Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 02:23:15 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Biên giới Tây Nam  (Đọc 150920 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 4021



WWW
« Trả lời #90 vào lúc: 08 Tháng Chín, 2009, 06:41:37 pm »

Nguyên Bình ngừng lời, mắt chớp nhanh:

-Có lẽ, tôi muốn nói với các đồng chí rằng, vì nghề nghiệp làm báo, tôi đã đi nhiều nơi, đến nhiều mặt trận, ở phía Bắc, trong rừng Trường Sơn, ở biên giới Việt Lào… Nhưng đây là lần đầu tiên tôi đến mặt trận Tây Nam. Ở đây tôi đã được thấy nhiều việc, nghe nhiều chuyện, tôi đã gặp gỡ nhiều người Campuchia từ bên kia biên giới trốn thoát cái chết sang đây với chúng ta. Câu đầu tiên họ đều nói với tôi rằng: “Bộ đội Việt Nam đã cứu sống họ”. Và tôi còn biết thêm rằng, những người đã cứu thoát một dân tộc khỏi nạn diệt chủng cũng chính là những người yêu thích văn nghệ nhất. Tôi đã nhìn thấy những cuốn sách được chuyền tay nhau dọc đường hành quân, bìa rách nát. Những câu thơ chép tay trong những cuốn sổ của thương binh… Sự cổ vũ ấy còn quý hơn mọi lời khen tặng đối với những người làm văn nghệ. Lần này đến đây, chúng tôi lại được các anh chăm sóc rất nhiều, chúng tôi được tạo điều kiện và phương tiện thuận lợi để làm việc, trong lúc chính các anh đang còn gánh chịu nhiều khó khăn. Sự hy sinh đó nằm ngay trong những nhu cầu sống hàng ngày, trong từng hớp nước uống không đã khát, trong từng ngọn rau xanh của mỗi bữa ăn thiếu hụt, trong tình cảm quê hương, và trong xương máu đồng đội các anh đã đổ xuống mảnh đất ta đang đứng…


Chị nhìn lướt những khuôn mặt đang chăm chú nghe chị nói, nghĩ nhanh: Sao anh không đi cùng em chuyến này, anh Văn? Đến đây, gặp những con người cao thượng này, ắt những vần thơ của anh khỏe khoắn hơn, và biết đâu, hai người sẽ xoá bớt khoảng cách…


Chị thoáng nghĩ đến hình ảnh Văn đang trầm ngâm đi trên hè phố Hà Nội với những câu thơ về tình yêu và nỗi đau khổ của anh. Chị bỗng thấy thương anh. Nhưng rồi hình ảnh Văn nhoà đi rất nhanh trong ánh mắt các chiến sĩ đang nhìn chị, bao dung và náo nức. Chị nói tiếp:

-Tất cả những điều đó đã để lại trong tôi một ấn tượng thật khó quên. Tôi cũng biết tôi làm việc còn nhiều kém cỏi. Nhưng, tôi sẽ viết về các anh. Vâng, tôi sẽ viết, với tất cả khả năng của mình…

Những tràng vô tay ào lên, sôi nổi. Nguyên Bình quay đi nén xúc động. Rồi quay lại, chị mỉm cười:

-Vâng, tôi xin hứa… Còn bây giờ, cho phép tôi thay mạt anh em trong đoàn, xin gửi đến các đồng chí, những bạn đọc thân mến của chúng tôi, lời chào thân thiết nhất.
Buổi nói chuyện kết thúc, Nguyên Bình quay trở về nơi mắc võng, vẫn chưa hết xúc động. Liên lạc viên tiểu đoàn, một chiến sĩ trẻ măng lễ mễ mang tới cho chị một thùng lương khô đựng đầy nước. Tâm-tên cậu liên lạc-vừa nghiêng thùng đổ nước vào chiếc mũ sắt, vừa bắt chuyện với chị nhà văn.

-Em lấy nước cho chị rửa mặt đây. Sao lúc nãy chị nói ít thế?

Nguyên Bình giữ lấy chiếc mũ sắt. Chị kêu lên:

-Nhiều quá! Đừng phí nước thế, Tâm? Chú vừa bảo gì nhỉ?

Có những tiếng chuông điện thoại reo vang trong nắng trưa. Rồi giọng miền Nam rất ấm của Thắng nghe rõ mồn một: “Sông Hàn phải không? Vâng, vâng… Đồng Nai đây!”. Tâm nghiêng đầu lắng nghe rồi trả lời Nguyên Bình rất hồn nhiên:

-Ở vườn xoài mà chị lo thiếu nước? Chúng em chỉ lo nhất mỗi lần thay chốt trong rừng Puleng thôi. Ở đó thì chẳng kiếm đâu ra nước. Chỉ sẵn cây vỏ quạch. Nhiều lúc bọn em phải chặt vỏ quạch nhai cho đỡ khát. Nhưng đến mùa mưa thì rất gay go. Nước sẽ ngập đến tận bờ công sự ấy. Cái xứ sở này thật lạ! Ấy thế mà thủ trưởng Thắng còn làm thơ về tổ chốt đấy. Chị có biết làm thơ không, chị Bình?

-Không. Sao?

-Chẳng sao cả. Nhưng anh em đều muốn nghe chị nói chuyện lâu lâu một tý. Chị có biết không? Tiểu đoàn chúng em có nhêìu nhà thơ lắm tài ra phết đấy.

Nguyên Bình cũng lấy cái vui của chú liên lạc:

-Thế mà chị không được biết tài thủ trưởng của chú đấy. Nào, bây giờ Tâm đọc thơ của anh Thắng cho chị nghe với.

Tâm bưng miệng cười:

-Ấy chết, “đem chuông đi đấm nước ngoài”. Ai lại thế… Nhưng.. đọc thì đọc, em chỉ dặn trước là cấm cười, cấm mách lại.

-Đồng ý.

Tâm lên giọng ngâm nga:

Chiếc balô bằng vải bạt thô
Tôi gói bọc rất nhiều kỷ niệm
Vai tôi mang cả vòm trời quê hương
Và tiếng cười em ngân vang trong đêm đầy sao…


Thế nào, nghe được không, chị?

-Tiếp tục.

Tâm cười giòn:

-Em quên mất rồi. Nhưng đại loại như thế. Toàn viết về lính tráng cả. Cây nhà lá vườn thôi, lủng củng một chút, nhưng chúng em đọc, khoái đáo để.

Nguyên Bình trầm ngâm:

-Anh Thắg quê ở đâu, Tâm nhỉ?

-Biên Hoà chị ạ.

-Thảo hèn.

-Chị bảo sao?

-Chẳng là chị chợt nghe mật danh điện thoại của đơn vị mang tên một con sông.
-Đồng Nai phải không? Thủ trưởng chúng em bảo để gọi thế cho đỡ nhớ quê hướng. Còn sông Hàn là điện thoại của bộ phận trinh sát. Họ đang ở trong rừng Puleng. Lúc anh Xuân đang đọc thơ, chị có nghe tiếng súng nổ không?

-Có. Nghe rất rõ.

-Cánh trinh sát đang bám địch đấy. Thủ tưởng chúng em cũng sắp tới đó bây giờ.

-Anh Thắng sẽ đi Puleng ư? Họ ở cách đây bao xa?

-Năm cây số. Thủ trưởng chúng em…
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 4021



WWW
« Trả lời #91 vào lúc: 08 Tháng Chín, 2009, 06:42:31 pm »

Nguyên Bình nghĩ nhanh: cậu liên lạc này mê thủ trưởng của mình quá thể. Hay thật! Xem nào, từ đây xuống Puleng đi nhanh mất một tiếng. Vị chi năm giờ chiều đến nơi. Sẽ nghỉ lại đó một đêm. Sớm mai đi đoàn 7, kịp chán. Kể cũng hơi mạo hiểm, nhưng không sao. Mình sẽ được gặp anh em trinh sát ở chốt với những con suối cạn, những cây vỏ quạch và một cánh rừng biên giới. Đi thôi! Miễn là anh ấy không phản đối.


Thắng mang thêm khẩu tiểu liên. Anh khoác chéo khẩu súng trước ngực. Nguyên Bình mở to mắt nhìn anh: “Vai tôi mang cả vòm trời… Và tiếng cười em ngân vang trong đêm đầy sao…”. Còn bây giờ, vai anh ấy khoác súng và một bên là cái bình tông nước, chỉ có thế. Một vẻ đẹp giản dị và rất… lính. Nhưng những câu thơ của anh ấy đầy rung động và rất thực. Tất nhiên rất khác với thơ tình của Văn. Anh Văn vẫn mơ ước có một gian buồng ở Hà Nội. Nhỏ thôi. Nhưng là của riêng hai người.

-Anh sẽ ngồi ở đây. Còn bàn làm việc của em thì ưu tiên kê gần cửa sổ. Anh biết tính em khi viết thích có một không gian thoáng đãng. Đúng thế không nào? Nhưng trong lúc làm việc thì không được quấy rầy anh, nghe chưa?

Bình cười buồn:

-Nhưng em chưa biết mình sẽ viết gì nếu chúng ta cứ mãi quẩn quanh ở Hà Nội như bây giờ. Vả lại, căn buồng ấy ở đâu nhỉ?

Văn cáu kỉnh:

-Rồi sẽ có, miễn là em đồng ý. Anh sẽ quẳng cho hắn một ngàn đồng, cùng lắm là ngàn rưỡi hoa hồng. Anh sẽ bán đi cái xe đạp.


Nguyên Bình nhìn anh, thấy thương. Người ta cho Văn là người có tài và đứng đắn. Nhưng lâu nay anh ít đi xa Hà Nội. Anh đau khổ vì Nguyên Bình. Chị biết rõ thế nhưng vẫn cứ e ngại: Anh ấy chỉ nghĩ đến mình, hạnh phúc là thế ư? Khi còn trẻ, người ra quan niệm hạnh phúc như một cái gì sặc sỡ và khó nắm bắt, như một sắc cầu vồng, như mặt  biển với những cồn sóng chạy nghiêng và con tàu trắng lộng lẫy. Nhưng Nguyên Bình đa 27, chị muốn cùng anh chia đều nỗi vất vả của những chuyến đi, muốn cùng anh hoà cái riêng của mỗi người vào ngàn mảnh đời chung để tạo nên những trang viết. Đó cũng là niềm vui, là hạnh phúc. Vất vả đấy, nhưng có niềm say mê thực sự nào lại được vun đắp một cách dễ dàng? Chị cãi yếu ớt:

-Nhưng tháng tám em còn phải đi một đợt. Cơ quan đã phân công…

Văn đứng lên, nóng nảy quẳng điếu thuốc vừa châm vào góc nhà:

-Anh biết em là người có nghị lực. Điều đó quý thật, nhưng cũng cần phải thực tế nữa chứ, em? Ai cũng vậy thôi, cần phải có một gia đình, một tổ ấm. Riêng em sao cứ băn khoăn?

Đó là lần va chạm gần đây giữa hai người trước chuyến đi này. Sau đó, Bình nhận được một bức thư. Nhận ra nét chữ quen thuộc, chị xé phong bì. Một mảnh giấy nhỏ rơi xuống chân chị: “Anh là con đường, em là dòng sông. Em khó hiểu như một con nước chảy…” Bình cắn môi: Trời ơi, chẳng lẽ mình bí ẩn đến thế kia ư?

… Thắng nói:

-Chị nên nghỉ lại tiểu đoàn bộ. Đi, có thể nguy hiểm.

Nguyên Bình phật ý:

-Anh coi tôi như khách lạ.

-Tôi lo trách nhiệm bảo vệ…

-Tính mạng một người chỉ huy như anh đáng giá hơn tôi nhiều.

Thắng bật cười:

-Chị là một cô gái bướng bỉnh-anh nghĩ thêm-bướng bỉnh nhưng chân thành và dũng cảm. Nhưng anh không nói ra những ý nghĩ trên. Còn Nguyên Bình thì nghĩ khác: anh Văn bảo mình khó hiểu. Bây giờ lại còn thêm tính bướng bỉnh nữa kia đấy. Nhưng dù thế nào mình vẫn là mình.


Hai người theo con đường mòn ra khỏi vườn xoài. Ở những tràn ruộng thấp xung quanh, bộ đội đang cuốc đất tăng gia. Chiến trường gì mà kỳ lạ-Nguyên Bình nghĩ-Trong khu rừng kia, không xa, bọn địch đang lẩn trốn, những trận đánh chưa kết thúc. Còn ở đây, chỉ cách một cánh đồng, những luống rau đang được vun bón. Thế rồi người ta chuyển về những người bị thương những tử sĩ…


Nhìn thấy hai người đi ngang qua, các chiến sĩ ngừng quốc đất, nói bâng quơ những lời đùa bỡn: “on sa lanh boòng tê?” (nghĩa là: Yêu anh không em ơi). Một người khác đáp lời, giọng vút cao lên: “Sa lanh ná” (nghĩa là: Yêu lắm). Thắng quay lại giơ nắm tay dấm dứ về phía người vừa nói. Họ cười phá lên. Tiếng cười quấn quít trong khoảng không ngập nắng. Nguyên Bình luống cuống bỗng vấp chân, đau, nhưng chị cố kìm một tiếng rên, hỏi lảng sang chuyện khác:

-Anh học được nhiều tiếng Campuchia không? Dạy tôi vài tiếng thông thường nhé.

-Tiếng Khơ Me khó phát âm, chị ạ. Anh em chúng tôi cũng chịu khó tự học, nhưng mới hiểu được ít tiếng đơn âm.

-Ăn cơm là gì?

-Hốp bai.

-Uống nước?

-Hốp tức.

-Còn cảm ơn.

-Ốc cun.

Nguyên Bình lẩm bẩm:

-Ốc cun. Ốc cun là cảm ơn. Thế còn câu vừa rồi?

-Câu nào nhỉ?

-Đấy, mấy tiếng gì chiến sĩ của anh vừa nói đó.

Thắng lúng túng:

-À, anh em họ đùa, có gì đâu. Chị đừng để tâm.

-Kìa anh Thắng!
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 4021



WWW
« Trả lời #92 vào lúc: 08 Tháng Chín, 2009, 06:43:21 pm »

Đồng chí tiểu đoàn trưởng đỏ bừng mặt như cậu học trò bị bắt quả tang đang viết thư tình. Kỳ quá! Có nên nói cho cô ta biết? Liệu cô ấy có phật ý không? Nhưng anh không biết nói dối. Anh trả lời nhanh như người mong thoát một gánh nặng:

-Chẳng là, đôi khi chúng tôi phải vào các phum làm công tác dân vận. Bọn họ ưa nói tếu một chút: “Yêu anh không, em ơi!”.

-Ồ. Nguyên Bình cười phá lên. Tiếng cười hôn nhiên của chị khiến Thắng cũng phải bật cười theo. Rồi chị chợt im bặt “On sa lanh boòng tê?” . Nhưng tình yêu đâu có đến dễ dàng thế! Bình và anh Văn biết nhau đã hơn ba năm, nhưng nhiều lúc chị vẫn tự hỏi: Mình thực sự yêu Văn không? Có không? Hay đấy chỉ là một tình thương? Là sự quý trọng? Nhiều lúc bận công việc, chị ngại những cuộc hẹn gặp. Nhưng sau đó chị lại vội đạp xe đến. Nhìn những sợi tóc sớm bạc, nhìn khuôn mặt đẹp một vẻ cao quý ấy. Bình bỗng thương anh đến nghẹn ngào: Em chỉ là một mảnh của cuộc đời anh, chứ không thể là tất cả như anh mong muốn. Chúng ta còn nhiều việc phải làm.

Để tránh những ý nghĩ không vui, Bình quay sang Thắng.

-Tôi biết anh Thắng có làm thơ đấy nhé.

Thắng bật cười. Một lần nữa anh lại đỏ mặt.

-Lại cậu Tâm mách chị hẳn thôi.

-Chú ấy rất mến anh. Mà làm thơ thì có gì cần giấu giếm?

Thắng nói nghiêm trang:

-Không, đấy là một công việc tốt đẹp, rất tốt đẹp là khác. Ngày còn đi học, tôi cũng có làm một vài bài thơ, về một cô bạn cùng học, về nhà trường. Được khe, đã lầm tưởng mình cũng có năng khiếu. Bây giờ, nghĩ lại thấy mình thật ngây thơ đã có những ước vọng ngông cuồng.

Thắng ngừng lời. Nguyên Bình nhìn sang anh. Đôi mắt Thắng long lanh cái nhìn trẻ trung và dào dạt tình cảm bên trong. Chị biết là anh đang nói những điều rất thật, nhưng anh không biết cách diễn đạt thế nào cho khỏi văn vẻ, nên cảm thấy ngượng ngùng.

Thắng nói tiếp:

-Chị không biết đâu. Trong cuộc đời người lính cũng đủ cả niềm vui, nỗi buồn. Chỉ có điều, tất cả những cái đó đều mãnh liệt hơn, sâu sắc hơn là cuộc sống bình thường. Tôi luôn luôn tự cảm thấy bất lực trước những cảm xúc chứa chất trong lòng. Nói thế không biết chị có hiểu rõ ý tôi?

Nguyên Bình trầm ngâm.

-Có lẽ tôi hiểu.

-Vả lại, từ ngày nhập ngũ, việc trước tiên đối với tôi là lo làm trong nhiệm vụ người lính. Trước mắt chúng tôi luôn luôn là cái sống, cái chết, là quân thù và những viên đạn bắn thẳng, vì thế, xin lỗi chị, tôi nghĩ rằng việc cầm khẩu súng nhằm cho trúng cái đích cần ngắm bắn còn bức thiết hơn việc lo diễn đạt cảm xúc, những ý nghĩ, và tìm tòi những vần điệu đang nằm đâu đó trong tiềm thức-anh nói chậm rãi-Tuy nhiên, trong cuộc đời người lính cũng có lắm điều đáng để chúng ta nhớ, suy nghĩ, và viết về nó. Đây là một công việc nghiêm chỉnh, nhiều khó khăn, rất khó khăn. Tôi biết thế. Nhưng đạt được mục đích ấy là một điều tuyệt diệu.

Rồi anh cười:

-Nhưng đấy là công việc của sau này, khi chiến tranh đã kết thúc.

-Xin anh cứ nói.

-Chắc chị còn nhớ, cách đây không lâu, bọn Pol Pot đã đưa những đơn vị lớn vượt biên giới, đánh giết rất dã man những làng xóm của ta. Tất nhiên chúng ta đã trả lời bọn giặc một cách đích đáng. Đồng thời, để cứu một dân tộc anh em, chúng ta đã tiến quân đến Phnôm Pênh. Nói vậy thì thật đơn giản, chúng ta đã tiến quân đến Phnôm Pênh. Và đúng thế, chị nhỉ, nhưng trong cuộc tiến quân cứu bạn thắng lợi ấy, chúng ta đã chịu những mất mát. Điều đó cũng là tất nhiên. Nói chuyện với nhau bằng súng đạn đâu có phải là một cuộc họp mặt vui vẻ. Riêng tôi, trong trận chiến đấu này, tôi suý mất một thằng bạn thân nhất.

Thắng ngừng lời như để cố nhớ lại những hình ảnh đã qua, một lát, anh nói tiếp:

-Bấy giờ, các đơn vị quân đôi ta đã ém sẵn bên này sông. Bên kia sông là sự phòng thủ ngoan cố của địch và con đường quốc lộ dẫn về thủ đô Campuchia. Đó là vùng đất lạ. Bởi vậy cần có đội trinh sát đi nắm chắc ý đồ và phòng thủ của chúng trước lúc quân ta vượt sôn. Sáu người được cử làm nhiệm vụ ấy, trong đó có tôi và thằng Hoà. Nó cùng đi bộ đội với tôi. Chúng tôi ở cách thị xã Biên Hoà một cây cầu bắc qua con sông Đồng Nai. Con sông khá rộng. Nhưng nó chẳng ăn nhằm gì với sức vóc trai trẻ của hai đứa. Có những buổi chiều đi học về, chúng tôi không muốn qua cầu, bèn rủ nhau bơi. Quần áo buộc túm vào tấm vải nhựa, thế là “hấp”, nhảy ngay xuống nước. Nửa tiếng sau leo lên bờ, núp vào bụi cỏ ke mặc lại quần áo. Vừa chui đầu vào tấm áo nịt thoảng mùi mồ hôi quen thuộc, đã thấy bụng réo sôi lên vì đói, thế là ba chân bốn cẳng chạy một mạch về nhà… Rồi những ngày nghỉ học, hai đứa bơi thuyền ra sông câu tôm. Ở quãng đó vào những buổi sáng và khi mặt trời sắp lặn là buông câu, tôm nhiều vô kể. Tôm câu lên, thả ngay trong lòng thuyền săm sắp nước. Những chú tôm cứ cuống quít búng càng tanh tách, nom thật sướng mắt. Khi đã được kha khá, chúng tôi tạm nghỉ đốt bếp than lên nướng tôm ăn ngay trên thuyền, ăn xong, tôi nằm trên sạp thuyền nhìn trời và sông nước hát nghêu ngao, hoặc hoa tay đọc to lên những câu thơ vừa chợt nghĩ ra. Còn thằng Hoà, bao giờ nó cũng chỉ im lặng mỉm cười nhìn tôi đang trong nỗi vui ngông cuồng của tuổi trẻ, dịu dàng như một cô cái đang yêu. Và chúng tôi yêu nhau thật sự. Một tình yêu chân thành nhưng vụng về của những đứa con trai mới lớn. Nhưng tính nết thì khác nhau quá đỗi. Tôi là đứa hay nói. Còn thằng Hoà thì dút dát. Vì dút dát nên nó khổ. Nó yêu đứa em gái tôi, nhưng cu cậu không dám nói. Yêu mà không dám nói. Cái thằng đến kỳ quặc! Nhưng chơi thân với nó, tôi biết, nó là thằng con trai chân thành và cao thượng.
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 4021



WWW
« Trả lời #93 vào lúc: 08 Tháng Chín, 2009, 06:44:00 pm »

Cũng vì hai đứa quen sông nước từ bé, nên chúng tôi được chọn vào phân đôi trinh sát. Lựa một đêm tối trời, chúng tôi tính vượt sông bằng những mảng bèo lục bình kết lại. Trong lúc đợt giờ xuất phát, chúng tôi ngồi gần nhau. Mỗi đứa trên người chỉ độc chiếc quần đùi, phần da thịt để hở đã được trát kín bằng nhựa cây trộn bùn. Chẳng biết bạn tôi nghĩ gì lúc ấy. Nó nằm ngửa trên cồn đất nhìn vòm trời loáng thoáng những ngôi sao thưa thớt, mỉm cười yên lặng. Một lát, thằng Hoà ngồi lên choàng tay ôm ngang lưng tôi: “Thắng à, mình vừa nghĩ đến Thuỷ. Không hiểu sao mình không quên được cô ấy”. Tôi mở trong mắt nhìn nó! Ô cái thằng! Thì ra nó vừa nghĩ đến đứa em gái bướng bỉnh của tôi trước lúc làm nhiệm vụ. Điềm gở chăng? Tôi thoáng nghĩ thế, thương bạn, lại bực mình về chuyện đứa em gái vô tình. Đẹp mà vô tình. Nó làm thẳng Hoà thật khổ. Tôi khẽ gắt với nó:

-Đáng lý mày phải gặp nói chuyện với nó từ lâu rồi. Ngại gì. Đã là thằng lính, sống chết còn chẳng sợ, sợ gì một đứa con gái.

Nó cười hiền lành:

-Mình có sợ đâu.

-Sao mày không nói?

-Lần này mình sẽ nói.

Chúng tôi lặng lẽ trườn xuống nước. Trên bè đặt súng, lựu đạn và thủ pháo. Cứ hai người một bè, chúng tôi dìu vũ khí vượt sông. Đã xa bờ một quãng. Bên kia sông bọn địch vẫn im lặng. Những đám mây tiếp tục đùn lên nhanh chóng. Những vì sao thưa thớt như có ngọn chổi thần quét sạch cả. Sắp mưa đến nơi! Chúng tôi độngviên nhau gắng vượt sang bờ trước lúc trời sắp mưa xuống. Chợt, những ánh chớp loè lên, nhìn rõ từng gợn sóng lăn tăn trên mặt sông mênh mông. Tôi lo thắt ruột. Trong chiến đấu thường có những yếu tố bất ngờ. Nhưng yếu tố bất ngờ này thì xui xẻo quá. Quả nhiên bọn địch đã nhìn thấy những mảng bèo trôi khả nghi trên mặt nước. Chúng bắt đầu xả trung liên vào đám lục bình. Tôi nhắc thằng Hoà: “Cẩn thận đấy nhé!”. Hai đứa cố bơi nhanh hơn. Đằng nào cũng đã lộ. Lên bờ mình dễ xử trí hơn. Sáu thằng lính từng trải với vũ khí tốt trong tay và bên kia sông, các cỡ súng quân ta sẵn sàng chi viện. Chúng tôi bất chấp bọn địch một khi đã đạp chân lên đất. Còn chường 1/3 khoảng cách… Bọn địch bờ bên kia càng bắn dữ. Đạn rơi lõm bõm xung quanh chúng tôi. Đang bơi, tôi thấy thằng Hoà chợt lặng đi một giây. Tôi vội hỏi. Tiếng trả lời của nó chìm đi trong những tiếng nổ. Lát sau thằng bạn tôi như bị sặc nước. Nó bơi yếu hẳn đi. “Mày sao thế?”. Không nghe tiếng trả lời. Hoảng quá, tôi lặn một hơi đến bên nó. Vừa ngoi đầu lên, tôi đã nhìn thấy một bên vai thằng Hoà trúng đạn. Vết thương khá lớn. Tôi vòng tay ôm ngang eo nó: “Có sao không, Hoà?”. Nó ngẩng đầu nhìn tôi, lắc đầu. Cái thằng gan góc thế! Tôi chỉ còn viết vừa dìu nó, vừa dìu vũ khí, cố bơi. Khoảng cách giữa chúng tôi và những mảng bè khác xa dần. Chúng nó vẫn bắn. Thằng bạn tôi đã đuối sức. Nó tựa hẳn vào tôi, mắt nhắm nghiền. Chúng tôi nhích lên chậm chạp. Bơi thêm một quãng ngắn nữa, rồi tôi cảm thấy bàn tay nó bấu trên vai tôi lỏng dần. Tôi vội quát: “Bám chặt lấy!”. Rồi lại dịu giọng: “Hoà ơi, sắp tới nơi rồi! Lên bờ tao băng cho”. Nó mở mắt nhìn tôi trong ánh chớp, nói lào phào: “Thắng ơi, cố đưa vũ khí vào bờ. Cho mình gửi lời thăm Thuỷ. Mình… mình sẽ chỉ làm vướng cậu”. Bàn tay nó bóp nhẹ trên vài tôi một lần nữa, rồi lặng lẽ buông ra. Một loạt đạn bắn rất căng. Những làn sóng chồm lên. Tôi quay lại, không thấy thằng Hoà nữa. Tôi cuống quít quờ tìm nó. Tôi bỏ bè mảng lặn xuống, bơi vòng ra xa. Rồi tôi réo gọi tên nó, bất chấp bọn địch có thể nghe thấy.


Kể đến đây. Thắng im bặt. Hai người rời vườn xoài đã khá xa. Họ sắp quan một con mương cạn. Bên kia bờ mương, những cây thốt nốt đen đủi đứng im dưới nắng chiều oi bức. Đến bên con mương, Thắng co chân nhảy gọn qua bờ bên kia, rồi từ đó, anh nghiêng người giơ tay cho Nguyên Bình:

-Chị đưa tay đây. Thế. Cứ mạnh dạn bước qua đi. Đừng ngại. Nào!

Nguyên Bình đặt gọn bàn tay bé nhỏ của mình trong lòng bàn tay cứng rắng của anh. Rồi lấy đà, chị nhảy theo anh. Nhưng bờ đất trơn làm Nguyên Bình lảo đảo. Thắng vội đưa tay kia nắm lấy vai chị. Hai người gần như giáp mặt. Họ nghe rõ cả hơi thở của nhau. Một giây trôi qua, rồi Nguyên Bình rút tay ra.

-Chị mệt chưa, ta nghỉ một lát nhé?

Hai người ngồi dưới bóng cây thốt nốt. Trước mặt họ, đồng ruộng Campuchia khô cằn, vắng vẻ. Bây giờ đang mùa nắng, hòn đất được nghỉ ngơi, đợi những cơnmữa nguồn tưới xuống, người ta sẽ gieo hạt, cấy lúa. Còn lúc này, nhìn xa hút chỉ rặt một loại cỏ đuôi trâu vàng cháy.


Ở một phum canh bờ mương, bên cạnh căn nhà sàn bó nhỏ, một người đàn bà quấn sà rông đen, ở trần, đang lúi húi cạnh chảo nước thốt nốt sôi sùng sục. Mùi đường thơm ngọt theo gió thoảng đến chỗ hai người.

Nguyên Bình nhìn xuống lòng mương nứt nẻ, hỏi khẽ:

-Ánh có tìm thấy bạn không?

-À, không. Mãi sau ngày Phnôm Pênh giải phóng, tôi mới biết tin nó được một gia đình dân chài Khơ me cứu thoát. Nhưng chính tôi trong chuyến đi ấy lại bị một phen suýt chết khát. Chị uống một chút nước nhé-Anh nói ân cần, rồi nhìn lên những thân cây cao vọi có những bậc thang đơn giản bằng những cành tre buộc áp vào thân cây, anh nói-Đất Campuchia có loài cây này rất quý. Mỗi cây thốt nốt một năm có thể cho người trồng nó gần một tạ đường mà không cần vun bón gì. Khi những quả già rụng xuống, cây con lại mọc lên. Khoảng mười năm sau cây non ra trái lần đầu, và tuổi thọ của nó kéo dài hàng trăm năm. Chị nếm thử nước thốt nốt đi. Cậu liên lạc chuẩn bị cho chị đó.
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 4021



WWW
« Trả lời #94 vào lúc: 08 Tháng Chín, 2009, 06:44:35 pm »

Nguyên Bình nhăn mặt uống một ngụm nước có mùi men rượu chua chua.

-Chị uống nữa đi.

-Cảm ơn anh.

Thắng cười:

-Người ta nói phụ nữ thường ưa ngọt. Đúng thế không chị? Lần sau chúng tôi sẽ mời chị uống nước thốt nốt vào buổi sáng. Khi chưa có nắng, nước thốt nốt ngọt như nước dừa. Còn tôi, tôi có thể uống một hơi hết cả bình tông nước này. Nhưng ở mặt trận Tây Nam, chúng tôi có thói quen phải tập nhịn khát. Chị sẽ trở lại với chúng tôi chứ?
Nguyên Bình ngước lên. Chị bắt gặp đôi mắt Thắng đang nhìn mình, cái nhìn đầm ấm và thông minh. Một con người rất tế nhị-chị nghĩ và trả lời anh dịu dàng:

-Tôi sẽ trở lại, nhất định thế. Nhưng anh phải kể chuyện lạc rừng bữa đó.

-Có gì đâu, chị. Vắn tắt là thế này: trong ba ngày ròng rã, tôi cứ một mình một khẩu súng với túi gạo rang và bình tông nước, đi xuôi theo dòng sông, vạch những bụi lau lách tìm xác thằng bạn. Không thấy. Tôi buồn vô hạn. Nhưng lương ăn đã cạn. Phải tìm về đơn vị thôi. Biết làm sao được! Tôi cứ nhằm hướng Phnôm Pênh cắt rừng mà đi. Ngỡ rằng thế nào cũng gặp anh em trên đường đuổi giặc. Nào ngờ càng đi càng thấy cây rừng bịt bùng. Hết rừng già lại đến những đồi tranh bạt ngàn. Tôi không sợ cô độc. Nỗi buồn về việc không tìm thấy bạn và kỷ niệm về những ngày hai đứa sống bên nhau còn chứa chất trong lòng tôi. Tôi cũng không sợ thú rừng, nhưng nỗi khủng khiếp nhất là tôi đã bị lạc vào một miền đất hoàn toàn không có nước. Ở những cánh rừng này, lũ ong không tìm được nhuỵ hoa. Chúng cũng khát khốn khổ, cứ bay lừ đù và tìm đậu vào môi và mắt người, ngỡ có thể tỉma chất nước ở đó. Tôi nhịn khát đã ba ngày. Cứ đi lang thang hết cánh rừng này đến cánh rừng khác, nhưng không tài nào tìm ra dấu vết đơn vị. Chỉ một lần tôi gặp một nhóm tàn quân địch. Chúng có năm thằng đang ngồi quanh một đống lửa cháy rừng rực. Bên trên ngọn lửa, một cái chảo lớn đang bốc khói. Nấp kín sau một gốc lim già, tôi nổ trọn một băng đạn. Ba thằng gục tại chỗ. Còn hai thằng lủi ngay vào rừng. Chẳng còn sức đuổi theo chúng nó, tôi đến bên đống lửa. Nồi cháo vẫn đang sôi. Tôi mừng quá. Tối sẽ có cháo húp, lại giết được mấy thằng giặc cũng bõ công lạc rừng. Nhưng khi nhìn vào nồi cháo tôi bỗng rợn tóc gáy. Thì ra bọn khốn khiếp đang ăn thịt trẻ em!

Thắng nhăn mạt ghê tởm:

-Thế rồi phần vì sức khỏe đã sút kém sau mấy ngày đói khát, phần vì quá xúc động, tôi gục xuống, ngất đi. Trong cơn mê tôi thấy mình gặp lại con sông Đồng Nai. Và tôi thèm khát uống cạn dòng sông với tất cả cá tôm và rong rêu. Lúc tỉnh lại, cảm giác khát càng tăng lên. Hơi thở nóng như người đang sốt. Không còn đủ sức bước đi, tôi cứ bò lết trên mặt đất. Ba ngày sau, hai đầu gối tôi đã sưng tấy lên, mười đầu ngón tay rớm máu. Đầu óc thì lúc tỉnh lúc mê, mỗi lần thiếp đi chỉ toàn mơ thấy nước… Không thấy tôi trở về, đơn vị cử người đi tìm. Anh em thấy tôi nằm ngất lịm bên cái khe cạn, trong miệng còn dính đầy bùn.


Nguyên Bình đưa mắt nhìn anh. Qua bóng tối của vành mũ trùm lên vầng trán rộng, đôi mắt Thắng nghiêm nghị. Tim Nguyên Bình chợt se lại khi nghĩ rằng chỉ ngày mai chị sẽ phải chia tay với anh, một người không quen biết nhưng gần gũi biết bao. Anh đã đưa cho chị một bàn tay vững vàng của người lính khi Nguyên Bình suýt ngã. Và anh đã tin cậy kể cho chị nghe những chuyện buồn vui với một niềm tin độ lượng và vô tư chỉ có ở những người cùng chia sẻ mọi nỗi gian truân trong khói lửa. Điều đó khiến Nguyên Bình cảm động. Bằng một giọng chân thành, chị nói:

-Ban nãy anh nói với tôi rằng, anh luôn bất lực trước những xúc cảm của mình, rằng trước hết, anh lo làm nhiệm vụ một người lính. Còn tôi, tôi cho rằng nếu anh se cầm bút thì thật đáng sợ. Không, xin anh đừng cười. Tất nhiên không phải bây giờ, mà khi cuộc chiến tranh qua đi, tôi tin rằng lúc ấy sẽ có một lực lượng mới rất đáng tin cậy sẽ xuất hiện trong văn học. Những người này còn ai khác nếu không phải là các anh, những người cầm súng có kiến thức, có hiểu biết và từng trải, đã lăn qua sự sống và cái chết, biết cách hiểu cặn kẽ về giá trị con người một cách xác đáng nhất. Còn tôi… tôi luôn luôn có mặc cảm là kẻ nghèo khó đi vay. Tôi đi vay cuộc sống trong những chuyến đi này.

Nguyên Bình bối rối mỉm cười:

-Ở Hà Nội, nếu muốn, tôi có thể sống thoải mái với căn buồng của riêng mình. Một chiếc bàn kê gần cửa sổ với ngọn điện ấm cúng toả sáng trên trang viết. Tôi đọc sách trong những thư viện tốt nhất. Tôi đi dạo chơi với bạn bè trên đường phố, khăn len quàng kín cổ những buổi tối mùa đông, hoặc đi xem những vở kịch mới công diễn. Rồi tôi lấy chồng, được chiều chuộng, và một cuộc sống tương đối dễ dàng phẳng lặng với cái gia đình nho nhỏ và những lo lắng vặt vãnh hàng ngày. Một cuộc sống bình thường, không thể chê trách điều gì được. Thế nhưng tôi vẫn luôn luôn tự hỏi: sống như thế tôi sẽ có ích gì cho cuộc đời này?


Nói đến đây, chị im bặt quay đi. Khi Nguyên Bình quay lại, Thắng chợt thấy đôi mắt chị đã hoe đỏ. Thắng nghĩ: một con người trong sáng và… dễ yêu. Cô ta không giống chút nào như những định kiến người ta thường nghĩ về những người làm văn nghệ, kênh kiệu và khó gần. Mà tại sao trong những lời lẽ chân thành của cô ấy có cái gì như xót xa, như đau khổ! Thế mà mình đã nghĩ, với những truyện ngắn được công nhận, với một tên tuổi đã bắt đầu quen biết, và một bản chất thông minh, cô ấy phải là người hạnh phúc. Cuộc đời thật không đơn giản chút nào.
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 4021



WWW
« Trả lời #95 vào lúc: 08 Tháng Chín, 2009, 06:45:34 pm »

Hai người im lặng theo đuổi những ý nghĩ riêng. Lát sau Thắng quay lại, và anh không thể rời mắt khỏi đôi bàn tay mảnh dẻ đã bắt đầu rám nắng của chị. Tự dưng anh muốn nắm lấy đôi bàn tay ấy, muốn nói với chị một lời thân thiết. Nhưng anh không dám. Bất chợt Thắng thấy mình ghen với những người đi cùng Nguyên Bình. Cảm giác này chưa hề gặp trong đời. Có lẽ lúc này, trước mắt chị, anh là một thanh niên đáng mến, và chị cũng có chút ít cảm tình với anh. Nhưng biết đâu, khi chị đã về với đám bạn bè giữa thủ đô tưng bừng ánh điện, lúc đó liệu chị có còn nhớ đến anh?
Thắng đứng lên, anh nói mà không nhìn Nguyên Bình:

-Ta đi nhỉ. Chị giữ lấy khẩu súng ngắn này của tôi và đừng bước khỏi lối mòn. Phải cẩn thận. Rừng Puleng ở trước mặt ta kia rồi!

Sau khi rời Puleng, Nguyên Bình cùng các bạn còn đi nhiều nơi khác ngoài mặt trận. Chị ghi chép nhiêu và viết những bút ký từ mặt trận gửi về toà soạn. Công việc, những cuộc gặp gỡ các tù binh, nói chuyện với các chiến sĩ quân tình nguyện và những ấn tuợng mới đã thu hút nhiều tâm trí Nguyên Bình.


Có một lần, từ một đơn vị ở gần nơi đóng quân của d5, Nguyên Bình gọi điện cho Thắng: “Alô, cho tôi xin nói chuyện với Đồng Nai”. Tiếng điện thoại quay rè rè ở đâu đó vẳng tới trong ống nghe khiến chị cảm thấy sao lâu quá, và Nguyên Bình hồi hộp chờ đợi, tim đập rộn lên. Liệu anh ấy có còn nhớ đến mình không chứ? Và mình sẽ nói gì bây giờ? Rõ thật vớ vẩn? Những ý nghĩa ấy khiến chị bối rối và toan bỏ ống nghe xuống. Đúng lúc ấy, chị bỗng nghe một giọng nói quen thuộc: “Thắng đây. À, Nguyên Bình đấy ư? Chào chị. Có khỏe không? Chúng tôi rất mong chị quay lại đấy”. Nguyên Bình đáp vội vã: “Vâng, vâng”. Rồi tiếng máy im bặt. Ở đâu đó người ta đã cắt dòng điện rồi. Chị ngồi im, vẫn như còn đang nghe thấy giọng nói ấm áp của Thắng. “Chúng tôi rất mong chị quay lại…”. Vậy là Thắng vẫn nhớ đến chị. Nghe giọng nói, có vẻ anh ấy rất vui. Nguyên Bình mỉm cười. Anh ấy có biết rằng chị cũng luôn nhớ đến anh? Tại sao chị không thể quên anh. Một người con trai mới quen biết?


Nguyên Bình trở lại d5 vào một buổi sáng đẹp trời. Đơn vị đã chuyển quân đến một địa điểm khác. Rời con đường quốc lộ, đi tắt qua một ruộng khoai, chị nhìn thấy những dãy lán nhỏ xung quanh ngôi chùa cổ hoang vắng. Bọn Pol Pot đã đập phá hết những tượng Phật ở đây rồi!

Một người lạ mặt bước ra đón Nguyên Bình tận cửa lán. Sau cái xiết tay chặt, anh tự giới thiệu:

-Tôi là Phương, tiểu đoàn phó… chị trở lại thật tốt quá. Mời chị vào nhà đã.

Nguyên Bình nhận thấy có điều gì là lạ trong giọng nói của đồng chí tiểu đoàn phó. Anh đối xử với chị vừa rất thân tình, lại như có vẻ trân trọng khác thường.

Một chiến sĩ trẻ bước vào cửa lán. Nhìn thấy Nguyên Bình, anh đứng sững tại chỗ. Chị quay lại, reo lên mừng rỡ:

-Chú Tấm!

Phương ý tứ đứng lên:

-Tâm tiếp khách giúp anh nhé. Còn gói chè trong túi balô-Rồi quay lại Nguyên Bình-Tôi có chút việc bận. Tôi sẽ quay lại ngay. Chị cứ tự nhiên.

Còn lại hai người. Nguyên Bình hỏi chú liên lạc;

-Anh Thắng đi công tác ư?

-Để em tìm gói chè, pha nước đã-Tâm vội vã đứng lên. Một linh cảm khiến Nguyên Bình e ngại, chị giữ lấy tay Tâm:

-Chị không khát nước đâu. Anh Thắng bao giờ về?

Giọng Tâm bỗng trở nên gắt góng:

-Anh ấy… không về nữa!

-Sao?-Nguyên Bình sửng sốt.

Tâm vẫn không quay lại. Cái gáy cao cúi thấp xuống, chú vặn vẹo bàn tay khiến các đầu khớp xương kêu lên răng rắc:

-Anh ấy hy sinh rồi!

Nguyên Bình lặng đi. Chị không sao thốt ra thêm được một lời nào. Chị bàng hoàng tựa lưng vào vách lán. Ánh mắt Nguyên Bình dừng lại trên khẩu súng ngắn treo nơi đầu võng chú liên lạc. Chị nhận ra ngay chính khẩu súng đã một lần Thắng cho chị mượn khi hai người cùng đi tới cánh rừng Puleng. Khẩu súng như nhắc chị chủ nhân nó đã vắng mặt. Có lẽ nào như vậy?

Lát sau, Nguyên Bình hỏi, tiếng chị khẽ như một hơi gió thoảng:

-Anh Thắng nằm ở đâu?

-Chúng em đã đưa anh ấy về gần đây, trên đồi Cháy.

-Chú có thể… đưa chị đi thăm anh ấy không?

-Vâng.

-Đi ngay bây giờ. Ngày mai chị phải về đoàn rồi.

-Chị đợi em một lát.

Khi Tâm quay về, chú thấy Nguyên Bình đã chải tóc gọn gàng và thay chiếc áo đi đường nhàu bụi. Với chiếc áo trắng đơn giản, trông chị xanh xao hơn ban nãy.

Hai người đi qua một phum thấp thoáng những mái nhà sàn mới dựng. Một hàng cây thốt nốt, rồi một tràn ruộng thấp có những luống cải đang ra hoa lấm tấm vàng.
Đã đến chân đồi Cháy.

-Chị có mệt ta nghỉ một chốc. Tâm nói.

Nguyên Bình lắc đầu không trả lời. Từ lúc nghe tin Thắng hy sinh, chị không còn ý thức được thời gian, cũng không chú ý tới xung quanh, cả tâm trạng mình ra sao chị cũng không tài nào phân tích nổi. Chỉ một ý nghĩ dai dẳng cứ bám riết lấy chị: Mình phải theo sát chú ấy, nếu không sẽ chẳng bao giờ mình đến nơi đâu.


Tâm đưa vào tận tay chị một ca đầy nước. Chiều lòng chú liên lạc, Nguyên Bình đưa ca nước lên môi. Nước có vị ngọt mát. Chị bỗng nhớ đến một câu nói: “Lần sau chúng tôi sẽ mời chị uống nước thốt nhốt vào buổi sáng”. Có lẽ chú Tâm đã làm theo ý Thắng dặn lại?-Chị đau lòng nghĩ.
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 4021



WWW
« Trả lời #96 vào lúc: 08 Tháng Chín, 2009, 06:46:19 pm »

Hai người dừng lại bên nâm mộ trên đồi. Nguyên Bình nhận thấy xung quanh nấm đất hình như vừa được phát dọn sạch sẽ, và tren vồng đất dưới chân tấm bia gỗ có những chân hương còn mới. Chị cúi đầu thầm nức nở. Anh Thắng, tôi đã trở về đây sáng nay. Nhưng tôi không còn được gặp anh!

Chú liên lạc thì thầm bên tai chị:

-Sau ngày chị rời đơn vị không bao lâu, chúng em được lệnh đi cứu gần hai trăm dân bị bọn tàn quân địch dồn lên núi cao. Khốn khổ, những con người chẳng còn ra hồn người, chẳng khác nào một lũ ma đói. Đơn vị khắp chặt vòng vây, nổ súng. Bọn địch một số bị tiêu diệt, những đứa khác vứt súng, đầu hàng. Nhưng có một thằng khốn nạn trước lú trốn còn vứt bậy một trái lựu đạn vào giữa đám dân thường. Quả lựu đạn xì khói, sắp nổ. Anh Thắng vội lao tới lượm lấy, toan ném nó ra xa, nhưng không kịp nữa… Anh ấy bị thương nặng, chỉ tỉnh lại một lúc. Anh ấy dặn em trao cuốn sổ này cho chị.


Tâm mở cúc áo ngực lấy cuốn sổ nhỏ bìa bọc ni lông, đưa cho Nguyên Bình. Chị đỡ lấy vật kỷ niệm bằng những ngón tay run rẩy:

-Tâm ơi, ai đã thắp những nén hương này?

-Một bà giáo ở Phnôm Pênh chị ạ. Bà mẹ ấy là một trong số người được đơn vị cứu thoát. Tháng trước bà đến đây thăm anh Thắng. Bà ấy khóc ghê quá: “Chúng nó đã giết gần bốn triệu dân Campuchia mà không hề xót thương. Cớ sao một thanh niên trẻ đẹp như con lại chết vì những người không ai buồn đếm xỉa đến!”.

Chúng em phải an ủi bà mẹ! “Mẹ đừng nói thế kẻo anh ấy không vui. Mẹ hãy chăm sóc và dạy dỗ các em phải sống sao cho xứng đáng với người đã hy sinh…”.

Buổi tối Tâm đã sửa soạn cho chị một chỗ ngủ trên chiếc sạp nằm trong lán chỉ huy tiểu đoàn. Gian buồng nhỏ được ngăn riêng bằng những phên liếp sơ sài:

Lúc chiều, đồng chí tiểu đoàn phó nói với Nguyên Bình:

-Chúng tôi đã thu xếp, chị sẽ nghỉ lại ở nhà một chị trong phum, cũng gần đây. Ở đấy yên tĩnh.

Nguyên Bình lắc đầu:

-Anh cho tôi ngủ ở đây thôi. Tất nhiên, nếu tôi không làm phiền…

Phương nói:

-Đối với chúng tôi, bây giờ chị là người của đơn vị.

Rồi anh mang tới cho Nguyên Bình ca nước chè đậm rất nóng, một chiếc bát sắt, và một ngòn đèn bão. Sự chăm sóc chu đáo ấy khiến chị lại rưng rưng muốn khóc.

Nguyên Bình biết rằng cả đêm nay, chị sẽ không tài nào nhắm mắt được. Và chị không muốn làm phiền một gia đình xa lạ. Rất khuya, Nguyên Bình vẫn thức với cuốn sổ giờ này đã trở thành một di vật thiêng liêng đối với chị. Trong đó chị đọc thấy những bài thơ đang làm dở, những tiếng Campuchia có lẽ Thắng đang học, cả những trang ghi chép về công việc. Cuối cùng của cuốn sổ là một bức thư viết cho chính chị.

“Nguyên Bình!

Chỉ vài tiếng đồng hồ nữa tôi sẽ cùng đơn vị đi làm nhiệm vụ. Em đừng nghĩ rằng tôi bi quan. Không. Tôi tin chắc mình sẽ trở về như những lần trước đây. Chính vì vậy tôi viết thư này cho em. Nhưng dâu sao trước lúc bước vào một trận chiến đấu mới, người lính thường hay để cho lòng mình lắng lại với những ý nghĩ chân thực nhất. Tôi nghĩ đến em lúc này và tôi không muốn dối lòng, tôi đã yêu em ngay từ khi mới gặp. Tại sao thế? Tôi không cắt nghĩa nổi điều này. Hãy tha thứ cho tôi nếu em thấy điều tôi vừa nói với em quá đường đột. Nhưng tôi đã suy nghĩ nhiều. sau đây, thế nào tôi cũng sẽ tìm gặp em, dù khó khăn đến mấy. Tôi đã cảm thấy nếu có em, tôi sẽ dễ dàng làm được những công việc khó khăn mà cả em và tôi đều ước muốn-Những việc tốt đẹp có ích cho cuộc đời lâu dài. Và tất nhiên, nếu bây giờ bẫn không có điều ràng buộc cuộc đời em, nếu em cũng yêu tôi và thấy cần có tôi, chúng ta sẽ đem lại hạnh húc cho nhau và cùng nhau làm việc. Cuộc sống sẽ có ý nghĩa biết bao!

Tôi sung sướng khi nghĩ đến điều đó, và tôi sẽ rất đau khổ nếu biết rằng em chỉ đi qua cuộc đời tôi rồi không  bao giờ trở lại! Em có biết rằng rôi mong cháy lòng phút gặp lại em, đồng thời tôi cũng rất lo sợ giờ phút ấy. Tất cả đều do em định đoạt. Đó là quyền của em. Dẫu sao tôi cũng đã nói với em những điều sâu kín nhất của một người lính trước phút ra trận. Nhưng tôi không cầu xin. Không bao giờ!

Không biết rồi đây cuộc đời sẽ ra sao, nhưng từ bây giờ tôi đã hình dung đến một ngày nào đó, tôi sẽ dẫn em về thăm con sông quen thuộc mà có lần tôi đã kể cho em nghe. Ở quê tôi cũng còn những vườn cây ăn trái bạt ngàn, vườn nọ ngăn với vườn kia chỉ bằng những con mương dần nước bao giờ cũng trôi bập bềnh những trái chín rụng. Em sẽ ngồi dưới những vòm cây trĩu quả nhìn ngắm chúng bằng ánh mắt trầm trò hay sẽ nói chuyện ríu ran? Những người thân của tôi thì vui vẻ lắng nghe em nói giọng Hà Nội nhẹ nhàng. Thằng Hoà thì chỉ mỉm cười, nhưng tôi biết trong lòng nó vui lắm đó. Còn tôi, tôi mang đến cho em một cành chôm chôm đầu mùa, và sẽ thầm hỏi em một câu bằng tiếng Khơ Me mà em đã biết: “On sa lanh boòng tê?” Nhưng em không trả lời, chỉ nhìn tôi bằng ánh mắt dịu dàng, đằm thắm. Rồi em ăn thử trái lạ và nhăn mặt lại xuýt xoa vì chua…”.


Bên ngoài căn lán nhỏ, những cơn gió sớm đã trở về trên cây si đại thụ trước mảnh sân chùa rộng thênh thang. Những phiến lá mềm và ẩm khẽ đu đưa. Một con chim đang ngủ trong mái hiên ngôi chùa cổ bỗng giật mình cất tiếng hót trong veo.

Đã gần sáng.

Nguyên Bình đặt quyển sổ xuống, mắt đẫm nước. Chị hiểu rằng, hạnh phúc chân chính đã không đến với chị nữa.

Chị lẩm bẩm, đưa tay lên che mắt:

-Em sẽ về thăm quê anh sau chuyến đi này như điều anh mong. Đối với mọi người anh vẫn đang sống, trong những người dân Campuchia anh đã cứu họ, trong lòng đồng đội và những người thân thiết. Và trong lòng em anh không chết. Không bao giừ em có thể quên anh!
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 4021



WWW
« Trả lời #97 vào lúc: 16 Tháng Tám, 2013, 09:39:52 pm »

Nặng hơn ám ảnh
Vương Trọng

Con ở đây kìa mà, mẹ ơi! Mẹ không nhận ra con của mẹ hay sao? Con mới xa mẹ bốn năm, ừ thì hơn bốn năm mấy tháng nhưng mà sao mẹ không nhận ra con? Dù con đi xa thì xa thật, dù con không còn trở về đến nhà nhưng mẹ đã tìm đến đây mẹ phải xích sát lại với con của mẹ chứ? Mẹ ơi, mẹ giận con à? Còn có lỗi gì đâu hở mẹ? Sao mẹ lại bỏ con mẹ đi? Mẹ ơi… mẹ.

-Chị nhầm rồi chị ạ, sao chị lại khóc lóc và kể lể với tôi? Tôi không hề biết chị là ai. Tôi mới mười tám tuổi tròn, ngoài mẹ tôi ra tôi không có một người đàn bà nào thân thiết. Chị đi đi, đừng khóc nữa. Những giọt nước mắt kia phải được rơi đúng chỗ với những kỷ niệm chị nhắc tới. Với tôi những điều chị nói hoàn toàn xa lạ, không thể gọi là kỷ niệm được…

-Lung tung hết, hỗn độn hết, không còn tôn ti trật tự nào nữa. Tên tôi ghi trong khai sinh là do bố tôi đặt cho. Ông cụ là người thâm nho, khi đặt tên cho con thường cân nhắc kĩ lưỡng lắm nên tên con bao giờ cũng có nghĩa. Ai lại một thoáng có kể đổi tên tuổi quê hương dễ dàng như vậy. Phải trả lại tên cho tôi, trả ngay đi…


Chị Oanh tái mặt nghe lời chồng mê sảng. Người anh sốt hầm hập, lúc đắp cả hai chăn bông, lúc lại đạp tung ra. Từ sáng đến giờ chị ngồi bên giường với chồng, nhưng bây giờ nghe những lời anh nói bỗng chị thấy sợ. Sao mẹ đi chợ lâu về thế? Lúc ra đi mẹ có biết anh bị sốt rồi kia mà? Trời ơi chỉ mới hôm qua đây thôi, được ở nhà một mình với anh, sao mà hạnh phúc. Chị đã bao lần khen mẹ sao mà tâm lý thế. Nhưng hôm nay chị sợ trước những lời mê sảng chẳng có ý nghĩa gì. Anh ốm thì anh nằm, chị có thể phục vụ tất cả mọi điều nhưng chị xin anh đừng nói những điều như vậy làm chị sợ.

Cũng may lúc đó bà cụ đã về đến sân. Chị vội vàng đứng dậy:

-Mẹ ơi, mẹ vào đây với con. Không biết nhà con sốt nóng thế nào mà cứ nói lung tung làm con sợ lắm.
Bà cụ vôi vàng đặt cái mủng đầy ắp các loại thực phẩm xuống ghế, đến bên giường với con trai theo lời khẩn cầu của con dâu. Bà chà bàn tay mình vào áo cho thật khô rồi nhẹ nhàng đặt lên trán con. Ngay tức khắc mắt Hiếu-tên người con trai-mở ra nhìn ngơ ngác, xa lạc. Mắt có nhiều lòng trắng khác thường khiến bà hơi rợn. Chưa bao giờ con trai bà nhìn và như thế. Bà thấy yên tâm hơn khi đôi mắt ấy từ từ khép lại, nghĩ là con tiếp tục ngủ, nhưng từ mồm con lại cất lên giọng hoàn toàn khác hẳn:

-Bà là ai, sao bà lại đến đây với tôi? Bà tìm con trai bà à? Thế thì bà tìm đi, tìm xung quanh đây, tìm bên kia, tìm mọi nơi thế nào bà cũng gặp. Tôi đợ mẹ tôi thôi, tôi đâu có đợi bà? Con trai bà chắc chắc đang đợi bà đấy, nhưng không phải ở đây.

-Con nói gì vậy, Hiếu ơi? Mẹ vừa đi chợ mua bánh cuốn về cho con đây, thứ bánh cuốn hôm qua mẹ đã mua mà con khen bánh cuốn quê mình ngon nhất đó mà!

-Bà nhầm rồi, bà vào đây không được lâu đâu. Bà hãy đến với con bà, để tôi nằm yên, tôi đợi mẹ tôi!
Tay Hiếu quờ lên, hất bàn tay mẹ ra khỏi trán mình rồi trở mình quay mặt vào tường như không muốn đón nhận sự săn sóc của mẹ.

Oanh sợ hãi nhìn mẹ chồng:
-Có lẽ phải đi mời bác sĩ thôi mẹ ạ.

Bà cụ nói giọng lo lắng:
-Không biết tại sao nó lại nói lung tung như thế? Hồi chưa đi bộ đội có nhiều lần nó ốm, có lúc sốt cao hơn bốn mươi độ nhưng không hề mê sảng một lời. Con ở nhà, mẹ đi mời bác sĩ đến khám xem thuốc thang ra sao.

Oanh đứng dậy:
-Mẹ vừa mới đi chợ về, mẹ ngồi đây với anh Hiếu, để con đi mời bác sĩ cho. Từ đây sang xóm Hạ con đạp xe một chốc là đến thôi mà!

-Ừ thì con đi cũng được. Nếu đến nhà không gặp thì con lại ra bệnh viện.


Bác sĩ đến khi Hiếu đang mê sảng. Lần này không chỉ miệng nói, hai bàn tay anh đưa ra phía trước, lúc như cầu xin, lúc như xua đuổi. Bác sĩ ngồi xuống giường, Hiếu lại quay mặt vào tường, nằm im. Bác sĩ rút cái đo nhiệt độ trong túi đồ nghề ra và vẩy vẩy mấy cái.
-Anh cặp nhiệt độ xem sao!


Bác sĩ nhắc lại hai lần đề nghị đó nhưng Hiếu vẫn nằm im, ông đành tự tay mở cúc áo sơ mi quân phục của bệnh nhân rồi nhét cái đo nhiệt độ vào nách. Sau khi hút gần tàn điếu thuốc ông lấy cái đo nhiệt độ ra, nâng lên ngang tầm mắt xem xét:
-Gần bốn mươi độ. Mê sảng do sốt cao. Chỉ cần uống mấy viên hạ sốt là khỏi.


Nghe bác sĩ nói, bà cụ và Oanh thật mừng. Nhưng niềm mừng đó không được bao lâu: Ba ngày sau khi đã uống hết liều thuốc bac sĩ chỉ định mà theo ông là bệnh “tiệt nọc” thì Hiếu vẫn sốt từng cơn mê sảng liên hồi. Chỉ có điều lạ là đến bữa ăn anh thường tỉnh và ăn uống không đến nỗi nào, suốt bữa ăn không hề nói một lời, uống nước rồi lại nằm lăn xuống giường, kéo chăn đắp.
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 4021



WWW
« Trả lời #98 vào lúc: 16 Tháng Tám, 2013, 09:41:36 pm »

Bác sĩ còn ghé nhà mấy lần nữa thăm bệnh nhân và cho thuốc nhưng bệnh tình của Hiếu không có chiều thuyên giảm. Đến ngày thứ sáu kể từ khi Hiếu lâm bệnh, bác sĩ tỏ ra hoang mang nên khi Oanh đến mời, ông không còn sốt sắng nữa. Bà cụ quyết định mời thầy thuốc đông y. Thầy thuốc đông y là một ông già to cao, tóc bạc, da dẻ hồng hào, nói oang oang từ ngoài sân:

-Không quen với thổ ngơi, khí hậu quê hương hay sao mà mới về được mấy ngày là ốm với đau? Hay là biết vợ mình chiều mình, yêu mình rồi làm nũng.

Ông già ngồi xuống mé giường, dùng hai tay xoay người hiếu về phía mình, để một tay Hiếu lên đùi ông, bắt mạch. Lúc đó bà cụ đang đun nước ở dưới nhà, ông hỏi Oanh:

-Tính đến hôm nay, anh Hiếu về nhà được mấy hôm rồi?

-Dạ thưa ông, đúng mười hôm rồi đấy ạ!

-Anh bị bệnh hôm nay là ngày thứ mấy?

-Dạ, thứ sáu ạ!

-Thế là anh về được bốn hôm thì bệnh. Trong bốn hôm ấy có chuyện gì xảy ra với anh Hiếu, đối với gia đình cô nói hết cho tôi biết.

-Dạ…


Mặt Oanh đỏ lên, lúng túng. Anh mới về được bốn hôm thì có chuyện gì xảy ra được chứ? Chẳng lẽ lại kể với ông về tình cảm vợ chồng. Chăng ai hạnh phúc bằng cô đêm hôm đó. Sau năm năm chờ đợi, cô mới gặp lại anh ngay trên cái giường và chiếc gối đôi mà cô tự sắm lấy trong những ngày anh xa. Anh nhập ngũ để bổ sung cho chiến trường Tây Nam còn cô trong hai mươi tuổi, học sinh năm cuối cùng của trường trung cấp sư phạm. Anh nghỉ gần hết nửa phép rồi mới gặp cô, không biết duyên số thế nào, vừa gặp anh là cô bị hút như nam châm gặp sắt. Thế rồi đám cưới được tổ chức, khi phía sau của anh chỉ còn ba ngày phép và vì thế cô cũng chỉ xin phép nhà trưởng nghỉ học bốn ngày. Đêm tân hôn ngỡ ngàng, lo sợ lấn át hạnh phúc. Chưa quen hơi bén tiếng thì đã đến ngày đèo balô đưa anh ra bến xe để anh đi về nơi đối với cô hết sức mơ hồ trong bốn chữ “mặt trận Tây Nam”. Năm năm trời anh mới trở về. Anh không béo tốt nhưng rắn chắc và khỏe mạnh và điều đáng kể hơn đối với cô là anh được ra quân. Đêm nằm trong vòng tay rắn rỏi của anh, ngoài trời mưa ngâu tí tách, nghĩ chuyện từ nay không còn phải xa nhau, cô mới hiểu thế nào là hạnh phúc. Ba đêm liền anh và cô sống như thế. Ba đêm liền giữa hai người hầu như không có khoảng cách. Sau đêm đầu tiên, cô gỡ vòng tay anh ra để thức dậy nấu nướng, nhưng xuống bếp đã thấy lửa đỏ và mùi xôi mới thơm phức. Thấy cô bước vào, bà cụ bảo:

-Con trở về giường với chồng con đi. Chuyện cơm nước đã có mẹ, con đừng để chồng con phải nằm một mình, nó phải nằm một mình quá nhiều rồi.

Trăm lần cô muốn nói lời cảm ơn mẹ nhưng cô không quen nói lời như thế với người quá gần gũi, yêu thương mình trong suốt năm năm cô sống xa chồng. Cô chỉ biết đứng lặng nhìn mẹ, nhìn ngọn lửa rực rỡ, ấm áp nhảy múa rồi chạy ngược lên căn phòng phía trên, ngã mình vào vòng tay mở sẵn của anh. Hình như anh đang thức đợi cô trở lại, nên khi thân thể ấm áp của cô vừa ngả xuống cánh tay thì anh ôm ghì lấy, trao cô những cái hôn mãnh liệt.


Ba đêm đầu cô và anh đã sống với nhau như thế. Đến đêm thứ tư, anh đặt lưng nằm xuống là ngủ ngay. Mấy lần cô gợi chuyện không thấy anh trả lời rồi cô cũng nép vào anh mà ngủ. Hạnh phúc của niềm hoan lạc phải kể đến giấc ngủ tiếp theo, không biết có quyển sách nào có nói như vậy.


Khoảng nửa đêm, cô tỉnh dậy, thấy anh xoay lưng về phía mình, ngủ say. Cỗ bỗng thấy cô đơn, thiếu thốn. Niềm khao khát thức dậy trong người cô đòi hỏi được anh thoả mãn. Cô lay vai anh, anh vẫn nằm yên, cô định dùng sức mình để xoay người anh lại phía mình, bỗng anh gạt tay cô ra và nói bằng giọng hết sức xa lạ:

-Lộn xộn hết cả rồi, lung tung hết cả rồi. Tên tuổi quê quán, vợ con chẳng biết đâu mà lần…

-Anh Hiếu, anh nói gì vậy, em đây mà. Oanh đây, vợ của anh đây.

Cô áp má vào má anh bỗng thấy má anh nóng bỏng. Thì ra anh đang sốt.

Mọi chuyện chỉ có như thế, nhưng chả lẽ lại nói ra với thầy thuốc hay sao. Nhưng làm thinh lâu cũng không tiện, cuối cùng Oanh trả lời:

-Anh Hiếu mới về được mấy hôm đã có chuyện gì đâu mà đến nửa đêm thứ tư thì anh bắt đầu lên cơn sốt.

Thầy thuốc đặt tay Hiếu xuống chiếu, gật gật đầu:
-Mạch trầm… bệnh không chóng khỏi. Khi mê sảng anh Hiếu thường nói những chuyện gì?

Oanh trả lời:
-Anh ấy nói như giọng của ai ấy, cháu nghe sợ lắm. Chẳng có chuyện gì ra chuyện gì, toàn những từ “lung tung”, “lộn xộn” lúc như xua đuổi, lúc như mời mọc ai đó.

Thầy thuốc lại gật đầu. Ông đứng dậy đi tới cái bàn Oanh vẫn thường dùng để soạn giáo án và chấm bài. Ông kê đơn thuốc căn dặn người nhà thật tỉ mỉ.
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 4021



WWW
« Trả lời #99 vào lúc: 16 Tháng Tám, 2013, 09:44:57 pm »

Uống hết ba thang thuốc đông y, bệnh tình của Hiếu vẫn không có dấu hiệu gì của thuyên giảm. Vẫn sốt, vẫn mê sảng, duy có điều làm người nhà đỡ lo hơn anh vẫn ăn được. Buổi sáng hôm đó, Oanh định sang nhà thầy thuốc để mời ông tới bắt mạch, kê đơn mới cho chồng, thì nhà có khách. Đó là một thanh niên còn trẻ, mặc quân phục, đầu trần, môi thâm, mặt tái xám. Mặc dù khách chưa tự giới thiệu, nhưng nhìn nước da sốt rét của anh, Oanh vẫn đoán khách là bạn chiến trường Tây Nam của chồng mình. Người khách sững lại khi nghe tin Hiếu bị ốm và đòi vào tận giường thăm anh.

Hiếu vẫn nằm quay mặt vào phía trong, khách ngồi xuống sờ tay lên trán:
-Anh Hiếu ơ, Dũng đã sang thăm anh đây. Tưởng người ốm là em, chứ ai ngờ lại là anh. Mấy năm ở bên đó có ai thấy anh đau yếu là gì!

Hiếu xoay người lại, mắt mở trừng trừng nhìn Dũng rồi xoay mặt đi:
-Lẫn lộn, lung tung hết cả rồi. Làm sao, làm sao bây giờ. Tên tuổi, quê hương sai lung tung hết. Thôi bà con ơi, đã bảo bà đi đi, đi mà tìm con bà. Tại sao bà lại khóc với tôi, tại sao bà lại kể lể với tôi. Con bà đang muốn nghe lời bà, tôi muốn nghe lời mẹ tôi chứ! Và cô nữa, sao cô lại bảo cô là vợ tôi? Tôi mới mười chín tuổi làm gì đã có vợ. Cô đi đi, chồng cô nằm gần đây thôi.


Tay Hiếu dứt khoát đẩy tay Dũng ra khỏi vai mình, Dũng thất thần quay lại, chị Oanh nói:
-Mấy ngày nay khi mê sảng nhà tôi toàn nói những chuyện như thế. Toàn nói chuyện sai lầm, lẫn lộn tên tuổi quê hương… Có phải chú cùng ra quân một lần với anh Hiếu không?

-Đúng thế chị ạ. Hôm chia tay, em hẹn về nhà ít hôm rồi sang chơi với anh. Chị vẫn dạy ở trường thị trấn, phải không?

-Thế ra nhà tôi đã nói chuyện với chú.

-Anh Hiếu đã uống những thuốc gì hả chị?

-Mời chú uống nước. Tây y, đông y đều dùng cả nhưng sao bệnh không thấy giảm…

Bỗng Hiếu ú ớ làm hai người quay lại:
-Mưa! Mưa to quá ướt hết cả rồi. Mất tên mất tuổi rồi!


Lời nói đó của Hiếu hoàn toàn vô nghĩa đối với Oanh nhưng làm Dũng giật thót mình. Có thể thế nào lại như thế được? Đúng rồi, từ lúc đên đây nghe lời nào anh ta nói cũng liên quan đến chuyện đó. Dũng bần thần nhìn Oanh, mình có nên kể lại cho chị nghe hay không? Nhưng kể mà làm gì, chẳng có cách nào sửa chữa được sai lầm đó.

Rót thêm một chén nước nữa cho Dũng, Oanh nói:
-Chú làm ơn ngồi với anh Hiếu một lú, tôi sang hàng xóm tìm bà cụ, bà đang đi tìm lá thuốc Nam…

-Vâng, chị cứ đi đi, tôi trông cho. Hồi ở đơn vị tôi làm y tá đấy chị ạ.


Chị Oanh đi rồi, Dũng chầm chậm nhìn Hiếu như cố kiểm tra lại những điều mình phỏng đoán có đúng hay không. Hai người cùng huyện, ở hai xã kề nhau, cùng ra quân một ngày, chỉ khác nhau về cấp bậc, chức vụ: Hiếu thượng uý, cán bộ đại đội còn Dũng là trung sĩ, y tá tiểu đoàn. Hôm đó vì có quân hàm cao nhất trong đoàn nghỉ phép và ra quân nên Hiếu được cử làm đoàn trưởng trên đường về nước, khởi hành từ một địa điểm phía tây Bát Đom Boong. Trước khi lên đường, trung đoàn trưởng còn giao cho đoàn một nhiệm vụ khá nặng nề là đưa mười tử sĩ về nước, chôn cất tử tế vào nghĩa trang trước khi về quê hương. Khi Dũng cùng mấy bạn nữa mang balô ra xe thì thấy mười quan tài màu đỏ xếp sẵn trên thùng xe Din, mỗi hàng năm chiếc. Danh sách tử sĩ thì trung đoàn trưởng trực tiếp trao cho Hiếu. Xe chạy bụi bay mù mịt. Theo thời tiết thì đã qua mùa khô lâu rồi nhưng vùng đồi núi phía tây này vẫn chưa có hạt mưa nào. Không mưa chỉ khổ những người ở lại, đối với những người trên đường về nước này, dù có bụi một tí cũng chẳng sao, tốc độ của xe không hề giảm xuống. Chạy được hơn một ngày, đến đêm thứ hai thì trời đổ mưa, ngửa mặt hứng nước mưa vào miệng. Những cơn khát, nóng bức và bụi bậm mau chóng qua đi nhường cho rét mướt, vì quần áo ướt mèm và xe chạy nhanh, gió quận phần phật. Quá nửa đêm xe qua biên giới, mờ sáng xe dừng lại trước nghĩa trang thì cơn mưa tạnh. Thượng uý Hiếu từ trong cabin mở cửa chui ra đi về phía sau ra lệnh cho khênh quan tài xuống đất. Khi mười quan tài được xếp hàng trên cửa nghĩa trang, chính Dũng là người đầu tiên phát hiện ra rằng những dòng chữ viết bằng phấn ghi tên năm liệt sĩ ở năm quan tài xếp hàn trên mưa trôi đi không còn lại một dấu vết nào.

-Anh Hiếu ơi, làm thế nào, năm quan tài này không còn tên nữa? Hiếu đi lại tận nơi, cúi mặt nhìn lần lượt trên năm tấm ván thiên nhưng không còn nghe thấy gì khác ngoài màu đỏ nhợt nhạt. Anh biết nếu không rõ tên liệt sĩ, người trông coi nghĩa trang sẽ không cho mai táng, bởi thế cần phải xử lý điều không hay này thật nhanh, trước giờ nghĩa trang mở cửa. Anh mở túi ngực xem lại danh sách mười tử sĩ, mới biết năm liệt sĩ bị trôi mất tên ở phía sau danh sách. Anh hỏi Dũng:

-Có mẩu phấn trắng nào đó không?

-Không anh ạ. Từ khi sang Campuchia đến giờ em không hề trông thấy mẩu phấn nào.

-Thế thì chạy đại tìm một mẩu gạch non hoặc là mẩu than hay bất cứ cái gì có thể viết được.

Dũng tìm được một mẩu son đỏ, quay lại Hiếu bảo:

-Viết đi, tớ đọc cho. Viết từ quan tài này trở đi: Nguyễn Văn Hùng, Trần Hữu Hải, Lã Văn Thanh, Ngô Văn Nuôi, Bùi Chí.

-Mình ghi tuỳ tiện thế này sợ không đúng tên liệt sĩ thì sao anh?

Một đồng chí theo dõi Dũng viết thế hỏi. Hiếu nghiêm sắc mặt hỏi lại:

-Thì làm thế nào cho đúng được khi tên tuổi mưa đã trôi sạch trơn? Phải chờ quay trở lại Bát Đom Boong để truy lai tên chắc? Quan tài thì đóng chặt rồi mình không có quyền mở ra. Mà có mở ra thì bọn mình cũng chẳng nhận được ai là ai. Theo cậu thì nên làm thế nào?

Cậu lính trẻ lúng túng:
-Em thì cũng chẳng biết giải quyết bằng cách nào, nhưng cứ đề tên lung tung thế em thấy không ổn, nhất là sau này cha mẹ vợ liệt sĩ đến viếng thì nghĩ thật đau lòng…

Khi đó Dũng dừng viết ngửng lên hỏi:
-Hay là ta dừng lại ít ngày, đánh điện về đơn vị để trung đoàn cử quân y mang sổ sức khỏe của năm liệt sĩ về đây xác định lại…
-Thôi đừng hâm nữa ông ơi-Hiếu nói-Vả lại có lầm thì chẳng qua là lầm tên của liệt sĩ này sang liệt sĩ khác chứ có nhầm tên của Pol Pot mà phải phân vân. Viết đi, sắp đến giờ mở cửa rồi đấy!

Thế là mười liệt sĩ được chôn xuống, mười tấm bia được dựng lên. Đoàn quân ra quân, về phép theo nước mã hồi chia nhau về quê hương mình.
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM