái, tớ và tiểu đội ba đánh tạt sườn, địch co cụm lại, chính lúc đó tớ nghe tiếng cậu: "Rút!”. Tớ nghĩ "Ổn rồi". Cuối cùng thì cậu đã có một quyết định đúng đắn.

- Anh em đi hết còn cậu sao cứ lì ra?

- Tớ không thể bỏ mặc cậu một mình.

- Tớ xin lỗi, hôm ấy đã xử sự như thể.

- Cậu đã túm vào cổ áo tớ vặn rất mạnh, mắt cậu trợn trừng rồi bảo “cút ngay”. Tớ lao váo rừng bám theo tốp trước, nhưng càng chạy, càng mất hút. Đêm đặc quánh, tớ có cảm giấc sờ nắm được cái màu xám xịt như sắt. Tớ cố chạy. Bốn bề không gian trống rỗng rồi kiệt sức ngã xoài trên mặt đất. Tớ nằm như vậy không biết bao lâu đến khi tỉnh dậy, chợt nhận ra một vùng sáng từ xa, phía vừa có tiếng con nai. Tớ đoán có thể một làng chài". Mừng quýnh tớ chạy líu díu cả chân, vấp lên, ngã xuống. Tớ chỉ mong được ngồi trên một con thuyền, và được “đánh chén" một bữa tiệc cá thỏa thích. Sự khát khao làm cho tớ mạnh lên, tớ chạy như một thằng khùng, cuối cùng tớ đã tơi được cái vùng sáng ấy. Nhưng kinh lắm cậu ạ. Cái làng chài trên sông chỉ là sự ảo ảnh. Đó là một vùng rừng chồng chất xương cốt người chết. Tớ không đủ can đảm tính được có bao nhiêu nhân mạng nằm trong cái chuông lõm ấy, xung quanh nhiều cây cổ thụ già. Những chiếc cành ngang phè, thõng xuống từng chùm rễ, lòng thòng giống các sợi dây treo cổ. Trời đất sáng một cách ma quái. Ánh sáng trông giống như lửa khi tới gần lại không phải. Thứ ánh sáng không tỏa nhiệt, nhấp nháy, xanh như mắt mèo. Bỗng một cơn gió thổi qua, tớ thấy hàng trăm cái đầu lâu cựa quậy từ trong những hố đất. Những bộ răng quạc ra trắng nhởn. Lúc này sự hoảng loạn ngự trị trên trí não tớ. Tớ chạy, đúng là "chạy như ma đuổi”. Tớ ngã dúi dụi, đập vào cây vào đất, miệng đầu tứa máu. Mặc, tớ cứ chạy, không hề có cảm giác đau đớn. Cho tới khi đầu tớ va vào vật gì đó rất mạnh. Tớ khựng lại, lảo đảo rồi đổ gục.


Những hạt nắng lăn qua khe cửa rơi vào mắt cay rát. Tớ choàng tỉnh dậy, thấy mình năm trong một cái lều cỏ, giữa cái vườn toàn cây xoài và cây vú sữa. Những quả xoài vừa chín tơi, căng mẩy như hai mu bàn tay úp. Mỗi quả treo lủng lẳng đầu một cái gọng dài, trông xa giống cái chuông đồng nhỏ. Cách lều hơn năm chục sải chân có một ngôi nhà sàn. Nhà làm bằng loại gỗ dầu, màu gỗ thẫm như màu sừng trâu. Tớ nhổm người định bước vào xem mình đang ở đâu. Nhưng vừa chống hai khuỷu tay người tớ giật bắn lên, như có ai vừa cầm cái kìm dứt từng miếng thịt ở ống đùi trái. Cái đau xối lên óc làm tớ vã mô hôi hột, cùng nước mắt. Tớ bị thương cậu ạ! Thật kỳ lạ, cho tới bây giờ tớ cũng không hiểu nổi, vì sao tớ lại chạy được một quãng đường dài, mà bình thướng đã là khó khăn lắm. “Ai đã đưa tớ vào đây và băng bó cẩn thận?". Tớ còn mung lung suy nghĩ. Bỗng có tiếng người đàn bà từ trong nhà vọng ra: “Ôi anh Son-thi-chiết, anh đã về”.

Một ngươi đàn ông gần bốn chục tuổi, nước da màu đất sét đi từ cổng vào, trên vai khoác một túi lưới cá. Người đàn ông tơi chân cầu thang, chợt sững ngươi lại. Cái túi cá rơi tuột xuống đất, vài con cá còn sống uốn mình quật trên đất nghe đành đạch. Mặt anh ta biến sắc, hai cánh mũi phập phông hít hít. "Máu đưa nào đây?” - Anh ta hỏi. Người đàn bà trong nhà chạy ra: cái váy bập bồng suýt làm chị ta ngã. "Bình tĩnh nào anh Chiết". Người đàn ông vẫn câm lặng hầm hầm vòng quanh cầu thang, anh ta cúi xuống nhặt vật gì đó giơ lên. “Cái mũ” của tớ cậu ạ. Khốn nạn, thì ra tối qua tớ đã đập đầu vào vật cứng, chính là cái cầu thang nhà gã Son-thi-Chiết, chiếc mũ rơi ra. Son-thi-Chiết rít qua kẽ răng, như con báo trúng mũi tên độc. “Duôn phải không?” Ngươi đàn bà đã xuống dưới sân van vỉ: "Anh Chiết đừng nói thế”. Gã chẳng thèm nghe, hắn nhảy lên cầu thang nhanh như con sóc. Tiếng đổ vỡ loảng xoảng trong nhà. Một lát hắn vọt trở ra, trên tay cầm một cây kăm bắt (con dao) dài, sáng lóe, mặt tím bầm rỗi băng ra cổng. “Không! Không!...". Tiếng người đàn bà thét lên:

- Sau đó thế nào? - Sơn hỏi.
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 4021



WWW
« Trả lời #76 vào lúc: 29 Tháng Tám, 2009, 05:45:56 pm »

- Hình như biết mình vô vọng chị ta bật trở lại, quay vào nhà lấy những thứ gì đó, bỏ đầy một túi xách, bung cửa sau chạy phăm phăm vê phía lều nơi tớ đang nằm. Tớ hoang mang thật sự Sơn ạ, chưa biết phải làm gì, nhưng làm được cái gì kia chứ, khi cái chân “khốn kiếp" và cái đầu toạc máu, vẫn nhức nhối từng cơn. Người đàn bà lao vào nói một lời ngắn gọn: “Đi!". Cái túi khoác chéo qua vai, chị cúi xuống xốc ngang nách tớ, lôi đi như một con mèo tha đứa con của nó. Tớ giãy giụa, cố thoát khỏi vòng tay chị, nhưng vòng tay càng thắt chặt. Chị câm lặng, nước mắt rơi lã chã, lết đi từng bước.

- Mẹ... Mẹ... - Tớ có cảm giác đó không phải bàn tay bình thường. Một bàn tay thiên thần thì đúng hơn. Bàn tay đặt rất nhẹ lên ngực tớ và lay nhè nhẹ.

- Kon tóp. Kon tóp tỉnh rồi - Tớ nghe vảng vất lời chị nói như reo bên tai. Tớ run rẩy trong mộng mị và cảm nhận được hơi thở chị nóng hổi phả lên ngực tớ.

Tiếng chị mềm mại:

- Kon tóp... - Tớ từ từ mở mắt, nhìn ngờ vực.

- Người... Ngươi...

- Cha (dạ), em đã đưa anh về đây. Đêm qua anh luôn mê sảng gọi mẹ.

- Tôi sao thế này? - Tớ hỏi.

- Kon tóp sẽ khỏi thôi.

- Tôi ở đâu?

- Kon tóp đang ở nhà một gia đình Khơ-me tốt.

- Không, cho tôi về đơn vị.

- Kon tóp bị thương chưa thể đi ngay được - Người đàn bà nói rồi đứng dậy đi vào nhà trong, một lát sau quay ra, tay bê một cái tô bằng sứ. Nét mặt chị rạng rỡ. Chị ngồi xuống bên tớ.

- Kon tóp ăn cháo nào.

Đói, tô cháo cá thơm lựng làm tớ ứa nước miếng. Tớ ngoan ngoãn để chị bón cho từng thìa. Tớ nghĩ tới mẹ cậu ạ. Khi còn nhỏ có lần tớ ốm, mẹ cũng ngồi cạnh tớ và bón cho ăn như thế này.

- Chút nữa nào Kon tóp.

- Cám ơn, cám ơn chị. - Tớ nói và ngắm nhìn khuôn mặt chị. Biết nói với cậu sao nhỉ. Ừ phải, nét mặt hao gây, hoàn mỹ như thần nữ Ápsara trên vách đền Ăngko Vat. Tớ không hiểu tại sao cái vóc dáng mảnh mai, yểu điệu của chị, lại có thể đưa tớ về đây được. “Còn tên chị là gì?" - Tớ hỏi: Người đàn bà đặt cái tô đã hết cháo xuống giường, khúc khích cười, nói:

- Em không nói đâu.

- Sao vậy?

- Ồ tên em xấu lắm.

- Đừng nói thế, nhất định tên em phải đẹp!

- Ai nói, kon tóp.

- Tôi đoán mà.

- Đừng cười nhé.

Tớ gật đầu chờ đợi.

- Khô Chănđara - Nói rồi chị ngoảnh mặt đi, đưa hai tay lên che mặt tủm tỉm cười.

- Ồ… Một cái tên tuyệt đẹp? Đara là một vì sao. Ngôi sao sáng trên bâu trời xanh.

- Kon tốp là nhà thông thái à?

- Không, một cụ già ở Stungtreng đã kể với tôi tên của các vì sao.

Chănđara sung sướng khi có người lại biết ý nghĩa của tên mình. Hôm ấy tớ cũng giới thiệu tên mình với Chănđara. “Tên tôi là Bắc, một vùng quê ở phía Bắc sông Hồng gần thủ đô Hà Nội. Một vùng đất có những làn điệu hát xoan, hát chèo và quan họ nổi tiếng ở Việt Nam, giống Tổ quốc Chănđara có vũ diệu Rpm vông quyến rũ."


Gần ba tháng Bắc ở nhà bác Khiêu Sà Lươn, một gia đình Khơ-me nghèo nhưng hào hiệp. Vườn bác Khiêu Sà Lươn rộng, nhiều cây vú sữa tỏa bóng mát như những cái ô lớn. Những ngày cuối cùng vết thương đã ổn định. Một buổi sáng Chănđara dẫn Bắc ra vườn tập đi. Cái buổi sáng thần tiên ấy vẫn còn in đậm trong trí nhớ của Bắc. "Bắc bỏ nạng ra, lại đây" - Chăndara nói và giơ hai tay vê phía Bắc. Bắc ngập ngừng nhìn Chăndara đứng cách anh chừng ba mét, lưng hơi cúi xuống. Cái cổ áo Chănđara hơi trễ để lồ lộ một khoảng ngực trần. “Trời đất" - Bắc suýt kêu lên như thế. Đầu óc Bắc mụ mị, u mê. "Bắc sao thế, bỏ nạng ra” - Chănđara nhắc. "Ờ... Bắc sợ lắm Chănđara ạ". “Can đảm lên, nhìn thẳng phía trước"...


Bắc thả nạng, hai tay chới với. Vẫn tiếng Chănđara: "Cố lên, cố lên, tốt rồi". Ngày tiếp theo Bắc hoàn toàn bỏ nạng, Bắc sung sướng nghĩ ngày trở về đơn vị, nhưng với Chănđara là giờ phút nặng nề. Hai ngày sau vào buổi sáng, một chiếc xe ngựa có mái che, đỗ xịch ngay trước nhà bác Khiêu Sà Lươn. Chăndara mắt rưng rưng lệ nói với Bắc đi thay đồ. Bắc mặc bộ bà ba, khoác một tấm kroma "đi đường cho tiện”. Thì ra Chănđara đã chuẩn bị cho chuyến đi của Bắc. Bộ đồ làm cho Bắc giống một chàng trai bản địa. Chỉ khác Bắc có nước da trắng. Bắc bịn rin nắm chặt tay bác Khiêu Sà Lươn. Chănđara giục:

- Lên xe đi, Bắc.

Bắc bối rồi.

- Em tiễn anh chứ.

- Nhất định rồi.

Bắc lên trước đưa tay kéo Chăndara. Người đánh xe căng cương, vút roi vào mông nhựa. Con vật nhún chân, lấy đà và lao vút đi.
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 4021



WWW
« Trả lời #77 vào lúc: 29 Tháng Tám, 2009, 05:47:09 pm »

Người đánh xe tên là Non Chom-rơn độ gần ba lăm tuổi, bề ngoài anh có cái mã một tên cao bồi Mêhicô. Chănđara giới thiệu: “Trông dữ nhưng hiền khô”. Đúng hơn là con người có hiểu biết rộng. Bắc nhận xét Non Chom-rơn qua tro chuyện giũa Chănđara và anh ta. Với Bắc, Non Chom-rơn có cảm tình đặc biệt. Anh nói: “Nếu không có kon tóp Việt Nam thì đời tôi cũng tiêu rồi". Non Chom-rơn kể, cha anh là nhà nghiên cứu Phật học, mẹ anh là giao sư dạy môn sử ở Kra-chê, cả hai đều bị Pôn Pốt giết ở Bát-đom boong, ngày ấy anh còn là sinh viên. Non Chom-rơn chạy về phum Kro (phum nghèo) nhờ vậy mới thoát chết. Non Chom-rơn tâm sự: "Có lúc thấy chán sống, nhưng có người bảo tôi: Cuộc đời vẫn còn ở phía trước, đừng làm bậy. Thế là tôi thôi". Bắc còn biết: Sau hòa bình, Non Chom-rơn tìm về nơi quê nhà thấy một sợi dây chuyền vàng và hai ba cây vàng thỏi, anh đem bán, có tiền anh mua một chiếc xe ngựa. Từ ngày có xe anh phiêu du nhiều nơi... Anh hy vọng trong vũ trụ mênh mông nay, biết đâu anh gặp được linh hồn cha, mẹ anh. "Hà... hà, chị Chănđara ơi, chị đang nghĩ gì thế?. Chănđara giật mình, mỉm cười nhìn ngươi đánh xe. “Ê, hầy” - Non Chom-ron giục ngựa rồi quay đầu nói với Bắc: "Kon tóp à, người Khơ-me không quên quân tình nguyện Việt Nam đã giúp mình, đúng không chị Chănđara?". Chănđara gật gật cái đầu Non Chom-rơn cười rang rảng. Bất chợt anh cất cao giọng hát: “Ôn ch'mua pho la lò mo mo, lò o riêng lò o khơ nong. Chuốp múc khơ nia mờ đoong, boong choong sro lanh, ôn sơ rây. Sro lanh boong tâu , boong chia mê sơ rốc, phum thơ mây. Mê sơ rốc com bây, prô puôn cách ná. Ót cách tê ôn". (Em Pho-la đẹp người, đẹp nết, đẹp lưng. Gặp nhau có một lần, anh định yêu em à. Yêu anh đil Anh là quận trưởng. Quận trưởng có ba con, vợ dữ lắm! Không đâu em). Tiếng hát anh loang theo chiều gió. Trên cao một đàn chim sáo bay ngang, nghiêng đầu nhìn theo ngơ ngác.


- Đây là doanh trại của kon tóp - Người đánh xe nói rồi lỏng cương dừng ngựa. Một cái cổng làm bằng gỗ, mỗi bên có bốn cây, đường kính bằng ba vòng tay, cắm thẳng xuống đất, tạo nên một cái trụ vuông. Nối giữa hai trụ cũng có bốn cây như thế, nhìn xa, cái cổng giống một chữ U khổng lồ lộn ngược lạnh tanh, không một bóng người. Sau rào trong, vườn hoa trước cột cờ cỏ bắt đầu mọc lún phún. Vài ba chiếc giày thủng gót, bỏ lại tại một góc nhà. Bắc thẫn thờ một lúc, rồi nói với Chăndara: “Đi thôi”. Chăndara rầu rĩ bước theo sau. Tới cổng Non Chom-rơn bỏ xe thập thò lắp bắp hỏi: “Kon tóp?”. Bắc ngồi phệt xuống vệ đương mắt nhìn đâu xa lắc: “Không còn ai ở đây”. “Đến Na-ki-khsấp”. Non Chom-rơn đề xuất. Lại đi: mờ tối đến nơi. Vẫn vô vọng. Dấu vết ở doanh trại còn mới, rõ ràng đơn vị mới di chuyển không lâu! Nhưng họ đi đâu? Chỉ biết khi Chăndara hỏi một người dân gần đây. họ bảo: “Kon tóp nhiều lắm, đi rồi, về hướng nam".

- Tiếp đi - Sơn nhắc.

- Hôm sau tớ quyết định đi về thị xã Kra-chê. Tớ nghĩ Kra-chê là một thị xã, sát bờ sông Mê Kông. Ở đây nhất định tớ gặp được quân mình" hoặc có được tin tức chính xác. Đường về Kra-chê theo quốc lộ 13, rải nhựa nhưng lâu quá rồi lại chiến tranh liên miên, nhiều chỗ hư hỏng nặng, gặp ổ gà xe nảy tưng tưng, ngồi trên xe người chao đảo như lên đồng. Đã hơn một ngày rong ruổi, con ngựa đã thấm mệt, tiếng võ gõ trên mặt đường trở nên lạc điệu. Khổ thân con ngựa những lúc như thế lại phải chịu đòn. Quá trưa xe vào tới thị xã, tớ lao ngay đi tìm. Trời ơi, cậu không thể tưởng tượng được tớ hụt hẫng biết bao chừng nào, khi tớ vào thẳng cơ quan quân sự tỉnh đội hỏi thăm. Rồi được bạn thông bão: “Kon tóp Việt Nam đã về nước. Đơn vị cuối cùng rút khỏi Campuchia tại Phnôm Pênh cách đây cũng hai tuần, theo hiệp định giữa hai chính phủ". Nghe vậy Chănđara òa khóc.

- Sơn? - Bắc đột ngột hỏi.

- Gì thế. Thôi tiếp đi. Ruột gan mình đang lộn nhộn đây này.

- Tớ buồn đến phát khóc cậu ạ. Nhưng có Chăndara ở đấy tớ cố kìm. Đêm ấy ba người vào xin ngủ tạm trong một nhà chùa, nhưng nào ai ngủ được. Tớ và Chăndara ngồi đó, như hai cái bóng câm lặng. Non Chom-rơn nắm chặt vai tớ lắc mạnh: “Bắc đi Phnôm Pênh”. "Đúng, về Phnôm Pênh Bắc ạ". Tiếng Chăndara khấp khởi. Tớ đứng vụt dậy, chút nữa tớ gào lên vì sung sướng. "Phải, đến Phnôm Pênh, vào đại sứ quán Việt Nam, xin thủ tục về nước. Ngày mai, Chănđara, em không cần tiễn anh đâu, hãy trở về Arey khasat, Chănđara ạ. Anh cảm ơn em nhiều lắm". Chănđara đưa hai ngôn tay đặt lên miệng tớ: "Đừng nói thế Bắc".


Non Chom-rơn đã dậy, anh ta bước tới chỗ Chănđara và ngồi bên cạnh. Họ ngồi thế, im lặng hồi lâu, không gian nặng nề trôi. Chỉ có tiếng chân ngựa chồn chân bập bập vào đất là nghe rõ. Đột nhiên Non Chom-rơn hỏi Chănđara: "Thằng Chiết theo Pôn Pốt và đã chết trận, chị biết chưa?”. Ngươi đánh xe giận dữ: "Nó là đồ khốn!". Bất ngờ quá cậu ạ, gần như tớ lao tơi và kêu lên thảng thốt: "Chănđara. Chănđara đúng vậy không?”. Một cơn mưa ập tới đường đột. Tớ nhìn thấy từng hạt mưa rơi loáng nhoáng, qua anh đèn điện cao áp ngoài phố hắt vào. Tớ mường tượng trăm ngàn hạt mưa sa ấy, cồ cả nước mắt của Chănđara.


Thì ra cái hôm đó Son-thi-Chiết đùng đùng nổi giận vác kăm bắt đi khỏi nhà. Hắn căm thù Duôn, chính là tớ. Chăndara quyết định cứu tớ. Thế rồi mọi chuyện đã xảy ra. Tớ cũng không về Phnôm Pênh để xin về nước. Tớ nói vơi Chănđaara, giọng run rẩy, sợ Chănđara từ chối: “Chăndara, anh ở lại đây với em...". Một năm sau chúng mình đã có thằng Bắc Tít. Bây giờ đã mười năm, vợ chồng tớ mới về thăm quê nội...

- Anh Bắc ơi?

- Ai gọi? - Sơn hỏi.

- Chănđara.

- Chănđara ơi... ra đây, trăng đẹp lắm - Bắc ngoái đâu gọi vào.

- Cha (dạ) em ra ngay đây.

Chănđara khoác trên người một tấm khăn kroma, tay nhíu váy lăm xăm bước về phía Sơn và Bắc. Bắc đứng dậy nắm tay Chănđara chỉ dòng sông, nói:

- Đẹp không em?

- Đẹp, đẹp lắm, như Tôn-lê Mê Kông phải không Bắc?

- Ừ Mê Kông dài và rộng.

- Vâng, còn sông Hông nhiều phù sa.

- Người sông Hông thì sao Chăndara?

- Ừ… ừ… Em không nói đâu. Anh Sơn ơi, Bắc nói xấu Chănđara nhiều phải không?

- Không đâu Chănđara, em tuyệt lắm?

- Ối anh đừng nói vậy, xấu hổ lắm!

- Thật đấy! Em đã sinh ra Bắc lần thứ hai!

- Không. Chănđara chỉ giúp Bắc thôi. Bắc ở lại Campuchia em mừng, nhưng khi Bắc ngỏ lời lấy em thì em sợ.

- Sao vậy Chănđara? - Sơn hỏi. Em sợ sau này Bắc buồn. Bắc còn trẻ, ở Việt Nam, Bắc sẽ lấy được vợ đẹp Chănđara già rồi, hơn Bắc tới năm tuổi. Không xứng đâu.

- Ồ, Chănđara, Bắc không hề ân hận. Gia đình Bắc và cả anh rất tự hào về em?

- Chănđara không tin... không tin đâu.

Vừa nói Chănđara vữa vung tay dứ dứ. Bắc chạy ra xa ngoài vạt cỏ Chănđara đuổi theo. Bắc quay lại và vung tay múa hát.

"Krỏ: mun Arey khoát, miên s lịa k'bân, ót s lịa khao chơn thum, chă ríc so phiếp rùm tum, thô vơ ơi chất k' nhum, rum phớt, pếc cơ rây... Cà pứt kh nhum pụa mai, S'cơm teng riêng cai. Cùm oi chất ban chung kh'rúa, te cua á mị cha, ôn ch lơi chạ chờ rùm... chạ pữt, chạ boong chạ mứt, chạ miên cùm mứt, boong xen Sơ ne ha". (Cô gái thum Arey khsat, chỉ bận kờ bân, không mặc quần ống rộng. Đôi mắt của em, nhìn như hai mũi tên bắn thẳng vào tim tôi. Tôi ngỏ lời thương em, nhưng em bảo tôi già rồi. Tôi già thì già rồi, nhưng tôi già có ý tứ..." .


Trăng khuya như đậu xuống ngọn cây, ánh sáng mát lạnh. Sương rơi sót đẫm. Cỏ cựa mình kêu lách chách mơ hồ. Dưới kia, trên mặt sông, con thuyên đã nhổ neo đang từ từ tiến về phía cửa biển.


Thành phố Hồ Chí Minh
Tháng 3 - 1999
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 4021



WWW
« Trả lời #78 vào lúc: 05 Tháng Chín, 2009, 05:17:52 pm »

Lứa đôi

Lê Thanh Huệ

Trước khi tôi về nhận công tác ở đây, cơ quan chỉ có Hà là nữ. Cô có vóc người mảnh dẻ, nước da trắng mịn, đôi mắt ươn ướt, mũi cao và thẳng. Mỗi khi Hà cười, hàm răng trắng đều đặn làm khuôn mặt sáng lên.

Tuy mới về cơ quan, nhưng tôi nhanh chóng nhận ra ngay: cứ chiều đến là Hà thấp thỏm chờ anh nhân viên bưu điện mang thư báo đến cơ quan. Sau tiếng gọi “Hà có thư nghen”; cô làm bọ miễn cưỡng đứng dậy và cố làm sao cho bước chân của mình không nhanh quá, nhưng niềm vui lại cứ tràn ra trên khuôn mặt, trên khoé miệng và cả trong đôi mắt trong của cô nữa. Cầm chiếc phong bì nhỏ bé có nét chữ nghiêng nghiêng, đẹp một cách phóng khoáng, mắt cô ngấn lệ rưng rưng. Hà cẩn thận kẹp nó vào cuốn lịch sổ và cứ để nó đấy, lặng im tận hưởng sự hồi hộp, nỗi xao xuyến trào lên cho đến khi đêm buông hay lúc còn lại một mình, cô mới lấy chiếc kéo cắt chỉ bé nhỏ, xinh xinh, cẩn thận cắt một rìa phong bì sau khi đã ghi ngày nhận và bức thư số mấy của người yêu mình lên phía sau phong bì.


Những lá thư mang con tem quân đội có khi từ Bát-đom-boong, khi thì từ Pretvihia hay Xiêm Riệp (những địa danh nằm trên đất bạn) bay về với cô. Hà đã lên thành phố, đã ghé rất nhiều hiệu sách, lục tìm rất nhiều kiốt để tìm mua bằng được tấm bản đồ hành chánh Việt Nam-Lào-Campuchia đã cũ, trên đó ghi địa danh ba nước Đông Dương khá chi tiết. Những tên núi, tên sông xa lạ đó bỗng trở thành quen thuộc rất đỗi thân yêu khi Trọng đặt chân tới và có lúc Hà cứ nhầm tưởng như mình cũng đã từng sống ở đó, chiến đấu ở đó cùng anh. Quyển lịch của Hà chủ yếu dùng để ghi ngày tháng nhận thư Trọng, ngày Hà gửi thư cho anh. Cô ngồi nhẩm tính ngày thư đến tay anh rồi cộng thêm một khoảng thời gian nữa, Hà đánh dấu vào quyển lịch và coi đấy là ngày đón thư của Trọng gửi về. Đường hành quân dài theo năm tháng, có phải lúc nào thư cũng về đều đặn đúng hẹn đâu. Vào mùa mưa, đường thư tắc có lúc cả sáu tháng trời, đón một lúc gần chục lá thư. Vì vậy thường là quá ngày đón thư mà vẫn chưa có thư của Trọng. Hà lại bồn chồn đứng ngồi không yên. Hà nghi ngờ luôn cả sự cẩn tắc của anh nhân viên bưu điện. Chẳng có ai và chẳng có lời giải thích nào đủ để Hà yên tâm cả, trừ khi có cái phong bì bé nhỏ xinh xinh kia bay về với Hà.


Hà đang ôn thi vào đại học tại chức. Tôi giúp Hà giải các bài tập và hệ thống lại kiến thức. Mặc dù rất quí Hà, nhưng tôi vẫn phải nhận thấy: năng khiếu và sự thông minh tự nhiên của Hà không có gì đặc sắc, bù lại Hà rất chăm chỉ. Hình như ngoài việc ôn thi, công việc thường ngày của cơ quan và nỗi mong chờ những lá thư của người yêu ra, Hà không quan tâm đến những khó khăn trong cuộc sống. Hình như Hà cũng không có cả những dằn vặt, lo toán trong đời thường.


Tôi có người yêu ở gần. Anh là kỹ sư và học cùng lớp với tôi. Anh nhỏ tuổi hơn tôi nên sống buông thả. Tôi đến với anh bằng tình cảm của một người chị, người bạn rồi sau đó mới là người yêu. Tôi ít được quyền nhõng nhẽo mà phải lo toan, chăm sóc chu đáo, tận tuỵ người mà tôi yêu nên tôi vẫn tự cho mình là người vất vả nhất, bất hạnh nhất trong tình yêu. Nhưng hình như hạnh phúc lại là ở chỗ được hy sinh, được vì người yêu. Có lẽ vì vậy mà tôi chóng gần gũi và gần như đồng cảm với Hà hơn. Tôi rất ái ngại khi anh đến và tỏ ra âu yếm, tỏ vẻ quan tâm quá nhiều với tôi trước mặt Hà. Tôi rất thông cảm với Hà. Yêu một người lính là phải chấp nhận thiệt thòi. Ngày xưa số chị em có chồng và người yêu đi chiến đấu xa rất nhiều nên dẫu sao họ cũng không thấy đơn độc, lẻ loi, mà lại còn có phần tự hào vì có người thân của mình ra trận. Còn bây giờ người ta lo cho đời thường, người ta tính toán cho bản thân mình nhiều quá. Hình ảnh anh bộ đội trong cuộc sống hoà bình, yên ấm, ít được nhớ tới hơn. Những người như Hà phải sống trong chờ đợi và cả trong cái ồn ào say sưa của tuổi trẻ, của tình yêu đôi lứa, quanh mình, tránh sao được những phút xao lòng, buồn tủi. Đó là chưa kể nỗi lo con gái chỉ có một thời. Đợ chờ sẽ chóng mỏi mòn và tàn phai sắc hương để biết đâu rằng ngày về người mình yêu không còn chung thuỷ nữa.


Đã hai tháng nay tôi nhìn Hà bồn chồn mà thương, mà cảm thấy bất lực vì không dễ gì giúp Hà bớt đi lo lắng. Hình như linh tính báo cho Hà điều gì không ổn thì phải. Tình yêu đến là kỳ lạ. Hai người đã thương nhau hết lòng thì dù ở xa nhau đến mấy, người ta vẫn có thể cảm được những thay đổi của nhau, thậm chí cả những tai ương mà người mình yêu gặp phải. Và chính sự không rõ ràng đó, không chắc chắn đó làm cho Hà còn khổ tâm hơn. Tôi biết điều ấy nên đêm nay tôi bảo Hà nghỉ học bài. Dẫu sao cũng gần đến ngày Hà lên trường để tập trung ôn và thi rồi. Nghĩ vậy nên tôi kéo Hà ra sân. Ánh trăng như rửa tan đi những lo âu, day dứt, nét mệt mỏi, căng thẳng trên khuôn mặt Hà và làm nó trở nên hư ảo hơn. Gió thổi rất nhẹ mang cái lạnh mơn man da thịt.

-Hà quen anh Trọng trong trường hợp nào?-Tôi hỏi nhỏ.

-Ngày xưa em đâu có ngờ rằng mình lại là người yêu của lính. Chị có tin vào định mệnh không? Còn em, em cứ nghĩ rằng trong cuộc sống có những sự ngẫu nhiên giống như định mệnh vậy. Nó tình cờ đưa người ta đến gặp nhau để rồi sau đó gắn bó lại với nhau như một sự tất nhiên, như là sự sắp xếp trước của số mệnh con người vậy.

Giọng Hà đến đây tự nhiên sôi nổi hẳn lên:

-Hôm đó là một buổi chiều cuối năm nhợt nhạt. Mải suy nghĩ điều gì mà em không còn nhớ nữa, em đạp xe mải miết cho tới lúc lao xe vào bánh trước một chiếc xe đạp của ngườ khác từ trong hẻm đi ra. Em không thể quên được ánh mắt của người con trai đó khi anh dìu em đứng dậy. Đôi mắt đó vừa dịu đi phần bực bội trước vẻ lúng túng biết lỗi của em. Anh dựng xe của em dậy, loay hoay xem nó có bị méo mó hư hỏng gì không. Em nhìn vào kẽ tay bị rách của anh. Máu thấm ra đo đỏ dưới lớp da trắng xanh. Giọng anh nhẹ nhàng từ tốn: “Có bị làm sao không em? Đi sai đường rồi đó, lần sau nhớ cẩn thận nghen”. Rồi coi như chẳng có chuyện gì xảy ra, anh lặng lẽ xách chiếc xe đạp đã bị méo vành của mình rẽ vào lối nhỏ, mặc cho em đứng đó lúng túng ngượng ngùng. Suốt mất ngày tết em cứ bị chuyện ấy ám ảnh nên mất vui.
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 4021



WWW
« Trả lời #79 vào lúc: 05 Tháng Chín, 2009, 05:20:28 pm »

Hồi đó em còn đang học lớp 12. Mãi đến khi ba em về hưu và gia đình em chuyển về quê, em mới biết người đó là Trọng. Anh dạy học và cũng là xóm giềng với gia đình em. Em thi trượt đại  học và đang chờ xin việc ở cơ quan nào đó. Chính ở đây anh Trọng đưa em cùng các bạn thanh niên ở xã tham gia vào các hoạt động xã hội. Cùng tham gia lao động, văn nghệ, cùng đến thư viện đọc sách báo, và cùng sinh hoạt ở câu lạc bộ thanh niên xã do anh Trọng cùng với tập thể giáo viên tổ chức. Anh có nhiều tài lẻ: đàn hay, vẽ giỏi và kể chuyện rất có duyên. Không rõ từ lúc nào niềm kính phục, tin tưởng đã chuyển thành những rung động kỳ lạ khi em nghĩ đến anh ấy. Có cái gì đó không thực rõ ràng đã len vào tâm hồn em làm em vui, em buồn một cách bất thường. Nếu một ngày không được nhìn thấy bóng anh, em bồn chồn đứng ngồi không yên. Cứ ra vào vẩn vơ như người mất hồn vậy. Thế nhưng lúc được một mình với anh, em lại lo sợ. Một nỗi lo sợ mơ hồ, rất bản năng. Em hay hát những bài anh thích và trong ngôn từ của em thường có những câu chữ mà anh thường dùng. Bạn bề thường “cặp đôi” em với anh Trọng. Em ngượng, em tỏ vẻ khó chịu mà thâm tâm em lại rất thích. Nếu người ta quên “cặp đôi” cho em thì em sẽ tìm cách “cặp đôi” anh Trọng cho những ai mà em thấy không xứng với ảnh nhất, rồi thú vị xem ảnh đỏ mặt từ chối. Sổ tay em thôi ghi bài hát. Nó được dùng để ghi những câu triết lý vụn vặt về tình yêu, hạnh phúc, khổ đâu do em sưu tầm, do em nghĩ ra và do cả anh ấy vô tình triết lý. Em cứ sống mơ mơ, thực thực như vậy cho đến cái đêm hội diễn của huyện. Anh cởi dân đàn trên vai bước xuống sân khấu, người đầm đìa mồ hôi và tìm em. Ảnh khen em hát rất hay; “Do em rung động thật sự, cái đó còn hơn cả kỹ thuật Hà ạ”. Anh cầm tay em. Còn em, cứ như người đi trong mộng.


Hà ngừng lại. Tôi có cảm giác rằng mặt Hà đang đỏ bừng và ngượng ngùng khi nhớ lại hương vị cái hôn đầu tiên nhận được trong đời.

Trăng mười sáu đã lên được một con sào. Bầu trời có vài gợn mây đen đang bị gió đưa về phía mặt trăng.

-Rồi sau ảnh nhập ngũ phải không em?

-Không chị ạ-Như sực tỉnh. Hà nói tiếp:

-Từ đó cho đến ngày nhập nhũ là cả một câu chuyện dài. Chị ơi, em nhỡ có một nhà văn nào đó đã viết và rất chí lý “Tình yêu như một miền đất lạ, nhiều hoa hồng và cũng lắm chông gai:. Cả em và anh Trọng đều không hề biết những gì đang chờ đón bọn em.


Cho đến một hôm ba em nhắc em phải ở nhà. Ông có việc cần nói với em. Ba em là trung tá đã về hưu. Ba em đã từng vào sinh ra tử ở vùng đồng bằng sông Cửu Long từ cái ngày mới tổng khởi nghĩa cho đến lúc chiến tranh kết thúc. Với ba em: hạnh phúc nhất là những buổi tối cả nhà quây quần quanh bàn nghe ông kể chuyện đánh Pháp, đánh Mỹ, chuyện vui, chuyện buồn, cả chuyện đau lòng xót xa trong chiến tranh nữa. Nhưng lần này nhìn khuôn mặt nghiêm nghị của ba, em chột dạ. Ông bắt đầu hỏi han em về những buổi sinh hoạt, về quan hệ bạn bề và cuối cùng ổng đi vào vấn đề chính:

-Nghe bạn bè của con, nghe dư luận của chòm xóm và qua những thay đổi của con, ba mẹ rất buồn. Ở tuổi con, khi chưa có nghề nghiệp gì cụ thể mà dính tới chuyện yêu đường là sớm. Con thi rớt đại học đã lâu mà chẳng thấy con tính chuyện thi lại. Con muốn đi làm ở một cơ quan trong huyện ta có phải vì động cơ muốn gần thằng Trọng không? Bao nhiêu người tốt đẹp con không thương mà đi thương một con người như vậy. Ba rất tự hào về truyền thống của gia đình ta. Con tính bôi nhọ thanh danh của ba, của má và chính của con nữa hay sao? Ba không thể ngồi cùng bàn với ông Chín được, nói chi chuyện sui gia…


Thực ra em và anh Trọng chưa lường đến chuyện hai ông trung tá phục vụ hai chế độ, người về hưu, kẻ bại trận sẽ phải ngồi bàn chuyện tương lai cho những đứa con của mình. Em cũng quên chưa kể cho chị nghe về ông Chín: ba của anh Trọng và cả gia đình anh Trọng nữa. Ông là trung tá nguỵ. Ngày mới về, chính em cũng thấy ông Chín là người kỳ quặc. Ngày hai buổi ổng ngồi với chai rượu trên bộ giường gỗ đã lên nước bóng loáng, mọt đục thủng lỗ chỗ. Thỉnh thoảng ông mới ra khỏi nhà đi mua lít rượu. Đôi mắt ổng chẳng nhìn ai. Ổng không trả lời cả khi bà con chòm xóm chào hỏi ông: dù là cái gật đầu chiếu lệ. Lẽ trẻ con chạy theo nhìn ổng như người khùng, ổng cũng mặc. Người mới gặp ổng lần đầu ngỡ ổng bị câm và điếc. Chỉ đến ngày tết ổng mới nói chuyện với những ai đến nhà chúc tết vừa đúng một câu: “Bà con thông cảm cho tôi. Ngày thường gặp tôi xin đừng chào hỏi cho đỡ mất công. Giờ tôi đã là người thừa rồi. Với con cái tôi cũng chẳng có quyền hành, nói chi đến xã hội”. Ổng đã từng đi lính cho Nhật, cho Pháp, rồi đến Mỹ. Mấy người anh của Trọng. Người là sĩ quan không quân, người là lính dù thời nguỵ. Trọng là người duy nhất trong nhà không phải đi lính vì buổi ấy ảnh còn nhỏ tuổi. Sau ngày giải phóng, ông Chín đi học tập cải tạo và về sau cùng so với mấy người trong nhà. Công việc buôn bán khó khăn nên bà Chín phải đưa cả nhà về quê làm ăn sinh sống. Anh Trọng nhanh chóng hoà nhập với cuộc sống mới bằng cả niềm tin và sức trẻ của mình. Anh học giỏi tự nhiên và mơ ước trở thành kỹ sư xây dựng.
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM